Trang chính » Bàn Tròn: Chiến Tranh Việt nam, Biên Khảo, Nghiên Cứu, Nhận Định, Tư Liệu, Văn Học Miền Nam Việt Nam 1954-1975 Email bài này

từ một góc california – gìn giữ tấm dư đồ như nâng niu áo trận (kỳ 6–phần A)

olga-dror_thumb.jpg

 

Morning Headband for Hue

5.1 Giải khăn sô cho Huế, Nhã Ca, 1969/Mourning Headband for Hue, Olga Dror, 2014

Giải khăn sô cho Huế, được nhà thơ/nhà văn Nhã Ca nộp lưu chiểu dưới loại “truyện ký”, vào ngày 22.9.1969, theo như đã xuất hiện vào trang cuối và do Nhà Thương Yêu (Nhã Ca và Trần Dạ Từ thành lập) xuất bản vào cuối năm. Năm 2014, dịch giả Olga Dror cho ra mắt dịch phẩm Mourning Headband for Hue (Indiana University Press xuất bản) không những với bản dịch mà còn kèm thêm 65 trang giới thiệu thân thế tác giả, bối cảnh và phản ứng từ nhiều nhân vật liên hệ [sđd, trang xvi-lxv]. Bản của tôi là bản bìa cứng, có bao/jacket do Indiana University Press xuất bản. Nhã Ca cũng tổ chức ra mắt sách tại tòa soạn nhật báo Việt Báo Kinh Tế vì là người đồng-xuất bản, nhưng bìa sách không có bao/jacket. Năm 2016, họ cho xuất bản Mourning Headband for Hue bìa mỏng; lần này với thêm nửa trang giới thiệu chừng mực của sử gia Nguyễn Thế Anh.

Trước đây, tôi đã bàn đến tính chất hồi ký hay truyện ký của tác phẩm này và hậu quả của sự khác biệt giữa hai thể loại:

[.…]Tổng chi– cộng với bao điều bất nhất liên quan đến tác phẩm GKSCH do chính tác giả của nó phổ biến– nếu những tin tức khác về tiểu sử tác giả Nhã Ca do Olga Dror mang tới cho độc giả cũng không phản ảnh đúng đắn hay đầy đủ một phần văn sử của Văn học Miền Nam và lịch sử của người Việt tỵ nạn tại Hoa Kỳ thì sẽ cần phải được phân tích cho phân minh dù chúng ta rất hoan nghênh sự thành tâm và thiện ý của bà. Đó là những vấn đề quan trọng không kém– vì liên quan đến cả lịch sử và văn sử của cả một nửa dân tộc– sẽ được bàn đến trong một loạt bài khác…” [Nguyễn Tà Cúc, ‘Từ Giải khăn sô cho Huế của Nhã Ca đến Mourning Headband for Hue của dịch giả Olga Dror: Hồi ký hay truyện ký?”, Diễn Đàn Da Màu, ngày 23.3.2015, https://damau.org/36198/tu-giai-khan-so-cho-hue-cua-nha-ca-den-mourning-headband-for-hue-cua-dich-gia-olga-dror-hoi-kyhay-truyen-ky]

 

olga dror
Học giả Olga Dror

Bởi thế, tôi sẽ đề cập tới những chi tiết “không phản ảnh đúng đắn hay đầy đủ một phần văn sử của Văn học Miền Nam và lịch sử của người Việt tỵ nạn tại Hoa Kỳ” về một số dữ kiện cần xét lại đã xuất hiện trong “Translator’s Introduction/Lời giới thiệu của dịch giả” [Olga Dror, sđd, trang xv-lvii]. Quyết định lựa chọn Giải khăn sô cho Huế/Mourning Headband for Huế làm thí dụ cho độc giả không phải tình cờ. Olga Dror, xuất thân tiến sĩ tại Đại học Cornell University, hiện giảng dậy môn Sử học tại Đại học Texas A&M University, miêu tả chân dung Nhã Ca qua một số tác giả đồng thời, danh tính tạp chí và nhật báo nên cũng phản ảnh phần nào vào chân dung Văn Học Miền Nam ngay trên đà hưng thịnh. Như vậy, Olga Dror liệu có thành công với một phương hướng nghiên cứu khác khi chú trọng tới chi tiết trong tiểu sử tác giả như thượng dẫn? Bà cho độc giả biết “những tin tức về Nhã Ca và Giải khăn sô cho Huế được sử dụng một cách chính yếu “từ cuộc liên lạc thư từ với Nhã Ca cũng như từ các nguồn được sử dụng trong phần chú thích”:

The information about Nhã Ca and her work comes primarily from my correspondence with her as well as from the works cited here. [Olga Dror, phần Notes/Ghi chú, trang lvii, sđd]

Tôi không thể và cũng không nên tìm hiểu chi tiết về cuộc liên lạc giữa tác giả và dịch giả, nên những điều đề cập tới đây xin dành cho cả hai, trừ những ý kiến thuộc riêng về mỗi người. Tôi cũng mạn phép được trích dẫn một số đoạn trong bản dịch Việt ngữ của Huỳnh Kim Quang đã đăng trên Việt Báo Kinh Tế (thời gian Nhã Ca còn làm chủ nhiệm), trước là để công bằng cho Nhã Ca và Olga Dror; sau nữa, để độc giả tiện theo dõi vì xuất hiện trên mạng Internet nên dễ truy cập hơn. Xin chân thành cảm ơn dịch giả Huỳnh Kim Quang.

Tiếp đây, tôi sẽ đề cập đến từng vấn đề theo thứ tự xuất hiện trong “Translator’s Introduction/Lời giới thiệu của dịch giả”.

5.1.1 Tuần báo Văn Nghệ Học Sinh với chủ nhiệm Lê Bá Thảng và Thư Ký Tòa Soạn Giang Tân

Olga Dror cho biết Văn Nghệ Học Sinh là nhật báo được một số học sinh di cư từ Miền Nam thành lập rồi, từ đó, họ trở thành nổi tiếng trong Văn Học Miền Nam:

[.…] Bà học Trường Đồng Khánh, bà có kể trong tác phẩm, và lúc học ở đó bà bắt đầu cho đăng thơ và truyện ngắn dưới tên thật trong một số tạp chí văn học tại Sài Gòn, đáng kể nhất là trong báo Văn Nghệ Học Sinh. Tờ báo này được thành lập bởi một nhóm học sinh từ Miền Bắc di cư vào Nam sau khi chia đôi đất nước vào năm 1954. Trong số những người thành lập tờ báo ấy sau này trở thành các nhà văn và nhà thơ nổi tiếng như Dương Nghiễm Mậu, Lê Tất Điều, Lê Đình Điểu, Nguyễn Thụy Long, Đỗ Qúy Toàn, Viên Linh, (3) vị hôn phu tương lai của Nhã Ca là Trần Dạ Từ (sinh 1940), và một số vị khác. Vào năm 1956, Nhã Ca nhìn thấy tờ báo này trong một tiệm sách ở Huế và đã liên hệ với tòa báo.… [Olga Dror, Mourning Headband for Hue, trang xvi, Indiana University Press, 2014 -Bản dịch của Huỳnh Kim Quang, Việt Báo Kinh Tế, https://vietbao.com/a233274/hoc-gia-dich-gia-olgar-dror-viet-ve-nha-ca-giai-khan-so-cho-hue] (22)

Tuy ngắn ngủi chỉ vài câu, nhưng đoạn thượng dẫn chứa nhiều tin tức sai lầm về chủ nhiệm, thư ký tòa soạn của Văn Nghệ Học Sinh nếu kiểm chứng với nhiều người trong cuộc, trong đó có Nhã Ca. Vào năm 2005, nghĩa là gần 10 năm trước khi có cuốn sách dịch sang Việt Ngữ của Olga Dror, vô hình trung chính Nhã Ca phủ nhận tin tức thượng dẫn khi trả lời nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng (Thư ký tạp chí Văn trước 1975/Chủ nhiệm chủ bút tạp chí Văn sau 1975):

[.…]Nhã Ca kể lại báo chữ in đầu tiên của chị sau khi đã làm báo tường báo chép tay là tờ “Văn Nghệ Học Sinh”, do nhà báo Giang Tân làm Tổng Thư Ký. Chủ nhiệm, chủ bút là ông Lê Bá Thảng, chánh văn phòng của Bộ Trưởng Thông Tin Trần Chánh Thành (.…) Từ 1960, 1961 gì đó, cùng lúc với việc Trần Dạ Từ làm nhật báo Dân Việt, các bạn của Từ-Nhã chủ trương tuần báo Ngàn Khơi, in ở nhà in Nguyễn Đình Vượng, số 39 đường Phạm Ngũ Lão…”[Nguyễn Xuân Hoàng, “Nhã Ca, Cái viết ra mới thực sự quan trọng”, Văn Số 107&108, trang 5, 7, Tháng 11&12. năm 2005, California]

Độc giả, và cả Olga Dror nữa, có thể đọc bài này ngay trên Việt Báo Kinh tế:

-Nguyễn Xuân Hoàng, “Nhã Ca, Cái viết ra mới thực sự quan trọng” https://vietbao.com/a251972/nha-ca-cai-viet-ra-moi-thuc-su-quan-trong, đăng ngày 1, tháng giêng. 2015″.

Tiếp đó, theo nhà thơ/nhà xã luận Đỗ Quý Toàn thì sự sai lầm của Olga Dror càng chắc chắn:

Theo tôi biết, cả ba người chúng tôi không ai “lập” tờ báo Văn Nghệ Học Sinh. Chúng tôi chỉ viết, gửi bài, và lâu lâu được họ mời tới họp mặt, nhờ thế mà quen nhau. Lúc gửi bài cho báo này đăng chắc tôi chừng 16, 17, Viên Linh và Nghiễm hơn tôi vài tuổi (.…) Tôi không nhớ tên ông chủ nhiệm, hình như ông là công chức bộ Thông Tin, tổng thư ký là anh Giang Tân thì nhớ, anh ấy rất dễ thương (…) Tôi xin nói thêm về Văn Nghệ Học Sinh (.…) Tôi đoán rằng tờ báo ấy sống được có thể là nhờ chính phủ mua hàng tuần, để chia cho các phòng đọc sách công cộng. Báo văn nghệ cho học sinh thì khó bán lắm, mặc dù đối với chúng tôi lúc đó thì tờ báo ấy đáng mua! Chắc ông Thảng quen biết nhiều, có thể bán một phần báo cho chính phủ, cho nên báo mới sống. Hình như tờ báo ngưng sau khi ông Diệm đổ một thời gian, có thể đoán vì chính phủ mới không mua báo nữa …. [Đỗ Quý Toàn trả lời phỏng vấn của Nguyễn Tà Cúc qua E-mail, Đêm giao thừa, Tết Ất Mùi, ngày 19.2, năm 2015]

Ngoài Đỗ Quý Toàn, nhà văn Nguyễn Thụy Long xác nhận Văn Nghệ Học Sinh dành cho học sinh trung học. Ông là bạn thuở thiếu thời hàn vi lúc Trần Dạ Từ còn lấy bút hiệu Hoài Nam, tiếp đến làm chung với cả Trần Dạ Từ và Thu Vân trong tờ Ngàn Khơi. Khi bà thân mẫu của ông sang Lào làm ăn, ông bà thân sinh của Lê Đình Điểu đã nhận nuôi em trai của Nguyễn Thụy Long một thời gian, dù ông bà không hề biết gia đình mà chỉ gặp Nguyễn Thụy Long trước đó. Tôi hết sức cảm động khi đọc đoạn hồi ký ấy vì, sau này, được dịp quen nhà văn Nguyễn Thụy Long (qua thư từ) và nhà báo Lê Đình Điểu tại đây, họ càng giúp tôi hình dung được thêm thời báo chí Miền Nam của một thế hệ trẻ bước vào đời lập thân. Hồi ức của Nguyễn Thụy Long về nhà thơ Vương Đức Lệ sẽ cho biết thêm về sự liên hệ giữa tờ báo này và chính phủ như Đỗ Quý Toàn phỏng đoán:

[.…]Tôi nghĩ đến anh, sau cuộc di cư năm 1954 từ Bắc vào Nam, chúng tôi được đi học và đời sống người Bắc di cư cũng khá ổn định, ngoài việc học ra chúng tôi có cái đam mê riêng là văn nghệ, sáng tác văn thơ, chúng tôi chơi với nhau lập thành nhiều thi văn đoàn rồi qui tụ nhau ở tờ Văn Nghệ Học Sinh của bộ Thông Tin ở đường Phan Đình Phùng, nay gọi là đường Nguyễn Đình Chiểu, tờ Văn Nghệ Học Sinh thường họp mặt chúng tôi vào sáng mỗi ngày chủ nhật. Tuần báo này do anh Lê Bá Thảng làm chủ nhiệm và nhà văn Giang Tân làm tổng thư ký. Báo qui tụ những anh em văn nghệ tuổi nhóc chúng tôi đủ cả Bắc, Trung, Nam, ở nhiều trường học khác nhau. Người yêu văn nghệ cứ đến đó tha hồ mà thảo luận văn nghệ.… [Nguyễn Thụy Long, “Thi Sĩ Vương Đức Lệ Đã Đi Rồi”, Ngày 23.8.2008, https://vietbao.com/a142714/thi-si-vuong-duc-le-da-di-roi]

