Trang chính » Dịch Thuật, Học Thuật, Sang Việt ngữ, Tôn Giáo Email bài này

Thấy và Tin (2/5)


♦ Chuyển ngữ:
0 bình luận ♦ 16.03.2009

[TIẾP THEO]

II.

Như nội dung thuật lại từ Giberson, lịch sử của chủ thuyết sáng tạo ở Mỹ tự bản thân đã là một tiến trình tiến hóa được dẫn đạo bởi một hình thái của sự chọn lọc tự nhiên. Sau khi mọi hình thức kế thừa của chủ nghĩa sáng tạo đã bị đạp đổ bởi các pháp đình vì đã vi phạm Tu Chính Án Thứ Nhất, một hình thái cải biến của học thuyết đã xuất hiện, thiếu hụt mất một số nội dung tôn giáo và hóa trang sâu hơn trong trang phục khoa học. Trải qua thời gian, phong trào đã chuyển từ loại sáng tạo luận có tính thánh kinh rõ rệt thành ra “chủ nghĩa sáng thế khoa học,” ở đó, chính các thực tế khoa học đã được trình bày để hỗ trợ các huyền thoại tôn giáo như các thoại về Con Thuyền Noah, chuyện sáng thế Genesis, và rồi chuyển hóa thành ra thiết kế thông minh (TKTM), là môt học thuyết hoàn toàn lột bỏ lớp vỏ thánh kinh của nó. Không một điều gì như thế này qua mặt được các tòa án. Năm 2005, quan tòa liên bang ở Harrisburg, bang Pennsylavania đã dứt khoát cự tuyệt việc mang học thuyết TKTM giảng dạy trong trường học, mô tả công trình này như một chủ thuyết sáng thế giả trang và đã gọi thẳng những người bênh vực là những kẻ dối trá. (Miller là một nhân chứng quan trọng cho bên công tố, ủng hộ việc bài trừ thuyết TKTM.) Nhưng dĩ nhiên là những sự việc này không giải quyết được vấn đề. Những người theo thuyết sáng thế đã quay lại chống án, kêu gọi được cư xử công bằng và khẩn khoản yêu cầu cho các trường học được “giảng dạy những nội dung đang tranh cãi” — và không cần xét đến việc sự tranh cãi về thuyết tiến hóa không phải là vì khoa học mà chính là từ nguyên nhân chính trị và xã hội.

Điều ngạc nhiên trong tất cả việc này chính là nhiều người theo thuyết sáng thế đã trở nên gần với thuyết của Darwin đến thế nào. Những người ủng hộ thuyết TKTM quan trọng như Michael Behe, một giáo sư tại Đại Học Lehigh (cũng là một nhân chứng cho bên nguyên trong vụ án Harrisburg), nhìn nhận là địa cầu có tuổi khoảng vài tỉ năm, và nhìn nhận rằng sự tiến hóa đã thực có xảy ra — một số quy trình là từ sự chọn lựa tự nhiên — và chấp nhận rằng một số loài có chung tổ tiên. Trong quan điểm của Behe, vai trò của Thượng đế trong sự phát triển sự sống tựa như một Đấng đã thực hiện các Biến Đổi, vặn vẹo các DNA khi cần thiết để nhằm cung cấp chất liệu cho sự xuất hiện các biến đổi và các sinh loài mới. Từ trong những ý định ấy của mình, Behe đã chẳng đem lại được gì hơn là chính cái đuôi con trừu của Darwin.

Thế nhưng một hình thái khác của thuyết sáng thế vẫn còn lại. Nhiều người theo thuyết TKTM cũng là những “nhà sáng tạo luận trái-đất-trẻ,” có quan điểm dựa vào kinh thánh cho rằng trái đất vào khoảng sáu ngàn năm tuổi. (Viện Bảo Tàng Sáng Thế trị giá 27 triệu của nhà rao giảng phúc âm Ken Ham có trưng bày một con khủng long ba sừng mang yên ngựa!) Nhiều người khác tin sự phân phối muôn loài trên hành tinh chúng ta được mô tả từ chuyện Con Thuyền Noah. Vẫn còn có những người khác khẳng định rằng dù một số loài do tiến hóa mà thành, nhiều loài khác vẫn là do Thượng Đế tạo nên. Thật dễ hiểu, những người theo thuyết sáng thế thích dấu đi những sự khác biệt này, để ám chỉ một cách trá ngụy là chúng liên hợp với nhau một cách triết học.

