Trang chính » Học Thuật, Tôn Giáo Email bài này

Thấy và Tin (3/5)


♦ Chuyển ngữ:
0 bình luận ♦ 17.03.2009

 

[TIẾP THEO]

 

III. 

Trong tác phẩm Ði tìm Thượng Đế của Darwin, Miller công bố một thần thuyết phổ quát, “Hãy nhớ, thêm một lần nữa, rằng những người có đức tin tin rằng Thiên Chúa của mình đang hoạt động trong thế giới hiện tại từ công trình hòa hợp giữa vật lý học, hóa học với chủ nghĩa thiên nhiên của ngài.” Giberson cũng đồng ý rõ ràng. Vậy thì họ đã tìm thấy cánh tay của Thiên Chúa ở đâu? Thật không ngạc nhiên chút nào: họ đã tìm được từ diện mạo của nhân loại.

Giberson and Miller quả quyết các tiến hóa của nhân loại, hoặc những gì rất giống như thế là không thể tránh khỏi, họ khẳng định, chắc cái vương quốc của muôn loài cuối cùng sẽ tiến hóa đến những loài có ý thức, rất thông minh, có năng lực am hiểu và thờ phượng đấng tạo ra mình. Những loài này không cần thiết phải có hình dạng giống hệt như con người, nhưng chúng phải có cái trí lực tinh tế của chúng ta (gọi tên là “vượn nhân hình” [humanoid]). Một trong các chương sách của Miller thậm chi còn có tựa là “Thế gian Ðã biết rằng Chúng Ta sẽ đến.” Giberson chú giải rằng “các năng lực như thị giác và trí thông minh có giá trị cho các sinh vật đến mức các nhà sinh vật học tin rằng có lẽ các năng lực ấy đã nảy sinh trong bất cứ tiến trình tiến hóa bình thường nào… Vậy làm thế nào mà sự tiến hóa có thể hoàn toàn là sự bất kỳ, nếu như một số điểm phức tạp cuối có thể tiên đoán được?”

Khi đọc những luận điểm này, nhiều nhà sinh vật học phải băn khoăn làm sao mà ông ta có thể đoan chắc như thế. Xét cho cùng, tiến hóa là một quy trình liền lạc. Phương cách mà chọn lọc tự nhiên định dạng một loài tùy thuộc vào các thay đổi không đoán trước được của khí hậu, các biến động vật lý bất kỳ như hiện tượng sao băng, núi lửa phun, sự nảy sinh của các biến đổi hiếm hoi và bất kỳ, và còn tuỳ thuộc vào việc sinh loài nào may mắn sống sót được qua những cơn hủy diệt lớn lao. Chẳng hạn, nếu sáu mươi lăm triệu năm trước, một thiên thể lớn không đụng vào quả địa cầu, khiến loài khủng long bị tuyệt chủng — cùng sự xuất hiện của các loài động vật có vú vốn chiếm ưu thế trước đó — thì tất cả các loài có vú chắc vẫn còn là những loài sâu bọ nhỏ bé, ăn giun dế vào khi chạng vạng tối.

Những người theo thuyết tiến hóa từ lâu đã từ bỏ loại nhận định là sẽ có một cuộc tiến hóa không tránh khỏi đến một kết quả phức tạp hơn. Một hành trình đi đến cao điểm ở con người. Đúng vậy, tính phức tạp trung bình của tất cả các sinh loài đã được tăng trưởng qua cuộc tiến hóa của ba tỉ rưỡi năm, nhưng đó là bởi vì sự sống đã khởi đi từ một phân tử tái tạo đơn giản, và chỉ có phương cách duy nhất để phát triển từ đấy là phải trở nên phức tạp hơn. Nhưng hiện nay, tính phức tạp không phải lúc nào cũng là một đặc ân của lựa chọn tự nhiên. Chẳng hạn như, nếu bạn là một loài ăn bám, chọn lọc tự nhiên có thể tạo ra bạn ít phức tạp, bởi vì bạn có thể sống dựa vào các nỗ lực của những sinh loài khác. Con sán xơ mít tiến hoá từ những con giun sống tự do và trong quy trình tiến hóa chúng đã bị mất đi hệ thống tiêu hóa, thần kinh và hầu hết các cơ phận tái sản xuất của chúng. Như tôi nói với các sinh viên của mình, chúng đã trở nên đúng là những cái túi hấp dẫn các tuyến sinh dục, như chính các sinh viên vậy. Thế nhưng loài sán xơ mít thích ứng một cách tuyệt vời với lối sống ký sinh ấy. Thậm chí chúng không cần phải trở nên khôn ngoan hơn nữa. Tôi có nuôi một con chồn hôi trong vài năm, một con vật đáng yêu nhưng ngu đần. Khi tôi nhận xét như thế với vị y sĩ thú y của tôi, ông ta đã đưa tôi về lại đúng vị trí của mình: “Ông bảo nó ngu à? Không đâu, nó hoàn toàn thích nghi với cái kiếp làm chồn của nó.” Trí khôn phải trả cái giá của nó: phải sản xuất thêm và mang nặng thêm các công việc về não bộ, và phải tăng cường các chuyển hóa dinh dưỡng để hỗ trợ thêm. Rồi đôi khi những chi phí này vượt quá giới hạn của bộ gien di truyền. Một con chồn thông minh hơn có thể không còn đúng là con chồn nữa.

