Trang chính » Biên Khảo, Nghiên Cứu, Quan Điểm, Tư Liệu, Văn Học Miền Nam Việt Nam 1954-1975 Email bài này

Vài tương đồng chính trong Văn học Việt Nam qua hai cuộc lánh nạn Cộng sản – Nhà văn Miền Nam và Mặc Đỗ trong Văn học Miền Nam Biển ngoài

 

Đừng tin tưởng một điều gì vì phong văn. Đừng tin tưởng điều gì vì vin vào một tập quán lưu truyền. Đừng tin tưởng vào điều gì vì cớ được nhiều người nói đi nhắc lại. Đừng tin tưởng điều gì dù là bút tích của thánh nhân. Đừng tin tưởng điều gì dù thói quen từ lâu khiến ta nhận điều ấy đúng. Đừng tin tưởng điều gì do ta tưởng tượng ra lại nghĩ rằng một vị tối linh đã khai thị cho ta. Đừng tin tưởng bất cứ một điều gì chỉ vin vào có một uy tín của các thày dạy các người. Nhưng chỉ tin tưởng cái gì mà chính các người đã từng trải kinh nghiệm và nhận là đúng, có lợi cho mình và kẻ khác, chỉ có cái đó mới là đích tối hậu thăng hoa cho con người và cuộc đời. Các người hãy lấy đó làm chỉ chuẩn. Anguttara-nikaya

(Đức Nhuận, Phật học tinh hoa: Một tổng hợp đạo lý, Phật học viện quốc tế xuất bản, 9250 Columbus Ave., Sepulveda, CA 91343, Hoa Kỳ)

tacuc

Họa sĩ Thái Tuấn (nhóm Sáng Tạo) và Thư ký Tòa soạn Nguyễn Tà Cúc (tạp chí Khởi Hành)

 

Năm nay, 2014, tròn sáu mươi năm kỷ niệm cuộc di tản lần thứ nhất, 1954 của người Việt vì nạn Cộng sản và gần 40 năm cho cuộc di tản lần thứ hai, 1975.

Nhà thơ Trần Dần, đại diện cho văn nghệ sĩ ở lại, có mấy dòng thơ lẫm liệt:

Tôi yêu đất mẹ đây-có cỏ hoa làm chứng
Tôi yêu chủ nghĩa này, cờ đỏ cãi cho tôi

Nhưng Nhất Linh, Tam Lang, Vũ Hoàng Chương, Mặc Đỗ, Nghiêm Xuân Hồng, Vũ Khắc Khoan, Tạ Tỵ, Đinh Hùng, Nguyễn Sĩ Tế, Ngọc Dũng, Thái Tuấn, Duy Thanh, Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Thanh Nam, Nhật Tiến, Viên Linh, Hà Huyền Chi …ra đi, có người ra đi trước một chút. 1954, họ "vào Nam,” 1975, họ lại ra đi, ra ngoại quốc, ra biển-ngoài, nhưng rơi rớt vài người không đi kịp. Hai lần phải có quyết định lìa cửa lìa nhà, họ làm gì với đời văn của họ? Có hai điểm tương đồng chính giữa hai nền văn học lánh nạn này: Thứ nhất, tiếp tục chống Cộng sản bằng ngay sự có mặt huy hoàng với sức mạnh sáng tác không thể phủ nhận được. Thứ hai, tiếp tục lưu giữ những tác phẩm bị người Cộng sản cấm lưu trữ, cấm đọc và cấm bàn thảo đến.

I-"Ta đã làm chi đời ta"- Văn chương vượt hai lần cửa bể Thần phù với con thuyền nghệ thuật và hai nền văn học tự do

Sài gòn, Miền Nam là một xứ lạ lẫm với rất nhiều người Bắc di cư vào Nam nhưng ít nhất người ta còn nói tiếng Việt, viết tiếng Việt, đọc tiếng Việt. Hoa kỳ không những lạ lẫm mà còn có một bức tường sóng vòi vọi đánh bạt hết các nhà văn di tản vì vấn đề ngôn ngữ. Nhưng họ vẫn sáng tác, vẫn xuất bản sách, có điều không ai còn có thể sống bằng nghề văn được nữa, có lẽ trừ Mai Thảo lập tờ Văn vào tháng 7, 1982 và Viên Linh, khi ông (cùng Nguyễn Tà Cúc) lập tạp chí Khởi Hành vào tháng 11 năm 1996. Hai sự tiếp tục chống cộng sản và lưu giữ tác phẩm ấy phải có một điểm tựa tinh thần vì người Việt, dù chớm thế kỷ XX, vẫn chưa quen lập cư ở một nơi xa hơn một thành phố. Công chúa Huyền Trân lấy chồng được nhớ tới muôn đời bằng câu "Nước non ngàn dặm ra đi". Dù chỉ có lập nghiệp không xa lũy tre làng bao nả, đầu vẫn phải cúi xuống với " Tha phương cầu thực.”

Nhưng Mai Thảo, từ năm 1958, đã linh cảm được điểm tựa ấy: tinh hoa của một dân tộc và văn hóa xây đắp nhiều đời không thể hiện bằng những viên gạch chết của một thành phố dứt hơi thở dưới chủ nghĩa cộng sản mà đã theo đi với người lên đường, tìm sự sống trong đêm tàn quá khứ, tìm chính mình trong bình minh tự do. Trong bài " Quê hương trong trí nhớ," giai phẩm đặc biệt về Hà nội, nhân kỷ niệm "đệ nhị chu niên" tạp chí Sáng Tạo, Mai Thảo đã bầy tỏ hết sức tinh tế điểm tựa ấy:

[…]Cách đây bốn năm, đặt bước chân đầu tiên của người tỵ nạn xuống phi trường Tân Sơn Nhứt, tâm hồn thể xác quắt héo như một thân cây đứt rễ, cõi lòng thì là cái bể đựng đấy nước mắt Hà nội và tôi chỉ muốn về rỏ những xót thương ấy xuống phố phường Hà nội. Mỗi tình cảm là một Hà nội. Mỗi phút giây là mỗi phút giây Hà nội. Mỗi bước đi là đi vào cái Hà nội vô hình nhưng phủ kín và đè nặng xuống. Hà nội ngự trị trong tôi. Hết thảy đều là Hà nội. Hơi thở, không khí, âm thanh và sắc màu, nhịp tim đập vào nhịp máu chảy. Và bởi vì Hà nội ở xa, tâm sự tỵ nạn là tâm sự của một người đã chết[…]Cơn khủng hoảng trầm trọng ấy chấm dứt vào lúc nào?[…]Tới khi tôi bắt đấu thấy mến Sai gòn, tưởng rằng Hà nội sẽ mất hẳn, ai ngờ lớp sương mù tan đi và Hà nội lại đằm thắm hiện ra. Thì ra sống thực với cái gần, cái xa cũng tới. Bấy giờ tôi nhìn thấy Hà nội rõ lắm. Kỷ niệm đi theo sự sống về gần. Sống chân thực mãnh liệt thì dĩ vãng về họp mặt cùng hiện tại như sự thu hút của đá nam châm[…]Cho nên quê hương còn hay mất, ở gần hay xa, có hay không là tùy cái thái độ, cái ý niệm của người. Tôi tha thiết, tôi gắn bó với đời sống thì ở đâu và bao giờ tôi cũng có được cái cảm tưởng ấm áp nằm trong vòng tay dịu hiền của đất mẹ, nghe thấu được lời ru xuất tự gốc nguồn. Trái lại, có nằm ngay trên sào đất hương hỏa, cũng là nằm trên thước đất lạnh mà thôi[…] Kẻ thù không sợ chúng ta ở xa hay về gần. Điều nó sợ là ở xa hay gần mỗi chúng ta vẫn cứ là một khối sống rực rỡ. Cho nên đi hay ở đã không thành vấn đề. Đi không phài là tỵ nạn là mất gốc. Những cái mà tôi, mà anh, những người Hà Nội hiến dâng, góp phần vào cho sự sống ở Sài gòn, ở khắp nơi hôm nay mới chính là Hà nội, cái phần tinh hoa, cái phần quý giá nhất của Hà nội. Chúng ta đi mang theo quê hương, chúng ta đi mang theo Hà Nội là vì thế. Mà cũng chính là trong lối sống mà chúng ta đang chiến đấu, đang bảo vệ cho Hà nội, để vẫn là những người Hà nội. "
Sáng Tạo, tháng 10.1958, trang 19-24-Tài liệu của Viên Linh)

Những lời nói trên hẳn Mai Thảo càng không ngờ là những lời tiên tri: sau 1975, có một thứ giọng Hà nội "chói tai" đến nỗi được dùng để phân biệt "Bắc kỳ 54" hay "Bắc kỳ 75." Nhắm phá hủy cái sức mạnh tiềm ẩn duy nhất còn sót lại có thể chống họ, người cộng sản đã đẩy dân tiểu tư sản trí thức ra khỏi Hà nội. Những dân vùng khác được đưa vào khiến âm điệu Hà nội dần dần bị phá đến nỗi nó biến thành một thứ âm hỗn tạp của nhiều vùng nhập lại. Phải công nhận người cộng sản đã thành công: ngay cả mấy cô "diva" ca sĩ bây giờ tự nhận là "gái Hà nội" cũng nói một thứ giọng Bắc lơ lớ lắm khi làm ngạt thở người nghe vì những âm nặng lên xuống bất ngờ. Cùng với giọng nói là văn hóa (sông Hồng) mà người cộng sản muốn chối bỏ, muốn triệt hạ. Trong khi ấy, giọng Nam, giọng Sài gòn vẫn không chuyển: người cộng sản lần này thất bại dù đã đổi tên Sài gòn thành Hồ Chí Minh vì cái chết rữa ở Hà nội đã không thắng được sức sống ngun ngút ở Sài gòn. Người ta vẫn còn được nghe giọng Hà nội ở Sài gòn. Và người ta vẫn thầm mong các cô ca sĩ ‘diva" hãy vào Sài gòn học giọng Hà nội.

