Trang chính » 50 Năm Văn Học Việt Nam Hải Ngoại (1975-2025), Giới thiệu tác giả, Nghiên Cứu, Nhận Định, Quan Điểm Email bài này

Chân Dung Người Lính Việt Nam Cộng Hòa trong và ngoài Trại Giam Tù Cải Tạo của Cộng Sản: Trương Vũ (kỳ 5)

 

3.4 Trong suốt sáu trăm năm qua, đâu có phải sự hy sinh lớn lao đó lúc nào cũng hoàn toàn là để bảo vệ đất nước chống ngoại xâm… [Trương Vũ 2025, sđd, trang 50]

Đây là đoạn có 2 câu thượng dẫn:

-… Cuộc chiến triền miên trên quê hương Việt Nam đã cướp mất bao nhiêu tinh anh của đất nước. Đáng buồn thật. Nhưng đáng buồn nhất, là trong suốt sáu trăm năm qua, đâu có phải sự hy sinh lớn lao đó lúc nào cũng hoàn toàn là để bảo vệ đất nước chống ngoại xâm. Trong hơn bốn trăm năm, từ khi đánh đuổi quân Minh đến khi đánh đuổi quân Thanh, chiến tranh ít khi ngưng nghỉ nhưng nào có phải để bảo vệ lãnh thổ. Suốt gần hai trăm năm, vó ngựa chinh phu Việt Nam vượt qua vượt lại sông Gianh cũng chỉ để giết nhau mà thôi (…) Một vấn đề cần đặt lại là có phải điều này phát sinh từ cái định mệnh nghiệt ngã chung của dân tộc hay đó chỉ là hậu quả của những nhận thức sai lầm về giá trị của đời sống chồng chất từ thế hệ này đến thế hệ khác?…[Trương Vũ 2025, trang 50-51, sđd]

Tôi hoàn toàn đồng ý trên nguyên tắc là cần tránh những cuộc nội chiến khiến phung phí máu xương dân tộc. Nhưng, nới rộng ra, cuộc chiến 1954-1975, theo tôi, ít nhất là một cuộc chiến cần thiết vì giữa 2 chủ nghĩa: Cộng sản và Tự do. Đúng một phần, ở trường hợp này, là không có sự “bảo vệ đất nước chống ngoại xâm”, nhưng thứ ngoại xâm ngụy trang dưới Chủ nghĩa Cộng sản còn nguy hiểm hơn nhiều. Có phải, trong vòng hàng trăm năm, tuy có xung đột nhưng không người dân nào nghĩ đến chuyện rời quê hương bản quán? Cho đến 1954 rồi 1975 khi Cộng sản thắng trận? Có phải Trương Vũ liều mạng rời Miền Nam bằng một “chiếc ghe đánh cá nhỏ” [trang 23, sđd] ngay sau khi một chính quyền mới chiếm được Miền Nam vì chính ông muốn hưởng đủ quyền trong thể chế Tự do đã bị hủy diệt? Lý luận kiểu thượng dẫn thì tan chiến tranh rồi, ngựa đã về chuồng, ngàn ngàn quân cán chính VNCH đã vào tù, cớ sao lại phải bỏ đi? Có chinh phu nào vượt sông …Bến Hải “vờn” ai nữa đâu? Nhất là khi ông không thuộc loại lính tác chiến như ông bạn đã mời ông đến dự cuộc-họp-mặt-có-nhẩy-đầm của anh em lính cũ Thủy Quân Lục Chiến hầu ông có thể liệt kê các chi tiết “vui nhộn” trong chỗ có “sàn nhảy” trước khi tiếp bằng phản ứng không-tương-tự của người chỉ huy và đoàn quân Nhật bản cũng thất trận. Sau 1975, người dân Miền Nam và rồi Miền Bắc nữa (dù chỉ là thiểu số) đã vượt biển hàng loạt, hàng trăm ngàn ngàn. Để tránh vó ngựa của ai? Hãy đọc tiếp những đoạn dưới đây về vấn đề mà chính Trương Vũ yêu cầu bạn đọc “nhìn…cho kỹ hơn”. Đó là vấn đề liên quan đến “người cầm súng” và chinh phụ-người vợ lính – “những người không cầm súng”.

3.5 Người cầm súng đã bỏ cuộc nhưng những người không cầm súng đã không bỏ cuộc… [Trương Vũ 2025, sđd, trang 51]

Trương Vũ khẳng định người lính VNCH “đã bỏ cuộc” trong đoạn lập luận sau đây:

– … Thế nhưng, có lẽ cần phải dừng lại một chút để nhìn vấn đề cho kỹ hơn. Trong loạn ly, cái đau thương đâu phải chỉ đến với người lính. Hay, nói cho đúng hơn, trong loạn ly, cái đau thương lớn nhất vẫn không đến với người lính. Nó đến với vô số người mẹ, người vợ, những đứa con thơ và cho rất nhiều thường dân vô tội. Mà ngoài cái đau đớn, sự hy sinh của những con người đáng thương này thì sự can đảm, sức chiến đấu kiên trì của họ nhiều khi phải được kể là vượt qua những người lính. Những ai đã ở lại miền Nam sau 1975 chắc chứng kiến được điều đó. Người cầm súng đã bỏ cuộc nhưng những người không cầm súng đã không bỏ cuộc… [Trương Vũ 2025, sđd, trang 51]

Chỉ có … “người mẹ” thôi à? Còn những “người cha” ở đâu? Tôi hỏi nghiêm chỉnh chứ không đùa đâu. Hay có khi “người cha” cũng đã vào tù? Trong mạch văn và trong toàn bài, ông đang bàn đến người lính VNCH. Như vậy, tôi có thể hiểu rằng “Người cầm súng…” là người lính VNCH. Tôi rời Sài gòn từ cuối tháng 4. 1975 (và cả Trương Vũ rời khỏi Nha Trang từ năm 1976) nên không thể “chứng kiến” những chuyện xẩy ra tại Miền Nam sau 1975. Do đó, cứ bỏ qua đoạn này, tôi vẫn sẽ cung hiến vài thí dụ giúp chúng ta cùng chứng kiến xem người lính VNCH hành xử trong tù ngoài tù, trong nước ngoài nước như thế nào. Để bắt đầu, tôi chọn một vài đoạn nhạc được nhạc sĩ/nhà thơ/nhà văn/dịch giả/Đại úy Hải quân Hà Thúc Sinh sáng tác trong tù rồi có trong Đại Học Máu: Chuyện kể về 1685 ngày tù dưới chế độ Cộng sản Việt Nam, phổ biến vào cuối tháng 3 -đầu tháng 4.1985.

Ø Nhạc sĩ/nhà thơ/nhà văn/dịch giả/Đại úy Hải quân Hà Thúc Sinh: Chỉ có rừng sâu núi thẳm /Chỉ có trời cao đất dầy/Nhật ký tôi viết không biết rõ tháng ngày

clip_image002

Hà Thúc Sinh qua nét vẽ Tạ Tỵ

Đại Học Máu: Chuyện kể về 1685 ngày tù dưới chế độ Cộng sản Việt Nam, trang 5
  Nhà Xuất bản Nhân Văn, đầu tháng 4.1985

Hà Thúc Sinh có lẽ là người cầm bút duy nhất từ Văn Học Miền Nam đội được nhiều …mũ nhất mà mũ nào cũng xứng đáng. Trước 1975, ông đã có mười tác phẩm được xuất bản từ thơ văn đến dịch phẩm. Sau 1975, ông bị bắt giam “4 năm 7 tháng 14 ngày”. Hai tháng sau khi được thả, ông vượt biển vào ngày 30.4.1981, rồi được nhận vào Hoa Kỳ. Ông tốn hơn 4 năm—cùng khoảng thời gian bị giam giữ–để hoàn thành Đại Học Máu. Định cư tại San Diego, ông cùng bạn hữu tổ chức những buổi sinh hoạt rồi dựng Phong trào Hưng Ca sôi nổi một thời hầu vừa vận động đấu tranh vừa hỗ trợ chương trình Ủy ban báo Nguy Giúp Người Vượt Biển do Trung Tá Hải quân/Hạm Trưởng Phan Lạc Tiếp (1933, Sơn Tây-8. 2025, San Diego) góp phần sáng lập tại San Diego. Ông tiếp tục sáng tác và xuất bản nhiều tác phẩm mới. Đại Học Máu, tác phẩm đầu tiên, là 1 hồi ức-tự sự đồ sộ (822 trang) được Cơ sở Nhân Văn xuất bản lần thứ nhất vào tháng 3. 1985 tại San Jose, California. Ông cũng có lúc cùng ông Nguyễn Khoa (giám đốc cơ sở ấn loát Kim), lúc khởi đầu, lập nhà xuất bản Văn Mới. Trước khi vào phần Đại Học Máu, tôi muốn trích dẫn một đoạn giới thiệu của nhà xuất bản vì, theo tôi, họ đã thảo luận với chúng ta/độc giả về tâm điểm của chính sách tù ngục ngụy trang dưới còng sắt “Học tập Cải tạo”. Một khi đã nhận được tâm điểm này, theo họ, văn chương phải được sử dụng như vũ khí nhắm giải thoát sự thực và cảnh cáo chúng ta:

