Trang chính » Bàn Tròn: Nghệ Thuật & Chính Trị, Biên Khảo, Giới thiệu tác giả, Giới thiệu tác phẩm, Kiểm Duyệt Văn Hóa Nghệ Thuật Email bài này

Trái Cấm

♦ Chuyển ngữ: 0 bình luận ♦ 27.12.2025
Cover Charlie English

Giới thiệu của người dịch:

Khi một chế độ vừa dối trá vừa dùng vũ lực bịt miệng người nói thật để ra vẻ chính danh, thì người dân sẽ tìm đọc và truyền tay nhau sách ‘cấm’, tìm nghe và truyền tai nhau tin ‘cấm’.

10 triệu ‘trái cấm’, tức 10 triệu sách báo cấm đã được truyền tay người đọc ở Đông Âu trong 30 năm, trước khi các chế độ cộng sản lần lượt sụp đổ năm 1989.

Đó được cho là bí mật bậc nhất trong Chiến tranh Lạnh. Cuốn “The CIA Book Club: The Best-Kept Secret of the Cold War” của Charlie English, xuất bản năm 2025, nói về câu chuyện ít người biết này. Và bản dịch dưới đây là Chương Dẫn nhập vào sách, có tên “Teresa’s Flying Library” [thư viện bay của Teresa], nói về cách sách cấm từ phương Tây đến tay người đọc dưới chế độ toàn trị Ba Lan.

Ngược với thời kỳ hạn hán sách và tin thật lúc đó ở nhiều nơi, giờ lại là thời kỳ ngập úng tin vịt, tin sai và ý kiến ngụy biện khắp nơi. Nhưng như xưa, con người vẫn cần những cuốn sách, bài báo và thông tin chân thực như cần không khí trong lành, để, nói như Adam Michnik, có thể “thở được, sống được mà không phát điên.”

Tựa, số các đoạn và ghi chú trong ngoặc vuông là của người dịch.

Nếu biết dùng, chữ nghĩa có thể là quang tuyến X xuyên qua mọi sự.
Bạn đọc chữ và chữ đâm xuyên qua bạn.
–Aldous Huxley, Brave New World

1.

Mọi sự bắt đầu với một cuốn sách. Một cuốn rất đặc biệt, hiện nằm trong thư viện khoa xã hội Đại học Warsaw, thủ đô Ba Lan. Thư viện là một kho báu văn chương, nhưng thú vị là nó nồng mùi giấy cũ và bụi. Không gian thư viện chật cứng kệ sách, có chỗ phải xoay ngang người mới đi qua được. Cuốn sách ất mỏng, như một cuốn bìa mềm thường thấy, nhưng có cái bìa rất lạ.

Bìa bóng, in hình phòng máy điện toán thập niên 1970, với các chuyên gia thông tin mặc quần ống loe, đeo cà vạt bản rộng, gõ lệnh vào thiết bị trên một bộ máy tính kềnh càng cổ lỗ sĩ.

Bìa trước không ghi tên sách, chỉ ghi những dòng mô tả hình bìa: “Master Operating Station” [trạm điều hành chủ], “Subsidiary Operating Station” [trạm điều hành phụ] và “Free Standing Display” [màn hình rời]. Còn bìa sau lại đầy những mã lệnh và ngôn ngữ kỹ thuật khó hiểu và cũ kỹ.

Chán! Thật vậy, chẳng sách nào đáng chán hơn một sổ tay kỹ thuật đã lỗi thời. Thế nhưng, mở trong ra lại là một bí mật.

Sau những trang ố vàng, giòn, sờn – dù gáy sách được dán đi dán lại, thay bìa cứng cẩn thận, các trang vẫn muốn rớt ra bất cứ lúc nào – hóa ra, đây không hề là sách của thập niên 1970, cũng chẳng phải sổ tay kỹ thuật. Sách được in lần đầu ở Paris năm 1953. Trang nhan đề ghi rõ tên sách và tác giả: 1984, của George Orwell.

