Trang chính » Biên Khảo, Các Số Da Màu định kỳ, Da Màu số 20, Dịch Thuật, Sang Việt ngữ, Tiểu luận Email bài này

Tóm lược tư tưởng của Kelly Oliver

Vi Lãng chuyển ngữ

Dịch từ nguyên bản tiếng Anh của Jennifer L Hansen, Summary of Major Themes – An Overview of Kelly Oliver’s Work, (1998)

Sự nghiệp của Kelly Oliver cắt xuyên qua cánh rừng tranh luận về nữ quyền. Oliver không né tránh những câu hỏi khó khăn về tính chủ quan của phái nữ. Là sản phẩm của một liên minh phiền phức giữa phong trào nữ quyền với lý thuyết phi cấu và nghiên cứu phả hệ Foucault , các triết gia tranh đấu cho quyền lợi phái nữ rất dè dặt không biết có nên tranh luận triết tính về nghĩa lý của phái nữ. Nếu họ chỉ mới thử phác họa lên những nét đại cương về một khái niệm triết lý của “Đàn Bà” hay nữ tính, họ đã liều lĩnh ràng buộc khái niệm đó với những quan điểm mà chung cuộc cũng lấy từ những ẩn dụ, về mặt lịch sử, nam phái đã từng dựng lên về phái nữ. Những triết gia này thường không tham dự, hoặc nếu có lên tiếng thì với lời lẽ đầy biện hộ hay chối từ, mỗi khi họ đánh bạo nhảy vào cuộc đối thoại về triết học.

Khẳng định bất cứ điều gì về đàn bà, hoặc giả về vai trò người mẹ trong những bài viết của Oliver, là đã nói trong một phạm trù ngôn ngữ, một phạm trù luôn xem họ như những khách thể của triết lý Tây phương, như là một “Kẻ Khác”. Tuy nhiên, không màng đến những nguy hiểm đang chờ chực, Oliver táo bạo hơn. Bà tin rằng cái nguy của việc đưa sự chủ quan lên để bàn luận, đặc biệt là sự chủ quan của phái nữ, có thể chỉ là nỗi bạo lực duy nhất chúng ta phải đương đầu trong mối liên hệ tương thức. Ngược lại với tiến trình mô hình triết lý – giả định rằng bản chất con người là cuộc đối chiếu đầy bạo động -, bà đặt lại nền tảng dựa trên sự hợp tác. Tuy vậy, bà cũng nhận thức rằng: “Dầu mô hình của tôi không thể ngăn chặn được tình huống trong đó bạo lực vẫn có thể xảy ra, nó không bắt đầu với một toan tính cần thiết để đưa ra sự vi phạm đó. Đúng hơn, nó bắt đầu bằng một cộng tác, dầu có thể sụp đổ theo luận điệu của Derrida, nếu nó không dám mạo hiểm tiếp tục cố gắng việc trao đổi qua những khác biệt. Chúng ta phải sẵn sàng chấp nhận sự hiểu lầm để có hi vọng đạt tới sự hợp tác.”

Ta có thể nói rằng điểm then chốt trong tư tưởng Oliver là sự đặt lại nền tảng của đạo đức: Oliver thách thức những khái niệm căn bản mà đa số những nhà đạo đức học đã giả định trước, như sự chủ quan tự trị; việc suy tưởng qua lý trí, nguyên tắc hay định luật về hành động chính đáng; và sự thường nhận rằng, không có đạo đức dẫn dắt, con người chắc là sẽ giết hại lẫn nhau. Đi ngược lại với lý thuyết về khế ước xã hội, và thuyết công nhận tương chủ của Hegel – theo đó, tính chủ quan được định nghĩa là việc hai chủ thể độc lập sẽ tranh nhau để giành được vị trí trội thế hơn -, Oliver hình dung tới một tính chủ quan hoàn toàn khác hẳn.

