Bài thuộc thể loại: Biên Khảo
Vẫn chỉ là đàn bà?
Những cộng đồng da đen, và đặc biệt là những cộng đồng nghèo khó, họ thường có lòng ngờ vực và không xem trọng phong trào tranh đấu nữ quyền. Đa số vẫn tiếp tục mơ ước về một cuộc nâng cao chủng tính, trong đó họ dành ưu tiên cho những nhu cầu của đàn ông, và chấp nhận những ý niệm cố định về vai trò nam nữ.
Hugo Nguyễn, những nỗi niềm bất an
Hugo Nguyễn sinh năm 1952 tại Huế và học Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Huế từ năm 1970 đến năm 1972. Tuy dở dang, nhưng với tấm lòng say mê nghệ thuật, Hugo Nguyễn luôn luôn tự tìm hiểu, nghiên cứu, khá sâu trong lĩnh vực hội họa.
Lời mở – Một Mô Thức Người (A Human Pattern)
Nhưng quả nhiên là thơ đang bị đe dọa, giống như trái đất này đang bị đe dọa. Nó bị đe dọa vì những triết thuyết dấy sinh từ lòng tham. Chủ nghĩa duy vật, thuyết thuần lý, chủ nghĩa duy hành vi là đối nghịch của cả thơ ca lẫn sự tồn tại của địa cầu.
Tách riêng
Viết có phải là khả năng uốn mình theo thực tại, nép mình vào? Hẳn ai chẳng muốn nép mình, nhưng rồi cái gì xảy đến cho tôi? Cái gì xảy đến cho những ai không thực sự biết thực tại? Thực tại tóc rối vô cùng.
Toang Hoang Ngoài Phố Chợ
Tâm Thư Gửi Nhà Văn Kiệt Tấn
Không những gay gắt, mà giọng văn của ông còn là một cách viết hoàn toàn vắng bóng sự kính trọng cho người đồng nghiệp khác phái. Tôi thất vọng vì sau hơn 30 năm ở nước ngoài, chúng ta vẫn chưa thoát ra khỏi những lối nhìn hẹp hòi, những biên giới hà khắc đã đầy ải và dìm dập chúng ta trong tình cảnh tù đầy và lạc hậu kinh niên.
Tóm lược tư tưởng của Kelly Oliver
Nếu họ chỉ mới thử phác họa lên những nét đại cương về một khái niệm triết lý của “Đàn Bà” hay nữ tính, họ đã liều lĩnh ràng buộc khái niệm đó với những quan điểm mà chung cuộc cũng lấy từ những ẩn dụ, về mặt lịch sử, nam phái đã từng dựng lên về phái nữ. Những triết gia này thường không tham dự, hoặc nếu có lên tiếng thì với lời lẽ đầy biện hộ hay chối từ, mỗi khi họ đánh bạo nhảy vào cuộc đối thoại về triết học.
‘Tiểu Thuyết Hương’ Sastra Wangi: Văn Chương Khích Động Nữ Quyền
Cuốn tiểu thuyết trên, ngoài việc dẫn đường cho sự xuất hiện của nhiều nhà văn nữ trên văn đàn, cũng là một dấu mốc quan trọng, đánh dấu sự thám hiểm khai phá những đề tài cấm kỵ trước nay như bản chất dục tính, đặc biệt là dục tính phái nữ, cũng như những lời chỉ trích mạnh bạo về sự bạo động chính trị, sự áp bức và những bất công xã hội.
Tiểu sử Judith Wright
‘Judith Wright vẫn được biết tới như “lương thức của nước Úc”, một con người hoạt động không mệt mỏi cho môi sinh và cho thổ dân. Tuy nhiên, chính thơ ca của bà sẽ được ghi nhớ nhất, ấy là giọng thơ đã giúp tạo thành ý thức quốc gia kinh qua những giai đoạn trưởng thành của bà mà cũng là của toàn xã hội Úc.’
