tác phẩm của Mel Bochner tại Viện Bảo Tàng Serralves- Bồ Đào Nha
Mel Bochner là một trong những người tiên phong trong Nghệ Thuật Khái Niệm (Conceptual Art), với khuynh hướng đưa ngôn ngữ vào …
Chờ cho vệ binh đi tìm bóng mát, vài người lén lượm những viên đá căm thù đó lên, tâm trạng cay đắng như tử tội muốn được nằm ngửa để nhìn lần cuối lưỡi máy chém. Không phải đá! Chỉ là những bức thư chữ viết chi chít, nhiều lá còn nguyên các ngấn lệ, gói bên trong một hòn cuội nhỏ tròn trĩnh.
Anh sống đời thường, ăn, ngủ như tất cả những người khác, nhưng đã là nhà văn chắc chắn anh có thế giới riêng của anh, thế giới của nhà văn không ai giống ai cả, mỗi người suy tưởng khác nhau. Nhưng những nhà văn lưu vong hầu như có một mẫu số chung: thế giới văn chương của họ cũng chính là quê hương họ. Với nhà văn lưu vong, viết tức là đang sống trong quê hương.
Tôi gọi Giác và hỏi một câu trực diện:
“Giác ơi, nếu phải (hay được) viết lại tác phẩm mình, Giác có viết khác đi không?”
Tôi thoáng nghĩ rất nhanh là nếu Giác cường điệu thì cũng khỏe vì khỏi phải viết phần phê bình … Nhưng không, bên kia điện thoại tiếng Giác mang tôi về hiện tại:
‘Tất nhiên là sẽ viết khác chứ…’
“Con khùng xóm Chài hay con khùng ngoài chợ?”
“Cả hai đứa là một. Nó là con gái ông câu gõ. Cha nó chết cách đây mấy năm. Nó xin ăn ngoài chợ, và hễ cứ đến mùa trăng là nổi cơn.”
Tân nghe được câu chuyện, lịm người không dám nhìn về phía trước.
Với tâm trạng một người vừa thoát khỏi cuộc sống đè nén của chế độ cộng sản, các vết thương từ cuộc sống ấy hãy còn mới mẻ, với cảm giác được tự do, tôi bắt tay ngay vào việc viết lách. Bây giờ nhìn lại, tôi thấy thời gian hai tháng trên đảo Kuku này là thời kỳ hoàng kim trong đời viết văn của mình.
Vượt biển tị nạn năm 1981 qua ngả Nam Dương, đến định cư tại Hoa Kỳ cuối năm 1982.
Chủ bút tạp chí Văn Học, California, Hoa Kỳ, từ 1986 đến tháng Tám /2004.
Hiện định cư tại thành phố Westminster thuộc quận Orange, California, cùng với gia đình.
Giberson and Miller là những con người chín chắn có thiện chí. Ðọc tác phẩm của họ, ta thấy thiếu vắng sự thuyết phục và chân thành thường có từ các bài viết của những nhà sáng tạo luận khác, vốn thường bây bẩy chối bỏ hầu hết những thực tại hiển nhiên về thực chất cho những nguyên nhân đức tin của mình.
Viết cho ai, viết cái gì, viết như thế nào… là những câu hỏi dù ông không cố ý phạm tội, tiềm thức ông ngày càng đặt ra nhiều. Như thể, trước khi đưa ra mỗi entry, ông phải trả bài trước mặt thầy giáo tiềm thức – một vị thầy rất khó tính trong môn nghệ thuật thu hút đám đông.
Tôi đã nói trong những ngày hiện diện nơi đây: thời hạn tôi sắp hết rồi. Tôi đã nuốt hết hơi thở cuối cùng và tôi phải khăn gói bước đi để hồi phục lại mọi thứ. Lúc đó tôi mới biết được rằng, tôi có tiếp tục chờ nữa hay không, tôi có tiếp tục đến nhìn họ như thế kia?
Mỗi ngày khi chiều rũ xuống thì lửa bừng lên, như thế. Nó chờ một giờ khắc chập chùng nhất của một đời người để mà hực lên – hay chính vì những giờ khắc ấy mà lửa nghe được lời kêu gọi, hãy đốt đi, đốt hết đi, những mồi lửa này, để chẳng còn sầu muộn nữa.
Ngồi một mình đọc sách
Ngồi một mình làm thơ
Ngồi một mình ngắm ngiá
Hạnh phúc dễ sợ!
Tôi biết đây là thi sĩ Nguyễn Đức Sơn, thấy ông nhiều lần, phục sức xuề xòa, y phục của ông thầy chùa đang ở trong chùa. Ông thầy chùa đội nón lá, đi chiếc xe đạp cọc cạch, vào một ngõ hẻm đường Trần Quang Khải: chùa Vạn Thọ hay một ngôi chùa nào đấy, ở trong ngõ hẻm đó.
nơi đây: im vắng, cafe, hoa sắp chết, rượu, sách, nhạc, giấy, bút, những bức dang dở và màu mè lặng ngắt: cùng với cuộc sống đẹp, mùi hương nơi này không bao giờ quên nổi.