– … Chế độ “học tập cải tạo” được mở rộng ngay sau khi miền Nam bị cưỡng chiếm, dĩ nhiên vẫn với sự áp dụng những phương pháp quản lý cũ, và vẫn nhắm vào những mục tiêu cũ, nhưng đặc biệt có phần khắc nghiệt và tàn nhẫn hơn trong cung cách quản lý. Nguyên nhân có thể là vì lòng căm thù (pha lẫn mặc cảm) đối với thành phần tù nhân mới. Nguyên nhân cũng có thể là vì sự suy đồi trầm trọng trong tình hình chính trị và kinh tế sau khi hoàn thành cuộc cưỡng chiếm đã khiến cho điều kiện ăn ở của tù nhân trong các trại học tập trở thành tồi tệ vượt ngoài sức tưởng tượng, thí dụ khẩu phần thường lệ của tù nhân cùng với những thực phẩm do thân nhân tiếp tế đã bị cắt xén hoặc tước đoạt nhằm cung ứng bù đắp cho chính những cán bộ quản giáo. Tính chất phi nhân của chế độ “học tập cải tạo”, thể hiện qua những sự thật khủng khiếp, chỉ từ sau ngày miền Nam bị nhuộm đỏ mới bắt đầu được phanh phui trước dư luận thế giới. Và được phanh phui bởi nguồn tài liệu đắt giá: tiếng nói của những người đã sống sót và đã vượt thoát, sau khi trở về từ các “trại học tập”. ĐẠI HỌC MÁU là một trong những tiếng nói đó. Không phải là tiếng nói đầu tiên, và chắc chắn cũng không phải là tiếng nói sau cùng. 822 trang sách, chia thành 70 chương, chỉ là lời tường trình của một chứng nhân về những điều mắt thấy tai nghe trong 4 “trại học tập”: Trảng Lớn, An Dưỡng, Suối Máu và Hàm Tân. Đó là những nơi mà Hà Thúc Sinh, một sĩ quan thuộc binh chủng Hải quân Việt Nam Cộng Hòa, đã sống từ ngày 26-6-1975 đến ngày 9-2-1980, nghĩa là trong 4 năm 7 tháng 14 ngày. Tháng 11-1980, Hà Thúc Sinh bắt đầu viết ĐẠI HỌC MÁU tại đảo Pulau Bidong, mảnh đất tự do đầu tiên mà anh đặt chân tới sau khi vượt thoát khỏi Việt Nam. Bản thảo được hoàn tất vào tháng 12-1984 tại San Diego (California), mảnh đất tự do thứ hai của anh. Viết ĐẠI HỌC MÁU, Hà Thúc Sinh chẳng qua chỉ làm tiếp công việc đã từng được làm bởi nhiều người khác (và hẳn còn đang được tiếp tục làm bởi nhiều người khác nữa). Đó là nói lên tiếng nói của sự thật, cái sự thật bi thảm và kinh tởm về chế độ “học tập cải tạo” của Cộng Sản, cái sự thật mà cho đến giờ phút này vẫn còn hoặc chưa được biết tới đầy đủ, hoặc bị cố tình tảng lờ, cố tình phủ nhận, bởi những con người may mắn của một thế giới tự do nhất định không chịu tỉnh ngủ. Nghĩ cho cùng, tiếng nói của sự thật vốn không phải là thứ tiếng nói êm tai, dễ nghe. Và người ta có lẽ thích nhìn văn chương như cánh cửa mở ra một thế giới bình an, hạnh phúc, hơn là một thế giới đày đọa, khốn cùng. Tiếc thay, trên mặt địa cầu hiện nay có những bức màn sắt được dựng lên để chận bít tất cả mọi cửa ngõ dẫn đến bình an và hạnh phúc. Ngày nào những bức màn sắt đó chưa sụp đổ, ngày đó văn chương còn phải tiếp tục đóng vai trò của những viên đạn xuyên phá, của những hồi chuông cảnh tỉnh và báo động. Trong một bản “nhạc tù” viết tại trại Hàm Tân năm 1980, Hà Thúc Sinh đã tự nhủ rằng, nếu còn sống mà trở về, anh sẽ chỉ xin được làm “một đời thằng mõ không công”. Anh đã sống sót, đã trở về. Và anh đang làm đúng cái công việc mà khi ở trong tù anh ước nguyện. Làm thay cho những người bạn đã không được may mắn sống sót để trở về cùng anh. Làm thay cho những người bạn mà anh chỉ biết cầu nguyện rằng đến giờ này vẫn còn sống sót để sẽ có ngày trở về. Đồng thời, cũng làm thay luôn cho những người tuy đã may mắn sống sót trở về, nhưng khi may mắn thêm lần nữa là thoát thân được đến vùng tự do thì lại đổi tính đổi nết, trở thành nhân từ và đãng trí [Hà Thúc Sinh, “Thay lời tựa”, Đại học Máu: Chuyện kể về 1685 ngày tù dưới chế độ Cộng sản Việt Nam, trang 6-7, Cơ sở Nhân Văn xuất bản, In lần thứ nhất, Tháng 3. 1985, San Jose, California]

clip_image004

Hà Thúc Sinh
Đại học Máu: Chuyện kể về 1685 ngày tù dưới chế độ Cộng sản Việt Nam
Tháng 3. 1985

Đại Học Máu được tái bản ít nhất 3 lần. Bản của tôi là bản thứ nhất, có chữ ký của một thành viên trong Ủy Ban vận động cho Tù nhân Chính trị, ký ngày 6 tháng 4. 1985. Hà Thúc Sinh, trong đoạn trích dẫn tiếp đây, đã cho “văn chương (…) đóng vai trò của những viên đạn xuyên phá, của những hồi chuông cảnh tỉnh và báo động”:

– … Vĩnh không muốn những câu nói ngang làm mất vui nhau. Anh lên tiếng.

– Thôi được, mấy ông vừa nghe vừa canh chừng chung quanh giùm tôi. Tôi sẽ hát cho mấy ông nghe một hai bài do tôi sáng tác. Nó không phải là nhạc vàng. Cũng không phải nhạc đỏ. Nó sẽ là nhạc…

– Màu tím hoa sim?

– Hơi nhạt! Nhưng sẽ là màu tím bầm. Chịu?

Giọng Tiến không tin tưởng lắm.

– Mày làm thơ ngâm thơ còn có lý, chứ nói thật tao nhợn Boléro và Tango Habanera lắm rồi!

Vĩnh không lý tới giọng châm chọc của Tiến. Lâu nay anh đã ngấm ngầm soạn nhạc. Anh nhỏ nhẹ nói với các bạn.

– Tôi chưa thể nói nhạc tôi thế nào. Cả nước đã có ai nghe bao giờ đâu. Nhưng các ông phải nhớ các ông là những người đầu tiên được nghe nhạc thằng này. Mai kia mốt nọ giả dụ tôi có chết rũ tù mà các ông thoát được, xin hãy cố nhớ lấy mà rao truyền giùm tôi. Linh hồn tôi chắc cũng ấm áp lắm (…) Vĩnh lại phải chiều bạn.

– Thôi được, tao giới thiệu vậy. Tao không soạn nhạc Noel. Nhạc ấy đã có nhiều anh tu xuất làm rồi. Tao cũng không soạn nhạc Tết vì Xuân Ca của Phạm Duy và Ly Rượu Mừng của Phạm Đình Chương đã đi vào nhạc sử. Tao soạn Tù Ca được không?

Cả đám yên lặng. Tiếng Hóa thì thầm. – Hay đấy mày. Thực tế lắm (…) Nói đoạn Vĩnh cất tiếng hát:

Đêm thế giới đang dồn một lần

Trên đất nước tôi gọi Việt Nam

Đêm bát ngát những khu trại giam

Đời thênh thang thu hẹp dần dần

*

Đêm em bé lên mười cùm gần

Anh chiến sỹ gốc Biệt Động Quân

Đêm thiếu nữ áo đơn tạm thu

Ngồi kề vai gái giang hồ lo

*

Đêm đấu tố và thủ tiêu

Đêm săn bắt cho đầy chỉ tiêu

Người chết nhanh

Người phát điên

Đêm cáo chung Tự Do Nhân Quyền

*

Đêm nhức buốt phang bằng chày vồ

Vang tiếng thét sau cùng: Tự Do!

Đêm có tiếng súng sau trại giam

Người tù binh chết bên bìa rừng

*

Đêm thế giới đang dồn một lần

Trên miếng đất đã thừa lầm than

Đêm trút xuống hố sâu diệt vong

Là Việt Nam nước tôi buồn tênh…

Mãi một lúc sau Vĩnh mới nhận được một lời tán thưởng thật khẽ của Tiến.

– Trời ơi sướng quá!

Tiến vừa nói xong anh em mới nhao nhao lên.

– Làm lại, làm lại đi!

– Trời ơi, quái chiêu!

– Thằng này không ngờ có quái chiêu! (…) Anh em hình như vẫn muốn nghe lại bài thứ nhất. Vĩnh lờ đi. Anh bắt đầu hát:

Đêm hôm qua

Có một người tuổi 30

Chợt thức giấc ngó quanh bạn bè

Nằm xếp lớp như đống củi khô

Chàng nằm nghe đất réo gọi

Thịt xương máu đã có mùi hôi

Chàng nằm nghe kiếp con người

Tựa hoa trái ung thối mà thôi

Một quyền uy điên cuồng

Một tội danh hoang đường

Thành vực sâu giữa hồn

Lồng lộng gió cuốn…

*

Đêm hôm qua

Có một người tuổi 30

Chợt thức giấc ngó quanh bạn bè

Nằm xếp lớp như đống củi khô

Chàng nằm nghe những nhân tài

Chợt thu bé trong những hạt cơm

Chàng nằm nghe giấc mộng người

Thèm miếng sắn hơn những mùa Xuân

Thời bình minh lay động

Thời hoàng hôn lan dần

Người hùng xưa khoanh tròn

Ngủ giấc rêu rong…

*

Ở nơi đây thế giới hẹp dần

Cho mây ngập ngừng chim cũng cùng đường Nền văn minh đang đi vào hoàng hôn quên lãng

Ở nơi đây Chúa cũng ngậm ngùi

Khi xưa đặt người lên trên mọi loài

Lửa Sodome đã nghe chừng vừa bén đâu đây

*

Đêm hôm qua

Có một người tuổi 30

Chợt thức giấc ngó quanh bạn bè

Bật tiếng khóc không giống một ai

Chàng nằm nghe trên môi người

Vừa nhen nhúm tiếng nói lạ tai

Chàng nằm nghe trên thân người

Làn da mới ai đó vừa thay

Một vầng trăng chiếu vào

Một bầy hoang thú nằm

Chẳng còn ai thấy chàng

Ngoài mớ lông xanh…

(…)

Đính nhìn lên phía sân khấu tối đen, giọng mơ mộng.

– Ước gì cái sân khấu kia thuộc về mình, mày sẽ lên đó đứng hát cho mọi người nghe…

Vĩnh cười cắt giọng bạn, đùa:

– Xá gì cái chỗ này! Mày cứ tin đi, một ngày nào đó tao sẽ đứng trong nhà hát lớn Hà Nội hát cho chúng mày nghe. Như vậy mới hách chứ!

Tiến lúc này không châm chọc nữa. Nó cũng mơ mộng nhưng thực tế hơn.

– Vì một phép màu nào tụi mình thoát được đây chạy sang Mỹ, mày làm vài chương trình trên VOA hoặc BBC nhỉ. Cách mạng vất vả lắm chứ không chơi.