Tuy đã hỏi ý kiến một số tác giả Miền Nam, nhưng tôi sẽ sử dụng bài phỏng vấn nhà văn Nhật Tiến, vào ngày 15. 4. 2015 qua email, liên quan đến nhiều tin tức trong “Lời Giới thiệu của dịch giả” Olga Dror. Tôi trích dẫn nhà văn Nhật Tiến vì, thứ nhất, ông là người quen nhưng không thuộc vòng bạn hữu hoạt động cùng tôi nên bảo đảm được sự khách quan; thứ hai, ông (và bà, nhà văn Đỗ Phương Khanh) có mặt rất sớm trong sinh hoạt sáng tác, xuất bản Miền Nam và; thứ ba, ông cũng không xa lạ với môi trường báo chí mà Nhã Ca (và Trần Dạ Từ) tham dự vì quen biết tương đối nhiều trong môi trường đó. Hơn thế nữa, Olga Dror cũng có nhắc tới quan điểm của ông khi bất đồng ý kiến với Nhã Ca (sđd, trang liv) về việc chia trách nhiệm của Mậu Thân-Huế cho cả hai bên. Nhà văn Nhật Tiến, giáo sư Trung học, phân tích rõ ràng hơn về mấy chữ Văn Nghệ Học Sinh:

Tờ Văn Nghệ Học Sinh mà dịch là ‘Student Literature and Arts’ thì không đúng hẳn vì ở Miền Nam trước đây, học trò Trung học (High School Student) thì gọi là Học Sinh, còn ở bậc đại học thì gọi là Sinh viên (College or University Student). Như thế tờ báo Văn Nghệ Học Sinh tự nó đã nói lên chủ trương là cốt nhắm vào đối tượng học sinh trung học, chỉ có tính cách văn nghệ học đường và do một số ký giả không cần thiết là nhà văn chủ trương biên tập. Hơn nữa nếu coi những ngòi bút như Dương Nghiễm Mậu, Lê Tất Điều, Lê Đình Điểu, Nguyễn Thụy Long, Đỗ Quí Toàn, Viên Linh…đều xuất thân từ tờ báo học trò này để về sau mới nổi tiếng (future famous writers and poets) thì vừa không đúng sự thực vừa hạ uy tín của họ.… [Nhật Tiến trả lời phỏng vấn của Nguyễn Tà Cúc, ngày 14. 4.2015, Garden Grove, California, Hoa Kỳ]

Tôi đồng ý nên dịch cho chính xác, như nhà văn Nhật Tiến đề nghị. Trên Sáng Tạo, Trần Dạ Từ đã có bài đăng bắt đầu từ Số 26, Tháng 11.1958. Dương Nghiễm Mậu bắt đầu từ Số 31, tháng 9. 1959. Viên Linh bắt đầu từ Số 4-Bộ Mới, tháng 10.1960. Trần Thy Nhã Ca có 1 bài ở số cuối Sáng Tạo-Bộ Mới vào tháng 7. 1961. Lê Đình Điểu giã từ thi ca lên đường làm quan. Đỗ Quý Toàn tiếp tục làm thơ. Ông, Lê Đình Điểu, Phạm Quốc Bảo và Đỗ Ngọc Yến gắn bó qua một lãnh vực khác: báo chí và hoạt động thanh niên xây dựng Miền Nam trong một xã hội lành mạnh. Vào những năm đầu 1970, Đỗ Ngọc Yến đã toan tính lập một kiểu Thông Tấn Xã của tư nhân, bên cạnh Việt Tấn Xã, nhắm cung cấp tin tức cho các hãng thông tấn thế giới hầu giúp phần chống lại loại tin tức của cán bộ hay nằm vùng Cộng Sản, đặc biệt trong giới sinh viên. Tôi đã tới dự một cuộc họp do ông tổ chức vào năm 1973 về Thông Tấn Xã tương lai đó. Ngoài tôi còn có vài ba sinh viên khác, có người chắc vẫn còn sống tại Sài Gòn hay hải ngoại.

Riêng Viên Linh là trường hợp duy nhất. Ông vào nghề ký giả rất sớm, trước lấy tin sau thành phóng viên của nhật báo Ngôn Luận. Đó là khoảng 1956-1957. Viên Linh làm thơ từ khoảng 1956, nhưng không gửi nếu tòa soạn không trả nhuận bút. Tại Sáng Tạo, Mai Thảo không trả nhuận bút cho bất kỳ ai. Tôi đã nói chuyện với Nguyễn Sỹ Tế, Tô Thùy Yên và Lê Huy Oanh về sự điều hành của Sáng Tạo. Viên Linh trở thành một người rất hiếm được Mai Thảo trả nhuận bút. Về Hiện Đại, nhà thơ Thái Thủy xác nhận với tôi Viên Linh tới tòa soạn phản đối Nguyên Sa vì tự động lấy thơ ông đăng mà không hỏi ý. Ông có tài trình bày, vẽ được khi cần, văn thơ ngang ngửa Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên, Dương Nghiễm Mậu… Ông thường giữ chức Thư Ký Tòa soạn từ báo đại chúng như Màn Ảnh, Kịch Ảnh tới báo văn học như Nghệ Thuật, Khởi Hành-Sài gòn hoặc làm chủ nhiệm & chủ bút như Thời Tập. Do đó, Nhật Tiến nhận xét rất đúng về riêng trường hợp Viên Linh.

5.1.2 Từ Trần Thị Thu Vân, Thu Vân, Trần Thy (Thi) Nhã Ca tới Nhã Ca

 

 trandatu-nhaca 1966
Nhã Ca và Trần Dạ Từ (1966)

Trong phần giới thiệu của dịch giả, tiểu sử Nhã Ca tiến từ tên thật “Trần Thị Thu Vân”, (nhắc sơ tới bút hiệu “Thu Vân” trên Văn Nghệ Học Sinh) sang bút hiệu “Nhã Ca”, mà không chú ý tới bút hiệu “Trần Thy Nhã Ca” đã xuất hiện trên tác phẩm Thơ đầu tay, thậm chí đọat giải Thơ đồng hạng của Tồng Thống Việt Nam Cộng hòa.