 

Để hỗ trợ tính tất yếu của con người, Giberson và Miller viện dẫn đến khái niệm hội tụ tiến hóa. Khái niệm này đơn giản: các sinh loài thường thích ứng với các môi trường quen thuộc từ những đặc tính tiến hóa tương tự một các độc lập. Con ngư long (một giống bò sát dưới nước thời cổ đại) cá heo, và loài cá tất cả đều tiến hóa độc lập dưới nước, và thông qua sự chọn lựa tự nhiên cả ba loài này đều cần đến các vảy và hình dạng thuôn dài. Những “đôi mắt tựa như cái máy quay phim” đã tiến hoá từ cả loài mực ống và các loài động vật có xương sống. Các động vật ở bắc cực như loài gấu bắc cực, thỏ bắc cực và loài cú tuyết hoặc màu trắng hoặc trở nên màu trắng trong mùa đông để tự giấu mình khỏi các loài thú ăn thịt sống rình mồi. Có lẽ thí dụ đáng ngạc nhiên nhất của tính hội tụ là sự tương đồng giữa một số sinh vật thuộc loại động vật có vú và mang túi ở Úc châu và những loài không liên hệ có vú và túi nhau sống ở một nơi nào khác. Loài cáo bay có túi có cử chỉ và hình dạng giống như loài sóc bay ở Tân Thế Giới. Loài chuột chũi có túi, với cặp mắt biến đổi và móng vuốt lớn là những con vật hảo hạng cho các loài chuột chũi có túi thai của chúng ta. Trước khi bị tuyệt giống vào năm 1936, loài sói có túi đặc biệt, hoặc con chó sói Tasmania, nhìn giống như loài sói mang túi nhau.

Tính hội tụ cho ta biết được những điều sâu sắc hơn về sự tiến hóa. Chắc phải có những “không gian thích hợp” có trước, hoặc những phương thức của sự sống, khiến đánh thức được những thay đồi tiến hóa tương tự trong những loài không có liên quan để thích ứng với tình trạng như thế. Nghĩa là, khởi đi từ những thủy tổ khác nhau và được nuôi lớn bởi những đột biến khác nhau, dù sao, sự chọn lựa tự nhiên có thể định dạng cơ thể vào những hình dạng rất giống nhau — miễn là những thay đổi ấy cải thiện sự tồn tại và sự sinh sản. Có những khỏng thích hợp trong đại dương để cho loài cá ăn thịt những con vật có vú và bò sát, do đó loài cá heo và loài ngư long trở nên có mình thuôn dài. Các động vật trong vùng bắc cực cải thiện sự tồn tại của chúng bằng cách trở nên màu trắng vào mùa đông. Và chắc chắn có một không gian thích hợp cho những loài có vú ăn tạp nhỏ bé trườn mình từ cây này sang cây khác. Tính hội tụ là một trong những đặc tính rất đáng chú ý của sự tiến hóa, và nó cũng phổ biến: có hàng trăm trường hợp hội tụ như vậy.