Đó là ấn bản tiếng Ba Lan của tiểu thuyết nổi tiếng chống toàn trị của nhà văn Anh có xu hướng xã hội. Tác phẩm đã bị các cơ quan kiểm duyệt cộng sản ở Đông Âu cấm suốt mấy chục năm trời.

Làm sao và tại sao cuốn sách ấy đến được đây?

Để tìm câu trả lời, tôi đã đến gặp người phụ nữ sở hữu cuốn sách. Chị tên là Teresa Bogucka.

Teresa Bogucka hiện nay và ở cuối thập niên 1970
(Nguồn ảnh: link)

Teresa Bogucka – sinh năm 1945, nhà báo, nhà văn, nhà xã hội học. Đồng tổ chức các cuộc biểu tình sinh viên tháng 3/1968, từ thập niên 1970 gắn bó với Câu lạc bộ Trí thức Công giáo, đồng sáng lập Ủy ban Bảo vệ Công nhân, nhà hoạt động của Công đoàn Đoàn Kết (Solidarność), bị giam giữ trong thời kỳ thiết quân luật, đồng tổ chức báo chí hoạt động bí mật và các tổ chức của giới sáng tạo. Nhiều năm là thành viên ban lãnh đạo Quỹ Batory, thành viên Ủy ban Helsinki. Người đoạt Giải thưởng Kisiel. (Nguồn: link)

2.

Teresa Bogucka sống cùng hai con mèo ở ngoại ô Solec, Warsaw, trong một căn hộ chật kín sách và tranh ảnh. Từ căn hộ, bà có thể nhìn thấy công viên hướng bắc, nơi những hàng cây, vào những ngày thu ướt át như hôm ấy, nhỏ xuống những giọt vàng óng, và về phía nam, cửa sổ mở vào tiếng chim chóc huyên náo đòi ăn.

Ở tầng trệt tòa nhà là thư viện mang tên Jan Nowak – một anh hùng thời chiến, cũng nhà văn và lãnh đạo lâu năm của Ban tiếng Ba Lan thuộc Đài Phát thanh Châu Âu Tự do (Radio Free Europe) – người đã sống những năm hưu trí trong chính tòa nhà này. Khuất bên kia tường phía đông là sông Vistula, một trong những con sông dài và quan trọng nhất Ba Lan, uốn mình chảy về phía bắc qua vùng đồng bằng hướng tới Gdańsk và biển Baltic.

Chính cha của Teresa, nhà phê bình nghệ thuật Janusz Bogucki, là người mang cuốn sách nói trên về Ba Lan.

Năm 1957, sau cái chết của Stalin ở Liên Xô, nhân lúc Ba Lan phần nào nới lỏng kiểm soát, Janusz lần đầu tiên được phép sang thăm phương Tây, và ông đã chọn đến Paris.

Ông mua bản dịch cuốn sách 1984 của Orwell từ một nhà phân phối sách Ba Lan, có lẽ là ở Libella, một hiệu sách nhỏ trên con phố yên tĩnh khu Île Saint-Louis, tiểu đảo ngay sau lưng Nhà thờ Đức Bà Paris. Ông cũng chọn thêm vài cuốn khác, trong đó có tuyển tập thơ của người sau này đoạt giải Nobel Văn chương năm 1980 là Czesław Miłosz, cùng vài số Kultura, tạp chí của giới lưu vong Ba Lan. Những ấn phẩm này khi ấy đều bị cấm ở Ba Lan, Janusz phải giấu chúng trong hành lý, đi xuyên biên giới và đem về tận nhà ở miền quê, nơi gia đình ông dọn về để tránh bị thanh trừng thời Stalin. Và thế là 1984 đã đến tay cô gái Teresa.

Khi đó, tuy mới 10 hoặc 11 tuổi, nhưng Teresa đã là một độc giả lớn trước tuổi, và truyện của Orwell đã nổ như một tiếng sét trong lòng cô. Teresa nói: “Cuốn sách làm tôi chấn động.”

