Trang chính » Học Thuật, Tôn Giáo Email bài này

Thấy và Tin (5/5)


♦ Chuyển ngữ:
0 bình luận ♦ 22.03.2009

Jerry A. Coyne
Lê Quốc Tuấn chuyển ngữ

[TIẾP THEO]

V.

Giberson and Miller là những con người chín chắn có thiện chí. Ðọc tác phẩm của họ, ta thấy thiếu vắng sự thuyết phục và chân thành thường có từ các bài viết của những nhà sáng tạo luận khác, vốn thường bây bẩy chối bỏ hầu hết những thực tại hiển nhiên về thực chất cho những nguyên nhân đức tin của mình. Cả hai tác phẩm của các tác giả này đều đáng đọc: Giberson đáng đọc vì lịch sử cuộc tranh cãi giữa sáng tạo luận và thuyết tiến hóa, và Miller đáng đọc vì các lập luận minh bạch của ông chống lại thuyết thiết kế thông minh. Dù rằng cuối cùng cả hai đều thất bại không đạt được điều từng mong muốn đã lâu của họ về sự liên hiệp giữa đức tin và tiến hóa. Và họ đã thất bại vì những nguyên nhân tương tự như nhiều người đã từng thất bại: Một sự hòa hợp thực sự giữa tôn giáo và khoa học đòi hỏi hoặc không thể có gì liên quan đến hầu hết các tôn giáo của con người, thay thế chúng với một loại thần thánh dịu nhẹ hơn, còn không chỉ là sự ô nhiễm khoa học bởi những khẳng định tâm linh phi lý, không cần thiết và không thể kiểm chứng được.

Mặc dù Giberson và Miller tự xem mình như các đối thủ của chủ thuyết sáng tạo, nhưng trong việc nghĩ ra một sự tương thích giữa khoa học và tôn giáo mà cuối cùng họ lại đồng quy với những đối thủ của mình. Thực ra, họ đã trình bày được tối thiểu ba trong bốn điểm khác biệt của chủ thuyết sáng tạo: tin vào Thượng Đế, tin vào sự can thiệp của Thượng Đế vào tự nhiên và vai trò đặc biệt của Thượng Đế trong sự tiến hóa của loài người. Thậm chí họ còn phô trương cả điểm thứ tư là một niềm tin vào tính phức tạp không thể giảm nhẹ đi được, bằng cách đề nghị là linh hồn có thể không tiến hóa mà là được đặt để bởi Thượng Đế.

Giberson, trong khi từ bỏ một Thượng Đế thực tiễn nhưng lại nhìn nhận sự thiết kế rõ ràng của ngài trên địa cầu.

Vì sao loài chim hót quá hay để ta thưởng thức? Chẳng hạn như, vì sao, hầu hết các khung cảnh thiên nhiên chưa khai phá, từ các biển hồ núi non đến đồng cỏ thoai thoải thường rất đẹp? Nếu như sự tiến hóa của sinh loài chúng ta được triển khai hoàn toàn vì mục đích cho sự sống còn, thì chúng ta có được những cảm giác tràn đầy về vẻ đẹp thiên nhiên ở đâu?… Có một tính cách nghệ thuật trong thiên nhiên luôn luôn tác động đến tôi tràn đầy như thể từ một quan điểm khoa học thuần chất… Tôi bị thu hút bởi ý tưởng rằng hiện hữu của Thượng Đế không ở trong các kỳ diệu tinh xảo mà chính ở trong tính sáng tạo tuyệt vời và chiều sâu thẩm mỹ của thế giới tự nhiên. Lẽ ra các nhà khoa học không nên phát biểu về Thượng Đế bằng cách này, bởi lẽ, sẽ đem lại những câu hỏi không thể nào trả lời được.

Đây là một thứ thiết kế thẩm mỹ hơn là thiết kế thông minh, nhưng vẫn là một sự thiết kế. Và sự thiết kế này đã bỏ qua những giải thích khoa học, như lý thuyết “ái lực cuộc sống” (biophilia theory) của E.O. Wilson, cho rằng chúng ta tiến hóa để tìm những nơi chốn như sông hồ đồng cỏ hấp dẫn, bởi vì chúng mang lại thực phẩm và sự an toàn cho tổ tiên chúng ta.

Cả Giberson và Miller đều không cho ta biết trường hợp nào mà họ đã từ bỏ niềm tin vào Thượng Đế nhân tính của mình. Thậm chí, Giberson còn khẳng định là mình không thể nào sai lầm:

“Là người tin Thượng Đế, tôi đã tin chắc từ trước rằng thế giới này không phải là một sự tình cờ, và rằng, trong một số phương cách bí hiểm, sự hiện hữu của chúng ta là một kết quả ‘có tính toán.’ Không một dữ kiện nào có thể xóa tan được niềm tin ấy. Do đó, tôi không xem lịch sử tự nhiên như một nguồn dữ liệu để quyết đoán xem thế gian có một mục đích hay là không. Mà sự tiếp cận của tôi chính là thấy trước được các sự thực của lịch sử tự nhiên sẽ tương thích với mục đích và ý nghĩa mà tôi đã bắt gặp ở đâu đó. Và sự hiểu biết khoa học của tôi không hề cản ngăn gì tôi trong sự đoan chắc này.”