Tản mạn về vấn đề nữ quyền ở các nhà văn Nhật Bản
Thông báo dự định của DaMau.org về vấn đề nữ quyền khiến tôi nhớ ra là chưa đọc thấy tác-gia Nhật Bản nào thật sự có tiếng nói mạnh bạo rõ ràng đặt vấn đề nữ quyền đến mức như các nhà văn nữ Việt Nam hiện nay, trong số không-bao-nhiêu những tác-gia Nhật Bản mà tôi được biết.
Phụ nữ chúng tôi phải viết
Có đôi lúc tôi thắc mắc tự hỏi tại sao phụ nữ thời đại chúng tôi phải viết và họ đã viết gì? Nhu cầu nào đã thúc đẩy họ cầm viết, động lực nào bắt họ ngồi xuống bàn phím, thoăn thoắt gõ những con chữ trôi bập bềnh trên giòng tư tưởng.
ĐẦU XUÂN ĐỌC ”SƠN VIÊN TIỂU MAI”
Sư Mãn Giác (1052-1096), một thiền sư thuộc phái Vô Ngôn Thông Việt Nam, có lẽ là người làm thơ về hoa mai sớm nhất, được chép lại trong “Thiền Uyển Tập Anh”:
Xuân khứ bách hoa lạc
Xuân đáo bách hoa khai
Sự trục nhãn tiền quá
Lão tòng đầu thượng lai
Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai
diễn từ Nobel
..To tát hay thanh mảnh, ẩn che, nổ bùng, hoặc từ khước phong thánh; cười vang hay khóc thầm, thì con chữ chọn lọc, sự im lặng được chọn lọc, ngôn ngữ không bị ố phạm, toàn bộ vươn mạnh tới kiến thức, chứ không phải sự hủy hoại kiến thức. Ai là kẻ không biết có một nền văn chương bị cấm chỉ bởi vì nó tra vấn; bị bôi nhọ bởi vì nó cao tính phán đoán; bị tẩy sạch bởi vì nó có khả thể giao dòng chuyển hướng? Bao nhiêu người đang uất phẫn với ý tưởng về một ngôn ngữ tự thảm sát.
Một số suy nghĩ về truyện Chớp (Sau khi đọc những truyện chớp trên Da Màu)
Nếu truyện dài và truyện ngắn chứa đựng rất nhiều phần thừa, thì truyện chớp lại chứa đựng rất nhiều phần thiếu. Cái thừa thì dễ nhìn thấy, dễ tìm hay ít nhất ta cũng dễ cảm nhận được, vậy cái thiếu nằm ở đâu? Thiếu bao nhiêu thì gọi là đủ? Nên thiếu cái nào và không nên thiếu cái nào? Tìm cách trả lời những câu hỏi đó, chính là nghệ thuật viết truyện chớp. Nói một cách khác, phải tìm cách chừa những khoảng trống, phải để ngõ, phải mở. Do đó, phần thiếu đâm ra vô định. Mặt khác…
Toni Morrison: Giải Nobel Văn Học 1993
Bà người Mỹ gốc Phi Châu, vắn tắt hơn là người da đen, nhũ danh Chloe Anthony Wofford. Qua hình chụp và những đoạn phim tài liệu chiếu trên Ti-Vi, bà có dáng dấp điển hình của một bà tây đen già không có thói quen làm dáng và chẳng chịu kiêng khem chuyện ẩm thực. Bà to lớn như một ôm nhân sự thật đen và thật vĩ đại.
Tình dục trong văn chương Phạm Thị Hoài
Nhà văn Phạm thị Hoài đồng lứa với Dương Thu Hương, Nguyễn Huy Thiệp… nghĩa là những người lớn lên trong chủ nghĩa xã hội tại miền Bắc và đã có tác phẩm trước khi có Đổi Mới, nhưng chỉ có thể viết thẳng theo ý mình trong mấy năm đầu của Đổi Mới.
Bao gạo 50 ký và những giấc mơ
Bao gạo 50 ký hiện nay không phải là mơ ước quá lớn với nhiều người, nhưng nó có thể là nặng vô cùng trong nỗi đói khát của dân nghèo nông thôn hay miền núi. Với tôi, bạn Vũ, và với đồng lương thầy giáo bo bo đạo làm người, nó cũng không nhẹ.