Sau 1975, người ra đi lại mang quê hương theo với những tác phẩm xuất bản và sinh hoạt văn nghệ ngoài nước. Ngày nay, chính người Cộng sản cũng không thể phủ nhận được sự hiện diện của nền văn học này–một nền văn học vẫn được xem là "nối dài" từ Việt Nam Cộng hòa– trong lịch sử Việt Nam. Nay chính người Cộng sản o bế, ve vuốt các nhà văn Miền Nam để được xuất bản tác phẩm của họ, nhất là những tác phẩm đã xuất bản trước 1975, để mong gây được cảm tưởng là từ nay, mới đúng là "thống nhất". Nhưng độc tài không thể thống nhất với tự do. Và Văn học Miền Nam rồi Văn học Biển-ngoài sẽ hiện diện song song nhưng không bao giờ nhập chung với nền văn học của người Cộng sản (người viết không gộp chung những người cầm bút trong nước đã hay đang chống lại họ trong nền văn học cộng sản này).

A-Sinh hoạt văn học nghệ thuật tại Miền Nam

Một điểm nhìn thấy ngay được là Văn học Biển-ngoài đã được dựng hầu như bằng cùng một loạt tác giả và độc giả của Văn học Miền Nam từ 1954 rồi tiếp nối văn học tiền chiến không đứt đoạn. Cả hai nền văn học này đều sinh trưởng rồi lớn mạnh trong tự do cho nên tự bản chất, cả hai đều không-Cộng sản hay chống-Cộng sản. Văn học Miền Nam được tiếp sức một cách hết sức bất ngờ bằng một đội ngũ đông đảo tác gia từ Miền Bắc vào năm 1954. Văn nghệ sĩ vào Nam là đã chọn một thái độ chính trị dù có khi không muốn công nhận. Nhưng tâm hồn nghệ sĩ vượt trên những hình thức chống cộng lộ liễu và phi văn nghệ. Họ biểu dương sức mạnh chống đàn áp bằng sức sáng tác, bằng các sinh hoạt văn học nghệ thuật nhập ngay vào Sài gòn, một miền đất quyến rũ dân tứ xứ.

Tháng 9. 1957, trên tạp chí Sáng Tạo số 12, xuất hiện một "Bản lên tiếng chung của tám tác giả Việt Nam" gồm có Doãn Quốc Sỹ, Duy Thanh, Mai Thảo, Mặc Đỗ, Nguyễn Sĩ Tế, Thanh Tâm Tuyền, Trần Thanh Hiệp và Vũ Khắc Khoan. Nội dung bản lên tiếng chung đó như sau:

-" Chúng tôi, những tác giả Việt Nam ký tên dưới đây, nhận thức:
"- Những ràng buộc tất nhiên giữa cá nhân tác giả và cuộc sống của toàn thể – những ràng buộc đó đòi hỏi ở tác giả ý kiến, thái độ, hành động;
"- Trách nhiệm mặc nhiên của tác giả trước xã hội và lịch sử – trách nhiệm đó phải được công nhiên đảm nhận;
"- Giá trị của sự lên tiếng chung – đã đến lúc tiếng nói của từng tác giả cần phải kết hợp vì đòi hỏi và trách nhiệm trên;
"Bởi vậy, tự ý liên kết để:
"- Thống nhất quan điểm, bày tỏ ý kiến, thái độ về những vấn đề cần đặt ra trong tinh thần tôn trọng tự do, độc lập của mỗi người;
"- Tranh thủ những điều kiện căn bản tự do, độc lập thiết yếu cho sự tồn tại và phát triển của tư tưởng, văn chương, nghệ thuật.
"Không nghĩ rằng công việc của chúng tôi có ảnh hưởng quyết định trong việc giải quyết những vấn đề, nhưng ít nhất cũng có giá trị một cố gắng của những người tha thiết với trách nhiệm, chúng tôi chân thành kêu gọi bạn đồng tình và viết bản văn này xác nhận sự có mặt của chúng tôi." (Tài liệu thuộc NL, thành viên Diễn đàn Sách xưa, đăng ngày 24.2.2010, http://sachxua.net/forum/index.php/topic,4039.msg44083.html#msg44083)

Bản lên tiếng chung đó đủ cho thấy tám tác giả Việt Nam (di cư) có tên đặt những "điều kiện căn bản tự do, độc lập thiết yếu cho sự tồn tại và phát triển của tư tưởng, văn chương, nghệ thuật" quan trọng đến thế nào và sẵn sàng nhận "Trách nhiệm mặc nhiên của tác giả trước xã hội và lịch sử – trách nhiệm đó phải được công nhiên đảm nhận…" Và họ sẽ nhận trách nhiệm ấy qua những hoạt động sáng tác cũng như báo chí của họ.

Một điểm nổi bật trong sinh hoạt văn nghệ Miền Nam là báo chí, nơi hun đúc cả những anh tài cách mạng trong cuộc chiến chống Pháp. Từ Nguyễn An Ninh tới Phan Văn Hùm, báo chí là một phương tiện lợi hại. Bởi thế những người không quen thuộc với sinh hoạt này, khi không đếm xỉa, thậm chí coi nhẹ ảnh hưởng vô biên của báo chí Nam Kỳ rồi báo chí Miền Nam–nhất là các loạt truyện feuilleton của các nhà văn sinh hoạt tại Miền Nam lúc bấy giờ–là một điều hết sức đáng trách (chứ không còn là đáng tiếc). Ngẫm lại, Bình Nguyên Lộc viết feuilleton như Thanh Nam, Viên Linh .… Bằng cớ của một sự hòa nhập đề huề kẻ Nam người Bắc đó nằm trong một bài tường thuật của Ngê Bá Lí (một bút danh khác của Ngiuễn Ngu Í) . Trong một cuộc phỏng vấn các nhà xuất bản như Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Đình Vượng, Mặc Lâm, Hoa tiên, Nam Cường, Trình bày, Lá bối, Phù Sa, Gió Bốn Phương, Văn Uyển, Sáng Tạo, Thời Mới, Hoàng Đông Phương vv… ông có dịp tới thăm nhà xuất bản Miền Nam và đây là một đoạn liên quan đến nhà văn Miền Bắc di cư và loại sách được xuất bản từ feuilleton đó:

-" MIỀN NAM- Mới nhìn dấu hiệu nhà xuất bản này, ai chẳng cho rằng nó chuyên giới thiệu hoặc những cây viết "Nam kỳ Lục tỉnh" hoặc những tác phẩm nói về người, về cảnh, về việc của miền đất phù sa sông Cửu[…]Nhưng sự thật không phải thế. Ta hãy nghe người thay mặt cho nhóm "Miền Nam " ấy giải thích:

" ‘-‘Miền Nam’ đây không chỉ là Nam kỳ Lục tỉnh mà phần đất chạy từ sông Bến Hải đến mũi Cà mau. Con sông lớn ấy là hình ảnh bất cứ con sông nào ở bên này vĩ tuyến 17 […] Vả lại, bạn nào để ý một chút thì thấy ‘Miền Nam’ không có nghĩa hẹp như thế. ‘Miền Nam ‘ xuất bản sách của Mai Thảo, Thanh Nam (Bắc), của Hoàng Trúc Ly, Nguyễn Vỹ (trung) và của Ngọc Linh, Bình-nguyên Lộc, Lê Xuyên, Sĩ Trung, An Khê (Nam). Còn đề tài thì có đủ Bắc Trung Nam.

" ‘-Có phải ‘Miền Nam’ chuyên xuất bản tiểu thuyết tân văn (tức tiểu thuyết đăng báo hàng ngày, tiếng Pháp (feuilleton)?’

" ‘-Phải, số là một nhóm anh em văn nghệ muốn dựng một nhà xuất bản vào khoảng đầu năm 1965, bàn với nhau: đã có nhiều anh em xuất bản tiểu thuyết dịch; mình nên đi con đường khác: sách của các nhà văn trong nước nói về người và việc trên mảnh đất này và bàn thêm với nhau: tiểu thuyết đăng báo hàng ngày chỉ một số in được in thành sách, như thế thiệt thòi cho tác giả mà cũng thiệt thòi cho người đọc…’

" Sau đó tôi được anh cho biết thêm vài chi tiết cùng con số. Quyển đầu của ‘Miền Nam’ là Vợ thầy Hương của Lê Xuyên in giữa 1965; cuốn mới nhất là Mấy mùa thương đau của Thanh Nam; tới cuối 1968 đã in được 55 quyển. Số in trung bình là 3.000 cuốn. An Khê có sách in nhiều nhất 10 quyển và cũng là tác giả ăn khách nhất (kế đó là Ngọc Linh rồi đến Lê Xuyên) Tiểu thuyết chạy nhất là Mối tình đầu của An Khê…" (Ngê Bá Lí, "Tình hình xuất bản sách trước và sau biến cố Tết Mậu Thân 1968- Phỏng vấn Nhà xuất bản Miền Nam", trang 107-108, Bách khoa thời đại số 289-Chủ nhiệm sáng lập & Chủ bút Thời Kỳ I, 1957-1963: Huỳnh Văn Lang; Chủ nhiệm&chủ bút thời kỳ II, 1963-1975: Lê Ngộ Châu)

Chỉ trong ba năm (1965-1968) mà nhà xuất bản Miền Nam in được 55 tác phẩm, có lẽ đa số là loại feuilleton, với số in là khoảng 3.000 mỗi quyển thì đó là một thành công cho cả nhà xuất bản lẫn tác giả trong khi trung bình một tác phẩm được phát hành khoảng từ 1.000 đến 2.000 quyển, trừ sách của Nguyễn Thị Hoàng (5.000 và tái bản nhiều lần) hay Phạm Công Thiện, có khi lên đến 10.000 quyển. Mà đó chỉ nói tới một nhà xuất bản trong khi có không biết bao nhiêu các nhà xuất bản khác.