Qua cách nhìn về sự liên hệ tương chủ như là một cuộc hợp tác và tăng tiến chung, bà chuyển cuộc tranh luận về đạo đức sang những cơ bản khác. Đạo đức không còn là đối tượng nghiên cứu về những qui tắc cần thiết để điều hòa mối liên hệ – đã rạn nứt vì xung đột – của con người. Bà viết: “Đạo đức không thể dựa trên quyền lợi hay lý trí của một chủ thể tự trị, nếu tất cả chủ thể vốn sẵn đã có tính xã hội trong sự thành lập tính chủ quan của họ. Bàn luận về quyền lợi cá nhân là đã giả định đến một chủ thể tự túc rắn rỏi, làm chủ được thân thể và hành động của y. Nhưng nếu chúng ta từ bỏ những qui kết về chủ thể tự túc, để chuyển sang một chủ thể xã hội, trong đó để quyết định những gì về đạo đức hay phê phán, chúng ta cần phải xét nghiệm lại những liên hệ giữa con người, và những điều kiện tạo nên những liên hệ này. Chúng ta không thể đơn thuần giả định một sự bình đẳng, chỉ nông cạn trên mặt mà đôi khi che đậy những bất bình đẳng sâu xa hơn.”

Oliver đề ra rằng chiến tranh, bạo động, đàn áp và tất cả những bất công khác của nhân loại đều xuất phát, một phần, từ những ảnh tượng mà các nhà triết học dùng để mô tả về tính chủ quan. Họ bắt đầu với sự tin tưởng rằng con người, tự cơ bản, luôn chống chọi với nhau, để rồi sau đó lại thắc mắc tại sao họ gặp nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm sự an bình và hòa hợp. Oliver đánh cuộc rằng “hòa bình chỉ đến bằng cách chúng ta chấp nhận những hình tượng khác về vấn đề: ta là ai và từ đâu tới.”

Qua những bài viết của bà, Oliver đưa ra hai hình tượng chính, tương quan với nhau : (1) tính cách xã hội trong sự liên hệ đầu tiên giữa ta với người mẹ; (2) những mô hình về chủ quan không cần thiết phải bắt đầu với sự tin tưởng rằng đối choại là thù nghịch. Nguyên do hai hình tượng này có tương quan nằm trong lý luận của Oliver, theo triết gia người Pháp, Luce Irigaray, rằng triết học phương Tây phạm vào tội giết mẹ, vì các nhà triết học đã vẽ lên một lằn nứt chia rẽ giả tạo, giữa cái họ cho là ranh giới của bản tính và văn hóa. Vẽ lên những lằn nứt như thế, họ đã định ra một địa hạt buộc con người phải lìa bỏ sự liên hệ tự nhiên từ ban sơ với người mẹ, hầu đạt tới thế đứng của họ trong văn hóa. Từ khởi đầu của tư tưởng triết lý, Oliver tiếp tục, bằng lý luận và ngôn ngữ, các nhà triết học đã cố gắng tự tách rời hẳn ra khỏi cõi bản tính động vật, để đi vào cõi thuần túy xã hội – vùng trí thức của đàm luận và lý trí. Khả năng giao nhập vào lĩnh vực xã hội là cách phân biệt loài người ra khỏi nguồn cội loài thú của họ. Tuy nhiên, với hình tượng triết học này – một huyền thoại quá quen thuộc về căn nguyên nhân loại -, người mẹ phải chịu hi sinh. Để trở thành con người, để có lý trí, người mẹ phải bị “ruồng bỏ” (abjected) – chữ dùng Oliver mượn từ Julia Kristeva, nhà tâm lý học người Pháp. Một hậu quả nghiêm trọng khác từ sự giết mẹ này: tất cả mọi đàn bà, mà các triết gia đều gộp vào dưới thể chế của mẫu tính, trở thành nỗi đe dọa cho việc thăng tiến của phái nam vào trong lĩnh vực văn hóa. Vì thế, triết gia truyền bá lòng hồ nghi đàn bà, một sự ghét bỏ chủ yếu, trong văn tự của họ để duy trì một khoảng cách, tách họ ra lĩnh vực bản nhiên đầy hỗn độn và phi lý.

Dựa trên Julia Kristeva, Oliver tin tưởng triết học đã phạm một sai lầm căn bản khi giả định rằng mối liên hệ của chúng ta với người mẹ không có được xã hội tính. Bà đưa ra một số lý do để bênh vực lý luận này. Chẳng hạn như, theo Kristeva, ngôn ngữ không phải là công cụ duy nhất để chúng ta nhận thức, phân giải và hiểu biết sự vật trong tạo hóa. Ngược lại với Jacques Lacan, ngôn ngữ cũng không phải là phương tiện để ta biểu lộ những đòi hỏi, nếu đòi hỏi ẩn ý rằng người mẹ không còn có thể thỏa mãn những nhu cầu của chúng ta. Cả hai cách nhìn này không nhận thấy góc cạnh tình cảm trong việc giao tế và diễn đạt. Oliver muốn biện minh rằng, khác hơn đó, khi chúng ta dùng ngôn ngữ, là chúng ta cố gắng muốn nói lên những gì xem là quan trọng; chúng ta muốn diễn đạt những gì có ý nghĩa. Sự việc mang ý nghĩa trên nhiều bề mặt hơn là chỉ ở trình độ trí thức; cảm xúc không phải là ý tưởng. Sự quan tâm đến thế giới bên ngoài cũng là nối dài từ thân thể hiện hữu của ta, và căn nguyên của lời nói khởi đầu từ những chức năng thể xác cơ bản, “âm nhịp, thực chất của ngôn ngữ, là thuộc về xác thịt.”