§ Bút hiệu “Thu Vân”

Nhà văn Nguyễn Thụy Long làm chứng cho bút hiệu “Thu Vân” trong một bài viết trên Khởi Hành-Sài gòn, 1969:

Tôi quen biết Nhã Ca từ lâu lắm, dễ chừng đến 14, 15 năm nay. Thuở mà cả bọn còn “Văn nghệ học sinh”. Nhã Ca ở tuốt tận ngoài Huế, học trường Đồng Khánh. Thỉnh thoảng một cái tùy bút ký tên Thu Vân xuất hiện trên Văn Nghệ Học Sinh do Lê Bá Thảng làm chủ nhiệm. Giang Tân làm tổng thư ký (.…) Thu Vân chính là Nhã Ca sau này.… [Nguyễn Thụy Long, “Nhã Ca và kỷ niệm”, Khởi Hành, số 21, trang 5, ngày 18.9.1969, Sài gòn]

§ Bút hiệu “Trần Thy Nhã Ca”

“Trần Thy Nhã Ca” có mặt lần đầu có lẽ trên tạp chí Hiện Đại số 1 vào tháng 4.1960, căn cứ vào lời giới thiệu của nhà thơ Nguyên Sa, đoạn tiếp tục trên Văn Nghệ, rồi cuối cùng trên tác phẩm Nhã Ca Mới, xuất bản đầu năm 1965 và được giải thưởng năm 1966. Nghĩa là tính từ năm 1959 khi Trần Thị Thu Vân khởi nghiệp viết tại Sài gòn, sau khi ký tên thật Thu Vân, bà đã sử dụng bút hiệu “Trần Thy Nhã Ca” trong 1/4 (1960-1964) sự nghiệp văn chương (1959-1975), thậm chí đoạt một giải thưởng với bút hiệu đó. Bởi thế, cách liên tưởng giữa bút hiệu “Nhã Ca” và Kinh Thánh như Olga Dror đã làm sau đây hình như quá giản dị:

[.…] Năm 1960, trong khi đọc Kinh Cựu Ước bằng tiếng Việt, người phụ nữ trẻ này, dù được nuôi dưỡng như một Phật tử, đã có ấn tượng ngay bởi Bài Ca Của Những Bài Ca hay Bài Ca Của Salomon, cũng được biết trong kinh điển Thiên Chúa Giáo như là Bài Thánh Ca Của Những Thánh Ca – một trong những sách thi vị nhất trong Thánh Kinh – rung động với tình yêu trong các vai chính, chàng và nàng. Chữ “canticle” được dịch sang tiếng Việt là nhã ca. Sức mạnh tình yêu, đam mê, khát vọng, và thơ thấm vào từng chữ đã quyến rũ, xâm chiếm Trần Thị Thu Vân, nhiều tới mức bà quyết định lấy chữ “nhã ca” làm bút hiệu. Từ đó tác giả Nhã Ca xuất hiện…. [Olga Dror, Mourning Headband for Hue, Translator’s Introduction/Lời giới thiệu của dịch giả, trang xvi, sđd-Bản dịch Việt ngữ của Huỳnh Kim Quang, “Học Giả, Dịch Giả Olgar Dror Viết Về Nhã Ca & ‘Giải Khăn Sô Cho Huế (Kỳ 1)”, Đăng ngày 2. Tháng 5. 2015- https://vietbao.com/p126a233274/hoc-gia-dich-gia-olgar-dror-viet-ve-nha-cagiai-khan-so-cho-hue] (23)

Đương nhiên, câu hỏi sẽ phải được đặt ngay là, có thật có “Trần Thy Nhã Ca”? Dấu vết của “Trần Thy (Thi) Nhã Ca” không khó kiếm. Trước 1975, ngoài tạp chí như Hiện Đại Văn Nghệ, tác phẩm như Nhã ca mới, bút hiệu này còn đọng lại trên bìa sau cuốn Thơ Nguyên Sa do Nhà Xuất bản Ngôn Ngữ ấn hành chỉ 1 năm trước đó. Nguyên Sa tặng tôi tập Thơ Nguyên Sa vào khoảng năm 1995. Cuốn này bây giờ khá hiếm, nhưng đủ chứng minh “Trần Thy Nhã Ca” đã thật sự có mặt chính thức từ trước khi Nhã Ca Mới xuất bản.

clip_image002

nhà xuất bản Ngôn ngữ sẽ in: 1. thơ Hoàng Anh Tuấn 2. thơ Trần thi Nhã Ca 3. thơ Trần Dạ Từ”
Nguyên Sa, Thơ Nguyên Sa, bìa sau, Ngôn Ngữ xuất bản, 1964, Sài gòn

Sau 1975, chúng ta có thể chứng kiến bút hiệu Trần Thy Nhã Ca tái xuất hiện ngay trên báo Việt Báo Foundation (hậu thân của Việt Báo Kinh Tế) qua bài phê bình của nhà phê bình Nguyễn Vy Khanh. Ông nhắc tới bút hiệu này với “Trần Dạ Từ-Trần Thy Nhã Ca và những bài thơ tình đầu” đăng ngày 9.6.2022 trên báo mạng Việt Báo Foundation [https://vietbao.com/a312413/tran-da-tu-tran-thy-nha-ca-va-nhung-bai-tho-tinh-dau-nguyen-vy-khanh-1966-thoi-van-hoc-mien-nam-truoc-nam-1975-da-chung-kien-moi ]

5.1.3 Tuần báo Ngàn Khơi

Theo Olga Dror:

[.…]Năm 1963 bà sáng lập tuần báo yểu mệnh, Ngàn Khơi….” [Olga Dror, sđd, trang xvi- Huỳnh Kim Quang dịch, https://vietbao.com/a233274/hoc-gia-dich-gia-olgar-dror-viet-ve-nha-ca-giai-khan-so-cho-hue] (24)

Nhã Ca chắc chắn không “sáng lập”– mà chỉ góp bài thường trực cho Ngàn Khơi lấy nhuận bút, tờ báo có lẽ khởi đầu vào giữa năm 1961, không phải vào năm 1963 (lại có lẽ là năm cuối, gần đình bản), như chính Nhã Ca xác nhận khi nói chuyện với Nguyễn Xuân Hoàng. Olga Dror còn có thể kiểm chứng các tin tức này một cách dễ dàng nếu tổng hợp tin tức của tiểu sử Nhã Ca với sáng tác hoặc hồi ký của bạn bè, hoặc chính Trần Dạ Từ vào khoảng đó khiến ông nhắc lại trong bài thơ Chi Lăng tiếng ai hò reo về căn nhà đầu tiên họ được ở nhờ tại Sài gòn. Năm 1961 là năm Nhã Ca và Trần Dạ Từ bắt đầu vượt lên hoàn cảnh khó khăn của quãng 1959-1960. Bởi thế Thu Vân (trên Văn Nghệ Học Sinh) hay Trần Thy Nhã Ca (trên Hiện Đại) không thể có tài chính để lập bất cứ tờ báo nào.