Thơ tôi bỗng mọc
Một quả chuông linh từ
Đời sống là ngôi chùa nhỏ
Tôi thức vang mỗi ngày
Phương cách phổ biến nhất để hòa giải giữa tôn giáo và khoa học là xác định rằng chúng khác nhau nhưng bổ sung lẫn nhau các phương cách để am hiểu thế giới. Nghĩa là, tôn giáo và khoa học mang lại những “chân lý” khác nhau mà, nếu sử dụng chung, sẽ trả lời được mọi câu hỏi về chính chúng ta và vũ trụ.
Tôi nhớ mãi cái khoảng khắc tĩnh mịch đó, khi tôi ngồi trước đền mộ D.H. Lawrence, nghĩ về K., về tương lai chúng tôi, về những đứa con của tôi sau này, và cảm nhận một điều, vừa là khuyến khích, vừa là thử thách, làm sao để sống trung thực với sự xa lạ của chính mình? Làm sao để có hạnh phúc mà không phải thương lượng?
Bao giờ cũng vậy, khệnh khạng ra buồng ăn việc trước tiên tôi rót cho mình ly rượu đỏ, vớ bất cứ đia nhạc nào ngay tầm tay bỏ vô đầu cd ngồi nhịp,
nhịp uống khan.
Lúc bắt đầu ở đôi môi
Tôi đã mơ về xa hơn
Lúc sóng tràn qua đôi mắt
Khởi nguyên giấc mơ triều dâng ngóc ngách tâm hồn.
Vua tiến sâu vào vựa lúa, thấy một vườn hoa tuyệt đẹp…. Giữa vườn hoa có một lán nhỏ, thanh tao. Trong lán, một thanh niên đang cầm bút. Vua rùng mình: phong cách, gương mặt thanh niên ấy y hệt như mình thời niên thiếu. Vua mừng rỡ, dơ tay vẫy, cất tiếng gọi. Thanh niên biến mất.
Lời Huyết Âm này triệt để vận dụng cái thần khí châu chấu chuồn chuồn trong bát quái thần-hôn [sớm-tối], cả tinh lực cuồng phổi trong tro bụi phận người, mà hóa biến, mà phù phép được rằng “Lời” phải trốn chui nhủi, ẩn tàng trong một mớ âm và ngữ, kiểu “biển lớn rót chưa đầy một chén nhỏ”.
Nguyễn Lương Vỵ cảm ứng sâu đậm với những nhà thơ tượng trưng, anh không chừng là nhà thơ duy nhất còn giữ một linh hồn tượng trưng trong số những người làm thơ trong vùng trời ngôn ngữ Việt hôm nay.
Như thế, em đã bước ra từ buổi chiều vàng
Suối róc rách trong chiếc lá
Có sắc tím của tiếng vĩ cầm còn đọng lại
Khúc lam điền dế gáy rân
Như thế, buồn làm chi? Em ngoan!!!
Hãy mở cửa ngực chiều
Sóng vùi trong cát sóng vùi trong nắng
Khi trước đọc thơ Nguyễn Lương Vỵ tôi khi thì nghĩ thơ Vỵ có cái chất Bùi Giáng, khi thì cho rằng ảnh hưởng Joseph Huỳnh Văn, khi thì bảo rằng phảng phất Hàn Mặc Tử, khi thì ngan ngát Bích Khê. Bây giờ sau khi đọc tập Huyết Âm, tôi chợt nhận ra rằng cái chất, ảnh hưởng, phảng phất, ngan ngát vừa nói đan kết vào nhau quyện thành một khối sản sinh ra Nguyễn Lương Vỵ.
Trong một trạng huống “không ngửi được”, Nguyễn Lương Vỵ đã tìm mọi cách để nhét những bất bình của mình vào giữa hai con âm. Tìm cách hướng người đọc vào những “động thái” bên lề, nhằm quên đi một thực tại đang được dựng xây bằng máu và nước mắt.
Trong tác phẩm Ði tìm Thượng Đế của Darwin, Miller công bố một thần thuyết phổ quát, “Hãy nhớ, thêm một lần nữa, rằng những người có đức tin tin rằng Thiên Chúa của mình đang hoạt động trong thế giới hiện tại từ công trình hòa hợp giữa vật lý học, hóa học với chủ nghĩa thiên nhiên của ngài.”
Thơ Nguyễn Lương Vỵ do đó, có thể không đem niềm hoan lạc đến cho độc giả! Nhưng có hề chi, khi Thơ, trước nhất, phải là niềm hoan lạc của chính hắn. Tác giả. Như người tự cắt thân thể mình. Nhìn dòng máu chảy.
Ẩn trong máu là lời gào lớn
Thấm xương da tóc ớn mày môi
Âm vang đã mất mạng rồi
Còn Phương Ý rưng xác trôi tuyệt mù
Đâu vội giục gì trăng sớm lu
Đầu xanh sớm bạc lửa lên mù
Hỡi ơi đau cả Âm và Huyết
Tan hết trần gian mộng chớm gù
Bình Luận mới