Từ đấy, tất cả những điều cần đến để chứng minh cho tính tất yếu của nhân dạng là khẳng định rằng có một loại “không gian cho nhân dạng” (humanoid niche) — một phương cách của sự sống vốn cần đến sự tự biết về bản ngã tinh tế và ở mức thông minh cao — và rằng cái không gian này đã tồn tại trong tình trạng trống không cho đến khi bị xâm chiếm không tránh khỏi bởi các thủy tổ của con người. Thế nhưng, sự xâm chiếm này có thể thực sự tất yếu được không? Miller tin tưởng rằng có thể tất yếu được:

“Nhưng khi sự sống tái khám phá ra không gian thích nghi, chúng ta đã có thể nào chắc chắn được là khoảng không gian của chúng ta không bị chiếm giữ mất? Tôi sẽ lập luận rằng chúng ta hầu như chắc chắn rằng nó sẽ không bị mất — rằng sự tiến hoá cuối cùng sẽ sản sinh ra một loài có suy nghĩ, tự ý thức và thông minh, được phú cho một hệ thống thần kinh đủ lớn để trả lời được chính những câu hỏi tương tự mà chúng ta có, và có năng lực khám phá chính cái quy trình đã sản xuất ra mình, quy trình tiến hóa… Tất cả những gì chúng ta hiểu biết về tiến hóa cho thấy sớm muộn gì cũng sẽ đến với cái khoảng không gian ấy.”

Miller và Giberson buộc phải quan niệm như thế vì một nguyên nhân đơn giản. Nếu ta không thể nào chứng minh được sự tất yếu của tính nhân dạng ấy, thì công trình hòa giải giữa tiến hóa và Kitô giáo sẽ phải sụp đổ. Bởi vì nếu chúng ta chính là đối tượng đặc biệt của công trình sáng tạo ra Thiên Chúa, chúng ta sẽ không có cơ hội tiến hóa nữa. (Dủ giáo hội Công giáo có chấp nhận hầu hết chủ thuyết Darwin, chắc cũng sẽ không thích hợp lắm để mà tạo ra một ngoại lệ cho sự tiến hóa của loài người thông minh (homo sapiens), loài có linh hồn được dạy rằng mình vốn là một sáng tạo của Thiên Chúa được cài đặt vào dòng dõi con người ở một thời điểm nào đó.

Vấn đề ở chỗ là hầu hết các nhà khoa học đều không chấp nhận sự cả tin của Miller. Bởi vì tiến hóa không phải là một chứng nghiệm lập lại. Chúng ta không thể chạy đi chạy lại cuốn băng sự sống để xem có phải tình trạng ý thức cao cấp luôn luôn xuất hiện ra hay không. Thực ra, có những nguyên nhân hợp lý để nghĩ rằng sự tiến hóa của nhân dạng không chỉ tất yếu, mà còn là một sự không chắc có tính tiên nghiệm. Mặc dù tính hội tụ là những đặc tính đáng chú ý của tiến hóa nhưng tối thiểu cũng có những sự hội tụ bị thất bại. Những thất bại này kém ấn tượng hơn, bởi vì nó liên quan đến những loài đã bị tiêu diệt. Hãy thử suy nghĩ về Châu Úc một lần nữa. Nhiều loại động vật có vú đã tiến hóa được ở đâu đó không hề giống với những loài động vật có túi. Không hề có con vật có vú nào tương ứng với con dơi (là một con vật thuộc loài có vú bay được), hay với những con hươu cao cổ và con voi (loại các động vật có vú lớn có cổ hoặc mũi dài để có thể lùng sục trên những cành cây). Điều gây ấn tượng nhất là, Châu Úc tiến hóa không có đối tác với loài linh trưởng, hay đối với những loài có trí khôn gần với loài linh trưởng. Thực ra, Châu Úc có nhiều khoảng không gian chưa bị lấp đầy, do đó có nhiều hội tụ chưa hoàn thiện kể cá cái khoảng không “nhân dạng” đáng giá ấy. Nếu trí khôn cao cấp đúng là một kết quả tiên đoán được của sự tiến hóa, tại sao đã không tiến hóa như thế ở châu Úc? Tại sao chỉ tiến hóa đúng một lần ở châu Phi mà thôi?