Nhưng bất chấp các quan điểm của họ như thế nào, tất cả những người theo thuyết sáng thế cùng chia sẻ với nhau bốn điểm. Điểm thứ nhất, họ tin tưởng một cách nhiệt thành vào Thượng Đế. Không có gì đáng ngạc nhiên ở điều đó trừ những người tin rằng thuyết TKTM có một căn bản thế tục. Điểm thứ hai, họ khẳng định rằng Thượng Đế đã can thiệp một cách phi thường vào sự phát triển sự sống, hoặc bằng cách tạo nên mọi loài từ con số không, hoặc là xen vào từng thời kỳ trong một tiến trình khác hơn là kiểu tiến hóa Darwin. Điểm thứ ba, họ đồng ý rằng một trong những can thiệp này đã là sự sáng tạo ra chính con người, vốn không thể tiến hóa nên từ các tổ tiên giống như loài dã nhân. Điều này, dĩ nhiên, phản ánh quan điểm của Do Thái – Kitô giáo rằng loài người đã được tạo nên từ hình dạng của Thiên Chúa. Điểm thứ tư, họ cùng bám vào một lập luận đặc biệt gọi là “sự phức tạp không thể rút gọn được.” Đây là ý tưởng cho rằng môt số sinh loài, hay một số đặc điểm của một số sinh loài quá phức tạp để có thể tiến hóa được trong phương cách của Darwin, do đó phải là được thiết kế từ Thượng đế. Chẳng hạn như các dạng máu đóng cục trong xương sống, là một chuỗi phức tạp của các phản ứng enzyme, liên hệ đến hai mươi protein giao tiếp qua lại để tạo nên hạt huyết cuối cùng. Nếu bất kỳ giai đoạn nào thiếu sót, máu huyết sẽ không tụ được. Làm sao mà một số điều tinh vi như thế có thể là do sự tiến hóa một cách mù lòa được?

Dễ dàng, Miller nói thế. Trong một sự triệt phá đến toàn bộ chủ thuyết TKTM, ông dùng những khẳng định “khoa học” của TKTM một cách nghiêm chỉnh để theo chúng đến tận các kết luận phi lý của chúng. Bằng một chứng minh sống động và rõ ràng, Miller cho thấy rằng các con đường dẫn sinh hóa học phức tạp được lát với nhau từ một protein báo trước đã một lần có những chức năng khác nhưng được kết nạp vào cho sự sử dụng mới. Và thuyết TKTM trở thành đơn giản là một lập luận kiểu “thượng đế của các khoảng hở” — là quan điểm mà nếu chúng ta chưa thấu hiểu một hiện tượng thấu đáo, chúng ta nên giơ tay lên hàng, chấm dứt các khảo cứu và ca tụng Thiên Chúa. Đối với các nhà khoa học, đấy là toa thuốc cho chỗ tận cùng của khoa học, cho sự ngu dốt bất diệt.

Miller vạch trần thuyết TKTM một cách thông minh đúng như nội dung của nó: một mớ hổ lốn các quyết đoán mang tính thần học và các khẳng định khoa học đã bị bác bỏ để dụ dỗ đem quan điểm tôn giáo về sự sống vào trong các lớp sinh vật học. Dù đã chi ra một số tiền lớn cho các công cuộc tuyên truyền, họ vẫn không đưa ra được một chứng từ hòa giải có tính khoa học nào để bảo vệ các khẳng định có tính kinh nghiệm về “lý thuyết” của họ. Miller kết luận chính xác là, “Giả thiết về thiết kế không tương thích được với bất cứ dữ liệu nào có thể hiểu được, không có được các dự báo có thể kiểm chứng, và không đưa ra được phương hướng mới nào cho việc khảo cứu.” Một trong những thấu hiểu sâu sắc nhất của Miller là thuyết TKTM không những quan hệ đến thiết kế mà còn dính líu đến sự sáng tạo có tinh siêu nhiên. Sau cùng, người thiết kế phải làm việc nhiều hơn là việc chỉ hình dung ra các loài mới; ngài còn phải xếp đặt chúng vào trái đất nữa. Và nếu đấy không phải là chủ thuyết sáng thế (một nhãn hiệu mà những người theo TKTM lớn tiếng chối từ), tôi thật không biết đấy là cái gì.

