Bài đã đăng của Cung Tích Biền
Tên thật Trần Ngọc Thao. Sinh ngày 8-2-1937 [tháng 12 năm Bính Tý], khai sinh ghi 1938, dưới chân Nỗng Ông Tào, Thăng Bình, Quảng Nam.
Sống tám năm thời Pháp thuộc [1937-1945]. Chín năm trong vùng Kháng chiến Liên khu V [1945-1954]. Hai mươi mốt năm Việt Nam Cộng Hòa [1954-1975]. Từ 1975 đến nay [2008] dưới chế độ Cộng sản.
Từ nhỏ có đến trường đàng hoàng. Thời Kháng chiến hoc hành lang bang. Sau 1954 học trường Diên Hồng [Phố Cổ Hội An], Quốc Học Huế, Đại học Văn khoa Huế, Đại học Luật Sàigòn. Không tiếp tục học đại học. Khởi nghiệp văn khá sớm. Năm 1961 dạy Anh văn và Việt văn tại các trường trung hoc ở Quảng Nam. Năm 1963 động viên vào trường Võ Bị Thủ Đức, khóa 17.
Tốt nghiệp Trường Sĩ quan Hành chánh Tài chánh khóa 10, thuộc Bộ Quốc phòng Quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Từng phục vụ qua các đơn vị 211 Pháo Binh [Sư đoàn 21 Bộ binh, Bạc Liêu], Trung đoàn 10 Kỵ binh [Đức Hòa] và Tiểu đoàn 251 Pháo Binh [Sư đoàn 25 Bộ Binh, Tây Ninh].
Từ 1970 là giảng viên Trường Sĩ quan Hành chánh [Sàigòn]. Lập gia đình năm 1972. Giải ngũ năm 1973, cấp bậc Đại úy. Giáo sư Thỉnh giảng Viện Đại học Cộng đồng Quảng Đà [Đà Nẵng]
Sau 30 tháng 4-1975, sống lây lất bằng đủ thứ nghề. Đạp xe ba gác, chạy xe ôm, thu gom ve chai, làm cu ly bốc vác, thợ mây tre lá, thợ sơn mài... Năm 1982 tạm ổn định nhờ vợ buôn bán sơn mài. Bản thân mang rất nhiều thứ bệnh. Hơn vài thập niên nay làm thân chùm gởi trong gia đình.
Nghề và nghiệp trọn đời: Viết văn.
Là một nhà văn độc lập. Có truyện và thơ đăng trên các báo từ 1958, với nhiều bút hiệu lúc ban đầu [Chương Dương, Việt Điểu, Uyên Linh] trước khi có bút hiệu Cung Tích Biền.
Bút hiệu Cung Tích Biền xuất hiện lần đầu tiên tên tuần báo Nghệ Thuật [tháng 3-1966] tại Sàigòn, với truyện ngắn Ngoại Ô Dĩ An và Linh Hồn Tôi. Nhanh chóng có truyện đăng trên hầu hết các nhật báo, tuần báo, tập san văn học nghệ thuật có giá trị, trước và sau 1975, trong và ngoài nước, cả trên các trang web văn học. Có tác phẩm dịch sang ngoại ngữ, in chung với nhiều tác giả, phát hành ngoài nước.
Tác phẩm đã xuất bản:
- Ai Tỉnh Ai Điên [Trí Dũng, SG 1969]
- Nỗi Buồn Thắp Sáng [Trí Dũng, SG 1969]
- Hòa Bình Nàng Tình Rỗng [Trí Dũng, SG 1970]
- Trên Ngọn Lửa [in chung, Hoàng Đông Phương xb 1971]
- Cõi Ngoài [Kỹ nguyên, SG 1970]
- Bạch Hóa [in chung Những Truyện Ngăn Hay Nhất Quê Hương Chúng Ta, xb Sóng, SG-1974]
- Chim Cánh Cụt [Long An xb 1990]
- Một Thời Lưu Lạc [Long An xb 1990]
- Tình Yêu Mùa Ảo Ảnh [Đồng Nai xb 1990]
- Thằng Bắt Quỷ [Tân Thư xb, Hoa Kỳ 1993]
- En Traversant le fleuve [in chung, Edition Philippe Picquier, Paris]
- Thằng Bắt Quỷ [in chung, Kim Đồng xb, Hà nội, trong Tổng Tập Truyện Ngắn VN Thế Kỷ XX]
Hiện các tác phẩm của Cung Tích Biền sáng tác trước 1975 đang bị cấm lưu hành tại Việt nam. Tác giả hiện sống tại Đồng Ông Cộ, Sàigòn, Việt nam.