 

Những sự việc này dẫn đến một câu hỏi khác. Chúng ta nhận thức được tính hội tụ từ những loài không có liên quan cùng tiến hóa những đặc điểm tương đồng. Nói môt cách khác, những đặc điểm đã xuất hiện trong hơn một loài. Nhưng sự tinh tế, tính thông minh tự ý thức được bản ngã là một thể riêng biệt: nó chỉ tiến hóa một lần duy nhất từ thủy tổ của con người. (Loài bạch tuộc và cá heo cũng thông minh nhưng chúng không có những thứ suy nghĩ về cội nguồn của chúng.) Ngược lại, những đôi mắt đã từng tiến hóa một cách độc lập đến bốn mươi lần, và các động vật màu trắng ở bắc cực xuất hiện đôi ba lần. Khó có thể mang lại một trường hợp thuyết phục về sự tiến hóa không thể tránh khỏi của các đặc điểm chỉ từng xuất hiện một lần duy nhất. Cái vòi của con voi, một sự thích nghi tinh tế và phức tạp (có hơn bốn mươi ngàn cơ bắp!) cũng là một tiến hoá độc nhất. Do đó chúng ta không hề nghe thấy các nhà khoa học tranh cãi rằng sự tiến hóa có thể lấp đầy một cách không tránh khỏi cái “không gian voi” (elephant niche). Giberson và Miller công bố sự tất yếu của nhân dạng chỉ vì một nguyên nhân duy nhất: vì Kitô giáo cần như thế.

Cuối cùng, rõ ràng sự tiến hoá của trí thông minh con người là một sự kiện hội tụ: hội tụ về những khô héo của rừng rậm Phi Châu và sự phát triển của những cánh đồng cỏ, khiến loài vượn rời bỏ rừng xanh để đi trên hai chân mình. Thực ra, để xác nhận rằng sự tiến hoá của con người là điều không tránh khỏi, và từ đó quay nhìn lại hàng tá những dạng tiền nhân, tất cả sự xuất hiện của những dạng tiền nhân đó phải được xem là không thể tránh khỏi. Điều này mang lại việc đi trở ngược về sự tăng cường khả năng không thể xảy ra. Cuối cùng, câu hỏi phải chăng các sinh vật tương tự như con người là không thế tránh khỏi có thể trả lời được bằng cách thú nhận là chúng ta không biết — rồi thêm vào sự kiện rằng hầu hết các minh chứng khoa học đã cho thấy là chúng không thể. Bất cứ trả lời nào khác sẽ chỉ liên quan đến loại suy nghĩ của ước ao hoặc của thần học.

Miller chọn thần học. Mặc dù tác phẩm mới của ông không hề nói về việc làm sao mà Thượng Đế bảo đảm được sự xuất hiện của loài người thông minh mà Miller đã trình bày rõ ràng hơn trong Đi tìm Thượng Đế của Drawin. Ở đó ông trình bày rằng chính cái bất định của cơ học quán tính cho phép Thượng Đế can thiệp được vào các giai đoạn của nguyên tử, ảnh hưởng đến các hậu quả trong một giới hạn lớn hơn:

Bản chất bất biến của các hậu quả quán tính sẽ cho phép một Thượng Đế phi thường và huyền ảo tạo nên các biến động ảnh hưởng trong một phương cách sâu sắc và không thể phát hiện được bằng khoa học đối với chúng ta. Những biến động đó có thể bao gồm sự xuất hiện của những đột biến, sự kích hoạt các dây thần kinh riêng rẽ trong não bộ thậm chí đến sự sống còn của những tế bào riêng biệt và các cơ phận bị ảnh hưởng từ cơ hội xử lý của phân hủy phóng xạ.

Nói một cách khác, Thượng Đế là Đấng chuyển dịch các Nguyên Tử, duy trì sự tấn công có chủ định của Ngài vào tự nhiên quá tinh xảo đến mức vô hình. Đó là cái thất bại mà Miller, người đã đạt tới được những lập luận với sự tinh khôn khoa học nhất nhằm chống lại sự phức tạp không thể giảm nhẹ được, cuối cùng đạt đến trong sự rình rập công trình biên soạn DNA tinh tế của Thượng Đế. Lập luận này thực ra tương tự như lập luận của Michaek Behe, người bênh vực cho thuyết TKTM chống lại những minh chứng của Miller trong phiên tòa ở Harrisburg. Đó là một loại lập luận khác của Thượng-Đế-của-các-khoảng-hở, chỉ khác một điều là các khoảng hở lần này nhỏ xíu.