3.

Ngay khi còn nhỏ, Teresa đã nhận ra rằng Ba Lan cộng sản chẳng khác gì Oceania, tức xứ sở ‘phản địa đàng’ hư cấu của Orwell. Ở trường, thầy giáo dùng ngôn ngữ sặc mùi chính trị để cổ xúy tư tưởng cộng sản và ngăn mọi suy nghĩ bất đồng. Mọi bài học đều thòng nội dung tuyên truyền cho Đảng, với giả định rằng Ba Lan đang bị chủ nghĩa đế quốc phương Tây đe dọa, rằng phát xít Đức muốn xâm lược lần nữa, và rằng Mỹ tính thả sâu rầy Colorado xuống các cánh đồng khoai để làm dân Ba Lan chết đói.

Những điều ấy khác hẳn những gì cha mẹ Teresa nói thường ngày ở nhà. Dĩ nhiên, cha mẹ cô không thể nói toẹt ra là thầy và trường dối trá, vì e rằng lời thật ấy sẽ lọt vào tai Đảng, gây rắc rối. Thực vậy, để sống được ở Ba Lan cộng sản, con người phải có khả năng mà Orwell trong sách gọi là “doublethink” [tư duy kép], tức phải giữ “hai niềm tin trái ngược trong đầu cùng lúc” và chấp nhận rằng cả hai đều đúng.

Giữa thập niên 1960, Teresa Bogucka giành được một chỗ ở Đại học Warsaw, nơi cô gia nhập một nhóm những người trẻ có tư duy độc lập, muốn đặt câu hỏi về mọi sự. Cô mang theo sách, trong đó có 1984, cho bạn mượn. Một số bạn chưa thấy sách cấm bao giờ rất sợ, vì nếu bị bắt gặp, họ có thể bị đuổi học hoặc bị mật vụ quấy nhiễu. Nhưng, ai dám đọc thì lại gắn chặt với nhau bởi cùng là ‘bọn phạm pháp’, cùng là những kẻ ‘ủ mưu.’

Teresa và các bạn sinh viên đều lớn lên trong hệ thống cộng sản, được đào tạo để nhìn đời qua lăng kính Mác-Lê, nhưng dù vậy họ vẫn còn biết tin vào trí tuệ của chính mình. Teresa thổ lộ: “Ở khắp nơi quanh chúng tôi, người ta nói về biện chứng pháp Marxist, trong khi chúng tôi tin mình là những người trẻ thuộc ‘phe’ xét lại. Chúng tôi muốn thử xem rồi ra mọi thứ thực sự là gì.” Họ ngấu nghiến, càng nhiều càng tốt, sách kinh tế và xã hội học, đơn giản chỉ vì họ muốn biết Marx đúng hay sai?

Tiếng tăm của họ như những kẻ suy nghĩ cấp tiến khiến một giáo sư đặt cho Teresa và nhóm của cô danh hiệu “the Commandos” [biệt kích]. Theo thời gian, các Commandos đi tới một kết luận xanh dờn kiểu ‘dị giáo’, điều sẽ định hình cả cuộc đời trưởng thành của họ, rằng Marx đã sai!

4.

Vài năm sau, năm 1976, khi đất nước rúng động bởi các cuộc đình công và bất ổn, Teresa tham gia phong trào đối lập đang nhen nhúm. Khi ấy, cô nảy ra ý tưởng lập một thư viện sách cấm, để người dân có thể tiếp cận phần lịch sử họ không được phép biết và những tác phẩm văn chương họ không được phép đọc.

Cô nói bạn bè chung tay góp sách và tặng luôn bộ sách của mình, trong đó có cuốn 1984. Cơ quan an ninh SB, tức KGB kiểu Ba Lan, liên tục theo dõi cô, nghe lén các cuộc trò chuyện, bắt giữ và lục soát căn hộ cô, cô phải nhờ hàng xóm giữ sách hộ. Tuy vậy, hầu như sách vẫn được người đọc truyền tay nhau, bởi dù sao, đây sẽ trở thành một “thư viện bay”, hiếm khi chạm đất, hiếm khi tập trung một chỗ.