Ngàn Khơi do hai vợ chồng Nguyễn Tạo Lâm/Chủ nhiệm và Bạch Ngọc/Trị sự ứng tiền in, phát hành và phát lương cho Chủ bút Trần Dạ Từ, Tổng Thư Ký Tú Kếu Trần Đức Uyển (thêm bút hiệu Trần Bình Sơn) phụ trách biên tập với sự tiếp sức của Nguyễn Thụy Long và Thu Vân-Trần Thy Nhã Ca. Một nhà thơ còn ở Sài gòn cho tôi biết hồi đó tờ Ngàn Khơi khổ nhỏ như tờ Tân Phong hay Văn Hóa Ngày Nay,  dầy khoảng 64 trang. Tòa soạn đặt tại căn phòng trong một gian nhà tại đường Bùi Viện, cơ sở của trường Thăng Long cũ. Nhiều nhà văn, nhà thơ nổi tiếng như Nguyên Sa, Chu Tử, Lê Xuyên vv. giúp bài không đòi nhuận bút. Sau Cách mạng 1. 1.1963, Ngàn Khơi đình bản vì chủ nhiệm phải đi lính. Nhân chứng quan trọng– có lẽ hơn cả Nguyễn Thụy Long trong giai đoạn Văn Nghệ Học SinhNgàn Khơi–lại là Trần Áng Sơn (1937, Hải Phòng-2014, Sài Gòn). Ông đã hoạt động trong làng báo và văn tại Miền Nam cả trước và sau 1975 với hơn 50 tác phẩm sau 1975. Ông là em ruột ca sĩ Mộc Lan (tức là em rể nhạc sĩ Châu Kỳ) nên vòng giao du lan rộng hơn.

Trong loạt 3 cuốn Những trang sách khép mở (Nhà xuất bản Trẻ, Sài gòn), ông ghi lại hành trình với rất nhiều hình bóng văn nghệ sĩ Miền Nam như Bùi Giáng, Sơn Nam (người viết tựa cho cuốn tiểu thuyết đầu tay của ông sau 1975), Chu Tử, Trần Tuấn Kiệt, CHÓE, Phạm Thiên Thư, Kim Tuấn, Kiêm Minh, Dương Trữ La, Nguyễn Thụy Long, Trần Dạ Từ, Cung Tích Biền, Huy Tưởng, Bé Ký, Hồ Thành Đức vv…Ông có lối viết chân thực nhưng không phù phiếm, khoan dung nhưng không ngại bầy tỏ nếu chi tiết đó cần thiết cho người đọc như vài chi tiết về Trần Dạ Từ hay Chu Tử. Tôi quen giới ký giả và đọc tương đối nhiều nên có thể tin một số tin tức ông cung cấp về văn nghệ sĩ Miền Nam. Nhờ ông, chúng ta được biết rất nhiều chi tiết về nội bộ Ngàn Khơi nay bị ngộ nhận hay quên lãng theo thời gian như, ngoài Tú Kếu, Trần Dạ Từ, Nguyễn Thụy Long vv còn có Đằng Giao, người trình bày. Tôi trích dẫn phần Trần Áng Sơn viết về Nguyễn Thụy Long có liên quan đến Ngàn Khơi:

[.…]Tôi gặp Nguyễn Thụy Long tại tòa soạn tuần báo Ngàn Khơi ở đường Bùi Viện năm 1962, cả hai chúng tôi đều quen biết với chủ nhiệm Nguyễn Tạo Lâm qua Trần Dạ Từ, Tú Kếu Trần Đức Uyển. Đây là lần đầu tiên tôi bước từ vị trí người cộng tác gửi bài đến các báo chờ đăng, sang vị trí trực tiếp can dự vào chuyện bếp núc trong tòa soạn[…]Có vẻ như Long rất được vợ chồng Trần Dạ Từ ưu ái, anh ở luôn nhà Từ, trên lầu, cùng một dãy với tòa soạn báo Ngàn Khơi […]Số báo nào cũng có truyện ngắn của Long được đăng, còn tôi tuy cũng có thơ đăng nhưng không đều. Để tồn tại tôi phải chọn mảnh đất khó nhai hầu như ở tòa soạn chẳng ai nhận, đó là mảng giới thiệu thơ thế giới. Có người đã ví việc làm của tôi là “những chiến công của Hercule”. Ngẫm nghĩ lại tôi giật mình vì quá liều mạng. Tôi dịch thơ của bất cứ người nào mình thích, chẳng theo gu nào cả, từ cổ điển đến hiện đại như Byron, Walt Whitman, Robert Frost, Jacques Prevert…Thơ nước ngoài của tôi do Đằng Giao trình bày rất đẹp. Tuy có liều nhưng tôi cũng hơi thận trọng, những bài nào có nhiều cổ ngữ, dịch xong, trước khi giao cho Trần Dạ Từ, tôi đem đến nhờ một giáo sư đọc trước, do đó không có độc giả nào viết thư về tòa soạn phê phán. Do tòa soạn ở Bùi Viện quá chật, không đáp ứng được tình trạng tờ báo ngày càng nhiều độc giả, nên phải di chuyển về nhà in Lê Thanh ở đường Trần Hưng Đạo. Thời gian này Nguyễn Thụy Long đã chuyển sang viết truyện dài đăng nhiều kỳ và đã có những thành công ban đầu. Để có thêm độc giả, nhóm chủ biên tờ báo mở một cuộc đả kích giới đồng nghiệp hòng tạo thành một cuộc bút chiến, nạn nhân đầu tiên là thi sĩ ĐH. Trò ma giáo này tồn tại không lâu vì đa số anh em trong tòa soạn còn rất trẻ, họ gây hấn tựa như những đứa trẻ nghịch ngợm, kịp nghĩ lại thấy mình rắn mắt nên tự sửa sai. Trong khi ấy xảy ra một vụ xung đột giữa chính quyền Ngô Đình Diệm và Phật giáo. Đánh hơi được cơ may, nhóm chủ biên nhảy vào gây thanh thế bằng cách phỏng vấn một đại đức về tình hình Phật giáo bị chính quyền đàn áp. Bài phỏng vấn lên khuôn lập tức mật vụ đến tòa soạn hỏi thăm. Nhóm chủ biên hoảng hồn không dám về nhà, tối tối ra cầu Ông Lãnh mướn ghế bố ngủ tị nạn. Một thời gian sau tờ Ngàn Khơi đình bản. Nhóm chủ biên trong đó có tôi cộng tác, hầu hết đang độ tuổi quân dịch, báo bị sập tiệm chúng tôi mạnh ai nấy tự lo thân, tên nào trốn giỏi thì thoát, ngu ngơ như tôi bị nắm đầu quăng vào quân trường.… [Trần Áng Sơn, “Từ thuở vác ngà voi”, https://www.vanchuongviet.org/index.php?comp=tacpham&action=detail&id=7762]

Viên Linh, một trong những người được kể tên, đã cho tôi thêm nhiều chi tiết về thời gian này khi phỏng vấn ông, nhưng chỉ một đoạn thượng dẫn của Trần Áng Sơn cũng đã dư cho giai đoạn Ngàn Khơi.