Chính xác và đơn giản, đây chính là một phát biểu kiểu sáng tạo luận. Không một nhà khoa học thực sự nào có thể nói rằng các lý thuyết của mình miễn nhiễm với sự phản chứng. Và do đó sự hòa giải cá nhân của Giberson, dù soi rạng cho tâm linh của ông cũng không thể nào thuyết phục được một cách tri thức cho tất cả chúng ta.

Bên cạnh lập luận “thiết kế thẩm mỹ” của mình, Giberson cũng đưa ra một lý lẽ khác cho đức tin của mình — ta có thể gọi là một loại lập luận phát xuất từ sự tiện lợi:

“Như một sự kiện thực sự có tính thực tiễn, tôi có những lý lẽ rất thuyết phục để tin vào Thượng Đế. Bố mẹ tôi là những người vô cùng tin đạo, do đó sẽ là một điều bi đát nếu như tôi từ bỏ đức tin. Vợ con tôi đều tin vào Thiên Chúa và chúng tôi cùng thường xuyên đi lễ với nhau. Hầu hết các bạn hữu của tôi cũng là người có đạo. Tôi có công việc mà tôi yêu thích tại một trường cao đẳng Kitô giáo, nơi vốn chắc chắn sẽ sa thải tôi nếu như tôi chối bỏ cái đức tin vốn là trụ cột cho sứ mạng của ngôi trường. Từ bỏ niềm tin vào Thiên Chúa sẽ là một sự hủy hoại, sẽ đưa cuộc đời tôi vào sự hoàn toàn hỗn loạn.”

Lời thú nhận mủi lòng này hé lộ sự phi lý đáng buồn về toàn thể sự việc — mối xung khắc đồi bại giữa một nhu cầu cá nhân cần phải tin với sự tuyệt vọng muốn trình bày cái nhu cầu chính yếu này hoàn toàn tương thích với khoa học.

Từ đó, nó đã cho thấy là con người không thể hợp nhất giữa khoa học và tôn giáo cùng một lúc được. Sự tổng hợp ấy đòi hỏi một phần não trạng của mình chỉ chấp nhận những gì đã được thử nghiệm, được hỗ trợ bởi các chứng thực đã được đồng ý cùng các lý lẽ, nguyên nhân; trong khi phần kia lại phải chấp nhận được những điều không thể dẫn chứng, thậm chí giả dối. Nói một cách khác, cái giá của bản hòa âm trí thức ấy là các nghịch âm của nhận thức. Chấp nhận cả khoa học và đức tin quy ước đưa ta đến loại tiêu chuẩn hai mặt: hợp lý về nguồn gốc của các tụ huyết, phi lý về sự sống lại; hợp lý về loài khủng long, phi lý về sự sản sinh trinh nguyên của Chúa. Giberson và Miller lựa chọn thứ nào mà họ muốn tin, hoàn toàn không có nguyên do đúng đắn gì cả. Tối thiểu là các nhà sáng tạo luận thuộc về chủ trương trái-đất-trẻ còn nhất quán hơn, vì họ ôm lấy tất cả các hệ quả siêu nhiên bất kể chúng như thế nào. Bằng sự tinh tế thường thấy của mình, nhà vật lý học Richard Feynman mô tả đặc điểm khác biệt này như sau: “Khoa học là phương cách để mình cố gắng đừng tự dối gạt chính mình. Nguyên tắc đầu tiên là mình không được tự gạt mình, vì chính mình là đối tượng dễ bị gạt nhất.” Với tôn giáo, không có cách nào để biết được nếu như mình đang tự dối gạt mình.

Do đó, mối xung khắc quan trọng nhất — cái bị Giberson và Miller bỏ qua — không phải là giữa tôn giáo và khoa học. Mà đó là giữa tôn giáo và các lý lẽ thế tục. Lý lẽ thế tục bao gồm khoa học nhưng cũng bao gồm hiểu biết chính trị, đạo đức, toán học, lý luận, lịch sử, nghiệp vụ báo chí và khoa học xã hội — tất cả các lãnh vực vốn đòi hỏi chúng ta phải có lý lẽ đúng cho những gì chúng ta tin tưởng. Hiện giờ tôi không hề khẳng định rằng tất cả các đức tin là không tương thích với khoa học và lý lẽ thế tục — không phải chỉ những đức tin từng khẳng định về bản chất của vũ trụ vốn mâu thuẫn rõ ràng với các hiểu biết khoa học. Thuyết phiếm thần và một số hình thái của Phật giáo có vẻ vượt qua được cuộc xét nghiệm. Nhưng một phần đa số rất rộng rãi những người tin đạo — những người trong 90 phần trăm dân số Mỹ tin vào một Thượng Đế nhân tính, hầu hết các tín đồ Hồi giáo, Do Thái giáo và Ấn Độ giáo, cũng như hàng trăm loại đức tin khác — đều thuộc loại “không tương thích” với khoa học cùng các lý lẽ thế tục.