Thức Ăn Dễ Dãi
Ngay trong miếng ăn, với dấu cắn đầu tiên vào trái cấm, với khóe miệng hài nhi vào núm vú, đã bao hàm cả một mặc cảm tội lỗi—một mặc cảm về thiên nhiên và nhân cảnh không hoàn hảo. Có lẽ nghệ thuật nấu nướng của một văn hóa, hay một quốc gia, khi đã trở thành tinh vi, cũng là cách che đậy mặc cảm tội lỗi đầu đời, hoặc quá trình man rợ và nhàm chán của con người phải ăn để sống còn với thiên nhiên.
Ngày tôi về làng
Xe về đến đầu làng, đứa cháu họ quay sang bảo tôi: “Chú thấy cây đa làng mình không? Cụ tổ họ nhà mình trồng đấy. Cháu nghe ông cháu bảo thế. Chắc là mấy trăm năm rồi. Bên Mĩ chắc chẳng có cây đa như thế này đâu, chú nhỉ?” Giọng nó bình thản nhưng tôi nghe như có pha chút hãnh diện.
Nếp Xưa, Tết Việt
Theo quan niệm dân gian thì ba ngày tết có ba cuộc gặp gỡ hết sức quan trọng ngay trong một nhà. Trước hết là cuôc gặp gỡ với các vị thần linh. Thần linh ở đây không cao xa, huyền bí như ở các đền, miếu mà là 3 vị gia thần: Tổ sư (tổ nghề), Thổ Công (ông Địa) và Táo Quân (thần Bếp). Cuộc gặp gỡ thứ hai là ông bà, cha mẹ hoặc những người thân đã quá cố về chung vui với con cháu. Cuộc gặp thứ ba là cuộc họp mặt gia đình.
Năm Đinh Hợi trước
Tôi đã sống qua một năm Đinh Hợi trong đời tôi, và nay lại sắp sửa gặp một Đinh Hợi nữa, chắc chắn là cái cuối cùng. Trong đời một người chỉ có thể gặp tối đa là hai lần như thế, muốn gặp lần thứ ba thì phải sống ít nhất là 120 năm.
Chưa thể gọi là có một thành tựu
Hơn 30 năm lưu vong chưa có một tác phẩm TẦM VÓC nào ra đời từ nền văn học hải ngoại. Những kỳ vọng của độc giả về lớp người viết trước, những nhà văn LỚN lưu vong đầy kinh nghiệm sống trước chiến tranh, trong chiến tranh và sau chiến tranh viết một tác phẩm về hậu chiến tranh hoàn toàn không thấy một dấu hiệu nào.
Văn chương của Võ Phiến “đứng” được với thời gian
Phát biểu trong buổi ra mắt Tuyển Tập Võ Phiến tại nhật báo Người Việt (Nam California USA 28/1/2007)
Gần nửa thế kỷ là thời gian dằng đặc phân cách lần đọc Võ Phiến đầu tiên và cuối cùng của tôi. Thế mà cảm giác bần thần ngầy ngật ngày xưa vẫn không thay đổi. Tôi nghĩ: Văn chương của Võ Phiến “đứng” được với thời gian, ít ra là theo kinh nghiệm “đọc” của tôi.