5.1.4 Hiện Đại, Văn, Sống, Hòa Bình, Độc Lập

Trong phần này, tôi sẽ dịch (thay vì bản dịch của Huỳnh Kim Quang) và kèm ngay phần Anh ngữ nguyên bản để độc giả tiện kiểm chứng và/hay bổ sung giúp tôi nếu cần thiết:

[.…] [B]à cũng làm việc tại/với một số báo, nhật báo thịnh hành nhất Miền Nam như Hiện Đại, Văn, Dân Việt, Sống, Hòa Bình và Độc Lập/ In 1963 (…) She also worked at a number of the most popular newspapers in the South, such as Hiện Đại (Modernity), Văn (Literature), Dân Việt (Vietnamese People), Sống (Life), Hòa Bình (Peace), and Độc Lập (Independence).… [Olga Dror, sđd, trang xvi-Nguyễn Tà Cúc dịch sang Việt ngữ]

Hiện ĐạiVăn là tạp chí văn học tương tự như Granta, Lapham’s Quarterly, The New Yorker, The Paris Review vv. Hiện Đại, do nhà thơ Nguyên Sa chủ trương, chỉ sống được khoảng mươi số rồi đình bản. Dân Việt, Sống, Hòa BìnhĐộc Lập là nhật báo. Theo tôi biết, Dân ViệtĐộc Lập không “thịnh hành” bằng nên có lẽ không thể đứng ngang hàng cùng Sống hay Hòa Bình. Tôi cảm thấy không an toàn khi dịch sát nghĩa chữ “work at” như trong nguyên bản vì chữ này thông thường diễn tả một người làm việc (work) ngay (at) tại cơ sở đó như một nhân viên/staff nên sẽ trình bày rộng hơn một chút về lề lối hoạt động của báo chí và báo văn học tại Miền Nam.

Nhã Ca, cũng như hầu hết văn thi sĩ Miền Nam, gửi sáng tác (truyện ngắn hay thơ) tới cho tạp chí hay nhật báo đặng đăng ngay hoặc nhiều kỳ (feuilleton) nếu là truyện dài. Một vài tác giả tới ngồi ngay tại tòa soạn viết nộp bài cho đúng kỳ hạn rồi đi…tới tòa soạn khác viết tiếp một feuilleton khác. Tuy vậy, họ vẫn không được coi là nhân viên. Sau khi kết thúc hoặc có khi cao hứng, tác giả ngưng ngang xương đặng sẽ sửa chữa; hoặc “thêm thắt” trước khi xuất bản như chính trường hợp Giải khăn sô cho Huế. Bởi thế, để …tự vệ, có một số chủ bút đòi lấy bản thảo trước, trả tiền rồi mới đăng từng kỳ để khỏi lâm vào thế phải xin lỗi độc giả, chưa kể chạy đôn chạy đáo kiếm tác giả khác thế mạng. Trường hợp này đã xẩy ra cho Thư ký Tòa soạn Viên Linh khi Thanh Tâm Tuyền quyết định …đào thoát khỏi truyện dài Đào Thoát đang viết dở dang trên Khởi Hành (Sài gòn). Cũng có trường hợp tác giả như Mặc Đỗ. Ông giao luôn bản thảo truyện Quang Minh Hội (mà ông đã viết từ thời…đầu những năm 1960 rồi hoàn chỉnh sau đó) và Thám Tử Ô Mai cho nhật báo Sóng Thần đăng từng kỳ. Ông tặng tôi các bản thảo, sau này, khi quen tôi tại Hoa Kỳ. Hai tác phẩm thượng dẫn, đến nay, vẫn chưa xuất bản. Mặt khác, một ký giả hoặc một số anh em ký giả cùng nhau phụ trách một “trang”. Truyện feuilleton, kiếm hiệp, quảng cáo vv thường được dồn vào một trang mỗi thứ. Có báo dành hẳn 1 trang cho nhi đồng. Thám Tử Ô Mai, dưới bút hiệu khác mà không phải Mặc Đỗ, đăng trên trang nhi đồng của Sóng Thần.

clip_image004

Mặc Đỗ, Thám tử Ô-Mai
Đăng từng kỳ trên nhật báo Sóng Thần, Trang Nhi Đồng

Ngày nay, có thể quý độc giả còn đọc thấy câu tin xe cán chó, chó cán xe để chỉ những thứ tin tức không đáng được lên nhựt trình hay chủ báo loan tin thất thiệt rồi phải đăng bài thanh minh thanh nga. Những người kỳ cựu như nhà văn Bình-nguyên Lộc gọi chuyện viết báo là làm nhựt trình.Và những cuộc bút chiến! Bút chiến cũng có luật bất thành văn cùa nó. Tuần báo đấu với tuần báo. Nhật báo đấu với nhật báo. Đem một chuyện trên tuần báo kéo qua nhật báo trong khi đối thủ không có nhật báo để trả đũa là không mã thượng. Và không phải các anh mang tiếng văn học là không biết xài các thứ võ khác. Thư ký Tòa soạn Trần Phong Giao của báo Văn, đã báo động về vụ bị vài nhà văn định xin tý huyết vì ông chê văn hay sách của họ …không đẹp (có lẽ không bằng sách do Văn hay Giao Điểm xuất bản?!) Nói chung, chỉ có một số nhân viên làm việc tại/work at tòa báo hay tòa soạn, phụ trách/ tham gia những “trang” nhất định/ staff nên có khi được trả lương 12 tháng cộng thêm lương tháng 13, là truyền thống cho thêm nhân viên báo chí thêm tiền xài Tết. Nhật báo, tuần báo đa diện hơn. Thông thường 1 nhật báo có 8 trang, cung cấp tin tức về chính trị, thời sự, văn học nghệ thuật, quảng cáo vv. do các ký giả phụ trách bên cạnh những nhân vật chủ chốt viết Sổ Tay, Tạp Ghi hay Lời Tòa soạn.