Vĩnh lại cười. – Thì tao cũng mơ như vậy. Tuy nhiên nói rằng chúng nó vất vả cần phải xét lại. Tao cũng nghĩ mặt trận văn hóa quan trọng, nhưng với Cộng sản còn phải có cả súng bắn vỡ mặt nó ra mới xong chuyện.

Đính không chịu, nó phân tích.

– Mày nói vậy chứ tụi nó mới là bọn khiếp sợ những mũi tên văn hóa vào hạng bậc nhất. Bom trút lên đầu chưa chắc tụi nó đã sợ bằng một câu vè diễu cợt truyền khẩu trong dân gian. Tao chịu mày dùng nhạc chơi nó. Nhạc dễ lan truyền và thẩm thấu nhanh. Sách cũng quý nhưng không phải ở đâu cũng phổ biến được sách, và nó còn bị giới hạn nhiều mặt ở trình độ và môi trường độc giả, ấy là chưa nói ta đang phải sống dưới cái chế độ chó đẻ này.

Một ánh đèn pin chiếu phớt qua. Đính im bặt. Đôi ba tiếng chân chạy. Thêm đôi ba ánh đèn pin nữa. Cả đám thất kinh. Một giọng nói xa lạ cất lên ở phía hàng rào cuối hội trường: Đồng chí bọc cửa kia. Chúng nó ngồi trong đó từ 7 giờ tối...Hóa cất giọng hốt hoảng báo động.

– Bỏ mẹ chạy đi! Chắc tụi nó theo dõi thấy mình ngồi đây bàn tán mấy tiếng đồng hồ nên lùng bắt mình đó! Cả đám điếng hồn. Không ai bảo ai, mọi người đều phóng ra khỏi cửa chính hội trường và chạy tán loạn về phía các khối. Điếu đóm bỏ cả lại. Đính và Vĩnh cũng chạy về một hướng. Lẩn nhanh vào bóng tối dưới một hiên nhà (…) Đính chui vào màn lục đưa cho Vĩnh cái áo trấn thủ may bằng bao cát của nó. Anh mặc vào người và chui vào chỗ nằm. Tiếng một người nào đó nói mớ vang lên: Miếng cháy ấy của tao! Miếng cháy ấy của tao! … [Hà Thúc Sinh, Đại học Máu: Chuyện kể về 1685 ngày tù dưới chế độ Cộng sản Việt Nam, trang 225-232, Cơ sở Nhân Văn xuất bản lần thứ nhất, Tháng 3. 1985, San Jose, California]

Tù ca được sáng tác và hát lên trong hoàn cảnh cực kỳ gian nan mất mạng như không trong tù, đoạn chuyển thành Tủi nhục ca khi sang được bến tự do. Tủi nhục ca lại hóa thân thành Hưng Ca. Như một phép màu, Hà Thúc Sinh đã sống sót, đã thoát. Không quên bạn tù, tiếng hát, tiếng đàn, tiếng nhạc Hà Thúc Sinh đã ra khỏi Việt Nam, loan truyền trên khắp thế giới qua các chương trình trên VOA hoặc BBC, qua những băng nhạc, qua những cuộc hát cộng đồng:

Đêm Việt Nam, Hà Thúc Sinh: https://www.youtube.com/watch?v=1H4nqOBdjcc

Chưa kể sự nghiệp Thơ Văn, chỉ với Đại Học Máu và sự nghiệp Âm nhạc, Hà Thúc Sinh đã có một vị trí độc đáo trong Văn học Hải ngoại sau khi bị Cộng sản giam và bị buộc rời Văn học Miền Nam.

Tôi dẫn trường hợp Hà Thúc Sinh vì Trương Vũ cũng cầm súng và cũng cầm bút. Hóa ra trong lúc người -lính-biệt -phái đang xem-truyền-hình nên tưởng lầm quân ta “bỏ cuộc” thì quân-ta-Hà Thúc Sinh vừa bị bỏ… đói, vừa bị hành hạ, vừa làm khổ sai lao động, vừa bệnh hoạn suýt chết nhiều lần, vừa sáng tác, vừa hát chui, vừa tránh quản giáo trối chết. Sau Hà Thúc Sinh, tôi sẽ lại trích dẫn sĩ quan Nguyễn Vạn Hùng, người đã làm chứng thượng dẫn về việc dân chúng Miền Bắc bị tuyên truyền “ngụy ăn thịt người”. Như đã nêu chủ trương và quan điểm của tôi khi viết là viết về vấn đề mà không về cá nhân, tôi sẽ chứng minh người lính VNCH không hề “bỏ cuộc” dù cuộc ấy đã thành cuộc thất trận. Nhà thơ Lữ Quỳnh có một bài thơ khiến tôi bùi ngùi mỗi lần nhớ đến:

Tiếng chim lạ ở trại Cồn Tiên

Bỗng một ngày ta không còn là ta

tương lai như con diều đứt dây chúi đầu xuống vực

sáng vào rừng rút mây đẵn gỗ

chiều về nặng trĩu vai

vác cây đời thánh giá

đêm nằm canh giấc mơ

sợ những điều giả trá

chập chờn bóng quỷ ma.

*

Ngày nhọc nhằn

đêm mất ngủ

ngoài trời khuya lạnh bóng trăng

tiếng chim đói sao cất lời bi thiết

cơm còn… cho cục! *

cơm còn… xin cục!

chim kêu mãi làm ta thao thức

cơm tù không đủ ăn

cớ gì chim xin mãi.

*

Ta mất ngủ hằng đêm

chờ tiếng chim não nuột

cơm không có ăn

lấy gì cho cục

đời tù buồn

chim cũng quá buồn sao?

[Lữ Quỳnh, Tháng Giêng 2011, San Jose, *Chú thích của tác giả: Ở trại tù Cồn Tiên (Quảng Trị) hằng đêm có tiếng chim kêu, phát âm ra Cơm còn cho cục!]

Sống vất vưởng trong tay kẻ thù, trong đầy ải, hăm dọa, bệnh tật, chia lìa những người thân yêu trong nỗi đói triền miên, nhưng những người tù này vẫn chứng minh được cho dân chúng Miền Bắc biết họ là ai và Miền Nam là phần đất nào.

Ø Đại úy Nguyễn Vạn Hùng, Trưởng Phòng Tuyên Úy Công Giáo, Bộ Tổng Tham Mưu/Khối Chiến tranh Chính trị: chúng tôi không phải là những người không tim, tay sai của đế quốc Mỹ…

Vùng đất ngục tù-Hồi ký Tù Cải tạo của Đại úy Nguyễn Vạn Hùng tái bản lần thứ nhất vào tháng 8. 1988. Ông sinh ngày 17.10.1939, Nha Trang, Khánh Hòa và qua đời vào ngày 1 tháng Giêng 2013, Nam California, Hoa Kỳ. Hồi ký này, 310 trang, chứa dư tin tức để trả lời nghi vấn “bỏ cuộc” đang bàn đến. Ông còn cẩn thận ghi lại số đại tá và tướng lãnh bị giam cùng Trại tù với ông. Ông ghi rõ tên họ của ít nhất 4 trung tướng, 7 thiếu tướng và 18 vị chuẩn tướng. Ngoài ra, còn có tên tuổi của nhiều nhân vật quan trọng như giáo sư/Phó Thủ tướng của Chính phủ Dương Văn Minh/ Bùi Tường Huân. Tôi chọn 2 thí dụ đại diện cho sự chiến đấu và tiếp tục hy sinh của những người tù được ông thuật lại trong hồi ký này.

clip_image006

Nguyễn Vạn Hùng, Vùng đất ngục tù (Hồi ký Tù Cải Tạo)
nhà Xuất bản Thời Luận, tái bản, tháng 8.1988, Culver City, California

 

*Chúng tôi phải chứng tỏ cho người địa phương biết chúng tôi không phải là những người không tim, tay sai của đế quốc Mỹ… (Nguyễn Vạn Hùng, sđd, trang 145)

Người tù– như Nguyễn Vạn Hùng, bị giam trong trại Hà Tây– thuộc nhiều binh chủng như Công binh, đã cùng anh em tù và dân làng, dựng một cây cầu bằng gỗ thay cho chiếc cầu khỉ bất tiện và không an toàn. Họ đã phải lập kế thuyết phục Trại trưởng cho phép họ “thi đua” dựng cầu dù sẽ không mong được hưởng:

-… Trại tù cải tạo đang giam giữ tôi thuộc làng Vầng nằm sát theo chân núi. Những buổi hoàng hôn, vào những hôm mà chúng tôi được nghỉ sớm, chúng tôi thường kéo nhau lên ngồi trên những ngọn đồi phía sau lưng trại để bâng khuâng nhìn những cụm khói lam chiều lững lờ bay lên từ những nóc nhà tranh trước mặt, cách Trại không xa lắm, nằm dọc theo con sông Chảy. Đây là một nhánh của sông Hồng. Xa xa bên kia sông là một vùng đất bằng phẳng có nhiều nhà cửa hơn phía bên này. Khoảng cách hai bên bờ sông vào mùa hè có lẽ không rộng hơn 50 mét, mực nước lại thấp ngang ngực những người lội qua. Nhưng khi mùa đông, nước lũ tràn về, mặt sông rộng hẳn ra và con sông cũng biến mất vẻ hiền hòa, bình thản, mà từng lượng nước phù sa ngầu đỏ cuồn cuộn tuôn về Nam, bứt theo cả những lùm cỏ mọc sát bên bờ. Bắc ngang con sông nhỏ đó, ngày xưa chắc đã có một cây cầu. Nhưng, từ ngày cộng sản chiếm được toàn miền Bắc, đồng bào địa phương nói, cây cầu thời Pháp thuộc này đã bị gẫy đổ trong chiến tranh (…) Trong những lần xuất trại đi lao động ngang cây cầu khỉ đó, chúng tôi nhiều lận nhìn tận mắt những người lớn tuổi có việc sang sông một cách vô cùng cực nhọc. Các cụ đành phải ngồi lên hai thân tre, thả hai chân sang hai bên rồi nhếch đít lết từng chút một. Chúng tôi cũng đã chứng kiến nhiều em bé gánh khoai gánh sắn qua cầu khỉ chẳng may té bổ xuống sông, sắn khoai rơi vãi trên dòng nước. Trước những cảnh ấy, chúng tôi chạnh lòng thương sót. Thì trái lại, đám cán bộ vệ binh đi áp tải chúng tôi lại cười ha hả thích thú như vừa xem một hoạt cảnh trên sân khấu. Mà chả riêng gì đồng bào, chính anh em chúng tôi khi bưng khoai sắn về cho trại, nhiều anh yếu sức cũng đã té lăn trên cây cầu khỉ này rồi. Thấy cảnh tượng không có gì vui đó cứ tái diễn, anh em chúng tôi đã nẩy ra ý định tự nguyện làm lại một cây cầu vững chắc cho đồng bào xử dụng (…) Trước đó, chúng tỏ vẻ hồ hởi, bắt chúng tôi nghiên cứu, vẽ bản đồ, đưa đề nghị vật liệu cần thiết để chúng trình thượng cấp. Hay là giờ đây chúng đã biết rõ thâm ý của chúng tôi chăng? Mãi mấy tuần sau, vào một sáng thứ bẩy, thay vì toàn trại phải “lao động xã hội chủ nghĩa” như thường lệ, chúng tôi được lệnh tập họp ở Hội trường. Trong buổi sinh hoạt này, tên Trại trưởng chính thức mở màn một chiến dịch thi đua mới trong vòng hai tháng. Mục tiêu của chiến dịch là một nửa nhân số trại bắt tay vào việc thực hiện cây cầu trên sông Chảy, một nửa nhân số còn lại phải làm việc bằng hai, thay thế cho nửa đi công tác làm cầu. Nghe xong, anh em chúng tôi có hơi phát ngán. Lý do giản dị vì anh em người nào người nấy hầu như chỉ còn da bọc xương, nay phải làm việc bằng hai thì chỉ có chết. Nhưng, nghĩ lại thì việc dựng cây cầu là do chính anh em chúng tôi chủ trương để giúp đồng bào, để đồng bào miền Bắc hiểu chúng tôi hơn là qua những lời tuyên truyền của cộng sản, nên vì thế anh em chúng tôi cũng tìm ra một lối để an ủi mình mà nhìn về ngày mai bớt vẻ bi quan. Khi công tác bắt đầu, anh em chúng tôi rỉ tai nhau để chung một nhận định rằng việc làm cây cầu này là một thách thức với chúng tôi. Chúng tôi phải chứng tỏ cho người địa phương biết chúng tôi không phải là những người không tim, tay sai của đế quốc Mỹ chuyên giết hại đồng bào. Chúng tôi sẽ cho đồng bào biết, công trình này tuy chẳng to lớn gì nhưng lại rất thiết thực, hữu ích với dân chúng. Đây cũng là dịp để đáp lại lòng thương yêu của bà con quanh trại đã dành cho chúng tôi trong những ngày qua. Hơn nữa, đối với bọn cán bộ cộng sản, chúng tôi sẽ cho họ biết rằng với những công tác hữu ích cho đồng bào thì chúng tôi tự nguyện ngay, chúng tôi không phải là bọn người “chây lười lao động” như bọn chúng thường xỉ vả chúng tôi. Ngày khởi đầu công tác, nơi địa điểm dựng cầu mọi ngày thường vắng vẻ nhưng hôm đó sôi động hẳn lên. Về phía chúng tôi thì từng toán, tùng tổ đã được phân công phân nhiệm, kẻ lên núi đốn chặt những cây to đúng kích thước do anh em công binh đòi hỏi. Đối với những cây làm chân cột đều to và dài lại thuộc loại cây tốt nên rất nặng, hàng chục anh em phải dùng dây để kéo. Tiếng hò kéo gỗ vì thế vang dội cả khu rừng. Còn tại sông, một số anh em còn tương đối khỏe, được đồng bào phụ giúp, lặn xuống giòng sông để thăm dò đất đai và mực nước. Bà con quanh vùng thấy chúng tôi làm cầu, ai nấy đều hân hoan vui sướng. Nhiều nhà đã mang nước trà, nấu chè nấu cháo mời anh em chúng tôi ăn uống. Rồi thì khoai luộc, sắn luộc cũng được bà con mang tới vào giờ ăn trưa nên giữa đồng bào và chúng tôi, quả thật đã có một niềm tin cậy và thông cảm của những người con dân cùng chung quốc tổ, của những chiến hữu cùng chung giới tuyến. Những ngày sau, nhiều thanh niên thiếu nữ đã sắn tay cởi áo phụ với chúng tôi trong mọi công việc. Nhớ lại buổi đầu tiên, những người trẻ nầy còn hoài nghi, chỉ đến xem chúng tôi làm, chỉ đến quan sát những câu chuyện chúng tôi trao đổi. Bây giờ thì họ nói:

– Tôi thấy các anh thật hiền, thật có tình cảm, trái với những gì chúng tôi được giáo dục trước đây…

Nhờ sự hỗ trợ và cởi mở của đồng bào mà tuy mệt nhọc, anh em chúng tôi cũng hoàn thành giai đoạn đầu của đề án sớm hơn dự tính. Mọi loại gỗ làm chân cầu, làm đà đều đã đầy đủ. Hai trăm người tù chúng tôi hình như đã quên mất thân phận tù đày để cười để nói với đồng bào, để huýt sáo bản nhạc cầu sông Kwai, trong lúc lao động. Một hôm, trong lúc ngồi nghỉ, mấy cụ già đã tới bên chúng tôi tâm sự:

– Nhờ các anh có mặt tại đây mà chiếc cầu này mới có. Nếu không thì cả đời chúng tôi mà chừng cả đời con tôi cũng chỉ vẫn đi bằng cây cầu khỉ…

Một người khác than thở:

– Nghe nói mỗi kế hoạch 5 năm, đều có ghi thực hiện cây cầu này. Nhưng mấy lần 5 năm rồi, chẳng thấy một cái chân cầu được đóng xuống…

Và một tiếng nói khác:

-Thật không ngờ các anh giỏi thế đấy nhé. Mai mốt, đi trên cây cầu này, mọi người sẽ nhớ tới các anh…

Hai tháng trôi qua và công việc làm cầu đã xong. Chiếc cầu rộng hơn hai mét bề ngang, mặt cầu được lát bằng ván đầy và phẳng, lại có thành cầu hai bên. Thôi thế là chấm dứt những cảnh bi hài với những gánh sắn gánh khoai vì trượt chân mà té lăn xuống nước. Cũng sẽ không bao giờ thấy lại cảnh những người già lọm khọm, râu tóc bạc phơ, ngồi lết trên hai cây tre, hai chân thả hai bên mà chống tay nhếch đít lê từng chút một. Các em bé đã tung tăng chạy nhảy đuổi bắt nhau vòng quanh cây cầu còn thơm mùi gỗ mới. Rất đông đồng bào đã đi lại thử trên cây cầu, nét mặt hân hoan như đang ngày hội lớn. Chúng tôi được đồng bào thăm hỏi tíu tít. Có những bà già nhét vào tay chúng tôi một vài trái cây trong vườn mới chín… Nếu nói không ngoa thì chúng tôi đang được hưởng những ân tình đằm thắm của đồng bào, niềm ân tình này còn mặn mòi hơn cả những năm xưa ở miền Nam, sau khi chúng tôi đã truy kích địch ra khỏi một thôn làng và được đồng bào trong làng thăm hỏi. Trong bao nhiêu năm tù cải tạo, anh em chúng tôi đã có được một việc làm hữu ích, một việc làm ý nghĩa, một thời gian được sống mà tâm hồn, tình cảm được tự quên đi rằng chúng tôi đang chỉ là những người tù cộng sån… [Nguyễn Vạn Hùng, “Chuyện về chiếc cầu bắc qua sông Chảy”, Vùng đất ngục tù: Hồi ký Tù Cải tạo, trang 142-145, Nhà Xuất bản Thời Luận, tái bản, tháng 8.1988, Culver City, California]

Kế đó, không chỉ với người dân Miền Bắc, Nguyễn Vạn Hùng còn cho độc giả biết rất chi tiết về “cây mùa Xuân thầm lặng” trao tay cho các bạn tù kém may mắn trong Trại Tù Cải tạo Hà Tây.

*Cuối cùng, một công tác mà anh em chúng tôi gọi là tổ chức “cây Mùa Xuân thầm lặng” trong trại tù Hà Tây… (Nguyễn Vạn Hùng, sđd, trang 304-305)

Theo ông, “trại Cải tạo Hà Tây nằm về hướng Đông Bắc và cách thị trấn Hà Đông chừng 10 cây số, cách Hà Nội khoảng 27 cây số. Trại nằm trong xã Bình Đà, trên một quãng đồng trống. Quanh trại là một dây hàng rào bằng tre kiên cố. Cách trại chừng 500 mét là con sông Cổ Nhuế…” [sđd, trang 160]. “Cây mùa Xuân thầm lặng” được bắt đầu tổ chức vào năm 1981 và vẫn tiếp tục sau khi ông được phóng thích 2 năm sau:

– (…) Chính vì tiếp xúc với nhiều anh em đồng đội, đặc biệt là những người nhiều năm không có thư, không có quà, không thăm nuôi, hoàn cảnh đã gợi ý cho anh em chúng tôi phải làm một cái gì để an ủi họ trong những ngày tết đến. Chúng tôi ao ước làm cách nào cho những anh em kém may mắn này cũng có một miếng quà do chính những anh em trong tù san sẻ cho họ. Dĩ nhiên trong trại tù, chúng tôi không thể công khai làm điều đó. Và dĩ nhiên ban quản giáo trại cũng chẳng bao giờ mong chúng tôi làm điều đó. Một số anh em chúng tôi lén họp nhau nhiều lần trong những lúc rảnh rỗi để bàn thảo xem có thể làm gì và làm như thế nào. Cuối cùng, một công tác mà anh em chúng tôi gọi là tổ chức “cây Mùa Xuân thầm lặng trong trại tù Hà Tây”. Chúng tôi cũng biết, ở trong trại tù cộng sản, làm việc gì mà không được phép của cộng sản, đều có nghĩa là phản động và có thể sẽ chịu nhiều hậu quả nguy hiểm. Nhưng, vì thương đồng đội, chúng tôi nhất định tiến hành công việc bất chấp cái giá mà mình phải trả. Như thế, kể từ đầu tháng 8 năm 1980, giai đoạn (khó) nhất trong việc tổ (chức) Cây Mùa Xuân Tết 81 bắt đầu. Mỗi anh em trong nhóm được phân chia phụ trách một số đội và số buồng, tìm cách thăm hỏi để lập danh sách những anh em không có liên lạc gia đình. Thực ra lúc bắt đầu công tác, chúng tôi cứ tưởng số người kém may mắn đó không quá 10 người, nhưng chẳng mấy ngày sau anh em đã ghi được tới 28 trường hợp, một con số đông quá khiến anh em chúng tôi hơi e ngại. Chúng tôi tiếp tục phối kiểm để xem sự thực ra sao. Đến đầu tháng chạp năm 1980, bằng những lá thư luân lưu chúng tôi đã chuyển đến các đội, các buồng qua những anh em tin cậy để kêu gọi sự đóng góp của các anh em phụ giúp cho chúng tôi tổ chức Cây Mùa Xuân. Thư luân lưu này cũng đã chuyển tới khu giam cấp đại tá và cả khu biệt giam các tướng lãnh. Trong thư, chúng tôi cũng nói rõ là sẽ chỉ nhận những quà tặng của các anh trong thời gian 10 ngày kể từ ngày rằm tháp Chạp cho đến ngày 25 tháng Chạp. Và, để chứng tỏ sự ngay tình, chúng tôi cũng không quên ghi chú rằng sau tết, chúng tôi cũng sẽ báo cáo tới các anh những món quà nhận được và những sự phân phối các món quà đó tới tay người nhận ra sao. Thoạt đầu, khi những lá thư luân lưu được âm thầm chuyển đi, nhóm anh em chúng tôi, ai ai cũng đều hồi hộp và e ngại. Đã từng sống trong trại tù nhiều năm, mọi người đều hiểu rằng, sự hy sinh san sẻ một phần quà của mình vừa nhận được từ những người thân đến thăm nuôi hoặc qua bưu kiện gửi đến cho những anh em tù nhân khác đã từ lâu không được tiếp tế vẫn là việc thường xảy ra. Nhưng việc mời gọi đóng góp quà có tính cách tập thể để giúp cho những anh em mà mình chưa hề thân quen là điều từ trước đến nay chưa có tù nhân nào đứng ra tổ chức, ở trại này. Đàng khác, nhiều anh em giàu lòng bác ái thật sự muốn đóng góp nhưng liệu họ có dám tin vào nhóm anh em chúng tôi đứng ra tổ chức hay không vì lẽ nếu việc đóng góp bị bọn cán bộ trại biết được thì ngay cả những anh em đã góp phần vào cũng bị liên lụy, cũng bị bọn an ninh trại làm khó dễ mà hậu quả chưa ai lường trước được. Với những suy nghĩ trên, nhóm anh em tổ chức cũng không dám mong (muốn) số quà mình sẽ nhận được đủ để tặng cho nhiều anh em theo bảng danh sách mà chúng tôi đã có, nhất là về số lượng mỗi người tối thiểu cũng phải được 5 ký, như nhóm anh em trong tổ chức mong muốn. Tuy nhiên, sau một tuần lễ khi thư được chuyển đi, anh em tỏa ra thăm dò dư luận ở khắp các buồng, các khu, được biết phần đông những tù nhân sau khi đã đọc thư luân lưu của chúng tôi đều tỏ ra hưởng ứng và sẵn sàng đóng góp. Nhiều tù nhân chúng tôi đã gặp, họ không biết tôi là một trong nhóm anh em đứng ra tổ chức, lại đưa thư luân lưu cho tôi xem và kêu gọi tôi phải đóng góp vào. Tôi giả vờ phản đối thì liền bị anh em mắng như tát nước vào mặt. Những sự kiện ấy không chỉ xảy đến với tôi mà tất cả những anh em nằm trong nhóm tổ chức cũng gặp hoàn cảnh tương tự. Điều đó đã làm nhóm tổ chức hân hoan với niềm hy vọng thành công cho cây mùa Xuân của chúng mình! Đến ngày nhận quà, anh em trong nhóm đều hồi hộp chờ đợi. Những anh em đại diện ở mỗi buồng, mỗi khu lần lượt mang đến cho chúng tôi những số quà mà các anh đã nhận được từ những anh em khác nhờ các anh ấy chuyển đến. Quả thật, tất cả các anh trong nhóm đều xúc động khi nhìn thấy số quà đầu tiên được đến tay mình. Nhìn những viên kẹo, những nắm gạo, một ít cá khô, một tí muối được gói cẩn thận, tuy số vật chất nó chẳng đáng là bao trong những trường hợp bình thường, nhưng đối với người tù chúng tôi, thì đó chẳng khác gì là những giòng máu trích ra từ thân thể vốn dĩ đã gầy guột (sic) để chia sẻ cho đồng đội. Rồi những họp sữa, những gói thuốc lá ngoại quốc mà một số anh vừa nhận được từ gia đình đến thăm, các anh cũng nhịn đi để gửi đến chúng tôi kèm theo những mẫu chữ nhờ chuyển đến cho những đồng đội kém may mắn hơn mình. Số quà mỗi ngày chúng tôi nhận được càng nhiều hơn. Hàng chục kilô quà từ khu biệt giam cấp tướng lảnh cũng được các anh gom góp và âm thầm chuyển tới. Hàng nhiều gói quà đáng giá ở khu cấp đại tá cũng được các anh trao lại chúng tôi. Thời gian nhận quà đã chấm dứt, kiểm điểm chúng tôi đã ước lượng gần 100 kg quà mà chúng tôi đã nhận được. Tết năm ấy–năm 1981–chúng tôi đã phân chia số quà trên cho 18 anh em trong toàn trại, trong bản danh sách ấy gồm có một tướng lãnh (nhưng vị ấy đã từ chối vì muốn nhường lại cho những anh em đang ở khu lao động bên ngoài) và hai vị đại tá. Đúng sáng mồng một tết, lợi dụng trại cho phép ngày đó tù nhân ở các khu các buồng được thăm nhau, tôi được anh em trong nhóm trao trách nhiệm mang một số gói quà đến tặng một số anh em trong khu tôi đang ở, trong đó có một anh nguyên là trung đội trưởng nghĩa quân mà từ nhiều năm qua anh chưa hề nhận được tiếp tế hoặc thăm nuôi. Khi nhìn thấy gói quà trên 5kg tôi mang đến và nói với anh rằng số quà này chẳng phải là của cá nhân tôi, cũng chẳng phải là của riêng một tù nhân nào mà là do sự đóng góp của tất cả các chiến hữu của anh trong toàn trại. Anh đưa tay ôm lấy gói quà với dòng nước mắt ràng (sic) rụa lăng (sic) dài trên đôi má gầy hóp với những lời nói nghẹn ngào chân thật:

– Đã lâu lắm em không được nhà tiếp tế. Đây là gói quà đầu tiên nhưng không phải từ một người thân ở gia đình em mà là của các anh. Em đã tưởng, các bậc đàn anh đã quên em rồi tuy ngày ngày vẫn sống gần nhau. Nhưng không ngờ, các anh ấy vẫn còn nhớ và còn thương đến em.

Nói đến đây, có lẽ vì quá xúc động, anh bưng mặt và khóc nức nở. Tôi cố an ủi anh, và cũng để tránh bọn ăn teng dòm ngó, tôi từ biệt. Sau tết chúng tôi đã làm bảng báo cáo về số quà cũng như số tù nhân mà chúng tôi đã thay mặt anh em trong trại để trao tặng. Đồng thời, cũng xuyên qua bảng báo cáo đó, chúng tôi cũng kêu gọi ở mỗi tù nhân trong điều kiện có thể được hãy trực tiếp giúp đỡ thêm cho những tù nhân đang cần sự trợ giúp. Nhiều anh em sau đó, nhất là khu biệt giam các tướng lãnh, mỗi lần có thăm nuôi hoặc tiếp tế, các anh đã dành một số quà trao cho chúng tôi để nhờ chúng tôi chuyển đến cho những anh em khác. Tết năm 1982, nhóm anh em tổ chức năm trước vẫn còn đó, cây mùa Xuân thầm lặng lại vẫn tiếp tục nở hoa. Nhờ kinh nghiệm năm trước, chúng tôi chuẩn bị chu đáo hơn. Phần khác, do lòng tin cậy của anh em trong trại, lần này số lượng quà mà chúng tôi đã nhận được cũng tăng hơn gấp bội, khoảng 200 kg. Và năm ấy số anh em nhận được quà là 27 người. Sau tết năm 1982, tôi được phóng thích. Về đến nhà, chẳng bao lâu thì tết năm 1983 lại sắp sửa đến. Trong những ngày trước tết năm ấy, tuy được về sống cạnh với gia đình, tuy đây là cái tết đầu tiên sau ngày cộng sản chiếm miền Nam, tôi mới có mặt cạnh các con, nhưng tâm trạng tôi vẫn bồn chồn, buồn bã, vì hình ảnh những anh em mình còn lại trong tù cứ vây bọc và ám ảnh. Rồi những ngày tết lại đến, lại đi và chẳng bao lâu sau đó, tôi nhận được một bao thư gửi từ trong tù, trong ấy có một mảnh giấy nhỏ: “Anh Hùng, tết vừa rồi trong tù anh em vẫn nhớ đến anh. Cây mùa Xuân những năm về trước, năm nay vẫn tiếp tục với những bông hoa thầm lặng đã rộ nở, và nở nhiều hơn, dù cho thiếu vắng một người!” Tôi nhận những giòng chữ ngắn gọn ấy và đọc thật nhiều lần với niềm hân hoan tràn ngập. Hạnh phúc đến với tôi thật đơn giản, chỉ có vậy! [Nguyễn Vạn Hùng, “Những cây mùa Xuân thầm lặng”, sđd, trang 304-310]

Khi ông qua đời, nhà tranh đấu/ Dân biểu Hạ Viện VNCH/bạn đồng tù Nguyễn Lý Tưởng nhắc đến “Cây mùa Xuân thầm lặng” trong bài tưởng niệm:

-(…) Sau đó, anh và anh Huỳnh Văn Bình được chuyển về trại Hà Tây, ở chung với mấy ông Tướng VNCH tại khu F (khu biệt giam), ngoài ra còn có mấy Đại Tá như Hồ Ngọc Tâm, Đỗ Trọng Huề, Võ Hữu Hạnh, Võ Ân, Đại Tá Huy (Biệt Động Quân) và đặc biệt có Nghị sĩ Trần Trung Dung, cựu Bộ Trưởng Quốc Phòng thời TT Ngô Đình Diệm và NS Bùi Tường Huân, Phó Thủ Tướng kiêm Tổng Trưởng Quốc Phòng trong CP Vũ Văn Mẫu vào giờ chót trước 30/4/1975 (…) Vào dịp lễ Giáng Sinh và Tết, trước khi anh được về với gia đình, anh nảy ra ý kiến vận động anh em người nhiều kẻ ít, góp tay nhau: thức ăn, quà…rồi chia ra nhiều gói quà bí mật đem tặng cho những anh em không có gia đình thăm nuôi. Tôi nhớ những anh em trong nhóm đi vận động có: Cụ Nguyễn Văn Mân (cựu Nghị Sĩ VNCH), anh Huỳnh Văn Trứ (Dân Biểu), anh Nguyễn Thành Tiên (Giáo sư), anh Nguyễn Văn Độ (Thiếu Tá Cảnh Sát), anh Vũ Thành An, Nguyễn Lý Tưởng, Nguyễn Vạn Hùng…Cá nhân tôi không đích thân mang quà đến cho anh em vì tôi mới bị cùm một chân trong nhà kỷ luật vì tổ chức hát Thánh ca vào dịp Lễ Giáng Sinh nên phải tránh mặt (công tác nầy đã có anh em khác phụ trách). Nhưng tôi đã đi vận động anh em các buồng ủng hộ quà và lập danh sách để tặng quà. Có người cho gạo, bánh kẹo, sữa, thức ăn, trà, thuốc lào. Chúng tôi thực hiện công tác nầy rất hoàn hảo, kín đáo, anh em nhận được quà rất cảm động (…) Những giờ phút cuối cùng của cuộc đời: Khi còn ở Việt Nam, đã có lần tôi nhận được một gói quà anh gởi, tôi đem bán ra được chừng hai trăm dollars và đem chia cho anh em nghèo, bạn tù với anh. Sau 14 năm tù, tôi qua Mỹ cùng với gia đình… [Nguyễn Lý Tưởng, “Những Kỷ Niệm Trong Tù với Anh JB Nguyễn Vạn Hùng”, ngày 17, tháng giêng. 2013, Nhật báo Người Việthttps://www.nguoi-viet.com/tuong-nho/Nhung-Ky-Niem-Trong-Tu-voi-Anh-JB-Nguyen-Van-Hung-4732/]

Khỏi cần nói, đã có không biết bao nhiêu hồi ký của quân cán chính Miền Nam về kinh nghiệm tương tự của họ, nhiều không kể xiết. Một trong những cuốn gần đây hơn là Chân dung H.O. và Những cuộc đổi đời dầy 500 trang [Nhà Xuất bản Nam Việt, 2015, Thành phố Irvine, California]. Hai đồng tác giả đều là những sĩ quan và/hay tác giả trong làng viết văn. Nhà khảo cứu Võ Hương An (Võ Văn Dật) chuyên về Huế và “Nhà Nguyễn”, là Cựu Thanh tra Giám sát Viện-Đệ II Cộng Hòa, bị giam 7 năm và nhập cư Hoa Kỳ vào tháng 4. 1991. Nhà văn Huy Phương, giáo sư Trung học, tốt nghiệp Khóa 16 Trường Bộ Binh Thủ Đức, Thư ký Tòa soạn tạp chí Tiền PhongChiến sĩ Cộng Hòa, bị giam 7 năm đoạn nhập cư Hoa Kỳ vào tháng 8. 1990.

Ngoài tài liệu với hình ảnh về hành trình từ nhà giam, phấn đấu sau khi ra tù rồi rời Miền Nam, cuốn này còn rất đặc biệt vì gồm 54 “chân dung” của một tập thể thu nhỏ nhưng có thể đại diện phần nào cho bao nhiêu gia đình quân cán chính Miền Nam từ 30 tháng 4. 1975 cho đến lúc có mặt tại Hoa Kỳ. Nói một cách khác, 54 người này và gia đình đã can đảm cho công bố tin tức riêng tư—có khi đầy bất hạnh–hầu trưng bằng cớ về nhiều thứ thảm họa do nhà cầm quyền Cộng sản gây ra. Từ mất hầu hết gia đình trên biển cả đến mưu sinh bằng sức lao động dù đã hao mòn thể xác sau nhiều năm tù, họ–nhất là giới phụ nữ–càng cho thấy ý chí và tình yêu thành một thứ sức mạnh siêu nhiên giúp họ tồn tại đặng tái lập cuộc đời tại hải ngoại. Thêm vào đó, qua những nghịch cảnh do một lớp quan lại mới tạo cho phụ nữ Miền Nam, chúng ta còn có dịp kiểm chứng sức tàn phá của Chủ nghĩa Cộng sản. Họ đã gây tang thương cho dân chúng Miền Bắc với cuộc Cải cách Ruộng đất, nay họ tàn phá dân chúng Miền Nam với chính sách Kinh tế Mới và Học tập Cải tạo nhắm cô lập người già cả, đàn bà và trẻ con trong khi giam giữ đàn ông mút mùa lệ thủy. Tôi có vài người bạn gái mà gia đình ở trong trường hợp đó. Bởi thế, tôi không ngạc nhiên khi Trương Vũ ca ngợi người vợ lính (“chinh phụ”). Họ rất xứng đáng được ca ngợi.

3.6 Người không cầm súng-Chinh phụ

Trương Vũ muốn độc giả “nhìn vấn đề cho kỹ hơn”. Một phần vấn đề đó là vấn đề gì? Hãy nghe ông phân tích lý do khi so sánh tổn thất giữa người lính và gia đình họ, nhất là cho người vợ:

-… Thế nhưng, có lẽ cần phải dừng lại một chút để nhìn vấn đề cho kỹ hơn. Trong loạn ly, cái đau thương đâu phải chỉ đến với người lính. Hay, nói cho đúng hơn, trong loạn ly, cái đau thương lớn nhất vẫn không đến với người lính. Nó đến với vô số người mẹ, người vợ, những đứa con thơ và cho rất nhiều thường dân vô tội. Mà ngoài cái đau đớn, sự hy sinh của những con người đáng thương này thì sự can đảm, sức chiến đấu kiên trì của họ nhiều khi phải được kể là vượt qua những người lính. Những ai đã ở lại miền Nam sau 75 chắc chứng kiến được điều đó. Người cầm súng đã bỏ cuộc nhưng những người không cầm súng đã không bỏ cuộc. Họ phải tiếp tục chiến đấu cật lực với cuộc đời. Và, nếu sau đó, cuộc đời đã không đến nỗi tàn mạt như bãi chiến trường, thì điều đó phải là do công của họ. Chính họ, chớ không phải những người cầm súng, đã khiến cho cuộc đời phải tiếp tục, theo một chiều hướng khác, không theo ý muốn của những người nắm quyền lực mới (…) Nói chung, thì hầu hết phải vật lộn cực khổ với đời sống, chắt chiu tiền bạc, bồng bế dìu dắt con thơ, băng qua biết bao nhiêu dặm đường để mang quà đến trại học tập thăm nuôi chồng. Có ai đếm được bao nhiêu người đàn bà đã ngã quỵ trong những hoàn cảnh như vậy? Có ai đếm được bao nhiêu trẻ thơ chết oan uổng dọc bờ, bụi nào trên quê hương trong và sau cuộc chiến? Mấy ai gọi hồn họ? …” [Trương Vũ 2025, trang 51-52]

Tôi rất hoan nghênh mọi lời tri ân Phụ nữ Miền Nam. Họ đã chứng tỏ sự can trường và hy sinh trong khi bị bao vây bởi chính sách của chính phủ Cộng Sản Miền Bắc, một chính sách nhắm quật ngã gia đình họ. Tôi đã sưu tầm được hồi ký của nhiều người thuộc nhiều giới. Tôi sẽ trích dẫn một đoạn từ Những năm cải tạo ở Bắc Việt (1981), hồi ký của Trần Huỳnh Châu, nghĩa là đúng một con giáp 12 năm trước bài này của Trương Vũ. Tôi chọn Trần Huỳnh Châu (1937-2018) vì ông cũng là một sĩ quan biệt phái, rồi bị bắt đi tù. Xuất thân từ Học Viện Quốc gia Hành chánh (1958), ông từng là Tỉnh trưởng Quãng Ngãi rồi Phó Tỉnh trưởng Kiến Hòa. Sau 5 năm tù, ông vượt biển cùng con trai và hoàn thành Những năm cải tạo ở Bắc Việt vào ngày 9 tháng 11. 1980 tại Trại Tỵ nạn Galang, Indonesia. Năm 1981, Hội Cựu Sinh viên Quốc gia Hành chánh và tạp chí Tiểu thuyết Nguyệt san (Chủ nhiệm Lâm Triết & Chủ bút Đỗ Tiến Đức) đồng xuất bản tập hồi ký này.

clip_image008

Trần Huỳnh Châu, Những năm cải tạo ở Bắc Việt
Hội Cựu Sinh viên Quốc gia Hành chánh và tạp chí Tiểu thuyết Nguyệt san đồng ấn hành, 1981, California

Những năm cải tạo ở Bắc Việt khổ nhỏ (11 cm X 18 cm), được in rất giản dị, bỏ dấu bằng tay như nhiều cuốn sách Tiếng Việt khác thời đó như Đại Học Máu. Tuy chỉ dầy 152 trang, nhưng Trần Huỳnh Châu lưu lại đầy đủ những chi tiết căn bản bằng lời văn mộc mạc chân thành về cuộc đời tù ngục tiêu biểu của hàng trăm ngàn quân cán chính VNCH sau 1975.