Ðối với Giberson, thuyết TKTM không phải chỉ là một khoa học dở (hay nói cho cứng rắn hơn, một khoa học hoàn toàn không phải là khoa học), nó còn là một lý thuyết tồi:

“Thế gian là một nơi chốn phức tạp và có nhiều điều về thế gian mà chúng ta vẫn chưa thể hiểu được. Chúng ta còn phải mất nhiều thế kỷ nữa để có thể lấp đi những khoảng trống trong các hiểu biết khoa học của chúng ta về thế gian… Nhưng đó là công việc của khoa học, và điều chính yếu mà thần học đã trực cảm từ lâu là phải kiếm chỗ nào khá hơn mà truy tìm Thượng Đế… Cổ võ thuyết ‘thiết kế’ bằng sự cô lập khỏi những thuộc tính khác của Thượng Đế là nguy hiểm và là một cách cuối cùng chỉ tự chuốc lấy thất bại để đem Thượng Đế trở lại với khoa học.”

Do vậy, thay vì hòa giải khoa học và tôn giáo, thuyết TKTM đã đặt tôn giáo và khoa học vào các mâu thuẫn trầm trọng hơn và làm tổn thương đến cả hai trong tiến trình ấy. Ðo là lý do vì sao nhiều nhà thần học cũng như nhà khoa học đã chống lại thuyết TKTM tại tòa án.

Nếu thuyết TKTM là một khoa học thất bại cùng cực, tại sao nhiều người vẫn tiếp tục gây áp lực để áp dụng vào trường học? Câu trả lời rõ ràng là vì thuyết TKTM duy trì được trạng thái của chúng ta là một sinh loài được ưa thích của Thượng Đế và có lẽ thấm đậm được vũ trụ với một mục đích và ý nghĩa trong khi sinh học tiến hóa không làm được cả hai điều ấy. Nói một cách khác, thuyết TKTM, cũng như các hình thái khác của chủ thuyết sáng thế là một sự nối dài của tôn giáo. Ðiều này được nhận biết bởi tất cả các quan tòa vốn đã phán quết về vấn đề này từ phiên tòa ở Scopes năm 1925. Dù thế, lạ lùng thay, Giberson và Miller đã tránh né vấn đề này khi truy cập về căn nguyên của thuyết sáng thế. Thay vì tách riêng tôn giáo ra, họ lại chê trách hai phong trào thế tục là chủ nghĩa vô thần và dân tuý.

Ðối với Miller, một dạng chủ nghĩa cá nhân thô thiển đặc thù Mỹ và sự hoài nghi đối với thẩm quyền đã có những ảnh hưởng mâu thuẫn. Đầu tiên, nó tạo ra được tính ưu việt khoa học của Mỹ. Như Miller chú giải rằng trong ba thập niên vừa qua, người Mỹ đã giành được khoảng 60 phần trăm của tất cả các giải Nobel về khoa học.

“Có một điều gì trong tính cách của người Mỹ khiến có thể sản sinh được những hạt giống của cuộc tranh luận này [tiến hóa chống lại với sáng thế luận) và mang lại mảnh đất màu mỡ cho các hạt giống ấy nẩy nở? Tôi nghĩ rằng có, và tôi không hề xấu hổ vì điều ấy. Mà thực ra, tôi còn thẳng thắn hãnh diện về điều ấy… Vì Mỹ là một quốc gia khoa học vĩ đại nhất trên thế giới… Sự bất kính — chính đó là cái chìa khóa. Là nguyên nhân vì sao đất nước chúng ta đã hết lòng đi theo khoa học, và tại sao nước Mỹ đã phục vụ như một ngọn hải đăng cho các nhà khoa học trên khắp thế giới. Một sự bất kính lành mạnh đối với quyền lực là một phần của tính cách Mỹ, nó sẽ thẩm thấu vào các tổ chức của chúng ta, kể cả những tổ chức khoa học. Các khoa học gia trên đất nước này, dù là người Mỹ sinh đẻ ra hay từ sự lựa chọn xứ sở này, đã từng được mơ ước về những khám phá có tính cách mạng, và những giấc mơ đã thành hiện thực khá nhiều ở đất nước này hơn là những nơi chốn khác.