Hệ thống cho mượn sách bí mật này hoạt động qua một mạng lưới cộng tác viên, mỗi người phụ trách một nhóm độc giả nhỏ và chặt chẽ của riêng mình. Teresa phân loại sách theo các hạng mục như chính trị, kinh tế, lịch sử, văn học, rồi chia sách thành từng gói 10 cuốn, ấn định cho mỗi cộng tác viên một ngày cụ thể đến nhận gói sách của mình, bỏ trong túi đeo mang đi. Tháng sau, họ sẽ trả sách ở một địa chỉ khác, trước khi nhận gói sách mới.

Nhu cầu đọc sách rất lớn, chẳng bao lâu sau, cô phải tìm thêm nguồn cung. Chúng chỉ có thể đến từ phương Tây. Những người bạn hoạt động bí mật đã lén chuyển thông tin sang London, Anh Quốc, nơi các nhà xuất bản lưu vong sắp xếp gửi từng chuyến hàng, gồm 30 hoặc 40 cuốn mỗi lần.

Cách chuyển như sau: Họ mang sách tới Gare du Nord ở Paris, tức ga đầu mối phía tây của tuyến tàu xuyên Âu chạy suốt ngày đêm. Một người sẽ lên tàu tại Gare du Nord với một va-li sách, vào khoang vệ sinh, tháo tấm ốp trần và đẩy va-li sách vào khoảng trống sát mái. Sau khi rời tàu, người này sẽ gọi điện thoại qua Warsaw với thông điệp mã hóa để báo số toa có va-li sách. Tại Poznań, điểm dừng đầu tiên của đoàn tàu trên đất Ba Lan, một hành khách khác sẽ lên tàu, tháo tấm ốp và lấy chiếc va-li ra, mang sách đến cho Teresa.

Đến năm 1978, “Thư viện Bay” của Teresa Bogucka đã có khoảng 500 đầu sách cấm. Cô mở nhiều chi nhánh phụ ở các thành phố Ba Lan. Đến khi chuyển sang các hoạt động đối lập mới, cô giao lại thư viện cho một người hoạt động khác, và người này đã tiếp tục cho mượn sách theo cách vừa kể suốt thập niên 1980.

Sau năm 1989, khi Bức tường Berlin sụp đổ, thư viện với toàn bộ sách được đưa về đây, khoa xã hội thuộc Đại học Warsaw.

5.

Có bao nhiêu người đọc bản sách 1984 này trong những năm tháng then chốt Chiến tranh Lạnh? Có lẽ hàng trăm, hoặc hàng ngàn.Nhưng đây cũng chỉ là một trong hàng triệu đầu sách được đưa lậu vào Ba Lan, và Ba Lan cũng chỉ là một trong khối các nước Xô-viết rộng lớn hơn, mỗi nước đều tiếp nhận một số lượng khổng lồ sách báo cấm.

Sách báo được đưa vào bằng đủ mọi cách có thể: giấu trong xe tải, trên du thuyền, gửi bằng khinh khí cầu, qua đường bưu điện hoặc trong hành lý của người đi lại. Những bản in mini được giấu trong bản nhạc của các nhạc công lưu diễn, nhét vào lon thực phẩm hoặc hộp băng vệ sinh. Có trường hợp, một bản Quần đảo Gulag của Aleksandr Solzhenitsyn được mang trên một chuyến bay tới Warsaw, giấu trong tã lót một em bé.

Từ cuối thập niên 1970, sách và các tập tin cấm cũng được in lại với số lượng rất lớn bởi các nhà in chui ở Ba Lan, bằng những máy in được tuồn lậu từ phương Tây vào, qua đó khuếch đại tác động của nền văn chương chui.