Nhà văn Mai Thảo viết một trong 2 lời Tựa cho cuốn hồi ký tù ngục này:

– Từ cuối thu ’75 đến đầu xuân ’76, sau khi đã sắp đặt xong guồng máy bạo lực chuyên chính trên toàn lãnh thổ Miền Nam, bầy đao phủ đỏ ở Hà-nội lập tức bắt tay vào thực hiện một loại biện pháp hành hạ và trả thù dân chúng Miền Nam, trong đó lớn lao và thâm độc mọi rợ nhất là cuộc di chuyển hàng trăm ngàn trí thức, chính khách, nghệ sĩ, sĩ quan, công chức quốc gia từ những trại tập trung miền Nam ra những trại tù khổ sai miền Bắc. Tàn nhẫn không thua gì vụ đày ải hàng triệu thường dân Nga vô tội tới địa ngục Siberie thời Staline; thú vật không kém gì vụ lùa đẩy sáu triệu người Do Thái Âu Châu tới những lò nấu sác (sic) của phát xít Đức thời Đệ Nhị Thế Chiến, cuộc chuyển tù vĩ đại từ Nam ra Bắc khởi sự từ mùa đông ’75 đen tối ở Việt Nam cũng vô tiền khoáng hậu trong lịch sử tội ác của loài người. Không được gặp mặt thân nhân trước phút đội gai đi vào con đường khổ hình thăm thẳm của phát vãng biệt xứ vô thời hạn, hai người một còng, từng đoàn, từng đợt tù nhân của chế độ mới, trong mùa nắng đầy đọa, bị đẩy xếp lên những đoàn công-voa, những xe tải bít bùng, những toa tàu đóng kín, đi xuốt (sic) đêm ngày, đi suốt miền Trung, tới những đia ngục trần gian miền Bắc, đói khát, ngã bệnh một số tù nhân bỏ mình ở dọc đường. Một số tới nơi ít ngày rồi chết. Với phần còn lại, là những tháng năm khổ hình dằng dặc bắt đầu. Thiết lập phần lớn ở những vùng rừng núi hoang dậm lam chướng nhất trong đó có cả những trại tù đã rùng rợn nổi tiếng của thực dân và đế quốc để lại, mỗi trại “tập trung cải tạo” của cộng sản ở miền Bắc là một đáy thẳm âm ty tách rời hẳn với thế giới loài người. Ở những cõi âm này không có tự do, không có ánh sáng. Không có hy vọng, không có ngày mai. Ở những công trường của khổ sai lao động này, nhân đạo là một danh từ tối thậm vô nghĩa, nhân phẩm bị nghiền nát, nhân tính là kẻ thù. Và tồn tại và sống sót và trở về được là một phép lạ, một kỳ diệu. Loài người sẽ chẳng bao giờ có nổi một ý niệm về những nơi chốn giam cầm khủng khiếp ở “thiên đường Xã Hội chủ nghĩa Liên Xô”, nếu không có Khu Ung Thư, Quần Đảo Ngục Tù của Soljenetsyne. Cũng vậy, mặc dầu chỉ thu gọn vào hơn 100 trang sách và đó là điểm đáng tiếc nhất của thiên hồi ký này, chúng ta sẽ chẳng bao giờ thấy được sự thật hãi hùng của những trại tập trung của cộng sản ở miền Bắc, nếu không có những thiên hồi ký như Những Năm Cải Tạo ở Bắc Việt này của Trần Huỳnh Châu. Thời đại chúng ta, nếu thiên đường vẫn chỉ là ảo tưởng và thần thánh đã chết, ngược lại địa ngục lại có thật, lại có thật những thể chế chuyên chính xây cất trên những địa ngục của người mà chuyên chính vô sản ở Việt Nam hiện nay và hệ thống lao tù của nó là hiện thân kinh hoàng nhất. Đi theo Trần Huỳnh Châu từng bước một, trên con đường khổ hình của ông, đi theo Trần Huỳnh Châu, từng bước một, từ những trại giam ở Thủ Đức, Long Thành miền Nam tới những trại tù Quảng Ninh, Lý Bá Sơ ở miền Bắc, do đó không chỉ là một chia xẻ đau lòng và phẫn uất với cảnh ngộ tù nhân Trần Huỳnh Châu và hàng trăm ngàn đồng bào ta còn bi đọa đày ở những nơi chốn tác giả thiên hồi ký này vừa may mắn ra thoát, mà còn để thấy được trọn vẹn trong một lần, cái địa ngục mác xít vĩ đại chưa triệt hủy được đi trên trái đất này, trong đó có cái địa ngục chủ nghĩa, địa ngục chuyên chính mà năm mươi triệu đồng bào Nam Bắc chúng ta đã bị đọa đầy từ sáu năm nay. [Mai Thảo, “Tựa”-Trần Huỳnh Châu, Những năm cải tạo ở Bắc Việt, Tiểu thuyết Nguyệt san Số đặc biệt-Số 5, trang 5-6, Tiểu thuyết Nguyệt san và Hội Cựu Sinh viên Quốc gia Hành chánh đồng xuất bản, 1981, Culver City, California * Tác phẩm này có 2 bài Tựa: một của nhà văn Mai Thảo và một của Vũ Khiêm, người bạn thân. Tôi chọn bài Tựa của nhà văn Mai Thảo giản dị chỉ vì ông di cư thoát Cộng Sản từ Miền Bắc vào/ rồi cũng vượt biển sau 1975 như tác giả. ** Những chữ in đậm là của nguyên bản.]

Trần Huỳnh Châu thuật lại nỗi gian nan của người vợ hay/và gia đình tù nhân Miền Nam ra Bắc “thăm nuôi” chồng hay/và thân nhân. Sở dĩ có chữ “thăm” và chữ “nuôi” đúng nghĩa đen vì nạn đói triền miên trong các trại Tù Cải tạo là một sự thật không thể chối cãi. Miền Bắc lúc ấy đã xơ xác mà bỗng dưng phải nhận lãnh hàng trăm ngàn tù nhân. Thế nên, chính tù nhân phải xây trại tù để giam họ, chính tù nhân phải trồng trọt để nuôi mình, nuôi người giam mình; thậm chí số tiền bán được từ hoa mầu do họ tạo ra cũng chạy vào túi không phải của họ:

-… Từ tháng 10-1979, chúng lại giới hạn mỗi lần thăm nuôi chỉ được cho tối đa 30 ký quà. Mà Cộng sản chẳng bao giờ thèm phổ biến trước. Đùng một cái, ra quy đinh rồi áp dụng luôn. Nhiều bà lo mang quà ra nhiều lại phải mang trở về. Mà đường đi ngoài Bắc đâu có phải dễ dàng như trong Nam. Trại giam nào cũng ở gần núi, cách xa quốc lộ số 1 từ 40, 50 cây số trở lên cả. Có đoạn phải đi đò, có đoạn đi xe bò, xe trâu, có đoạn đi bộ, gánh không nổi quà thì phải thuê người ta gánh. Xã hội Miền Bắc cướp giật tùm lum, nhiều bà đi bị mất tiền bạc, mất quà, mất giấy tờ. Anh em chúng tôi sống được là nhờ có gia đình. Mỗi khi được quà thăm nuôi, người nhận quà có thông lệ mời anh em quen biết ăn mừng ngày thăm nuôi. Trong bữa ăn, chúng tôi thường nói với nhau, câu nói tuy là đùa nhưng tâm ý là thật: Vợ ta sinh ra con ta, nuôi nấng con ta, day dỗ con ta, nuôi luôn cả ta nữa. Vậy ta phải biết ơn người…” [Trần Huỳnh Châu, “Chương VIII-Thư Từ, Tiếp Tế, Thăm Nuôi”, Những năm cải tạo ở Bắc Việt, trang 99, sđd, Culver City, California, Hoa Kỳ, 1981]

Tôi thường kinh hồn táng đởm khi đọc những đoạn miêu tả các bà hoặc gia đình lặn lội tiếp tế cho chồng hoặc cho người thân, phải vác đồ đoàng qua truông cùng gành. Thường thì xách 1 thùng sơn 10 gallons cũng không sao, nhưng xách chừng vài thùng đi tới đi lui, đi xuôi đi ngược, trèo lên trèo xuống mấy cái thang là biết Nỗi Lòng Tô Thị ngay. Tâm sự của Trần Huỳnh Châu không phải của riêng ông mà cũng của bao nhiêu cặp vợ chồng, gia đình bị chia lìa:

– … Khi xe đến Đèo Cả, sắp vào hầm, tôi nhìn thấy Hòn Vọng Phu trên núi. Tôi sực nhớ đến bức thư của vợ tôi viết sau khi thăm tôi ở Thanh Hóa về, hồi tháng bảy năm 1979: ‘Em đi trên xe lửa, nhìn thấy Hòn Vọng Phu gục đầu hướng về phương Bắc trông chồng, lòng nao nao muốn khóc. Nhưng em không cúi đầu như người vọng phu hóa đá. Em vẫn ngẩng cao đầu…’ Tôi nghĩ đến những vất vả nhọc nhằn cả vật chất lẫn tinh thần mà vợ tôi phải chịu đựng trong gần 5 năm, suốt thời gian tôi ở tù. Sau công ơn của Đấng Sinh Thành, là công ơn của vợ. Tôi còn sống được mà về như thế nầy là nhờ vợ. Không có thức ăn và thuốc men của vợ gởi ra thì tôi đã bỏ xác ở Quảng Ninh hoặc Thanh Hoá rồi. Vợ tôi vẫn ngẩng cao đầu dù tôi đang ở tù. Ngẩng cao đầu vì chẳng có gì phải xấu hổ dù tuyên truyền Cộng sản có gọi chúng tôi là “ngụy”. Ngẩng cao đầu vì dân chúng vẫn thương mến gia đình những người chế độ cũ. Ngẩng cao đầu để đủ sức chạy ngược chạy xuôi nuôi con, nuôi chồng và giúp đỡ cả bà con họ hàng hai bên. Ngẩng cao đầu để chống đỡ áp lực bắt đi vùng kinh tế mới. Tuy ngẩng cao đầu như vậy, vợ tôi đã phải khóc nhiều lần, đứa em tôi đã cho tôi biết như thế, vì nhiều lúc quá cơ cực đắng cay. Nay tôi trở về, chẳng có cái vinh quang của người chinh phu về, chỉ có sự vui mừng lúc đoàn tụ, nhưng là sự vui mừng rất hạn chế trong khi thân mình, dân tộc mình còn sống dưới ách Cộng sản…” [Trần Huỳnh Châu,”Chương X-Trên đường về Nam”, sđd, trang 142-143- https://vietmessenger.com/books/?title=nhung%20nam%20cai%20tao%20o%20bac%20viet]

Sau đó, Trương Vũ nại sử gia Tạ Chí Đại Trường ra làm chứng cho một phần khác về vấn đề chinh phu và chinh phụ của ông.