Yếu tố thể tính của ngôn ngữ, như âm và điệu, chẳng hạn, giúp người nói dẫn dắt nỗi sinh động, thoát tiết những cảm xúc, trong tiến trình biểu thị và chia xẻ ý nghĩa với người khác. Giao liên, đã là có tính chất thể xác. Kristeva đặt tên cho yếu tố xác thịt của ngôn ngữ, là “ký hiệu” (semiotic). Ký hiệu hiện hữu ngay từ sự liên hệ đầu tiên của chúng ta với mẹ. Khi còn bé, chúng ta diễn đạt mong muốn của mình qua trao đổi xúc cảm với thân thể của mẹ. Xúc cảm trao đổi, một phần qua đối thoại bằng ngôn từ, nhưng một phần khác qua giọng nói, cử động, nụ cười, nước mắt, v.v. “Những trao đổi này là tiền-đối-thoại, xảy ra giữa hai thân thể, thân thể mang xã hội tính dù chúng chưa là chủ thể chân chính. Sự trao đổi sớm, qua thân thể giữa mẹ và con, đã là một hình thức giao liên; ngôn ngữ không những chỉ là công cụ để truyền thông tin tức, mà còn dùng để truyền cảm xúc tới người khác nữa.

Chúng ta cần phân giải những lý luận bao quanh sự liên hệ cha-con, để hiểu sâu hơn cái cung cách mà chế độ phụ hệ tạo dựng lên mẫu tính của phái nữ. Oliver cho rằng “nếu không làm thế, sẽ có nguy cơ là con người tiếp tục hoạt động như một phạm trù đầy qui tắc, tiêu chuẩn hoặc tự nhiên ngay cả trong các cuộc đàm luận nữ quyền, đặt câu hỏi về hòa nhập những phạm trù vốn đang chôn vùi đàn bà.” Trong hai quyển sách Giá Trị Gia Đình và Chủ Quan phi Chủ Thể, Oliver dành phân nửa sách phân tích những phương cách thể chế phụ hệ đã dùng để hợp thức hóa uy quyền của người cha trong gia đình và những vấn đề liên quan tới việc hợp thức hóa này. Chế độ phụ hệ mang hàm ý về tính cường dương và quyền sở hữu. Một đàn ông gương mẫu là người cương cường, khỏe mạnh và đủ khả năng để bảo vệ vật sở hữu của ông: vợ, con và tài sản. Oliver điểm rõ về hệ tư tưởng này trong Kẻ Giữ Lời Hứa Hồi Quốc (tuy nhiên, bà cũng nhấn mạnh về sự quan trọng của yếu tố chủng tộc, để phân biệt hai phong trào).

Điểm chung của những phong trào “nam quyền” hiện đại chính là sự tái xác định về vai trò của người cha là “chủ gia đình.” Oliver cho thấy những phong trào này dùng tâm lý biếm nhục “để vận động phái nam đứng lên đảm nhận trách nhiệm, đòi lại vị thế làm chủ gia đình” bằng cách gọi họ là “yếu đuối” hay “nhút nhát”. Phụ hệ đòi hỏi một đàn ông mạnh mẽ, nó cũng đòi hỏi một đàn ông ly dị với tình cảm; cũng vậy, triết lý tân-thuần-khiết cần một linh hồn rửa sạch hết những lôi cuốn và xâu xé xác thịt. Người cha chỉ là một thân-vắng-mặt. Theo lời tranh cãi của các triết gia qua các thời đại, đàn ông không nên vẩn đục đầu óc họ với những cảm xúc hay cám dỗ, mà phải hành động hoàn toàn dựa trên lý trí. Với tính chất cương cường đã hợp pháp hóa quyền thế của họ trong gia đình, họ phải bỏ thân thể lại phía sau để đảm nhận vị thế công dân trong xã hội. Phân tích lý thuyết chính trị về phụ hệ của Locke và Rousseau, Oliver xác nhận: “Hàm ẩn trong lý thuyết của Locke và Rousseau, có những lý luận mâu thuẫn, rằng quyền lực của một xã hội chính trị là dựa trên quyền hạn, chứ không trên sức mạnh; rằng sức mạnh chỉ có uy quyền trong thiên nhiên; rằng xã hội dân sự thay thế cho thiên nhiên; rằng quyền lực của người cha dựa trên sức mạnh tự nhiên mà tuy vậy, quyền lực đó đã trở thành cơ bản cho một chính quyền phụ hệ hợp pháp, dựa trên quyền hạn, chứ không trên sức mạnh.”