Rồi còn báo ngày báo tháng; tạp chí văn học, thiếu nhi, phụ nữ; còn sách đủ mọi đề tài.… Nội Sài gòn không thôi đã có Thế Kỷ Hai Mươi, Sáng tạo, Hiện Đại, Nghệ Thuật, Văn hóa Nguyệt san, Văn, Văn nghệ, Khởi Hành, Trình Bày, Bách Khoa, Thời Nay v.v. không kể xiết.

Hầu như mọi nhà văn Bắc di cư đều gia nhập nền báo chí sống động này. Nhóm Sáng Tạo (Mai Thảo, Nguyễn Sĩ Tế, Trần Thanh Hiệp, Ngọc Dũng, Thái Tuấn, Duy Thanh, Doãn Quốc Sỹ, Tô Thùy Yên rồi thêm cộng sự viên như Cung Tiến, Lê Huy Oanh…) lập tạp chí Sáng Tạo, nhóm Quan Điểm lập nhà xuất bản và nhật báo Tự Do, Nguyên Sa lập Hiện Đại, Nguyễn Đình Vượng và Trần Phong Giao lập Tạp chí Văn, Nhật Tiến làm Chủ biên nhà xuất bản Huyền Trân 1959 – 1975 với nhà văn Đỗ Phương Khanh (bà Nhật Tiến) làm quản lý nhà in và nhà xuất bản. Ông cũng là Chủ bút tuần báo Thiếu nhi (1971-1975) do nhà sách Khai Trí xuất bản. Bà giữ phận sự quản lý, Trả lời Thư tín và phụ trách Trang Vườn Hồng. vv..

Nhưng ngoài những sinh hoạt bình thường như góp mặt trên tạp chí, nhật báo…bằng bài vở, một vài nhà văn Miền Nam đã sử dụng ngân khoản do chính phủ Hoa Kỳ hay các cơ quan thiện nguyện ngoại quốc trợ cấp để hỗ trợ cho công cuộc thông tin chống lại người Cộng sản. Tại sao người viết lại đề cập đến một vấn đề xem ra có thể gây thiệt hại và bất lợi cho Văn học Miền Nam?

Từ xưa đến nay, biết rõ công việc khó khăn khi thu thập tài liệu thuộc Văn học Miền Nam, người viết đã tuân theo–không chỉ tiêu chuẩn nghiên cứu là một tiêu chuẩn dễ dàng không ai là không theo được– mà bằng một tiêu chuẩn tinh thần đại diện bằng lời khuyên trong Kinh Phật trên kia: "Đừng tin tưởng vào điều gì vì cớ được nhiều người nói đi nhắc lại. Đừng tin tưởng điều gì dù là bút tích của thánh nhân. Đừng tin tưởng điều gì dù thói quen từ lâu khiến ta nhận điều ấy đúng. Đừng tin tưởng điều gì do ta tưởng tượng ra lại nghĩ rằng một vị tối linh đã khai thị cho ta. Đừng tin tưởng bất cứ một điều gì chỉ vin vào có một uy tín của các thày dạy các người…". Đó là vì, thứ nhất, chúng ta hãy công bằng cho cả hai bên. Hãy trưng bày bằng cớ dẫu có thiệt hại cho chúng ta để "mai sau dù có bao giờ" những Phan Cự Đệ, những Vũ Khiêu và những anh quản giáo văn nghệ tương tự ở Miền Nam hay các anh phê bình nửa mùa tập tễnh bước những bước chân què quặt sau này ở ngoài nước không thể còn phỉ báng Khái Hưng, Tự lực Văn đoàn, Mai Thảo hay các nhà văn Miền Nam khác. Thứ hai, người viết chống lại cái lối ngụy biện "Tốt phô ra xấu xa đậy lại" hòng che đậy lỗi lầm của bất cứ nhà văn Miền Nam nào, nếu có. Trái lại, lỗi lầm của họ càng cần phơi trước ánh sáng để họ phải nhận lỗi cho CHÍNH HỌ khiến ngăn chận được người cộng sản không có cớ nào để vu cáo TOÀN THỂ nhà văn Miền Nam.

Việc một vài nhà văn Miền Nam nhận tài trợ của ngoại quốc là có thật. Nhưng họ nhận trong hoàn cảnh nào và sử dụng ngân khoản đó ra sao mới là vấn đề cần mổ xẻ. Người cộng sản thường vẫn đưa trường hợp Mai Thảo, Tạp chí Sáng Tạo và Graham Tucker [Trưởng phòng In ấn, trực thuộc US (United States) I(nformation) S(ervice)-Cơ quan Thông tin Hoa Kỳ] ra làm một thí dụ để mạt sát không riêng gì Mai Thảo về việc làm "bồi bút" cho Mỹ ngụy vv và vv. Họ càng có cớ để phỉ báng khi chính nhà thơ Nguyên Sa, người cũng nhận tài trợ để dựng tạp chí Hiện Đại, đã viết như sau về kinh nghiệm tương tự:

-" […]Chúng ta đều nhớ kỹ rằng các chánh quyền dĩ vãng đã nhiều lần đến với văn nghệ. Tiền đây, báo đây làm đi. Nhiều người trong chúng ta, có tôi, đã nhận tiền trực tiếp hay gián tiếp, tiền bao thầu hay tiền bài. Rồi để cho cái tình cảm tội lỗi nằm im, chúng tôi làm láo làm lếu cho tiền bạc không sáng sủa kia được tiêu đi mau lệ, ngõ hầu có thể phân vua với anh em: cho thì lấy mà đốt, trả tiền thì viết nhưng ta cứ viết cái lờ mờ chẳng dính dấp gì đến cuộc đời này, cuộc chiến tranh này, chẳng lợi lộc gì cho người chi tiền. Cái lối chơi sỏ của nhà nho các anh còn lạ gì. […] Sự phân hoá trầm trọng hơn: chính quyền và văn nghệ vẫn đứng ở hai phía mặt trời và hơn nữa, người cầm tiền và kẻ không có cơ hội, thằng cầm nhiều và tay cầm ít sỉ vả và lườm nguýt lẫn nhau như quân thù quân hằn. […]Có nói lên được cái yêu và cái ghét đến nơi đến chốn dưới mắt người cầm bút, mới làm cho ta khoẻ địch yếu. Nhưng dưới mắt nhà cầm quyền thì lại không được. Những người đã đến với văn nghệ có thể có thiện chí lắm, khéo léo lắm. Họ đều nói đại loại: chúng tôi không làm áp lực nào cả, chỉ giúp đỡ anh em về tinh thần và vật chất. Tiền đây, báo đây, cầm lấy cho vui vẻ cả. […] Những cuộc thảo luận bắt đầu như thế lễ phép lắm, đẹp lắm, cần lắm nhưng chưa đủ. […] Sự lễ phép làm cho nhà văn nghĩ rằng nó nắm từ từ đây. Thuốc độc bọc đường đây. Và cuộc chơi ú tim cứ thế tiếp diễn: cầm tiền và viết lờ mờ thôi. […] Chúng ta, văn nghệ và chính quyền, hãy sỉ vả nhau, đấm đá nhau.. Đấm đá và sỉ vả như những chiến hữu.  […]Nếu biết rằng thực sự trong cuộc chiến đấu ghê gớm này ngòi bút đã được đặt đúng lỗ châu mai dành riêng cho nó, sẽ chẳng cần đến chuyến máy bay đưa anh em ra mặt trận coi chơi.  Mặt trận chưa bao giờ không nằm trong mạch máu chúng tôi. Chúng tôi cũng biết nghe tiếng súng, biết khóc, biết đau. Nhưng niềm cô đơn vẫn có. Vẫn không biết đứng vào đâu, vì thường xuyên e ngại bị đặt vào chỗ đứng bất tiện, chỗ đứng của phương tiện chứ không phải của ý thức…" (Nguyên Sa, "Tình cảnh nhà văn Việt Nam những năm Năm mươi và Sáu mươi", Một bông hồng cho văn nghệ, trang 34-37, Trình bày xuất bản lần thứ nhất, 1967, Sài gòn-Nhà xuất bản Đời tái bản tại California, không rõ năm)

Lời tự thú của Nguyên Sa quả là đau đớn: "Nhiều người trong chúng ta, có tôi, đã nhận tiền trực tiếp hay gián tiếp, tiền bao thầu hay tiền bài. Rồi để cho cái tình cảm tội lỗi nằm im, chúng tôi làm láo làm lếu cho tiền bạc không sáng sủa kia được tiêu đi mau lệ, ngõ hầu có thể phân vua với anh em: cho thì lấy mà đốt, trả tiền thì viết nhưng ta cứ viết cái lờ mờ chẳng dính dấp gì đến cuộc đời này, cuộc chiến tranh này, chẳng lợi lộc gì cho người chi tiền…"