Về các tạp chí văn học như Văn, Nghệ Thuật, Vấn Đề hay Khởi Hành vv., chỉ có chủ nhiệm, chủ bút, Thư ký Tòa soạn và vài người trong Ban Biên Tập thuộc nhóm nhân viên thường trực/work at được lãnh lương thường xuyên. Tên tuổi của họ thường đại diện cho tạp chí đó, như trường hợp Thư Ký Tòa soạn Trần Phong Giao của tạp chí Văn với Nguyễn Đình Vượng chịu trách nhiệm xuất bản:

clip_image006

Tạp chí Văn, Năm thứ 2, số 34 – Hình bìa, Ngày 15.5.1964
Số đặc biệt TRUY-NIỆM TRIỀU-SƠN “

 

clip_image008

Trang trong, Số 34
Quản lý (chi phiếu, bưu phiếu)”: Nguyễn Đình Vượng
Thư ký Tòa soạn (“Thư từ, bài vở, ấn phẩm”) Trần Phong Giao

Tóm lại, tôi có thể nói Nhã Ca là tác giả có truyện và thơ đăng trên báo mà không làm báo. Đằng khác, nhà thơ Trần Dạ Từ (phu quân) mới làm báo tuy không sáng tác thường; hay làm báo văn học cho đến khoảng nửa năm trước khi Miền Nam mất khi cùng Nguyên Sa chủ trương tờ Nhà Văn.

5.1.5 Nhóm Sáng Tạo

§ Mai Thảo và Nhóm Sáng Tạo

Một chi tiết trong tiểu sử Nhã Ca cần được xét lại một cách hết sức nghiêm chỉnh vì liên quan tới Nhóm Sáng Tạo nên, bởi thế, tới nhà văn Mai Thảo:

[.…]Bà cũng giao du với/liên kết với nhiều thành viên trong một nhóm đã xuất bản một tạp chí văn học có tên Sáng Tạo/ “She also associated with members of a group that published a literary journal called Sáng Tạo (Creativity).… [Olga Dror, sđd, trang xvi-Nguyễn Tà Cúc dịch sang Việt ngữ]

Tạp chí Sáng Tạo Số 1 xuất hiện vào tháng 11.1956 và chấm dứt vào Số 31, tháng 9.1959 rồi tiếp tục Bộ Mới với 7 số từ Số 1, tháng 7.1960 tới Số 7, tháng 9. 1961. Nhã Ca mãi đến năm 1959 mới có mặt tại Sài gòn viết báo học sinh nên chỉ có bài đăng trên Sáng Tạo-Bộ Mới, số cuối. Nhã Ca không dính dáng tới Nhóm Sáng Tạo của Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Nguyễn Sỹ Tế, Doãn Quốc Sỹ, Thái Tuấn, Duy Thanh, Tô Thùy Yên, Trần Thanh Hiệp rồi bạnh. Nhóm này, như Dương Nghiễm Mậu đã trình bày, gồm nhiều sinh viên di cư, lại có người từng tốt nghiệp đại học như Nguyễn Sỹ Tế, Trần Thanh Hiệp, nghĩa là khác hẳn nhóm … nhi đồng như Nhã Ca, Trần Dạ Từ hay Nguyễn Thụy Long. Nhã Ca (và Trần Dạ Từ) có mối thân hữu cá nhân chỉ với Mai Thảo, nhưng chắc chắn ngoài Nhóm Sáng Tạo và ngoài văn chương. Người minh định điều đó, nghĩa là phủ nhận tin tức này của Olga Dror, không ai khác hơn là Mai Thảo, người đã sáng lập tạp chí Sáng Tạo và giúp hình thành Nhóm Sáng Tạo. Ông đã quả quyết Nhã Ca (và Trần Dạ Từ) không thuộc “cùng hướng cùng đường” văn chương, nói chi tới Nhóm Sáng Tạo hay không, trong một bài viết đăng lại ngay trong hồi ký của Nhã Ca xuất bản tại Hoa Kỳ:

[.…]Trái lại. Tôi và Từ Nhã không hề nhìn thấy nhau như cùng một chí hướng, cùng một tần số và có với nhau nhiều chia sẽ (sic) và nhiều thực hiện chung. Không, việc là việc riêng, việc ai nấy làm. Thậm chí còn không biết việc làm của ai là thế nào nữa (.…) Thành ra thân gần trên cái ý nghĩa của văn chương, trong đó có một cùng hướng cùng đường nào đó, nếu có thì lại với những người khác kia. Như với tôi là anh Thanh Tâm Tuyền, là Doãn Quốc Sỹ, không phải Từ Nhã. Như với Từ Nhã là Đỗ Quý Toàn, Dương Nghiễm Mậu, không phải tôi.…” [Mai Thảo, “Mấy năm có Từ, Nhã ở gần”, trích trong Hồi ký một người mất ngày tháng, trang 631-632, Việt Báo Foundation tái bản, 2019]

Được nói chuyện với Mai Thảo vài lần, tôi có thể hiểu sự thành thật đến sòng phẳng đến phũ phàng đến tàn nhẫn có thể làm một số độc giả sau 1975 kinh ngạc. Ông có thể rất bao dung nhân danh tình văn nghệ, nhưng văn chương được Mai Thảo hiểu và sống qua Nhóm Sáng Tạo lại là một thế giới với những người khác kia nghĩa là với Thanh Tâm Tuyền, với Duy Thanh, với Thái Tuấn, với Nguyễn Sỹ Tế, với Tô Thùy Yên, với Quách Thoại vv, một thế giới không hề và không thể có Nhã Ca (và Trần Dạ Từ). Viết như Olga Dror đã viết khác nào phủ nhận Nhóm Sáng Tạo, là thiêu hủy tất cả những gì của chính Mai Thảo và góp phần đại diện. Tái lập báo Văn tại California, tòa soạn của Mai Thảo chỉ cách con đường Báo Chí Moran không xa, nhưng khác đường vẫn là khác đường, không thân gần trên cái ý nghĩa của văn chương thì vẫn không thân gần. Tới đây, tôi cho rằng, lẽ ra, người duy nhất cần được cả Oga Dror lẫn Nhã Ca nhắc tới phải chắc chắn là nhà thơ Nguyên Sa, không phải Mai Thảo mà cũng không phải một ai khác. Nguyên Sa đóng vai trò hết sức quan trọng trong đời thơ của Nhã Ca bằng cách đưa Nhã Ca từ thế giới báo văn nghệ học sinh sang báo văn học.