Nhưng đây là một con dao hai lưỡi.

Nếu sự nổi loạn và sự thiếu tôn trọng quả là một phần của tài năng Mỹ cho khoa học, thì các phong trào chống lại sự tiến hóa của chúng ta làm nên từ điều gì? Một phần của sự phân tích thì rõ ràng. Sự tự nguyện bác bỏ những người có thẩm quyền uy tín của người Mỹ đã đóng một vai trò chính yếu trong phương cách mà những nhà hoạt động xã hội địa phương từng xoay sở để đẩy những tư tưởng như chủ nghĩa sáng thế khoa học và thuyết thiết kế thông minh vào các trường học địa phương.

Giberson đồng ý:

“Người Mỹ chưa bao giờ tha thiết hoặc sẵn lòng để được dẫn dắt bởi giới trí thức ưu tú. Một lập luận đơn giản có tính kiến thức phổ thông từ một kẻ nào mình tin sẽ có giá trị hơn các công bố long trọng của cả một trường đại học của các trí thức không thực tế. Mỹ là một đất nước thích cao bồi, và các chàng cao bồi không cần đến những nhà chuyên môn bảo mình phải suy nghĩ cái gì.”

Phải chăng chúng ta có được một tập thể lãnh đạo về khoa học của chúng ta nhờ vào chàng John Wayne đáng tin cậy của chúng ta? Chắc chắn là còn những thứ khác nữa — và đều có tính cách Mỹ như nhau — các nhân tố: tiền bạc và quyền tự do không bị bách hại bởi tôn giáo. Cộng đồng khoa học của chúng ta đã được đông đảo lên rất nhiều nhờ những người di dân gần đây đặc biệt là những người Do Thái trốn khỏi Ðức Quốc Xã. Quan trọng hơn nữa là sau Đệ Nhị Thế Chiến chính phủ bắt đầu tài trợ các khảo cứu khoa học ở mức độ mãnh liệt, phần lớn ngân khoản tài trợ ấy thu hút đông đảo những học giả ngoại quốc. Và ngay cả dù trước đây chúng ta đã tạo ảnh hưởng lớn lên các giải Nobel, những năm gần đây chúng ta đã hoàn toàn bị lu mờ bởi các nước Âu Châu. Thí dụ như mãi đến năm 1930, nước Mỹ chỉ giành được bốn giải Nobel cho tất cả các ngành khoa học, trong khi hai mươi chín giải về tay Ðức Quốc và mười lăm giải về tay Anh Quốc. Người Anh và người Ðức khó mà có thể bị quy kết về tội “thiếu tôn trọng chính quyền”!

Sự kháng cự lại thuyết tiến hóa ở Mỹ không có liên quan gì đến chủ nghĩa dân túy. Những người nhà quê xấu tính của chúng ta không hề nổi dậy chống lại cái ý tưởng về những lỗ đen hay về việc chứng minh Định Lý Ferma. Chỉ có thuyết tiến hóa là đối tượng độc đáo của cơn giận dữ, và điều này chỉ có một cách giải thích. Các yếu tố là như thế này: ta có thể tìm thấy tôn giáo không cần đến thuyết sáng thế, nhưng ta sẽ không bao giờ có thuyết sáng thế mà không có tôn giáo. Miller và Giberson đã xấu hổ với nhận xét đơn giản này. Sự giả ngơ của họ về nguồn thực của thuyết sáng thế không thể tha thứ nhưng có thể hiểu được: một cuốn sách nhắm đến hòa giải tôn giáo với thuyết tiến hóa thật khó mà không chê trách đến những kẻ ngoan đạo.