Bất hạnh thay, một số nhà thần học với sự luồn cúi thần thánh có vẻ như nghĩ rằng mình đang nói thay cho những người sùng đạo. Đây là những nhà chỉ trích đã đả phá Dawkins và các đồng nghiệp của ông về việc không chịu vật lộn với từng luận điểm thần học tinh tế về hiện hữu của Thượng Đế, không chịu đắm mình vào lịch sử phức tạp của thần học. Đặc biệt Dawkins bị công kích vì đã viết Ảo tưởng Thượng Đế (The God Delusion) như một tác phẩm “xoàng, dễ đọc.” Nhưng công kích đó trật vấn đề. Quả là ông đã trước tác một cuốn sách dễ đọc, nhưng chính xác bởi vì ông đã thảo luận về tôn giáo như chính đang được sống và hành đạo bởi những con người thực. Lý do mà nhiều nhà thần học tự do coi tôn giáo và tiến hóa là một sự hòa hợp là vì họ hài hòa một học thuyết không chỉ như một đồng minh mà còn không thể nhận ra được như một tôn giáo đối với hầu hết người Mỹ.

Những dữ liệu thống kê đã ủng hộ cho sự bất tương thích này. Chẳng hạn như, trong ba mươi bốn quốc gia được khảo sát, ta thấy một con số thống kê mạnh mẽ cho thấy mối liên quan phủ định tiêu cực giữa sự chấp nhận thuyết tiến hóa với mức độ của đức tin. Các nước như Đan Mạch, Pháp, Nhật Bản và Anh Quốc có tỉ số cao về sự chấp nhận chủ thuyết của Darwin và có tỉ số thấp trong niềm tin vào Thượng Đế, trong khi kết quả lại ngược lại ở những nước như Bulgary, Latvia, Turkey và Hoa Kỳ. Trong nước Mỹ, tập thể các nhà khoa học ít có tính đạo giáo một cách đáng kể hơn những người không phải là khoa học gia. Điều này không phải để muốn nói rằng, những con số thống kê ấy có thể quyết định đến kết quả của những tranh luận triết học. Cũng không là sự hệ trọng khi những số thống kê này có nghĩa là nhìn nhận khoa học sẽ han rỉ đến đức tin tôn giáo hoặc có đức tin tôn giáo sẽ khiến ăn mòn đến sự chấp nhận khoa học. (Cả hai tiến trình ấy chắc chắn sẽ xảy ra.) Tuy vậy, những con số ấy thực đã cho thấy rằng, con người sẽ có khó khăn khi đồng chấp nhận cả hai. Điều này không có gì đáng ngạc nhiên, khi nhìn vào thực chất của hai thế giới quan này.

Sự nghịch nhĩ này là một bí mật nhỏ bé và bẩn thỉu trong giới khoa học. Việc khẳng định rằng khoa học và tôn giáo là một sự hòa hợp tuyệt hảo chính là tùy vào ý muốn cá nhân và chuyên môn của mình. Cuối cùng là, chúng ta đều muốn hưởng được các tài trợ của chính phủ, và đều muốn các học trò của chúng ta phải được trình bày khoa học thực thụ thay vì chủ nghĩa sáng tạo. Những người có đạo phóng khoáng đã từng là các đồng minh quan trọng của chúng ta trong cuộc tranh đấu chống lại chủ thuyết sáng thế, thành thử không được vui vẻ lắm để mất đi tình đồng minh với họ nếu chúng ta thẳng thắn trình bày những gì chúng ta cảm nhận. Đấy là lý do vì sao, các hội đoàn như Hội Hàn Lâm Khoa Học Quốc Gia đã khẳng định là khoa học và tôn giáo không hề có xung khắc, như thể là một hành động có tính chiến thuật. Nhưng các bằng chứng chính của sự việc — hiện hữu của các nhà khoa học tôn giáo — đang mờ nhạt đi khi ngày càng nhiều các nhà khoa học trở nên ồn ào về sự mất niềm tin của họ vào đức tin. Hiện nay, một dịp kỷ niệm Darwin đến với chúng ta, và chúng ta có thể sẽ còn thấy xuất hiện nhiều tác phẩm nữa như của Kenneth Miller và Karl Giberson. Các nỗ lực hòa giải Thượng Đế và thuyết tiến hóa tiếp tục rơi ra ngoài đường chuyền trí thức. Những hòa giải ấy không bao giờ ngừng lại, bởi vì sự hòa giải giữa Thượng Đế và thuyết tiến hóa sẽ không bao giờ có thể thực hiện được.

Jerry A. Coyne là giáo sư tại Phân khoa Ecology and Evolution (Sinh Thái và Tiến Hóa) của đại học Chicago. Tác phẩm mới của ông, Why Evolution Is True (Vì Sao Sự Tiến Hóa Là Có Thật), vừa được ấn hành bởi nhà xuất bản Viking.

.

bài đã đăng của Jerry A. Coyne


Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)