Từ Phạm Thiên Thư, nghĩ về thơ và nhạc
Một nhà thơ, mặc áo nhà sư, thanh thoát tiếng chuông boong, nhưng cuộc đời ấy chẳng thể nào thoát ngoài phận đời chốn phù du. Ngoảnh lại, ai đã thốt ra lời này, một …
Đọc AI, nghĩ một chữ Tình
Đọc AI là đọc một quyển từ điển về vô số vô cùng mất tích. Là một tập khảo luận công phu và giàu có về cuộc truy tìm, đáo hồi chỗ bản lại diện mục. Là một tập văn chương, sáng tác, với nghệ thuật đỉnh điểm, giàu mơ hoặc, mộng tưởng về sự còn mất trong nhân gian.
Đọc AI là dấn mình vào một cuộc gây cấn, đi tìm ý nghĩa của hiện hữu, tìm cái Ta đích thực trong những cái Ta phân mảnh. Với một cái Ta luôn rung chuyển, bị vỗ đập như rong biển bởi các tác động muôn đời được gọi là thế gian, tôi đọc AI với rất đỗi bàng hoàng.
Câu chuyện bầu cử
Tôi có cơ duyên, đi cùng các cuộc bầu cử, từ 1946 tới 2024, qua nhiều thời kỳ, các thể thế chính trị, tại quê nhà, cả trên xứ Mỹ, ghi lại đây chút sự đời, có vui lẫn buồn, dân chủ lẫn độc tài.
đôi khi nghĩ về huế
Trần Doãn Nho là bút hiệu của Trần Hữu Thục. Trần Hữu Thục, tên thật, cũng là bút hiệu của… Trần Doãn Nho. Hiếm có nhà sáng tạo nào giống trường hợp này. Hai ông này chia nhau viết. Ông Nho phần sáng tác thơ, nhạc, truyện ngắn, truyện dài. Ông Thục phần nghiên cứu, biên khảo, nhận định văn học, ngôn ngữ, chính trị, xã hội.
phạm duy – chương kết
Tôi viết về Nhạc sĩ Phạm Duy, khá dài, nhiều chương, với một tình cảm thân thiết, rõ ràng, đơn giản, như ta nói thân hình ông ta chia làm ba phần đầu mình và tay chân, trong đầu có bộ não, vầy thôi, nhưng hẳn sẽ làm rất nhiều người không đồng tình. Thậm chí cay đắng, “Thằng này đã ca ngợi thằng kia.”
phạm duy, tự giải – chương 8
Xin nói ngay: tôi không có đủ tài sức để phổ nhạc trên 3,000 câu thơ tuyệt vời của thi hào Nguyễn Du đâu! Tôi chỉ xin được đưa ra bốn bức Minh Họa Truyện Kiều. Minh họa ở đây — xin dịch là illustration — có nghĩa là hiển dương, là làm tăng thêm vẻ đẹp sẵn có của thi phẩm, là làm cho thơ có thêm mầu sắc, có thêm tầm vóc…
phạm duy. tục ca, những ngả đường nghệ thuật – chương 7
Không phải ca khúc nào của Phạm Duy cũng được phổ biến rộng rãi, bao người yêu thích như đã từng. Loại nhạc này phần đông người nghe không muốn nghe, ca sĩ không dám hát, đương nhiên không phải vì chính quyền nào đó đó cấm hát. Nhạc sĩ sáng tác, chỉ mỗi nhạc sĩ đó hát… nhạc của mình, mà thôi. Đó là Tục Ca, trong trường hợp Phạm Duy.
