tác phẩm của Mel Bochner tại Viện Bảo Tàng Serralves- Bồ Đào Nha
Mel Bochner là một trong những người tiên phong trong Nghệ Thuật Khái Niệm (Conceptual Art), với khuynh hướng đưa ngôn ngữ vào …
Tất cả mọi thứ ứ trồi
Tầng kín thứ 7
Everything made their ways up
To the 7th hidden floor
Ta nhìn họ vắt đợt sữa cuối
mà họ còn vắt ra được từ ta.
Họ đang chờ ta chết;
Họ muốn lấy xương ta làm nút áo.
Tây nguyên nát bét
mưa nước mắt, nhật nguyệt cũng nhàu rỉ
xếp lại chiếc váy màu hy vọng bầu trời
đỏ lên thôi vì thánh thần ngu muội
Những láng giềng phi Trung Quốc của Việt Nam không am hiểu được cái giá mà Việt Nam đã phải trả cho sự sống còn của mình, và chiều sâu của sự quyết chí mà Việt Nam đã chống lại những áp lực lịch sử của Trung Quốc. Người Việt Nam luôn thấy mình đứng bơ vơ giữa một tên khổng lồ luôn luôn đe dọa và một nhóm tiểu quốc chỉ biết lo cho nhu cầu của chúng.
Tôi xốc lại balô
Không kiểm tra hành trình một lần nữa
Chỉ thấy những bụi cũ xổ ra
Tung mù ngạt thở
Họ đang ở đầu mùa xuân
Những người con trai như những thân mộc buồn ngấm ngầm
Những người con gái là cánh hoa đen
nhụy trắng
tiết ra những dòng mật trong như nước mắt
Vật bảo quốc hộ dân trong TNS là ý thức thôi đừng chiếm của người làm tư hữu, tỉ như chiếm nhà, cướp đất, lấn sông, bán biển… thậm chí chiếm hữu cả tình yêu là phạm vi phi vật thể…Quí vị nào đó đọc đúng cung cách lề bên phải ( tức hữu khuynh trong một nền tư bản rừng rú chỉ còn ăn cướp ăn cắp) hẳn phải nhắm một mắt, thấy một chiều, và là chiều dẫn xuống đáy vực.
mày có tin tưởng vào một chân lý tuyệt đối
chính thể nào dẫn dắt loài người chạy vòng quanh theo cái đuôi con chó
có phải là lỗi lầm thời đại chúng ta ?
Bày tỏ quan niệm sáng tác của mình, Nguyễn Mộng Giác nói rất rõ và rất cụ thể. Theo ông, tiểu thuyết là “một thể loại văn chương nhằm thỏa mãn nhu cầu muốn ngóng …
(đọc Đường Một Chiều của Nguyễn Mộng Giác)
Đường một chiều, đường độc đạo, khó thoát hiểm Tôi thấy Ly mười bốn tuổi bước ra khỏi ngôi nhà án mạng …
Nhà văn Nguyễn Mộng Giác cho biết, ông khởi viết rất sớm, từ thời sinh viên. Nhưng khác với nhiều người, ông đã không gởi bài đến các tạp chí. Ông đã hủy bỏ khá nhiều bản thảo sau khi đọc những tác phẩm lỗi lạc của các văn hào thế giới. Sự thận trọng cầm chân ông khá lâu, cho đến dịp ông bén duyên cùng tạp chí Bách Khoa, năm 1971, lúc đó ông vừa vượt qua lứa tuổi “tam thập”.
Không mấy ai không một lần băn khoăn, sau khi đọc, tự hỏi, hình như, có điều gì còn nằm sau văn bản. Với tôi, tôi gọi là phần hồn. Gọi như vậy, tôi lại …
Ha missed his Papa, loved his Papa, admired his Papa. But before he left, Mama said if he writes, never to mention Papa. The police may well read the letter, they would know that Ha had escaped. They will take his Papa back to the re-education camp again.
Mặc dù viết truyện ngắn và tiểu luận rất hay, nhưng Nguyễn Mộng Giác vẫn là người của đường dài, của những bộ trường thiên. Ý thức xã hội, kỹ thuật tranh biện và nghệ thuật phân tích tâm lý là ba sở trường của Nguyễn Mộng Giác; từ ba trục đó, ông tổ chức không gian và thời gian trong tiểu thuyết.
Mùa Biển Động là một tác phẩm có một kích thước lớn, và cũng là một tác phẩm có tham vọng lớn không kém. Nó muốn ghi lại biến chuyển tâm trạng của những thanh niên trưởng thành trong chiến tranh, trải dài từ lúc Đệ Nhất Cộng Hòa sụp đổ cho đến tháng 4, 1975, và ghi lại cái tâm trạng tha hương của những nhân vật chính sau thời điểm tang thương đó.