3.7 Trong tập hồi ký về tù cải tạo của Tạ Chí Đại Trường, người viết sử này nói nhiều về họ... [Trương Vũ 2025, sđd, trang 52]

Trương Vũ nhắc đến “hồi ký về tù Cải tạo” Một khoảnh Việt Nam Cộng hòa nối dài của sử gia Tạ Chí Đại Trường (cuốn “Sử ký” theo ý tác giả khi hiệu đính, 2012):

-… Trong tập hồi ký về tù cải tạo của Tạ Chí Đại Trường, người viết sử này nói nhiều về họ. Ông cũng ghi lại nhiều chuyện thật mà thường chỉ được nghe những cựu tù nhân kể lại ở ngoài đời. Những chuyện mà khi nghe, người lính Việt Nam không muốn nhớ. Rất ít thấy hay không thấy ghi lại trong những hồi ký khác. Ông kể chuyện những người vợ phải bán thân để nuôi chồng, hay tệ hại hơn, chỉ để chiều chuộng những thói quen hưởng thụ rất vị kỷ của chồng cho dù vào lúc đó các ông ấy đang ở trong tù… [Trương Vũ 2025, sđd, trang 52]

Trước hết, tập sử ký của Tạ Chí Đại Trường ghi nhận cuộc đời tù ngục của người tù trong Trại Cải Tạo Cộng sản, nên tôi có thể suy luận rằng “người lính Việt Nam” này là người lính VNCH (Miền Nam). Bởi thế, đọc những giòng thượng dẫn, tôi rất hiếu kỳ: Chuyện gì ghê gớm, tủi hổ, tàn tệ đến nỗi mà người lính Việt Nam không muốn nhớ” và “Rất ít thấy hay không thấy ghi lại trong những hồi ký khác”? Trương Vũ đơn cử chi tiết này: “những người vợ phải bán thân để nuôi chồng, hay tệ hại hơn, chỉ để chiều chuộng những thói quen hưởng thụ rất vị kỷ của chồng cho dù vào lúc đó các ông ấy đang ở trong tù”. Trái với điều mà Trương Vũ khẳng định một cách rất tự tin: “Những chuyện mà khi nghe, người lính Việt Nam không muốn nhớ. Rất ít thấy hay không thấy ghi lại trong những hồi ký khác…”, tôi đã dẫn chứng—không chỉ từ cuốn sử ký của Tạ Chí Đại Trường—mà còn từ hồi ký của nhiều tù nhân Cộng sản khác–hầu cho thấy các hồi ký ấy đều có nhắc đến nỗi khó nhọc và cực nhục của người tù và gia đình họ. Thế nên, nhiều nỗi thống khổ ấy không nên dùng để đánh giá tập thể người lính một cách phiến diện. Trái lại, chúng nên được sử dụng như những thí dụ điển hình cho sự ác nghiệt và thâm độc nẩy sinh từ Chủ nghĩa Cộng sản và người thừa hành sau 1975. Họ đã dự đoán được phản ứng không chỉ của nạn nhân (người tù) mà còn của gia đình nạn nhân (người vợ, người em gái hay con gái) dẫn đến nhiều bi kịch dây chuyền khác.

Do đó, thứ nhất, danh dự của (nhiều) phụ nữ nạn nhân và trách nhiệm của chính phủ, nếu có, cần được đề cập đến hơn là khuyết điểm của các cá nhân đang bị giam trong tù. Thứ hai, nếu đã nhắc đến nỗi thống khổ bao trùm lên hàng triệu dân Miền Nam ấy thì không thể chỉ chú ý đến một chi tiết mà không tìm đến nguyên nhân và thủ phạm. Khoan nói tới nguyên nhân và thủ phạm, hãy đọc mấy đoạn này để, một lần nữa, tưởng niệm được phần nào nỗi thống khổ và oan khốc mà hy vọng, rồi ra, vẫn còn được nhớ đến:

– … Theo tôi, cuộc sống tù đày, đói khát, nghèo nàn không khác gì toàn dân Việt Nam sau 1975 hiện đang sống duới gông cùm chế độ Cộng Sản hiện tại giữa Bạo Lực và Tham Nhũng. Gia đình, thân nhân những người thuộc thành phần chế độ cũ trở thành miếng mồi ngon sơi cho các cán bộ, bí thư Đảng. Họ đặc biệt theo dõi khai thác rốt ráo không chừa một thứ gì kể cả tán tỉnh, chiêu dụ, ép buộc làm tình, làm tiền… [Chuẩn tướng Lý Tòng Bá, Hồi ký 25 năm khói lửaCảm nghĩ của một Tướng Cầm quân tại mặt trận, trang 216, Tác giả tái bản lần thứ 6, 2005, Las Vegas]

Đoạn trích dẫn sau đây là từ Hồi ký một Linh Mục trong Tù Cộng Sản của Linh mục Phêrô Đinh Ngọc Quế, (tháng 8.1926, Nam Định-tháng 7. 2021, Long Beach, California) thuộc Dòng Chúa Cứu Thế, bị giam 13 năm sau 1975. Linh mục là Tuyên úy trưởng Phòng Tuyên uý Biệt khu Thủ đô Saigon/Hạt trưởng Hạt Quân đội Tổng giáo phận Saigon/ Hiệu trưởng và Giám đốc trường trung học Tinh Thần. Linh mục quyết định định cư tại Hoa Kỳ vào tháng giêng, năm 1993 vì không được tiếp tục phục vụ Chúa và giáo dân như cũ:

-… Tôi biết có những gia đình khổ vì chồng, vì con đi học tập cải tạo. Ở nhà thiếu gì bà mẹ phải làm việc vất vả ngày đêm để nuôi con (một bầy con còn nhỏ) và nuôi chồng bị cải tạo. Một bà vợ mới lấy chồng được vài tháng, xảy ra biến cố 30 tháng 4, chồng phải đi học tập cải tạo tận mãi ngoài Bắc. Chị ở nhà bơ vơ chẳng biết làm gì sinh sống, cô đơn, gặp ngay phải anh cán bộ đã có vợ con ở ngoài Bắc cặp kè cám dỗ. Vì phải nuôi thân và nghĩ đến chồng, chị đành bán mình cho vận mệnh theo anh cán bộ để kiếm tiền mua quà đều hàng tháng gửi cho chồng. Anh chồng chẳng biết gì chỉ biết cảm phục người vợ ngoan và chung thủy. Anh này tôi biết là không hoang phí. Nhưng tôi cũng như anh chỉ biết được câu truyện lúc đã trở về Saigon. Thật quá đau lòng, nhưng biết phải giải quyết vấn đề sao đây??? [Linh mục Đinh Ngọc Quế, Hồi Ký Một Linh Mục Trong Tù Cộng Sản, trang 187. In lần thứ nhất, 1988. Tái bản lần thứ 2, 2002. Hoa Kỳ]

Đoạn được trích dẫn sau đây sẽ không phải là trường hợp xẩy ra cho chỉ một người tù. Tác giả là Mặc Khách, một sĩ quan Lực Lượng Đặc Biệt. Ông kết thúc bài viết về cuộc thành lập Trại Delta và các quân nhân liên hệ:

– … Trại Delta được thành lập giữa năm 1964. Nhiệm vụ của trại là huấn luyện và cung cấp cho Khu Cấm các Toán Biệt Kích để hành quân viễn thám trên bắc vĩ tuyến 17 và đường mòn Hồ chí Minh. Doanh trại nằm trong phi trường Nha Trang. Khu Cấm là một bộ phận của trại và các kế hoạch hành quân của khu Cấm trực thuộc Sở Kỹ Thuật Bộ Tổng Tham Mưu. Khu Cấm đã từng có biệt danh là trại Đằng Vân. Tháng 9-1964 tôi từ bộ chỉ huy LLĐB Vùng 4 được thuyên chuyển về chỉ huy trại LLĐB/Delta (…) Trong Ban Điều Hành, Trần Khắc Nghiêm gây nhiều ấn tượng nhất. Anh ra trường khóa 18 Võ Bị Quốc Gia. Thông minh, lanh trí, năng động, rất tinh nghịch, đặc biệt có nhiều sáng kiến độc đáo. Trong chương trình Lôi Vũ mà anh tham dự ngay từ ngày đầu, anh gợi ý thành lập các Toán Beo Gấm. Liên toán Beo Gấm quy tụ các quân nhân tinh thần kỷ luật không mấy cao, nôm na là các binh sĩ ba gai. Hai chữ Ba Gai viết tắt là B.G. mà B.G. cũng là chữ viết tắt của Beo Gấm. Toán viên nào phạm kỷ luật bị chuyển vào Beo Gấm bỗng cảm thấy hãnh diện được mang danh loài mãnh thú sơn lâm này. Việc này có tác động tâm lý rất thuận lợi. Thực vậy, liên toán Beo Gấm hoàn thành nhiều công tác một cách xuất sắc. Hồi ở Bộ Chỉ Huy LLĐB Vùng 4 tại Cần Thơ, Nghiêm và tôi làm việc chung rất ăn ý nhau. Tướng Lam Sơn đến thăm Vùng 4 là lúc tôi có lệnh thuyên chuyển về Delta. Tôi đề nghị có anh được về cùng. Một tuần sau tướng Lam Sơn chấp thuận. Sau một thời gian làm việc chung tại Delta, chúng tôi chia tay nhau. Anh đi trại Trảng Sụp (Tây Ninh), tôi về BCH LLĐB Vùng 3, rồi đi Hoa Kỳ. Chỉ đến năm 1981 tôi mới có dịp gặp lại anh. Hồi đó tôi đang ở tù Cộng Sản, tôi được chuyển đến chung trại cải tạo với anh ở Hà Tây. Anh vẫn chì như xưa. Những năm trong tù anh vẫn dùng lý lịch giả. Anh vẫn bình thường nghĩ đến vợ con mà theo anh họ đang yên ổn ở Mỹ sau chuyến vượt biên an toàn. Qua thư từ thân nhân, anh vẫn có tin vợ, có hình nữa. Nhưng thư do chính tay vợ anh viết thì không có, và hình thì đã cũ, chụp trước ngày anh vô tù. Người vợ hiền của anh đã qua đời từ lâu mà anh không biết. Chị đã mất trong chuyến vượt biên. Gia đình anh vẫn dấu anh tin đau thương ấy trong nhiều năm. Ra tù một thời gian anh đến Mỹ, sống lặng lẽ, ít tiếp xúc với ai, râu trắng mọc dài ngang ngực-Tháng 7. 1996, Montreal [Mặc Khách, “Delta ngày đầu”, Tuyển tập Đời Chiến binh, trang 60-61]

Đến đây, tôi đã có thể chấm dứt Phần I về Người lính VNCH qua Tạ Chí Đại Trường, Phùng Nguyễn và Trương Vũ để sang Phần II về Trung tá Không Quân/nhà báo/Trưởng Ủy ban Nhà văn-bị Cầm tù, Trần Tam Tiệp và Trung Tâm Văn Bút Việt Nam (VN) Hải Ngoại.

 

 

bài đã đăng của Nguyễn Tà Cúc

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

@2006-2025 damau.org ♦ Tạp Chí Văn Chương Da Màu
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)