Nhưng, là một nhà thơ, Nguyên Sa quên rằng nhà thơ (hay nhà văn) không là "nhà nho" và "cái lối chơi xỏ" ấy chỉ thiệt hại riêng tới Nguyên Sa. Vì "nhà nho" đúng nghĩa không hẳn đã lăm lăm cái trò chơi xỏ. Vì Mai Thảo hay nhóm Quan Điểm (cùng Tam Lang) đã không "làm láo làm lếu". Quan trọng hơn nữa, họ –như nhóm Quan Điểm–biết rõ họ đứng đâu trong trận chiến mà Nguyên Sa đã thảm bại: họ không e sợ "bị đặt vào chỗ đứng bất tiện, chỗ đứng của phương tiện chứ không phải của ý thức" vì họ "ý thức" chỗ đứng ấy bằng hành động.

a-Trường hợp Mai Thảo và Tạp chí Sáng Tạo

Mai Thảo không bao giờ dấu diếm nguồn tài trợ cho Sáng Tạo. Khi Thụy Khuê hỏi “Sáng Tạo thành lập bằng tiền của ai?” trước khi ông qua đời, Mai Thảo trả lời rõ ràng, “Bằng cái hợp đồng tôi ký với một thằng Mỹ ở Virginia, không biết bây giờ sống chết thế nào. Đó là cái hợp đồng bán báo, không có điều gì cần dấu giếm hết, đại khái nếu mình in 5000 tờ, thì nó mua đứt cho mình 2000, vừa đủ tiền in, tiền giấy, không có nghĩa gì khác hết, và cũng không có điều kiện gì khác hết.” (Thụy Khuê, "Lần trò chuyện cuối cùng với Mai Thảo,” Hợp Lưu, số 100, tháng 5&6, 2008, trang 87)

"Thằng Mỹ ở Virginia" đó chính là Graham Tucker, người đã viết "Tựa" cho cuốn hồi ký From the City Inside the Red River: A Cultural Memoir of Mid-Century Vietnam của Nguyễn Đình Hòa (trang IX-X, Nhà xuất bản McFarland& Company, Inc., 1999). Họa sĩ Duy Thanh, thuộc nhóm Sáng Tạo, đã viết bài "Vài kỷ niệm với Mai Thảo" sau khi Mai Thảo qua đời, thuật lại tự sự liên quan tới Tucker rất rõ ràng như sau:

-“[…] Thời gian mà tôi hay đi chung với Mai Thảo nhất là khi bắt đầu làm tạp chí Sáng Tạo. Về lịch sử tạp chí này, có nhiều người muốn biết, tiên đây xin kể ra. Khoảng đầu năm 56, tôi và Ngọc Dũng tổ chức chung một cuộc triển lãm tranh sơn dầu ở Phòng Thông tin Đô thành tại đường Tự Do…. Trở lại về vụ khai mạc phòng tranh, thì tôi gặp ông Graham Tucker, bấy giờ là Giám đốc phòng Thông tin Hoa kỳ. Ông này nói tiếng Pháp trôi chẩy, ngỏ ý muốn găp một số văn nghệ sĩ Việt Nam mà tôi quen. Mai Thảo là người độc nhất mà tôi giới thiệu…. Tucker dáng người nho nhã, gặp Mai Thảo, lại đàm thoại bằng tiếng Pháp nên tương đắc ngay…. Sau một thời gian ngắn, Tucker nhân danh phòng Thông tin Hoa kỳ tài trợ cho Mai Thảo một số tiền—400 đô la—hàng tháng để ra một tờ báo văn nghệ độc lập. Sở dĩ tôi biết đích xác số tiền này là vì sau đó, tôi cũng làm khoán cho sở Thông tin Hoa kỳ tọa lạc đường Hàm Nghi—trình bày tờ Đời sống Mỹ–và tôi có được đọc hồ sơ về tờ Sáng Tạo. Tên Sáng Tạo do Mai Thảo đặt ra, và số đầu tiên chàng lấy bài của các anh em lằng lặng hình thành. Số đầu ra mắt khoảng mùa Thu năm 1956. Tôi hoàn toàn không dính líu gì trong số đầu tiên, kể cả chữ Sáng Tạo ngoài bìa cũng do họa sĩ của phòng Thông tin Hoa Kỳ kẻ. Nhưng bắt đầu từ số 2 trở đi thì tôi với Mai Thảo như hình với bóng…” (Duy Thanh, Tạp chí Thơ, "Vài kỷ niệm với Mai Thảo", Số Mùa Xuân 1998 trang 16-1 – Chủ bút Khế Iêm)

Nếu cuốn hồi ký của Nguyễn Đình Hòa không đề cập nhiều về tư liệu lịch sử của Miền Nam (ông sống ở Sài gòn chỉ có 8 năm 1957-1965) thì ít nhất nó cung cấp một tài liệu vô giá: hai trang "Tựa" của Graham Tucker. Hai trang ấy nói lên tấm lòng chân thành của một người Hoa Kỳ với một người bạn cũ và vô tình nói về chính Tucker. Cũng chính vì hai trang bầy ra một phần tiểu sử của con người "bí mật" này, tự nhiên người viết muốn tìm hiểu về Tucker, người xem ra biết rất rõ và quen biết nhiều nhà văn trong giới văn nghệ lúc bấy giờ. Ông là ai? Là một thứ "thực dân mới" hay là một trong những người bạn Hoa Kỳ của Miền Nam, thành thực muốn cung hiến phương tiện để quốc gia non trẻ này thêm vững vàng?

Qua bài tựa, mà nguyên văn hầu hết được đăng lại trong phần chú thích để độc giả tiện kiểm chứng (1), người đọc sẽ có dịp xét đoán thêm những hoạt động của Tucker vào bối cảnh sôi nổi của cuộc Chiến tranh Lạnh trong những thập niên 60 và 70, là giai đoạn mà nhu cầu có mặt của Cơ quan USIA và USIS hết sức quan trọng cho chủ trương đối ngoại của Hoa Kỳ. Trong hạn chế của bài này, người viết không thể đi sâu vào hoạt động và chính sách của USIA, nhưng một cách vắn tắt, USIA đảm nhiệm phần tuyên truyền và thông tin cho chính phủ Hoa Kỳ, nhất là tại ngoại quốc, đặc biệt vào thời và ở những nơi được coi là thí điểm của Chiến tranh Lạnh giữa Hoa Kỳ và Khối Cộng sản (đứng đầu là Nga Xô) như tại Việt Nam. Graham Tucker là người đảm trách phần xuất bản những ấn phẩm và tạp chí tại Miền Nam mà Sáng Tạo chỉ là một trong nhiều ấn phẩm đó. Theo ba nguồn tin khác nhau, đây là số tin tức hiếm hoi về hai vợ chồng Tucker.

Từ Duy Thanh:

-“Tucker dáng người nho nhã…Bà vợ ông cũng là người Paris chính cống…Về sau Mai Thảo còn có nhiều lớp bạn khác, nhất là số bạn đi khiêu vũ hàng đêm, trong đó có vợ chồng Tucker mà chàng rất thân. Cặp vợ chồng này rất thích Sàigon, đến nỗi cứ xin ở lại Việt Nam phục vụ tới ba nhiệm kỳ liền…Mai Thảo có kể cho tôi, từ khi mới qua Mỹ, chàng có tới thăm vợ chồng Tucker một lần ở Virginia nay đã về hưu…” (Duy Thanh, bđd)

Từ Nguyễn Đình Hòa:

-“Chúng tôi được một bữa ăn tối thích thú tại tư gia của gia đình Tucker ở đường Hiền vương (trước gọi là đường Meyer)…và tôi nhớ là cũng đã chuyện vãn với Stephen, con trai của họ, người đã đón chúng tôi ở cổng và trao cho chúng tôi một cái ô đã mở sẵn. Bà Tucker, một người gốc Pháp, sau này dậy tiếng Pháp tại trường “American Community School…” (Nguyễn Đình Hoà, sđd, trang 141-Người viết tạm dịch ra Việt ngữ)

Từ chính Tucker:

-“Vào mùa thu năm 1947, tôi rời Virginia để sang học tại Sorbonne nhờ chương trình ‘G.I.Bill’….Tôi phục vụ tại Toà Đại sứ Hoa Kỳ ở Paris từ năm 1948 đến mùa thu năm 1955, khi tôi được chuyển tới Sàigon để đảm nhận chức vụ của một Trưởng phòng In ấn cho Sở USIS, một chi nhánh quốc ngoại của Cơ quan USIA. Tôi đến Sàigon vào đầu năm 1956. Tôi đã từng sống ở Paris trong tám năm và đã kết hôn được với một người vợ Pháp cho nên tôi có thể nói tiếng Pháp tạm được ….Thời gian ngắn ngủi ở Washington D.C. cho tôi và vợ tôi một cơ hội đến thăm Tiến sĩ Hoà và vợ của ông…. Kinh nghiệm của Tiến sĩ Hoà về Hoa Kỳ và sự hiểu biết của ông về cả hai ngôn ngữ Mỹ-Việt khiến ông trở thành một người lý tưởng để viết cho những ấn phẩm dành cho độc giả người Việt. Tôi rất vui mừng khi ông đồng ý viết bài cho một số ấn phẩm của USIS…” (Tucker, sđd)

Qua lời chứng của Tucker, Duy Thanh và Nguyễn Đình Hòa, người đọc có thể khẳng định rằng thứ nhất, Duy Thanh và Mai Thảo không phải là những người duy nhất mà Tucker tiếp xúc, mời viết hay tài trợ cho những ấn phẩm thuộc USIS. Thứ hai, vì chức vụ và trách nhiệm, cả hai vợ chồng Tucker đã tiếp xúc rồi trở thành bạn thân của một số người Việt này như qua mối giao tình 40 năm với Giáo sư Hoà. Qua mấy tài liệu nêu trên, người viết có thể hình dung sơ sài được phần nào con người và gia đình của hai ông bà Graham Tucker. Ông Tucker đã chọn để phục vụ đất nước ông trong một ngành không phải là không nguy hiểm (có hai nhân viên của USIA đã thiệt mạng tại Việt Nam, một vào năm 1955 và một vào năm 1968). Bà Tucker đã chọn để kết hôn với một người không cùng xứ sở rồi cố gắng theo ông đến mọi nơi nào mà nhiệm sở của ông đòi hỏi ông phải có mặt. Nơi nào có bà, bà đón tiếp và chia sẻ trách nhiệm và nỗ lực của ông.