Nhưng dường như là chê trách người không có đạo thì lại chấp nhận được. Ðối với Giberson và Miller, những kẻ gây hấn trong cuộc “chiến tranh khoa học” là những kẻ vô thần. Họ đoan chắc rằng các sách vở của “những người vô thần mới” đã châm lửa vào những người ôn hòa tôn giáo, đẩy họ vào vị trí của những người theo sáng thế luận, những người lẽ ra có cảm tình với thuyết tiến hóa. Trong tác phẩm Ði tìm Thượng Đế của Darwin, Miller giải thích rằng, “Tôi tin là phần lớn khó khăn nằm về phía người vô thần trong cộng đồng khoa học, những người đã thường xuyên tranh thủ được các tài liệu sinh vật học chứng minh được sự tiến hóa để hỗ trợ [sic] cho các công bố triết học của mình.” Và Giberson đã tiếp lời:

“Các chỉ trích về chủ nghĩa sáng thế thường thô lỗ, tùy tiện và có vẻ như có kế hoạch vốn vượt quá những sự thật của các khẳng định khác nhau về lịch sử tự nhiên của trái đất… Những chỉ trích nổi tiếng này đã thất bại không hiểu được rằng những người theo thuyết sáng thế cũng là những tín đồ Kitô giáo thuần thành, nhiều người trong họ rộng lượng, biết điều và có động cơ từ những mục tiêu chân thành nhất. Những người Kitô giáo có suy nghĩ cảm thấy một điều gì bất chính trong tinh thần tranh chấp nhỏ nhen theo sau cái lẽ ra nên là một cuộc cãi nhau thông thường về khoa học.”

Do đó, trở ngại của hiểu biết không phải là tôn giáo, mà là vì những người tiến-hóa-vô-thần không chịu im mồm. Nhưng hãy nghĩ đến điều này: đó là Richard Dawkins người mà hơn tất cả những kẻ khác, đã thuyết phục mọi người về thực tại và sức mạnh của tiến hóa. Ðó là đỉnh cao của suy tưởng khát vọng nhằm khẳng định rằng nếu ông ta và các bạn đồng nghiệp trí thức của ông chỉ cần đơn giản ngừng tấn công thì chủ nghia sáng thế sẽ biến mất.

Giberson đánh đồng một chỉ trích chung khác vào các nhà sinh vật học tiến hóa. Nhiều người trong chúng ta, ông khẳng định, nhìn nền khoa học của chúng ta như một tôn giáo, môt lối sùng bái Darwin với mục đích muốn giải thích mọi thứ, kể cả ý nghĩa, mục tiêu, đạo lý và chính bản thân tôn giáo: “Ý tưởng cho rằng khoa học nên là một tôn giáo của chính mình tuôn chảy như một kho dự trữ ngầm dưới mặt đất xuyên qua các dòng trước tác của những sự phổ biến này, chảy róc rách dưới bề mặt của nó và sủi bọt ra những quan điểm mỗi khi cuộc thảo luận đi đến những câu bây giờ – ở đây – tất cả – cái gì – nghĩa là.” Vâng, một số nhà khoa học (và những người viết sách về khoa học) đã đi đến chỗ cực đoan với tâm lý học tiến hóa, cho rằng chủ thuyết Darwin có thể giải thích mọi khía cạnh của hành vi nhân loại. Nhưng không có nhà khoa học nghiêm chỉnh nào muốn tiến hóa trở thành một thứ như tôn giáo, hay thậm chí một nguồn giá trị hay đạo lý. Ðiều đó có nghĩa là chúng ta từ bỏ công cụ chính của mình để hiểu biết được về thiên nhiên: giải pháp của các khẳng định theo lối kinh nghiệm chủ nghĩa khẳng định các dữ liệu về kinh nghiệm chủ nghĩa. Chúng ta không hề có “đức tin” vào chủ thuyết Darwin trong cùng phương cách mà những kẻ khác có đức tin vào Thiên Chúa, chúng ta cũng không nhìn Darwin như một thẩm quyền không thể bắt bẻ như Ðức Giáo Hoàng Benedict XVI hay Ngài Ayatollah Khamenei. Thực thế, kể từ năm 1859 một số không ít các ý tưởng của tiến hóa đã bị bác bỏ. Giống như tất cả các ngành khoa học, thuyết tiến hóa khác với tôn giáo bởi vì nó không ngừng kiểm tra các giả thiết của mình, và loại bỏ đi những gì có thể chứng minh được là sai lầm.

[CÒN TIẾP]

.

bài đã đăng của Jerry A. Coyne


Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)