Điều mà cho phép phái nam đánh đổi sức mạnh để lấy quyền hạn chính chính là sự hi sinh của phái nữ. Qua sự đặt buộc cho phái nữ cái trách nhiệm phải săn sóc đến những nhu cầu thể xác của phái nam và đời sống tình cảm của họ, đàn ông từ đó có rảnh rỗi thời giờ cho những giao tiếp lý trí trong lĩnh vực xã hội. Tuy nhiên, cũng vì hợp thức hóa quyền lực dựa trên sức mạnh thân thể, đàn ông sau rốt lại trở ngược về lĩnh vực bản thể tự nhiên. Niềm mong muốn chia rẽ bản tính và văn hóa không thể thực hiện được; việc đem trở lại tấm thân thể đàn ông, lâu đã bị chèn ép bỏ rơi, đe dọa đến sự bền vững của quyền lực người cha trong cuộc đối chấp giữa quyền hạn và sức mạnh.

Lý luận chủ yếu thứ nhì của Oliver – rằng chúng ta không cần thiết phải chấp nhận một mô hình về sự tương chủ, liên quan tới tranh giành sinh tử giữa hai chủ thể – bắt đầu qua lời giải thích Oliver muốn nói gì với câu “chúng chưa là chủ thể chân chính.” Theo Oliver, con người là chủ thể nhưng không hoàn toàn chứa đựng trong họ, mà lại là một sản phẩm từ cuộc trao đổi liên tục với những cá nhân khác. Chủ quan, theo Oliver, là tương chủ. Để bênh vực cho lý luận này, Oliver chất vấn về cách nhìn, một bận tâm thông thường của triết gia; bà thách thức câu nói hiển nhiên lâu đời rằng “nhìn thấy là tin tưởng” (seeing is believing). Nếu chúng ta dựa vào mắt thấy để xác nhận sự hiện hữu của người khác, chúng ta chắc chắn tạo nên một khoảng cách giữa ta và kẻ khác. Theo các nhà tâm lý trị liệu, sự nhìn xác minh sự cắt xén và thiếu thốn. Đứa bé trai đưa tay, chỉ cho đứa bé gái thấy rằng nó không có dương vật, có lẽ nó bị cắt mất? Có lẽ người cha cắt bỏ dương vật của người mẹ?

Thay vì dùng cái nhìn, hay xác nhận, như một phương cách giao tiếp giữa các chủ thể, Oliver đề nghị một mô hình mới để hiểu rõ hơn về tính chủ quan, bà gọi là mô hình chuyển luân (circulatory model). Bà dùng cách làm việc của cái nhau trong cơ thể đàn bà để diễn tả mô hình này: “Cái nhau dàn đặt việc đổi chác tuần hoàn giữa (và bên trong) thân người mẹ và bào thai, để cả hai trao đổi chất dịch có lợi lẫn nhau, thay vì tìm cách hủy hoại nhau.” Tiếp tục với ý niệm “trao đổi chất dịch”, bà dùng ẩn dụ này để nói về sự tự chiêm nghiệm của con người: “Kinh nghiệm của con người về chính ta không phải là thành trì để bảo vệ nó từ thế giới bên ngoài. Thay vào đó, chúng ta cảm nhận chính mình như những dòng chảy của tâm tính, cảm giác và ý tưởng, luôn đổi thay và biến dạng. Thật ra, rất khó mà – có lẽ không bao giờ – lập nên được một cách nhìn siêu hình về cái nhân bản luôn luôn biến đổi của ta. Chúng ta không thể bước ra ngoài vòng lưu hành của chính ta, và mối liên hệ giữa ta và người khác.” Chúng ta luôn luôn bị ảnh hưởng bởi mối liên hệ giữa ta và người khác – chúng đến trước, sự tự quản có lẽ là bước lùi từ những liên hệ tiền kiện này.