Nhưng phải đợi đến khi tình cờ được đọc bài Mai Thảo viết về hai vợ chồng Tucker sau khi Mai Thảo thoát sang Hoa Kỳ, người viết mới thấy cái linh tính của mình về Tucker có nhiều phần trăm là đúng: ông bà thực sự yêu Á châu, yêu Miền Nam như một người bạn. Dưới hình thức một truyện ngắn có tựa Cánh tay dịu dàng- một đất nước ở xa, Mai Thảo (Nhị) đã thuật lại chuyến đi thăm hai vợ chồng Tucker tại thành phố Richmond, tiểu bang Virginia với những chi tiết và tên thật không lầm lộn được. Người viết có cảm tưởng đang chứng kiến một cuộc trùng phùng của hai kẻ thất trận, đúng hơn là giữa hai hồn ma thất trận nói về quá khứ, những Arc en Ciel, căn nhà ở Hiền Vương và cậu con trai Steven và lần cuối Tucker trở lại Miền Nam (lần thứ tư), không mang theo vợ con:

-"Bầu trời Miền Đông Hoa Kỳ xám ngắt, lộng gió […]Hai tiếng la lớn, tươi tắn, mừng rỡ, biểu tỏ nỗi mừng vui đặc biệt trẻ thơ của người Mỹ ‘Nhị, Nhị, chúng tôi đang chờ anh'[…] Graham chạy trước, nắm tay José chạy theo[…]Nhị quen biết cặp vợ chồng ngoại quốc lịch sự và khả ái này ở một tiếp tân của Sứ quán Hoa Kỳ[…]Graham, José, từ bên kia biển rộng. Gốc Mỹ Ái Nhĩ Lan, đảng viên đảng Dân chủ nhưng rất ghét đám lãnh tụ tranh cử tổng thống của đảng mình. Graham tới Sài gòn và phục vụ ở sở Thông Tin liên tiếp bốn nhiệm kỳ, mỗi nhiệm kỳ hai năm. Graham sau nhiều năm đại học Sorbonne và bằng José, đã Pháp hóa đền độ gần như không còn là người Mỹ. Nói tiếng Pháp, viết tiếng Pháp giỏi: đó là một người đàn ông Tây phương bị huyễn hoặc bởi những đất trời và cảnh thổ Đông phương, vắn tắt là nếp sống và văn minh Đông phương bằng một huyễn hoặc gần như hoang đường và thần bí[…]Từ ngôi biệt thự có vườn dành cho công chức kỳ cựu của họ ở đường Hiền Vương, nơi họ sung sướng nhìn hai đứa con tóc vàng Marie Francoise và Steven lớn dần[…]José đưa Nhị lại trước cái tủ sách, chỉ cho thấy mấy cuốn sách của chàng nằm giữa những tác phẩm đóng bìa da mạ vàng của Colette, của Maugham và những tập hình hướng dẫn du lịch về thắng cảnh Việt Nam và thành phố Sài gòn[…]:

-Sách anh. Chúng tôi không cho ai với bất cứ giá nào. Nhưng nếu anh cần dùng lại anh cứ lấy đi…."(Mai Thảo, Tạp chí Văn, Số 40, Tháng 10. 1985, trang 79-87)

Có một điều chắc chắn rằng việc tài trợ của chính phủ Hoa Kỳ (qua Graham Tucker) không ảnh hưởng gì được tới chủ trương văn nghệ của Mai Thảo khi làm Sáng Tạo. Đây là lời chứng của Tô Thùy Yên về thời gian đó và về Sáng Tạo:

"- Mặc dù gồm nhiều lứa tuổi chênh lệch nhau, nhiều nghề nghiệp khác biệt nhau, những người trong nhóm Sáng Tạo, người thân ít, người thân nhiều, nhưng đều là thân với nhau cả, không có ai là đầu đàn, ai là cuối đàn. Gọi là nhóm chớ thực tế, tất cả chúng tôi đều hoàn toàn biệt lập nhau, chúng tôi chỉ cùng chia sẻ với nhau một số quan điểm đơn giản về văn nghệ, thế thôi. Bài vở chọn đăng, gần như một mình Mai Thảo làm lấy, không hỏi ý kiến ai. Về thưởng ngoạn nghệ thuật, Mai Thảo tinh tế thính nhậy, hình như ảnh chưa từng nhìn sai, bỏ sót một tài năng mới nào. Hơn nữa, Mai Thảo rất xứng đáng trong vai trò chủ báo, ảnh hân hoan một cách thần khải mỗi khi có dịp phát hiện một bài viết hay, hoặc một tác giả hứa hẹn sẽ viết hay ở những bài viết sắp tới. Sau này, ở đâu, ảnh có làm xã trưởng văn nghệ thì cũng phải thôi. Nói chung, thời gian Sáng Tạo ngắn ngủi là thời gian văn nghệ hào hứng nhất trong đời tôi. Sau này, có thêm tuổi trải qua nhiều cảnh đời, tôi không còn tìm thấy một hào hứng nào tương tự. Một thời thế đã đi qua, một lứa tuổi của mình đã không còn nữa. Còn lại chăng chỉ là tình bạn một đời giữa những người trong nhóm…." (Nguyễn Tà Cúc phỏng vấn Tô Thùy Yên, "Giấc Mơ Không Dứt Đó Của Thần Linh-Nói chuyện với nhà thơ Tô Thùy Yên," Khởi Hành, Số 26, tháng chạp, 1998)

b-Trường hợp Mặc Đỗ và nhật báo Tự Do

Một trường hợp khác là nhật báo Tự Do, do nhà văn Mặc Đỗ và vài người bạn ông lập vào năm 1955. Ông cho biết rành rẽ như sau:

-"[…] Nghị định cho phép Tự Do chính tôi ký (Công Báo Việt Nam Công hòa, Cộng sản còn giữ đủ bộ tại thư viện Sài gòn), tôi tập hợp ban chủ trương, suốt thời kỳ Tự Do hoạt động, mọi sự việc hoàn toàn do chúng tôi. Khởi đầu trào di cư có một số là chuyên viên báo, để bày một nơi làm việc cho những anh em đó, đồng thời dựng lên tiếng nói của người di cư và đề cao lý tưởng tự do dân chủ, tôi bàn với Khoan (hồi đó cùng ở bộ Thông tin) nên cho ra một tờ báo. Tôi đứng ra mời anh Tam Lang vì ảnh to đầu nhất trong đám nhà báo di cư và rất đứng đắn. Có giấy phép rồi phải lo tìm vốn. May sao có tổ chức quốc tế International Rescue Committee (IRC) đại diện tới SG là ông Joseph Buttinger sẵn sàng tài trợ cho tờ báo. Nếu chúng tôi không biết rõ về gốc gác và chủ trương của IRC thì nhất định không tìm và nhận tài trợ và đã không có tờ Tự Do, hoàn toàn không có chuyện chính phủ Diệm can dự. Tuyệt đối chính quyền Việt Nam không bỏ ra một xu nào.