Rồi ngày càng có nhiều người xuất bản chui cho in ấn và phát hành những tác phẩm viết trong nước. Đến giữa thập niên 1980, khi tình hình xáo động hơn, cái gọi là việc ‘phát hành vòng hai’ văn học cấm ở Ba Lan phình to đến mức hệ thống kiểm duyệt cộng sản cũng bó tay không làm gì được.

Tác động của làn sóng văn chương ấy thật lớn. Ba Lan là quốc gia then chốt nhất trong khối Đông Âu, vì khi chủ nghĩa cộng sản sụp đổ vào năm 1989, Ba Lan chính là quân cờ domino đầu tiên ngã xuống, và có thể nói, chính văn học đã thắng cuộc chiến tại đây, như nhà bất đồng chính kiến Ba Lan Adam Michnik khẳng định. Ông nói với tôi rằng: “Chúng ta nên dựng một tượng đài cho sách. Tôi tin chắc rằng chính những cuốn sách đã chiến thắng trong cuộc đấu tranh này. Mỗi cuốn sách giống như một hồ chứa, của tự do, của suy nghĩ độc lập, của phẩm giá con người. Giống như không khí trong lành, sách giúp ta thở được, sống được mà không phát điên.”

6.

Tuy vậy, có một bí mật, một số người hồ nghi, nhưng rất ít người biết chắc, là làn sóng văn học cấm tràn vào và đến tay người đọc Ba Lan không hề diễn ra do ngẫu nhiên. Sách đã được gửi đi như một phần trong chiến dịch tình báo kéo dài nhiều thập niên, được Washington gọi là “Chương trình Sách CIA”. Một phần trong chiến lược này là xây dựng thư viện sách cấm lưu động, tại những vùng nằm sâu phía sau Bức màn Sắt.

Bản 1984 của Teresa là ví dụ sớm về loại nội dung được chương trình bảo trợ. Cuốn sách đó, cùng với các tập thơ Miłosz và những số báo Kultura, được một đơn vị tình báo Mỹ, có mật danh là QRBERETTA, xuất bản tại Pháp. Hiệu sách Libella gần Nhà thờ Đức Bà Paris nơi ông Janusz đến mua cũng là một đầu mối phân phối sách lâu năm của dự án CIA này. Nếu cuốn sách của Teresa suốt 30 năm đã lặng lẽ xói mòn chủ nghĩa cộng sản Xô-viết từ bên trong, thì đó chính là sứ mệnh mà nó được tạo ra để thực hiện.

Đến 2025, gần 40 năm sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, các chiến dịch tạo ảnh hưởng hiện đang có hoành hành khắp nơi. Các cơ quan tình báo, các nhà hoạt động, và cả những tổ chức khủng bố, giờ có trong tay gần như vô hạn những công cụ để tiến hành các chiến dịch chính trị, tâm lý, tác động dư luận. Và ở mức độ nào đó, mặt trận truyền thông, hay tuyên truyền, còn quan trọng hơn cả mặt trận quân sự trên chiến trường.

Thông tin sai đang đe dọa nền dân chủ tự do phương Tây theo cách chưa từng có trước đây. Kiểm duyệt và cấm sách một lần nữa biến trường học và thư viện thành những chiến trường ý thức hệ.

Nhìn từ điểm nhìn hôm nay, có thể nói các chương trình sách của CIA thời đó thật quá ‘dễ thương’. Chúng có mục tiêu chính trị, nhưng không muốn đạt mục tiêu bằng dối trá hay nhồi sọ. Theo người đứng đầu chương trình, ông George Minden, đây là một “cuộc ‘tổng tấn công’ của suy nghĩ trung thực và tự do”, mà họ tin sẽ có kết quả, bởi “sự thật luôn lây lan”. Chỉ cần làm sao cho suy nghĩ độc lập và sự thật có mặt với các dân tộc bị áp bức trong khối Xô-viết, thì chắc chắn nó sẽ giúp xã hội lên men tự do.

7.