Thác Đổ Sau Nhà của Võ Phiến qua cái nhìn của Mai Kim Ngọc
(Phát biểu trong buổi ra mắt Tuyển Tập Võ Phiến ngày Chủ Nhật, 28 tháng 1, 2007)
So với các truyện ngắn hay nhất thế giới, bấy giờ tôi nghĩ ‘Thác Đổ Sau Nhà’ có chỗ đứng nghiêm túc cạnh những tác phẩm cùng loại của Guy de Maupassant, của Lỗ Tấn, của Anton Chekhov… Bây giờ là gần 50 năm sau, tôi vẫn nghĩ như vậy…
‘Chỉ là đợt thử mắt bên phải’
Cho tôi xếp lại theo trình tựu ưu tiên như sau: “em” Thơ Tân Hình Thức”; chị “Chủ nghĩa hậu hiện đại”; mụ phù thủy “Hiện thực thần kỳ”; bà nạ dòng “Tư tưởng nữ quyền”; bà già gân “Mỹ học của cái tục/của thân xác.” Với chút chút mầy mò về theo lối Hậu hiện đại, Hiện thực thần kỳ và Tân Hình Thức khi sáng tác, tôi rất thích bàn luận cái “mắt phải” này và cho rằng đây là gợi ý hấp dẫn, có tính khai phá của Đề Dẫn.
NGUYỄN ĐÌNH THUẦN: THẾ GIỚI CỦA NHỮNG HANG ĐỘNG THẠCH NHŨ
Có lần khi xem tranh của Nguyễn Đình Thuần sau khi uống vài ly rượu, tôi chợt nhận ra rằng sự thống khoái của mấy ly rượu cộng với không khí của những bức tranh làm cho tôi thích tranh của anh lạ lùng. Không gian trong tranh bây giờ là không gian của kính vạn hoa luôn luôn biến đổi. Sự sống của những bức tranh như đâm chồi, trổi dậy theo chiều cao, trườn chảy ra theo chiều sâu bằng những vết, mảng màu phi hình dạng sáng, tối, đậm đặc và sung mãn.
Chính sự hiện diện là thành tựu
Dùng hai chữ “thành tựu” khi nói đến Văn Học Hải Ngoại (VHHN) có lẽ hơi lớn lối.
Tuy nhiên, tôi cho là không có gì sai. Tôi nghĩ đến hai chữ này một cách đơn giản: thành tựu là những gì ta đã đạt được qua một quá trình thời gian dài. Trong bài đề dẫn, Nguyễn Hưng Quốc (NHQ) đã trình bày khá rõ và tôi không có gì thắc mắc. Về những gợi ý của NHQ về tác giả, tác phẩm, tính thẩm mỹ…trong VHHN thì quá chi li, đòi hỏi tài liệu, thời gian đọc, suy gẫm và phân tích cẩn thận. Ở đây, tôi chỉ xin trình bày thêm một số suy nghĩ riêng về chuyện “thành tựu”. NHQ có nói rõ: thành tựu…
Bài đề dẫn của hội thảo
Hoàn toàn không có gì đáng ngạc nhiên nếu hôm nay chúng ta lại quay trở lại cái đề tài chúng ta đã từng bàn cãi nhiều lần: thành tựu và tiềm năng của văn học hải ngoại. Dĩ nhiên, đây không phải là lần cuối cùng. Sẽ không bao giờ có cái lần cuối cùng ấy cả. Bởi không bao giờ chúng ta có được câu trả lời rõ ràng và dứt khoát về vấn đề này. Nó sẽ được đặt ra nữa, một lúc nào đó, trong tương lai. Chắc chắn. Chỉ có điều là lần này, chúng ta sẽ không bàn đến những khía cạnh tiêu cực của văn học hải ngoại.
Nền Văn Học Việt Nam duy nhất không bị kiểm duyệt
Trước tiên nên gọi «Văn Học Di Dân Việt Nam» thay vì «Văn Học Hải Ngoại», vì cụm từ «Hải Ngoại» giới hạn ý nghĩa duy nhất trong lĩnh vực địa lý, trong khi «Di Dân» bao gộp chuyển động lịch sử, chính trị, kinh tế, văn hoá, địa lý của cả một dân tộc dưới cả hai hình thức: tự nguyện hoặc cưỡng bức.
Nếu trong hai chữ «Hải Ngoại» phạm trù không gian là chính, thì trong «Di Dân» con người-dân tộc là yếu tố chính. Nếu con người là trung tâm khảo sát của văn chương, thì tên gọi phải là «Văn Học Di Dân» thay vì «Văn Học Hải Ngoại».

Bình Luận mới