phạm duy, người hóa kiếp thơ – chương 6
Chỗ nào cũng là “đất dụng võ”, là dịp để ông thể hiện tài năng và nghệ thuật sử dụng tiếng Việt, vốn rất ư giàu có. Phạm Duy có cái tầm mặc khải được những điều bất khả thể, trong cái thế giới tâm linh, và siêu nhiên. Ông đi cùng nguồn ngữ, bên này thử ngạn sang bờ kia bỉ ngạn, mê và giác; từ sơ nguyên đầu nguồn ra cửa bể con sông tư tưởng, bình dị tới hàn lâm. Là phù thủy ném vải hạt gạo ra cánh bướm, hô biến cá chép hóa rồng.
phạm duy đi rồi, âm vang còn dội – chương 5
Những lời man mác, ý tình bàng bạc, ngôn ngữ rất mới, của thơ, tạo những biểu cảm sâu lắng như vậy mà cấm được ư! Chỉ vì một Phạm Duy không còn chung hang ngũ, mà đành tâm tận diệt những tác phẩm đáng lưu dời vậy sao! Hoàng hôn, nhóm một bếp lửa dưới mái tranh nghèo, nấu một nồi khoai, cùng nhau chấm muối mà ăn. Sáng thức giấc. Nhìn làn sương mỏng phủ trên mái tranh, hàng trúc đầu vườn bạc đầu, lại tủi cái thân nghèo, đàn con nhỏ. Có ai than thở ru đưa cái kiếp nghèo, như Phạm Duy.
phạm duy thời lãng mạn kháng chiến – chương 4
Phạm Duy bị Việt Minh kết án phản quốc, theo giặc Pháp. Nhạc Phạm Duy bị bôi lọ là phản chiến, ủy mị, cá nhân chủ nghĩa, tư sản lãng mạn, có nguy hại cho công cuộc toàn dân chống ngoại xâm. Nghĩa là xóa trắng tất cả danh dự và danh nghiệp của Phạm Duy. Trong các vùng quê có cả một vở kịch tự biên tự diễn, “Đả Đảo Phạm Duy”.
phạm duy lên đường-chương 3
Không có mặt những từ ngữ “bề thế, thời thượng”, những hữu thể, hư vô, hố thẳm, tha nhân, buồn nôn phi lý, những nan vấn triết học. Nhưng lời ca rất hàn lâm, gọn, đẹp. Ý tình tha thiết, êm đềm, trải rộng tình nhân gian. Đó là Phạm Duy.
phạm duy, ra đi từ lúc trăng tơ – chương 2
Phạm Duy, ông đến từ Hôm Ấy, vắng mặt Hôm Nay. Ông cỡi-hạc-ra-đi đã nhiều năm, nhưng ông vẫn còn lơ lửng trong mắt người. Như một con diều giấy rực rỡ bay trong một chiều vàng no gió, khi diều đã đứt dây, rơi rụng, bọn trẻ nhắm mắt, con diều thân yêu vẫn còn bay trong bóng tối mắt mình.
phạm duy, một cái nhìn chung về phạm duy – chương 1
Ra đời từ 1921 Phạm Duy không là kẻ “bất phùng thời”. Mà, “gặp thời”. Nhưng “gặp thời” này rơi vào một kẻ khác, không là Phạm Duy, hẳn chúng ta không có hàng nghìn bản nhạc, trong đó hàng trăm là những danh tác. “Gặp thời” này là một quà tặng thời thế dành riêng cho Phạm Duy. Phạm Duy thật lòng, làm quà tặng, tặng lại cho đời.