§ Nguyên Sa, người giới thiệu và Nhã Ca, người được giới thiệu

Nhà thơ Nguyên Sa là người dẫn dắt Nhã Ca vào giới văn học, sau bước đầu với báo học sinh (Văn nghệ Học Sinh) rồi Ngàn Khơi. Ông giới thiệu Trần Thy Nhã Ca như một tài năng mới trên Hiện Đại số 1, tháng 4. 1960 kèm 3 bài “Ngày tháng trôi đi”, “Thanh xuân” và “Bài nhã ca thứ nhất”:

[.…]Nhưng ý nghĩa phong phú nhất là sự dâng hiến một phần đất đai cho sự xuất hiện của những tài năng mới. Phần đất dành cho sự việc này của Hiện Đại số 1 được gửi vào Trần Thy Nhã Ca…- N. S.” [Hiện Đại, số 1, tháng 4, 1960, trang 40-41. Chủ trương biên tập: Nguyên Sa]

Nguyên Sa phải được nhắc đến vì, không những đăng thơ Trần Thy Nhã Ca trên Hiện Đại, ông còn viết lời tựa và xuất bản cuốn Nhã Ca Mới (1965) bằng nhà xuất bản Ngôn Ngữ của ông. Một năm sau, tập thơ này đoạt giải Thơ đồng hạng của Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa như sẽ đề cập tới vào phần sau. Năm 1999, Nhã Ca in lại tập Nhã Ca Thơ với câu cuối, trang 6: “Nhã Ca Thơ được ấn hành lần đầu tại Hoa Kỳ với lòng trân trọng tưởng nhớ nhà thơ Nguyên Sa và họa sĩ Nghiêu Đề”. Nguyên Sa lại viết tựa cho Hồi ký một người mất ngày tháng của Nhã Ca, Thương Yêu xuất bản lần đầu vào năm 1991 (Cơ sở Người Việt tổng phát hành) và tái bản vào năm 2019. Tạp chí Nhà Văn, trước 1975, do Nguyên Sa chủ trương và lo tài chánh, đăng truyện từng kỳ của Nhã Ca. Nguyên Sa qua đời vào năm 1998. Nhã Ca tưởng niệm ông bằng “Thơ tiễn anh Nguyên Sa” và “Giỗ đầu thi sĩ” [Nhã Ca, Nhã Ca Thơ, Vietbooks xuất bản, 1999] Thế nên, nhắc tới sự có mặt của Mai Thảo đã là một sự sửng sốt, nhưng không thể sánh bằng sự sửng sốt khi Nguyên Sa vắng mặt hoàn toàn trong tiểu sử viết của Nhã Ca.

5.1.6 Trần Thy Nhã Ca, Nhã Ca Mới và giải thơ đồng hạng của Việt Nam Cộng Hòa

Ngoài tên tác giả-Trần Thy Nhã Ca, hoàn cảnh đoạt giải của Nhã Ca mới cũng cần làm sáng tỏ hơn:

[.…] Tác phẩm đầu tiên của Nhã Ca, được xuất bản năm 1965, là tuyển tập thơ Nhã Ca Mới. Một thành công tức thì và lớn lao…; tập thơ này nhận được Giải Văn Chương Toàn Quốc cho thi ca vào năm 1966″ [Olga Dror, sđd, trang xvii-Bản dịch Việt ngữ của Huỳnh Kim Quang- https://vietbao.com/a233274/hoc-gia-dich-gia-olgar-dror-viet-ve-nha-ca-giai-khan-so-cho-hue] (25)

 

clip_image010

Trần Thy Nhã Ca, Nhã Ca mới, Nhà xuất bản Ngôn Ngữ, 1965
Giải Thơ đồng hạng 1966

Nhã Ca Mới với tên Trần Thy Nhã Ca như đã xuất hiện trên tạp chí Hiện Đại do nhà thơ Nguyên Sa chủ trương và ngay trong thi phẩm trên thực tế, đoạt giải thơ đồng hạng cùng nhà thơ (Trần Thị) Tuệ Mai, Không bờ bến và nhà thơ Huy Lực, Trời thơ bao la. Giải thưởng đồng hạng kèm thêm 30.000 đồng tiền mặt. Sự kiện nhà thơ Trần Thị Tuệ Mai được chọn đại diện văn nghệ sĩ đoạt giải để phát biểu trong ngày trao giải xác định thứ cấp của Nhã Ca trong Thơ Miền Nam tới lúc đó. Hồ Tùng Nghiệp (bút hiệu của Viên Linh, phụ trách trang Sinh hoạt văn nghệ của tờ Nghệ Thuật) không những đã tường thuật 2 trang vể cuộc trao giải, ông còn kèm nguyên văn bài phát biểu có tên “Tương quan giữa văn nghệ và chính quyền” của Tuệ Mai:

[.…]Bài diễn văn của Tuệ Mai còn được dịch ra tiếng Anh, phát cho các quan khách ngoại quốc. Bài diễn văn này được coi là bất ngờ, gây được xúc động cho mọi người nghe, qua những đoạn mà Tuệ Mai cho rằng hiện nay quyền tự do tư tưởng chưa được bảo đảm, mặt trận văn hóa chưa được lưu tâm, trong khi cuộc chiến tranh trên đất nước chúng ta không phải chỉ bằng quân sự[.…] Sau đó là diễn văn của Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ[.…] Hết bài diễn văn Thiếu tướng nói thêm, phát biểu thêm với tư cách cá nhân của riêng ông đối với buổi lễ quan trọng này. Thiếu tướng nhắc lại một vài điều của nữ sĩ Tuệ Mai vừa đọc (.…) Thiếu tướng cho đó là bi quan, chiến tranh đã không hẳn bi đát như vậy theo quan niệm của người chiến sĩ như ông. Còn về sự giúp đỡ thì chính phủ đã và đang giúp đỡ bằng chứng là có buổi lễ phát giải hôm nay.… [Hồ Tùng Nghiệp, “Lễ phát giải văn chương toàn quốc ngày 8-11”, Nghệ Thuật số 56, Tuần lễ ngày 11. tháng 11-ngày 16.11)

Thế nên, tôi không hiểu Olga Dror đã căn cứ vào đâu để xác định rằng: “Một thành công tức thì và lớn lao .…” Chính Nhã Ca đã thú nhận: “Nhã Ca Mới không thể coi như một thành tựu tốt đẹp về nghệ thuật làm thơ của tôi .…” [Nhã Ca, “Tác phẩm đầu tay”, Vấn Đề, Số 13, trang 14, Tháng 8. 1968]. Ngoài ra, Olga Dror có chú thích đã sử dụng tin tức của Công Tằng Tôn Nữ Nha Trang cho đoạn này. Tôi không được hân hạnh đọc từ Công Tằng Tôn Nữ Nha Trang, nhưng theo thiển ý, đó không nên là lý do tạo sự thiếu sót về hạng thứ của giải thưởng.

(Xin đọc tiếp phần B của kỳ 6)

bài đã đăng của Nguyễn Tà Cúc

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

@2006-2025 damau.org ♦ Tạp Chí Văn Chương Da Màu
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)