Từ phút đầu tôi nghĩ ra, bàn với Khoan đồng ý cho tới ngày cuối cùng của tờ báo tuyệt đối không một ảnh hưởng nào từ bất kỳ đâu tới đường lối và hoạt động của tờ Tự Do. Chính quyền Việt Nam cử ông Bộ Trưởng phủ Thủ Tướng đứng ra nhận tiền. Ban chủ trương (in rõ mỗi ngày trên măng-xét) chỉ có Tam Lang, Vũ Khắc Khoan, Đinh Hùng, Mặc Thu, Như Phong và tôi; có bốn người quen biết từ lâu, Mặc Thu và Như Phong mới gặp ở Sài gòn di cư. Anh Tam Lang chủ nhiệm lo điều hành, Mặc Thu lo trị sự tiền bạc, Vũ Khắc Khoan là người trực tiếp liên lạc với J. Buttinger của IRC, tôi không dự. Sau một lượt tài trợ ban đầu, Tự Do tự nó đứng vững (lập trường hợp với độc giả di cư, tài tổ chức bán báo lo trị sự) còn có lời là khác. Tuy ở trong ban chủ trương, Vũ Khắc Khoan rất ít đến tòa báo và không hề viết một bài. Tôi lo cho Tự Do chạy đều rồi thì để anh em làm vì Khoan với tôi không chờ đợi dùng tờ báo vào mục đích nào khác hơn là như ngay từ đầu (công việc cho một số ký giả từ Bắc rút vô, đưa tiếng nói di cư, đề cao dân chủ tự do chống Cộng sản), gần như liên tục từ đầu đến đuôi (đôi khi tôi đi vắng xa) mỗi ngày tôi viết một bài ngắn in ở góc trái cuối trang nhất, viết xong ghé tòa báo nộp anh Tam Lang rồi đi lo công viêc; ít khi tôi ngồi lâu ở tòa báo trừ một thời kỳ trưa nào tôi cũng phải đến để gợi ý cho họa sĩ Phạm Tăng vẽ tranh ngạo chính trị mỗi ngày (họa sĩ này ít gần chính trị nhưng vẽ được). Tờ báo thành công rực rỡ đồng thời với chính quyền quốc gia di xuống Hải phòng rồi rút lui hẳn khỏi miền Bắc […]Lâu ngày, tôi không nhớ rõ bao lâu sau, tôi hay tin chính quyền họ Ngô đang muốn nắm giữ tờ báo. Tôi bàn với Khoan nếu muốn gỡ thế kẹt sau đó sẽ khó chi bằng chấm dứt hoạt động để mặc họ sau đó ra báo khác hãy tiếp tục. Quyết định bỏ Tự Do tôi bàn với Khoan, Đinh Hùng rồi hỏi ý anh Tam Lang, anh đồng ý tiến hành[…] Tự Do cũ với tài trợ của IRC để thực hiện ba mục đích trên. Sinh hoạt của tờ báo về mọi phương diện ở trong một tình thần hoàn toàn tự do, không có sự kiểm soát hay ảnh hưởng của tổ chức tài trợ cũng như bất kỳ ai khác ngoài nhóm chủ trương. Bọn cán bộ của Nga sô tại Việt Nam hay mỉa mai chuyện cầm tiền của người ngoài!!! Tôi nghĩ rằng thời đó Mỹ dàn trận ngăn Cộng (tất nhiên mưu lợi cho Mỹ trước hết) ta có cầm tiền của Mỹ để chống Cộng thì có sao, miễn là đừng không chống Cộng lại bỏ túi riêng. Báo Tự Do nhờ có tiền của tổ chức IRC (không phải nước Mỹ) mới có mặt ở Sài gòn chống Cộng và tay sai của Pháp, tôi chẳng thấy xấu ở chỗ nào. Đến khi Tự Do vào tay điều khiển của Trần Kim Tuyến thì khác, nó im tiếng sau khi nhà Ngô hết…"(Nguyễn Tà Cúc phỏng vấn nhà văn Mặc Đỗ)

Đúng như Mặc Đỗ nói, tổ chức IRC (International Rescue Committee) không phải là một cơ quan của chính phủ Hoa Kỳ, mà là một tổ chức thiện nguyện, được nhiều giới–kể cả các cơ quan thuộc nhiều quốc gia bản đia– hỗ trợ cả về công lẫn của. IRC đã có lịch sử cứu giúp từ giới văn nghệ sĩ như Marc Chagall cho tới dân chạy loạn, mục đích chính của tổ chức này. Theo giáo sư Aaron Levenstein, từng giữ chức Giám đốc của Văn phòng IRC tại Ấn độ khi cuộc khủng hoảng Bangladesh bùng nổ, thì mới đầu, IRC chỉ là một chi nhánh của tổ chức thiện nguyện quốc tế giúp dân tỵ nạn có tên International Relief Association. Ngày 24, tháng 7, 1933, nhà bác học Albert Einstein dẫn đầu một nhóm thiện nguyện lập chi nhánh tại New York để cứu dân Đức trong thời Hitler. Sau đó, năm 1942, chi nhánh này chính thức trở thành tổ chức IRC (Aaron Leventein, Escape to Freedom:The Story of the International Rescue Committee, trang 6-11, Nhà xuất bản Freedom House, 1983, Hoa Kỳ).

Đó là lý do tại sao Mặc Đỗ đã lên tiếng khi được hỏi vì rất cần phân biệt IRC và "chính phủ Mỹ" trong trường hợp này: Phải là một tờ báo do người Việt tỵ nạn cộng sản thực hiện thì IRC mới giúp đỡ vì hợp với chủ trương của họ. Hơn thế nữa, Joseph Buttinger, vị giám đốc lâm thời của IRC mà Mặc Đỗ nêu tên trong bài phỏng vấn, lại là một học giả về Việt Nam và chiến tranh Việt Nam. Là tác giả bộ-2 -cuốn Vietnam: A Dragon Embattled (1967) là một bộ sách rất dồi dào về tài liệu và tư liệu, Buttinger không xa là gì với sinh hoạt trí thức văn nghệ của người tỵ nạn.

Năm 1975, khi người cộng sản chiếm nốt Miền Nam, một phần văn học Miền Nam sẽ di tản theo những tác giả của nó. Kẻ trước rồi người sau sẽ lại cùng nhau họp mặt trong một nền văn học khác, Văn học Biển- ngoài.

B- Sinh hoạt văn học nghệ thuật tại Biển-ngoài

Cả hai nền văn học này chỉ có thể tồn tại ngoài Cộng sản. Thế nên, một nền văn học Miền Nam mới đã xuất hiện ngoài Việt Nam. Ở nơi ngoài Việt Nam này, cắt đứt hẳn với quê hương và thị trường chữ nghĩa, việc tiếp tục sáng tác lại càng quan trọng vì nó bầy tỏ càng rõ ràng hơn sự chống Cộng và tâm nguyện dấn thân trong thời thế. Thủy mộ quan, một trong những tập thơ quan trọng nhất của đời thơ Viên Linh–một nhà thơ và nhà báo kỳ cựu, từng giữ vai Thư ký Tòa soạn của những tạp chí văn học tại Sài gòn như Nghệ Thuật, Khởi Hành hay Chủ nhiệm & Chủ bút Thời Tập –được xuất bản tại Virginia lần thứ nhất vào năm 1982. Chủ đề tập thơ này là về cuộc vượt biển sau 1975:

[…]

Hồn ơi Dương thế xa dần
Hồn đi thôi nhé thủy âm là nhà
Hồn về trong cõi hà sa
Sống không trọn kiếp chết là hồi sinh
Xong rồi một cõi u minh
Ngựa Hồ chim Việt biến hình mà đi

Hồn vẫn ở la đà Nam Hải
Hồn còn trôi mê mải ngoài khơi
Hồn còn tầm tã mưa rơi
Tháng Tư máu chảy một trời xương tan

("Gọi hồn", sđd, trang 70-71)

Tô Thùy Yên, sau khi ra khỏi tù, sang Hoa Kỳ định cư, đã xuất bản tuyển tập Thơ đầu do ông chọn tại Houston. Hà Huyền Chi tiếp tục cho xuất bản nhiều tập thơ khác sau khi cho tái bản tập Không gian vương dấu giầy… Nguyễn Sỹ Tế có lời ca trong tù Khúc hát Gia Trung (1994) v.v…  Đó chỉ là vài tác phẩm trong không biết bao nhiêu đã được xuất bản ngoài nước.

Vế tạp chí, trước sau có mấy tạp chí văn học. Ngắn ngủi thì như Thời Tập (hai lần), Văn học Nghệ thuật (hai lần) rồi dài thời gian như Thế kỷ 21, Văn, Văn học (ba tạp chí này đã đóng cửa). Nay chỉ còn lại Khởi Hành (1996-) là còn phát hành dưới dạng báo in và Hợp Lưu (nay chuyển thành hầu như báo mạng). Trong các tap chí kể trên, chỉ có hai tạp chí là Văn (với Mai Thảo ở thời kỳ đầu và Nguyễn Xuân Hoàng) và Khởi Hành (với Chủ nhiệm & chủ bút Viên Linh và Thư ký Tòa soạn Nguyễn Tà Cúc) là giữ được người chủ trương ban đầu. Cả Văn Học, Thế kỷ 21Hợp Lưu đều qua nhiều đợt chủ nhiệm, chủ bút hay Thư ký Tòa soạn. Khởi Hành là tạp chí duy nhất có người phê bình riêng (Nguyễn Tà Cúc) và sống hoàn toàn nhờ bán báo và quảng cáo từ thân hữu.

Sự xuất hiện và tồn tại của các tạp chí này đương nhiên là một sự bất ngờ cho chính phủ Cộng sản tại Việt Nam. Cho tới nay, tại Việt Nam, chưa có nhà xuất bản tư nhân nào được phép hoạt động. Chưa có một tạp chí nào hoàn toàn được nhà văn dựng, chủ trương, và bán cho độc giả khác hẳn với tình trạng phồn thịnh của thị trường sách báo hoàn toàn do tư nhân làm chủ trước 1975 tại Miền Nam. Thị trường sách Việt tại Hoa Kỳ (nơi đông cư dân Việt nhất ngoài Việt Nam) đáng lạc quan hơn là lo lắng. Tác giả có cơ hội tự in sách, độc giả có cơ hội lựa chọn. Trái với sự tiên đoán bi quan của vài người trong giới cầm bút, theo người viết, số độc giả sẽ tăng mà không giảm vì người di dân Việt sang định cư càng lúc càng nhiều. Điều gay go là họ đọc gì và loai sách đó sẽ hợp với loại tác giả nào nhưng ít nhất, số độc giả sẽ không hao hụt một cách tuyệt vọng như những suy đoán ban đầu.