Theo lệnh thì đúng 11 giờ trưa mai, ông Văn phải trình diện ở trụ sở chính quyền cách mạng phường để đi học tập trong thời gian ba ngày. Lệnh miệng do một công an nhân dân đến tận nhà căn dặn là phải đem theo vừa đủ quần áo lương thực cho ba ngày mà thôi, không được thừa, để tránh mang xách cồng kềnh làm trở ngại việc di chuyển.
“…Tôi phải xa lìa quê hương và phải tự mình chịu trách nhiệm đời mình, chịu trách nhiệm cái tự do của mình. Không còn ai bảo bọc tôi, không còn ai cấm đoán tôi. …
Nhà văn Nguyễn Mộng Giác vừa cho xuất bản toàn bộ trường thiên tiểu thuyết Mùa biển động, sáng tác tại Hoa Kỳ, gồm năm tập, 1800 trang, tác phẩm đồ sộ nhất trong ngành tiểu thuyết Việt Nam, sau Cửa biển, của Nguyên Hồng xuất bản trong nước đã lâu.
Nguyễn Mộng Giác sinh năm 1940, tỉnh Bình Định. Anh tốt nghiệp thủ khoa ban Việt Hán ở Đại Học Sư Phạm Huế. Năm đầu tiên mới ra trường (1963), anh dạy ở trường Nữ trung học Đồng Khánh Huế. Năm đó, tôi thuộc vào lớp tuổi học trò của anh.
Hỡi những hình dạng vô nghĩa, những đường gỗ mốc ngoằn ngoèo. Chúng mày muốn nói điều gì? Không có gì để nói cả! Những giọt mưa mùa đông chảy ngoằn ngoèo trên những tấm ngói cũ lăn theo sức nặng không do mình có, không cần biết sẽ lăn đi đâu.
Bạn đọc có thể thắc mắc tại sao trong thư Hà không nhắc gì đến ba cả. Hà vẫn nhớ ba, thương ba, phục ba. Nhưng trước khi đi, má dặn nếu có viết thư, đừng nhắc gì đến ba hết. Sợ công an kiểm duyệt thư đọc được, sẽ bắt ba đi học tập trở lại. Má bảo thế.
Rồi sẽ có một ngày, anh, nhà nghiên cứu lịch sử văn học Việt Nam đương đại, sẽ không phải ngần ngại quay trước quay sau khi thừa nhận sự tồn tại của dòng văn học Việt ở nước ngoài, đề cao những giá trị nó mang lại cho sự phát triển của chữ nghĩa Việt. Hiện thực ấy khi anh đề cập sẽ được tranh cãi, nhưng trên bình diện học thuật chứ không phải chỉ trên những bình diện ngoài khoa học văn chương.
Nguyễn Mộng Giác, trong đánh giá của tôi, là một nhà văn có chiều sâu và có bản sắc. Ông chiếm lĩnh tâm hồn người đọc bằng cách bước vào trong cái thế giới tâm hồn ấy và để lại một ngọn đèn cứ còn chong sáng mãi cái ngọn lửa siêu hình—nhưng lại tràn đầy hơi ấm nhân sinh—của nó trong lòng hắn.
Ở góc quán, chỗ gần bụi trúc La Ngà trơ trụi già nua, chỉ có hai người khách. Người mang kính đen từ lâu ít nói, mỗi lần nói lại quá nhỏ; nên từ xa, có cảm tưởng người gầy ốm tóc muối tiêu đang phân trần với một pho tượng. Pho tượng ngồi thu cả hai chân lên nệm ghế nhung, hai tay ôm lấy gối, nhìn mãi về phía chiếc xe đạp thồ dựng ở gốc trúc cỗi.
Nếp nhà khiêm tốn nép mình bên một con đường nhỏ yên tĩnh, cạnh một trong những đại lộ náo nhiệt nhất của thị trấn Westminster, mệnh danh là thủ đô của nguời Việt tị nạn. Tôi muốn nói đến nhà của anh Nguyễn Mộng Giác.
Dẫu vậy, ở đây, khác hẳn với khái niệm về một anh hùng nông dân, Nguyễn Huệ xuất hiện trong nhân dáng và nhân cách của một nhà trí thức bình dân, sống một đời sống tương đối đầy đủ, vì có một người anh có tiền, lại cũng có quyền. Nguyễn Huệ không hề có những nỗi cay đắng, phẫn uất của một nông dân bị áp bức.
Chúng tôi thấy vui khi thấy có một nhà văn đã dám bỏ nhiều công phu, tâm huyết và tài năng để dựng một bộ tiểu thuyết trường thiên về một người anh hùng dân tộc, về một thời đại lịch sử mà chúng ta mãi yêu mến, tự hào và luôn luôn muốn hiểu biết sâu thêm. Và có thể nói rằng tác giả đã thành công.
“Tôi đã nói là tôi không muốn ‘làm thầy đời.’ Tôi viết SCML trong giai đoạn gần như tuyệt lộ, viết để tạo ra một thế giới riêng và sống tung tăng trong thế giới đó hằng ngày, để quên chuyện trước mắt. May mà nó còn chút giá trị, qua được thử thách của thời sự và thời gian.”
Bình Luận mới