 

Miller đưa ra một lập luận khác vốn cũng được sử dụng bởi những người theo thuyết sáng thế và thuyết hữu thần như một bằng chứng của thiết kế vũ trụ: cái gọi là “sự hòa hợp tinh vi của vũ trụ.” Kết quả là sự hiện hữu của vũ trụ khiến mang lại sự sống như chúng ta biết lệ thuộc nặng nề vào kích cỡ của một số bất biến trong các nguyên tắc vật lý. Thí dụ như, nếu tích điện của nguyên tử chỉ cần khác đi một chút, hay sự khác biệt khối lượng giữa một proton và một neutron chỉ cần lớn hơn một chút, thì vũ trụ sẽ khác hẳn như thế này. Các tinh tú sẽ không tồn tại đủ để sự sống được hội tụ và tiến hóa, cũng sẽ không có thái dương hệ, vũ trụ sẽ khiếm khuyết những nguyên tố và và những tính chất hoá học cần đến để cấu thành các cơ phận sống. Nói một cách khác, chúng ta sống trong cái gọi là “Vũ trụ chìa khóa vàng” (Goldilocks universe) nơi mà các quy luật thiên nhiên vừa đúng để sự sống được tiến hoá và phát triển. Lối nhận xét này được gọi là “nguyên tắc con người” (the anthropic principle).

Mới thoạt nhìn, lời giải thích của nó có vẻ không đáng kể. Như Miller trình bày, “Lấy sự nhận biết rằng tôi và quý vị đang còn sống, tối thiểu là ngay tại thời khắc này làm khởi điểm, hiển nhiên là chúng ta phải sống trong một vũ trụ khả thi cho sự sống. Nếu không như thế, hẳn chúng ta sẽ không có ở đây để mà bàn luận về vũ trụ. Do vậy, trong một ý nghĩa nào đấy, sự kiện mà chúng ta sống được trong những ưu điểm của một vũ trụ sống thân thiện chỉ giá trị như một sự ‘đần độn’ lớn lao.” Đúng. Nhưng điều này mang đến một vấn nạn sâu hơn: tại sao các bất biến của vũ trụ lại chỉ xảy đến với những giá trị thúc đẩy sự sống như thế? Câu trả lời từ các nhà sáng tạo luận là sự ấy không phải là ngẫu nhiên: Một Thượng Đế Nhân Từ (hay một nhà thiết kế thông minh) nhào nặn ra các định luật vật lý ấy chính xác để một sự sống thông minh có thể tiến hóa ra được trong vũ trụ — sự sống quá thông minh đến mức đã tìm ra các định luật vật lý và quan trọng hơn cả chính là hiểu được đấng sáng tạo ra mình. Câu trả lời này — được biết đến như một nguyên tắc con người vững chắc — là một sự thể không thể chứng nghiệm được bằng khoa học, nhưng nguyên tắc này có vẻ hợp lý đến mức đã trở thành một trong những khẩu súng to nhất trong kho vũ khí của những người theo thuyết tạo dựng. (Điều quan trọng là phải nắm lấy các nguyên tắc con người liên quan đến các điều kiện cần đến cho sự hiện hữu của bất cứ sự sống nào, đừng nói gì về sự tất yếu của sự sống phức tạp và thông minh.)

Các nhà khoa học cũng có những câu trả lời khác, căn cứ vào lý lẽ hơn là đức tin. Có lẽ một ngày nào đó, khi chúng ta có một “lý thuyết cho mọi thứ” có thể liên kết được tất cả các lực vật lý, chúng ta sẽ thấy lý thuyết này sẽ cần vũ trụ của chúng ta phải có các bất biến vật lý mà chúng ta đã nhận ra. Như một lựa chọn, có những lý thuyết “đa tầng” (multiverse) hấp dẫn mang lại sự xuất hiện của nhiều vũ trụ, mỗi vụ trụ có các định luật vật lý khác nhau, và chúng ta chỉ có thể tiến hóa trong vũ trụ nào mà các định luật cho phép được sự sống. Nhà vật lý học Lee Smolin đã đề nghị ra một phiên bản quyến rũ về một lý thuyết đa tầng. Vẽ một đường song song với các lựa chọn tự nhiên giữa các cơ phận sống, Smolin đề nghị là các bất biến vật lý khác biệt với những bất biến của các tổ tiên chúng. (Điều này tương tự với sự biến đổi trong tiến hóa sinh vật học.) Và các vũ trụ với các bất biến vật lý gần với những vũ trụ chúng ta biết ngày nay vốn sản xuất ra nhiều lỗ đen hơn, lại trở nên sản sinh ra nhiều vũ trụ. (Điều này phản ánh sự lựa chọn tự nhiên). Quy trình này cuối cùng đem lại một quần thể các vũ trụ được phong phú lên trong những vũ trụ có được những đặc tính đúng để sản sinh ra các vì sao (nguồn của các lỗ đen), các hành tinh và sự sống. Lý thuyết của Smolin gợi lên rất nhiều tỷ lệ cho phép sự sống có thể xảy ra được.