Kết quả này hẳn phải được xếp vào hàng những thành tích tình báo ‘trí tuệ’ bậc nhất từng được tiến hành trong lịch sử. Bên cạnh các tạp chí về đời sống hoặc thời trang in ấn bóng bẩy như Marie ClaireCosmopolitan, CIA còn gửi đi các số báo New York Review of BooksManchester Guardian Weekly, các tác phẩm của những người đoạt giải Nobel Văn chương như Boris Pasternak, Czesław Miłosz và Joseph Brodsky; các trước tác triết học của Hannah Arendt, Albert Camus và Bertrand Russell; tiểu thuyết văn học của Philip Roth và Kurt Vonnegut; các lời khuyên về viết lách của Virginia Woolf; kịch của Václav Havel và Bertolt Brecht; cùng các tiểu thuyết gián điệp của John le Carré, đó chỉ là vài ví dụ.

Ban đầu, một số tựa sách có phảng phất hơi hướng của chủ nghĩa đế quốc văn hóa, và nhằm quảng bá nghệ thuật Mỹ hoặc lối sống Mỹ chẳng hạn, nhưng vào những năm sau, tác phẩm được ưa chuộng nhất lại thường là của các nhà văn Liên Xô hoặc Đông Âu, do những người đang sống trong khối, hoặc các tác giả lưu vong, lựa chọn và biên tập.

Hầu như toàn bộ hồ sơ liên quan đến chương trình sách của CIA vẫn đang được xếp vào loại thông tin mật, cũng như tài liệu về các chiến dịch lớn hơn của CIA nhằm hỗ trợ phe đối lập Ba Lan mang mật danh QRHELPFUL. Phần trình bày trong cuốn sách The CIA Book Club này chủ yếu dựa trên các nguồn khác, trong đó có các báo cáo thực địa của người đứng đầu dự án Minden và các cuộc phỏng vấn nhiều đầu mối của ông.

Ở Ba Lan, chủ đề CIA hỗ trợ Công đoàn Đoàn kết – phong trào đối lập chủ chốt tại Ba Lan thập niên 1980 – vẫn là đề tài nhạy cảm. Một số cựu thành viên Công đoàn cáo buộc người Mỹ tìm cách tranh công trong chiến thắng của Ba Lan, hoặc ngược lại cũng có thể đúng, họ lo sợ mình bị xem như tay sai, chỉ làm theo lệnh của CIA. Nhưng cả hai điều đó đều không đúng: CIA hỗ trợ các nhà bất đồng chính kiến nhiều hơn là điều khiển họ.

Dĩ nhiên, không thể phủ nhận rằng người Mỹ giữ vai trò đáng kể trong việc đánh bại chủ nghĩa cộng sản ở Ba Lan, và rất ít người Ba Lan, ý thức rằng mình được hưởng lợi nhờ việc Mỹ bí mật hỗ trợ, lại nói xấu Mỹ về điều đó.

Dù sao, lúc đó Ba Lan cũng như Đông Âu bị cuốn vào một cuộc xung đột sống mái giữa hai siêu cường, và họ tìm mọi cách, dù tuyệt vọng, để giải thoát Ba Lan khỏi cái ách Liên Xô. Trong hoàn cảnh thiện ác đảo lộn và bức bách ấy, điều bất thường có thể xảy ra, nói như một nhà bất đồng chính kiến, “Nếu ác quỷ cho tiền, tôi cũng lấy.”

***

Teresa Bogucka không biết chắc ai là người chi trả cho số sách bà nhận được từ phương Tây, nhưng bà biết chế độ Ba Lan tuyên truyền rằng chính tình báo Mỹ đứng sau hậu thuẫn các nhà xuất bản lưu vong. Điều đáng nói là điều đó hoàn toàn không làm Teresa bận tâm. Bà nói: “Tôi nghĩ, trời ơi, một cơ quan tình báo mà lại đi phổ biến sách, tuyệt quá còn gì!”

./.

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

@2006-2025 damau.org ♦ Tạp Chí Văn Chương Da Màu
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)