Cũng như tại Miền Nam, những tác giả như Mai Thảo, Mặc Đỗ v.v. tiếp tục sự chống người Cộng sản của họ một cách rất rõ ràng từ những năm đầu 80. Tạp chí Văn (thời Mai Thảo), trong khoảng năm năm đầu đã liên tục nhắc nhở về anh em còn bị giam trong tù và về số thương vong chỉ có tăng mà không giảm qua số phận của Vũ Hoàng Chương, Hồ Hữu Tường vv…Ngay trong số ra mắt tháng 7. 1982, Mai Thảo cho đăng bản dịch "Bây giờ và tại đây" (Alexandre Soljenitsyne-Mặc Đỗ chuyển ngữ). Nghĩa là từ Sáng Tạo, Miền Nam 1958 tới Văn, Biển-ngoài 1980, vẫn có sự đồng nhất trong sinh hoạt văn học nghệ thuật: chống người cộng sản:

-"[…]Cứ mỗi khoảnh khắc chúng ta đang sống, đâu đó trên mặt trái đất, một, hai, có khi ba quốc gia bị độc tài đảng trị ngoạm mất. Nhưng chẳng hiểu chi hết sự thảm khốc của những vụ đó, chắng kiếm cách ngăn chận, người ta lại hoan hỉ gởi tới những quốc gia đó từng đoàn chuyên viên thâu hình quay những cảnh máu, mồ hôi và nước mắt đổ, rồi cống hiến cho chúng ta thưởng thức nơi phòng khách ấm cúng. Những nhà sản xuất truyền hình – chẳng hạn những ông Hòa Lan trong vụ Salvador – gởi chuyên viên đi không phải để làm sáng tỏ sự thật toàn vẹn nhất, cũng chẳng phải để vạch rõ mối đe dọa trầm trọng đối với nền văn minh của chính họ, mà chỉ để, giống như hồi nào mấy hệ thống truyền hình Mỹ đã làm tại Việt-Nam, biểu thị, vừa đơn phương vừa thiên vị, rằng chẳng nên hỗ trợ chính phủ đầy tội lỗi đang lung lay. Sao họ chẳng cho người đến quay phim tại mấy phi trường Nicaragua, những trại huấn luyện lính, những cảnh chính thể Sandinista hà hiếp dân da đỏ. Chẳng qua là phe kia đâu có cho phép họ làm vậy. Và họ liền chấp nhận rồi quay ra đi quan sát chỉ riêng một phe vui lòng cho họ đến. Ở đó, chỉ một chút lem nhem, một chút bậy bạ, đã đủ khiến họ làm rùm beng lên.

Thật đáng tội nghiệp những chính quyền được chỉ định làm mồi cho cộng sản, bốn chục chính quyền đó hiện đã bị chôn vùi vô phương hồi phục: đã bị ung thối do bàn tay độc tài đảng trị lại bị khủng bố đe dọa, […] Người ta còn một lối dìm chết khác nữa là bày ra những vụ đàm phán đang được bọn chủ hòa Mễ và Pháp hăng hái thôi thúc, bọn họ đã quên lú hết những bài học góp nhặt được trong sáu mươi lăm năm vừa qua: đàm phán nhất thời do cộng sản thúc đẩy cốt che đậy, dưới những lời hứa xuông, mục tiêu xâm lấn tàn hại của chúng. Bởi vì, không một nơi nào trên mặt đất này cộng sản đã bị ngăn chận bởi những vụ đàm phán; bao giờ chúng cũng có cách thủ lợi hết (ta chỉ cần nhớ lại cuộc đàm phán bất hủ giữa Kissinger và Bắc-Việt). Tại sao lương tri dân chủ có thể dám đề nghị với một chính thể hợp pháp một cuộc hòa đàm với bọn nổi dậy?

[…]Thế là một lần nữa những hàng ngũ chủ hòa Mỹ bèn đứng dậy và kết tập, chẳng hề cảm thấy đẻ trên lưng gánh nặng của vụ ngu xuẩn để mất Đông-Dương: đấy nhé chớ có can thiệp vào, chớ có để cho dù một cố vấn Mỹ được mang súng ở trong rừng. Can thiệp bây giờ là sớm quá. …"(Alexandre Soljenitsyne, "Bây giờ và tại đây" -Mặc Đỗ chuyển ngữ, Tạp chí Văn-Chủ nhiệm & Chủ bút Mai Thảo, tháng 7.1982, trang 23-24)

Gần 14 năm sau, Khởi Hành, một tạp chí khác, cũng sẽ có chủ trương chống người cộng sản rất rõ rệt bằng các loạt phê bình nghiên cứu về Văn học Miền Nam và đăng lại sáng tác của tác giả Miền Nam cũng như các tác giả Miền Bắc đã bị trù dập. Quan điểm của Khởi Hành là không đăng sáng tác của những tác giả theo cộng sản hay thân tả, trừ vài trường hợp. Ngoài những sinh hoạt chống Cộng sản như trên, dĩ nhiên sáng tác được coi là cốt yếu. Mặc Đỗ đã có "Trưa trên đảo san hô," một trong những truyện ngắn đầu tiên sáng tác ngoài nước, phổ biến trên Văn, số 2, tháng 8.1982. Ông tiếp tục góp bài cho Mai Thảo nhiều vào vài năm đầu tiên rồi thưa dần sau này.

Người viết nhắc tới tạp chí Văn nhiều hơn Văn Học, Thế Kỷ 21Hợp Lưu giản dị chỉ vì trọng tâm của đoạn này: Mai Thảo là cầu nối từ Việt Nam ra Biển-ngoài của các nhà văn Miền Bắc di cư cùng thời với ông. Thí dụ điển hình là bài thơ "Chú lái sách" của Thanh Tâm Tuyền, một bài thơ rất lạ, đề cập thẳng đến việc sách báo Miền Nam bị tiêu hủy và tình cảnh thê thiết bán sách kiếm ăn. Đọc hết, chúng ta sẽ phải có câu hỏi "Ai là người bán sách đây?" Câu trả lời chắc không khó lắm: Có thể chính HẮN, chính tác giả chứ còn ai!

Chiếc túi bị quẩy đèo bên vai
Liếc dọc ngang, vệ đường bụi nắng
Trải tấm ni lông, bày chợ trời
Sách báo cũ, đồi trụy phản động
Dưới gốc cây lá mốc loay hoay
Vấn thuốc rê, mồi, trông khói bay
Cửa thành đô ngược xuôi tất bật
Đứng vỉa hè kiếm miếng qua ngày

[…]

Đứng dậy, chân lê lết cà thọt
Dáng lênh khênh, hình thù cốt đột
Áo quần xốc xếch buông lòng thòng
Như bú dù gánh hát Sơn Đông.

Bước nấp sau tường gạch lở sụp
Rác, tiểu, phân, chuột chết thối hoăng.
Cầm quyển sách quạt ruồi, che ngáp,
Chào khách qua, nham nhở nhe răng…

(Thanh Tâm Tuyền, “Chú lái sách,” Văn số 125, tháng 11. 1992, trang 27-Tài liệu của chủ nhiệm & chủ bút tạp chí Văn-Thời kỳ II Nguyễn Xuân Hoàng).

Không những đó là hình ảnh của một anh tác giả đi bán sách cấm mà còn là hình ảnh của một anh tác giả vừa được phóng thích sau nhiều năm bị nhà nước "cải tạo" theo kiểu "Từ trong hang đá đi ra/ Vươn vai một cái rồi ta đi vào" (thơ Bến Tre). Thú thật, mỗi lần đọc lại bài thơ "Chú lái sách," người viết phải cảm ơn nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng, chủ nhiệm & chủ bút Tạp chí Văn- Thời kỳ II đã tặng cho người viết một kho báo Văn, trúng ngay vào nhiều kho tàng dân gian…bác học!

Bởi thế, (đây là bắt đầu nghiêm chỉnh rồi, không còn đùa nữa), không còn nói chuyện văn chương dân gian kiểu Bút Tre "Hôm qua anh đến chơi nhà/Thấy mẹ chăn vịt thấy cha chăn ngồng/Thấy em hát nhạc Trịnh Công/Sơn xanh sơn đỏ anh không dám vào" (nhất là hát bằng cái giọng Hà nội lơ lớ đã bị cải tạo từ những năm 54) hay văn chương bác học cái kiểu Xuân Sách tả Xuân Thiều (Chánh văn phòng Hội Nhà văn) "Đôi vai thì gánh lập trường/Đôi tay sờ soạng Ven đường của thôn/Nghe anh kể Chuyện Đầu nguồn/Về nhà thấy mất cái hồn của em". Đây chỉ đưa ra MỘT thí dụ cho thấy chân dung của tác gia Thanh Tâm Tuyền – hẳn sẽ thiếu sót lắm nếu người phê bình không biết tới bài này mà chỉ biết đến Thanh Tâm Tuyền hiện sinh, “Tôi gào tên tôi cho nguôi giận/ Thanh Tâm Tuyền…” chứ không biết tới Thanh Tâm Tuyền “Như bú dù gánh hát Sơn Đông” mà hình dạng trở lại thời tiền sử. Mà những sáng tác sau 1975 của Thanh Tâm Tuyền dĩ nhiên không đăng trong nước. Ông gửi ra cho Mai Thảo và cho anh em ngoài nước. Khiến dẫn đến sự thực hiển nhiên là, như đã viết ngay từ đầu, di sản văn học và văn hóa Miền Nam và Việt Nam được bảo tồn và phát huy rất nhiều ở Miền Nam rồi sau này ở ngay ngoài nước.