Ý tưởng về một vũ trụ đa tầng (multiple universe) có lẽ giống như là một chuyển biến tuyệt vọng — một loại ca ngợi Mẹ Maria thải ra bởi những nhà vật lý từng bị cự tuyệt bởi các giải thích theo lối tôn giáo. Nhưng các ngành vật lý đầy những ý tưởng vốn đối nghịch với trực giác, và các lý thuyết về vũ trụ đa tầng tự nhiên thành ra các ý niệm vững chắc của vật lý. Chúng tiêu biểu cho các nỗ lực của vật lý để mang lại các giải thích căn cứ vào tự nhiên về những gì mà người khác nhận thấy như một chứng cứ của thiết kế. Đối với nhiều nhà khoa học, đa tầng có lẽ hợp lý hơn là cái giả định thuộc duy ngã luận rằng vũ trụ của chúng ta với 10.000.000.000.000.000 (mưới triệu tỉ) hành tinh đã được tạo dựng nên để một sinh loài đơn lẻ của loài động vật có vú có thể tiến hóa trên một trong những hành tinh ấy mười bốn triệu năm sau.

Và dù Miller có vẻ ưa chuộng lối giải thích kiểu thần học, hoặc tối thiểu đã cho cái nguyên lý con người một lý giải thần học:

“Hiểu biết khoa học rằng chính sự hiện hữu của chúng ta, thông qua tiến hoá, cần đến một vũ trụ của đúng cái kích cỡ, tỉ lệ và độ tuổi mà chúng ta đang nhìn thấy chung quanh ám chỉ rằng, vũ trụ, trong một số ý nghĩa, đã có chính chúng ta ngay tự khởi điểm… Nếu như vũ trụ này thực là vũ trụ chính yếu của sự sống, thì thật công bằng để mà bảo rằng, từ quan điểm của một người hữu thần, mỗi chúng ta là một kết quả từ ý định của Thượng Đế, bất chấp đến hiện hữu của quy trình tự nhiên nào đã đem chúng ta vào đời sống.”

Miller cân bằng đức tin của những người tin đạo với “đức tin” vật lý trong một giải thích có tính tự nhiên cho các quy luật vật lý:

“Những người tin đạo… là hợp đạo để nhắc những kẻ đa nghi và những người theo thuyết bất khả tri rằng một trong những cách giải thích được ưa chuộng của họ về trạng thái hiện hữu của chúng ta liên quan đến một nguyên tố của trí tưởng tượng man dại như thể những truyện kể trong các kinh sách thiêng liêng: ấy là, sự hiện hữu của vô số không đếm được các vũ trụ cùng lúc song song với nhau với những vật thể chúng ta không bao giờ có thể liên lạc và không thể kiểm tra đến sự hiện hữu của chúng. Niềm tin như thế cũng đòi hỏi một mức độ “đức tin” rất khác thường và những người không có tôn giáo cũng khôn ngoan thú nhận như thế.”

Vậy mà, các nhà vật lý vẫn chưa sẵn sàng để thú nhận như thế. Ngược với các khẳng định của Miller, sự hiện hữu của các vũ trụ không đòi hỏi đến một cú nhảy đức tin to rộng như sự hình dung ra Thượng Đế. Và một số giải thích khoa học của yếu tố con người có thể thử nghiệm được. Thực thế, một số tiên đoán trong lý thuyết của Smolin đã được xác định, tăng thêm uy tín cho lý thuyết này. Có thể là sự sai lầm, nhưng hãy chờ một thập niên nữa chúng ta sẽ biết thêm rất nhiều về yếu tố con người. Trong lúc này, sẽ chỉ là sự sai lầm để khẳng định việc đề nghị một giả thuyết có tính khoa học, có thể thử nghiệm được — không phải “niềm tin” — là tương đương với đức tin tôn giáo.

 

[CÒN TIẾP]

 

.

bài đã đăng của Jerry A. Coyne


Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)