dương nghiễm mậu-một vụ án văn chương
Ở một nơi mà ba quyền căn bản trong việc trị nước, Lập pháp, Hành pháp, và Tư pháp chỉ quy vào một nơi; nơi này có toàn quyền trong hành trình theo dõi, bắt người, giam tù, xử án; còn phía kia, tiêu biểu là dân chúng, phải tuyệt đối chịu trận, tuân thủ, dù phải tuân thủ một bản án chết oan; thì đương nhiên công lý chết toi.
hoàng trúc ly – huyền ảo những chiêm bao
“Hoàng Trúc Ly là một nghệ sĩ khéo lựa tiếng đàn. Trong thi phẩm từ ngữ luôn luôn tạo thành một hòa âm tinh tế. Thường những bài lục bát của Hoàng chỉ có bốn câu, nhưng bốn câu ấy tựa vào những âm vọng, âm hưởng hòa hợp lẫn nhau để tạo thành một sinh khí, một cơ thể, một năng lực.
nguyễn bắc sơn – một nẻo đời khác
Trong thơ Sơn rặt từ thuần nôm, dân dã, văn là văn nói thông thường, chỗ đường sá, chợ búa, quán nhậu. Nhưng, khi mớ ngôn ngữ này nằm trong thơ Nguyễn Bắc Sơn, chúng nó như được thoát xác, bỗng dưng bay bổng, thanh thoát, khoác chiếc áo thi ca; đích thực là hư ảo, đa tầng ngữ nghĩa.
ý nghĩ
Bơ vơ riết rồi cũng quen. Thấy người chết không cảm động. Thấy chia ly không buồn. Dửng dưng với sân ga. Ai vĩnh biệt kệ cha. Đêm như ngày, mưa nắng như nhau. Kỷ niệm như da thịt dính liền với thân thể không thể cắt bỏ không thể đổi màu.
rắn sài gòn
Cũng là chủ trương chung trong kinh tế xã hội chủ nghĩa lúc bấy giờ, mỗi thành phố lớn phải là một “đại điểm” tập hợp được cả ba ngành, thương, công và nông nghiệp. Là nơi mua bán trao đổi hàng hóa, có luôn cả những xí nghiệp sản xuất đủ thứ ầm bà làng từ hộp sữa tới cái xế bốn bánh, thêm/gồm/ luôn cả nông nghiệp mần ra vườn rau ruộng lúa. Nói chung là ta đủ tự cường lẫn tự cung tự cấp, không cần nguồn ngoại nhập.
thành tôn, người đi tìm dĩ vãng
Săn lùng tung tích “bọn chúng”, là bọn sách cũ có giá trị, quý hiếm ấy, gom nhặt, nhưng không có mục đích làm một thư phòng cho riêng mình; mà, luôn dành tặng cho những ai “mê cái chữ”; trong ấy phần lớn là các nhà nghiên cứu văn học, văn chương, lịch sử. Lạ lùng, Thành Tôn tặng một người bạn thân, cả đôi người chưa quen biết, nhưng “Anh ạ, tôi cần quyển sách ấy”. Nếu người được tặng sách quên lời cảm ơn, cũng chẳng sao, lần sau gặp lại, nếu cần thêm, tặng thêm.
một lần trở lại
Hai người nữ trong một thoáng bất ngờ chưa kịp phản ứng gì. Nhưng cái ám ảnh về bi kịch thức giấc. Một người quay lại ôm thi thể người nằm đợi, và một người đứng lên nhìn sững sờ người đàn ông vừa xuất hiện.
Thu Đi, Cá Trở Về Nguồn
Thuở kia, loài cá hồi này được mấy bà mẹ đẻ ra ở đầu nguồn. Chúng theo sông, trôi ra hồ. Ra tận biển. Khi trưởng thành, giựt mình, thấy đã phiêu bạt, xa bờ hằng nghìn cây số, nay chúng tìm về “Nơi mẹ đã sinh ra tôi”.