Nhấn mạnh hơn về tình trạng hỗn loạn, vì chúng ta cứ bị ám ảnh với cái nhìn, Oliver cho rằng sự diễn dịch về cách chúng ta nhìn đã bóp méo những gì đang thật sự xảy ra. Bà bảo: “Chúng ta có ảo tưởng rằng mùi ngửi đến tới mũi, âm thanh đến vào tai, vị nếm vào miệng, nhưng cảnh thấy lại phát ra từ mắt. Tuy thế, chúng ta chỉ nhìn thấy được vì ánh sáng vào mắt và kích động thần kinh thị giác. Mắt không phải là một thể khối đặc, như tấm kính phản chiếu ảnh hình trên tròng, như cánh cửa sổ cho linh hồn. Mắt là rỗng xốp, lỏng chất. Như những giác quan khác, thị giác chỉ là kết quả của áp suất, chấn động, hạt thể và sóng, tác dụng trên dây thần kinh. Ảnh hình còn có vị nếm, mùi ngửi, âm thanh và mạch đập vây quanh và thêm thắt.” Luận điệu triết lý miêu tả những giao tiếp giữa con người, như bước qua một khoảng cách có tiềm tàng đối nghịch, chắc chắn là được bổ xung vững mạnh hơn nếu chúng ta không mang những yếu tố này vào khái niệm về cái nhìn – không chỉ những yếu tố tạo lên hình, âm, vị, mùi và xúc, mà còn cả tính cơ bản rỗng xốp của mắt.

Những bài viết gần đây của Oliver, về sự chứng nhận như một mô hình cho sự giao tiếp xã hội, là tiếp diễn từ ý tưởng phi cấu nói trên, trong đó sự chứng nhận được xem như một quá trình dựng lên ý niệm về chủ thể. Như đã dẫn, theo phương cách làm việc thông thường của các triết gia hiện đại, việc thừa nhận một người khác là điều cốt yếu để chúng ta xác nhận chính bản thể của ta, nhưng việc này lại đem tới bạo động. Nếu chỉ qua đối thoại với kẻ khác, người nào chưa được nhận diện luôn tìm cách tranh thủ đòi cho được sự công nhận, từ những người được ủy quyền phân phối sự công nhận này. Do đó, công nhận luôn đưa đến những mối liên hệ giữa thống trị và lệ thuộc. Ngược lại, chứng nhận, theo Oliver, là một ẩn dụ thích hợp hơn để nói lên sự liên hệ giữa con người. Không những sự chứng nhận hàm ý một góc cạnh pháp lý từ sự giải thích của nhân chứng, nó còn đưa tới một góc cạnh tôn giáo của “chứng nhân ý nghĩa” về những gì không thể thấy được, không bao giờ thấy. Một khi có ai nghe tới lời chứng nhận, thì nhân chứng đã trở thành, đã cho phép họ nói lên những kinh nghiệm không mạch lạc dồn ắp bên trong. Không ai biết trước được về những gì sẽ nói. Chỉ qua cách duy trì những liên hệ đạo đức với người khác, như một “có-thể-đáp-lại”, chúng ta mới có thể giúp nhau để khai mở, để chứng nhận ta là gì. Oliver thừa nhận rằng “chủ quan và nhân tính là kết quả của sự chứng nhận.” Nói thêm nữa, “chứng thực mở giúp cho người chứng một khoảng trống để họ bước ra ngoài. Qua tiến trình chứng nhận, lần đầu tiên nạn nhân được ‘biết’ đến kinh nghiệm họ đã trải qua.” Chỉ khi nào họ có thể kể lại được câu chuyện đời của họ, con người mới bắt đầu mạch lạc được cái tôi bên trong của họ – một cái tôi có thể đã chịu đựng quá nhiều khổ đau. Bằng cách kể lại đời họ cho người khác nghe, họ bắt đầu kể lại cho chính họ.

Kelly Oliver hiện đang là Giáo Sư Triết, Đại Học Texas, Austin. Bà tốt nghiệp cử nhân Triết (1979), tiến sĩ Triết (1987), viết nhiều bài vở & sách về triết học: hiện tượng, hiện sinh, ngôn ngữ, nữ quyền, v.v.

bài đã đăng của Jennifer Hansen

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)