Tân truyện Cung Tích Biền: Một Thời Nên Vắng Mặt
Văn Học Press
trân trọng giới thiệu
Một Thời Nên Vắng Mặt
tân truyện
Cung Tích Biền
Văn Học Press xuất bản 2021
Bạt: Nguyễn Vy Khanh, Đặng Thơ Thơ, Lê Hữu
Tranh bìa: Hoàng Thị Kim
Thiết kế bìa: Hubert Phan
Ấn phí …
MỐI TÌNH MƯA BONG BÓNG
Trời đổ mưa bên ngoài. Qua khe cửa là những làn chớp soi. Tôi nhắm mắt để Miên đưa đi, đưa tôi vào huyệt. Tôi thoáng nhận nơi gối và chiếu chăn của Miên có một mùi thơm kỳ lạ. Mùi đời lúc hấp hối. Mưa vẫn rơi dìu dặt bên ngoài. Một cơn mưa tiễn chân tôi vào thế giới đàn bà.
NGÀY TRỞ LẠI THÀNH PHỐ
Liên đi khuất một rặng dương rồi ra phía biển trước khi vào quán nước. Chắc con nhỏ nhớ mấy con còng. Liên vác cây nạng lên vai, chạy thoăn thoắt theo đám bọt sóng đang lăn tăn trên cát. Hoán nhìn về phía Liên rồi nhìn về phía những đám mây thâm thấp. Hoán nằm dài trên ghế đá. Trăng lưỡi liềm nhợt nhạt trên nền trời lạnh lẽo. Tinh tú chạy lang bạt. Cả vũ trụ như đang lao xao theo một sự thu hút nào vô nghĩa.
Đặng Phú Phong Chạm Ngõ Vô Thường
Chạm Ngõ Vô Thường là một thành công của Đặng Phú Phong. Nó cho ta những xúc cảm tràn đầy, những nỗi buồn kín đáo. Nó nới rộng bãi bờ của tình yêu. Nó là tâm sự của chúng ta, đi dưới hàng cây đổ bóng chiều, để thương về, để nhớ tới một ai. Một ai đó, đã từng…
HUỲNH NGỌC CHIẾN NGƯỜI ĐI, CHUYẾN TÀU SỚM.
Huỳnh Ngọc Chiến hiểu ra chỗ vi diệu này, nên càng làm việc nhiều anh càng cẩn trọng. Hầu hết sách tái bản, Chiến đã ra công chỉnh sửa, hiệu đính. Lại khiêm tốn, luôn tìm gặp những người Chiến tin là uyên bác hơn mình để tham vấn, học hỏi
Ba Mươi Tháng Tư Thế Võ Lật Bánh Tráng
Bấy nay chúng ta “say” bởi một loại thuốc an-thần-tư-tưởng. Bị đẩy tới chỗ mù lòa trong tư thế chọn lựa.
Trong một thực tế hối hả, đần độn, có không ít chúng ta, mỗi con người, một thời, đã trỗi dậy những giấc mơ. Mơ, và Mong. Mơ làm anh hùng, và mong được chết anh hùng.
Lính Mỹ đã có mặt- Phần II: ĐẤT ĐAU ĐẤT CŨNG RÙNG MÌNH
Đám hành khách xe đò một đoàn lang thang, nhạt nhòa trong hoàng hôn đi về hướng cầu. Một thanh niên trong họ khuyên bà con nên vào ngay cổng đồn lính Mỹ xin cầu cứu, trú ngụ qua đêm, đồn lính Mỹ có nhiều thực phẩm thuốc men, chỗ trọ sạch sẽ. Đám phụ nữ và các cô gái trẻ phản đối, lý do, “rất sợ lính Mỹ”. Vì sao mà sợ? Sợ bọn Mỹ hiếp dâm? Ai nói vậy? Người Bên Kia nói. Nói, một trăm phần trăm lính Mỹ là bọn hiếp dâm đàn bà gái trẻ, là luôn đốt nhà, giết trẻ em.


Bình Luận mới