II- Duy trì các nền văn học bị người cộng sản xóa bỏ

Một điều nổi bật nữa, ngoài sáng tác khỏe và đa dạng–đó là cách chống hữu hiệu nhất khi so với tình trạng bị đàn áp ngoài Bắc hay gắt gao trên cả nước như bây giờ–là việc chính phủ và các nhà xuất bản tư nhân Miền Nam đã cho in ấn và phổ biến cả trong học đường những tác phẩm đang bị cấm ngặt ngoài Bắc của những tác gia đang có "vấn đề" thí dụ như Phan Khôi, Vũ Trọng Phụng hay Quang Dũng. Nghĩa là một niềm yêu nghệ thuật mãnh liệt đến không cần phân biệt tiểu sử hay nơi chốn xuất phát. Trừ Tố Hữu, những nhà thơ như Xuân Diệu, Huy Cận và Lưu Trọng Lư đều có những chỗ bệ vệ trong tiệm sách, trong giảng đường. Trước khi đến lượt Miền Nam chịu chung số phận "phần thư" vào năm 1975, nó đã "cứu" được bao nhiêu tác phẩm khỏi mấy ngọn lửa khác đang chực chờ bên kia vĩ tuyến. Và sau 1975, loạt sách đó lại được tái bản ào ạt bên này là chứng cớ của lòng yêu văn chương đó, dù đáng tiếc thay, tác giả của chúng đã bị bóc lột bởi những con buôn biết lợi dụng lòng yêu mến văn chương vô điều kiện.

Dù có bị phần thư nhưng lượng sách phát hành quá khổng lồ cộng thêm lòng can đảm của người Miền Nam, một số sách được cất giấu và nay từ từ được đưa ra. Những nhà phê bình hay có lòng thiết tha với văn chương từ Miền Bắc cũng góp công không nhỏ vào việc duy trì nó bằng những công trình nghiên cứu đặc sắc. Người viết muốn đưa ra một thí dụ là bài "Theo dòng Dionysos: Thanh Tâm Tuyền và những dấn thân tiểu thuyết" (http://nhilinhblog.blogspot.com/2013/03/van-hoc-mien-nam-van-xuoi-thanh-tam-tuyen.html) của Đoàn Ánh Dương. Đằng sau tiểu luận công phu này là một núi tài liệu với sự góp sức của một số nhân sự quan tâm đến Văn học Miền Nam. Rất nhiều người, kể cả người viết, đã qua ngả này mà tìm được nhiều tài liệu quý. Nhiều diễn đàn trên mạng lập ra chỉ với mục đích lưu giữ tác phẩm nghệ thuật dù thuộc bất cứ bên nào.Và sự hào hiệp tình nguyện bỏ công sức ra làm công việc đó, công việc "lưu hương" của những trang sách "gửi hương cho gió" quả là ngoạn mục, quả đáng được ca ngợi vì không có tài liệu lấy gì mà…nghiên cứu phê bình, nhất là quảng cáo rầm rộ làm tuyển tập văn thơ Miền Nam trước 1975, nhất là lại đang ở ngoài nước?! (2)

1-Tạp chí Khởi Hành, Bộ Mới (Tháng 11.1996)

May mắn thay, người ngoài nước cũng có thể góp vào công việc này rất đắc lực bằng cách ghi lại như một nhân chứng. Trong các tạp chí ngoài nước, Khởi Hành- Bộ Mới có một vị trí đặc biệt chẳng qua là cũng vì cái chỗ "nhân chứng" ấy. Nhà thơ Viên Linh, người sáng lập mà cũng là Chủ nhiệm kiêm chủ bút, xứng đáng là một nhân chứng của Văn học Miền Nam. Đây là một phần tiểu sử khi ông trả lời nhà thơ Phan Nhiên Hạo vào tháng 8.2009:

"-Tờ báo tôi làm thư ký tòa soạn đầu tiên là tờ Màn Ảnh, và ngay sau đó vài tháng chuyển qua làm tờ Kịch Ảnh (1961-1967). Bốn năm sau tôi làm thư ký tòa soạn Tuần báo Nghệ Thuật (1966-1968, chủ nhiệm chủ bút Mai Thảo, trong khi vẫn giữ việc làm bên Kịch Ảnh; mấy năm sau nữa thì được mời làm thư ký tòa soạn tuần báo Khởi Hành (1969-1973, cơ quan ngôn luận của Hội Văn Nghệ Sĩ Quân Đội). Có một thời gian ngắn tôi được mời làm chủ bút tuần báo Diễn Đàn của Liên Minh Á Châu Chống Cộng, trong khi vẫn làm bên Khởi Hành. Nói chung không bao giờ tôi chỉ làm một tờ báo, trừ khi tôi ra báo riêng của mình, là tờ bán nguyệt san Thời Tập (1973-1975) lúc tôi đã trên ba mươi tuổi, và có nhà in riêng ở đường Nguyễn Trãi…" Phan Nhiên Hạo, http://litviet.org/2009/08/22/vien-linh-bao-van-nghe)

Cho tới nay, Khởi Hành là một kho tài liệu về tác phẩm và tác giả Miền Nam với nhiều chủ đề đặc biệt về từng tác giả do nhiều nhân chứng cộng tác như Mặc Đỗ, Trần Ngọc Ninh v.v… (Người viết mạn phép chỉ ghi ra hai tác giả tiêu biểu chứ không thể nào liệt kê hết các tác giả cộng tác ở đây).

Khởi Hành cũng là tạp chí duy nhất đưa vấn đề Nguồn gốc của tạp chí Bách Khoa ra thảo luận với các bài trả lời hay phản ứng của các nhân chứng như Huỳnh Văn Lang, Lê Ngộ Châu, Nguyễn Văn Trung và Võ Phiến…Sau đó là nhiều loạt khác như loạt nhận xét về 7 tập phê bình Văn học Miền Nam (của nhà văn Võ Phiến); loạt Phan Khôi dịch Kinh thánh như thế nào & Một vụ án văn học thế kỷ XX trong Văn học Miền Nam với phản ứng của ông Phan Nam Sinh (con trai Phan Khôi) từ Biên Hòa, Việt Nam; loạt về Nguồn gốc tạp chí Sáng Tạo với hồi đáp của họa sĩ Duy Thanh v.v…. Những loạt này do người viết đảm trách.

Công việc của Khởi Hành làm, thật ra, đã có nhiều người khác làm nhưng chỉ đơn giản hơn là ở chỗ họ cho in lại mà không có dẫn giải hay phê bình. Nhưng công việc thu thập của họ thập phần quan trọng vì– như ở Miền Nam trước đây đã từng xuất bản sáng tác của Phan Khôi, Xuân Diệu, Huy Cận, Lưu Trọng Lư, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Bính, Thế Lữ, Hoài Thanh Hoài Chân, Vũ Ngọc Phan vv–một cuộc lưu trữ nữa lại càng cần thiết sau khi một số sách báo được cứu lần đầu tại Miền Nam đã tiêu ra tro trong ba lần phần thư sau 1975. Lần này, trong đám lửa cộng sản, còn có thêm sáng tác của đa số nhà văn Miền Nam.

Trong số sách đó, người viết đặc biệt chú ý tới loại hồi ký, nhất là hồi ký sau 1975, vì khó ai trung thành hơn một nhà văn có lương tâm khi ghi chú về thời đại của mình. Một trong những cuốn tiêu biểu làm tròn được bổn phận đó là cuốn Nhà Giáo Một Thời Nhếch Nhác của nhà văn Nhật Tiến. Cuốn này giải nghĩa được tại sao tình trạng giáo dục lại xuống thấp đến như thế từ một nhân chứng vừa là nhà giáo vừa là nhà văn vừa là một nhà báo trong lãng vực báo thiếu nhi:

-"[…] Ở Tổ Chuyên môn của tôi, một năm mới được bán rẻ cho 1 cái lốp xe đạp. Toàn tổ phải bốc thăm coi ai “trúng số”. Chúng tôi cũng chẳng vì thế mà kêu ca. Vì dân chúng Hà Nội xem ra còn khổ hơn nhiều. Thằng Tửu đã có lần nói:

"- Ngoài đó thiếu gì cảnh “ Đi xe độn báo, mặc áo chuyên gia” !

"Và nó giảng giải: lốp xe vá mãi thì banh nát ra, phải lấy báo độn vòng quanh rồi cột dây lại. Còn áo “chuyên gia” hiểu là “chuyên da”, tức là áo rách bươm, hở cả da thịt ra ngoài. […] Trong việc học tập toàn Thành, các giáo viên cũng được chia thành nhiều Tổ. Mỗi Tổ khoảng 20 người, gồm giáo viên cùng trường chen lẫn với các giáo viên trường khác. Việc ăn nói, phát biểu trong sinh hoạt Tổ vì thế cũng phải dè dặt hơn. Ai mà biết được lúc nào thì bị báo cáo về tác phong học tập hay lập trường chính trị chao đảo của mình. Thôi thì cứ chiếu theo tài liệu, sách vở mà phát ngôn. Ai không nhớ câu nào, ý nào thì cứ vừa nêu ý kiến vừa giở giấy ra đọc. Thế cũng còn được đánh giá là có tinh thần tích cực, còn hơn nhiều vị chẳng hiểu mô tê gì hay chẳng muốn hiểu thì cứ làm bộ ngồi lì. Mà càng ngồi, không nghe, không chi chép thì lại càng dễ buồn ngủ. Mà đã buồn ngủ lại phải nghe mấy ông thuyết trình viên lải nhải thì giấc ngủ ùa đến còn dễ dàng hơn. Cho nên ở quanh chỗ tôi ngồi, thỉnh thoảng tôi lại bắt gặp một thầy hay một cô ngủ gục. Cũng được đi, nhưng đừng có ngáy. Ngủ mà ngáy thì không ai bao che được, cho nên đôi khi phải huých cùi chỏ vào mạng sườn đương sự để đánh thức. Lại cũng có khi có vị ngủ say thế nào mà  đổ nhào sang cả người ngồi bên cạnh, khi choàng tỉnh dậy mới hay biết. May mà hội trường quá đông đúc, chất chứa tới bốn, năm trăm người, trên bục giảng thì giảng viên cứ thao thao bất tuyệt, nên dưới “xóm nhà lá” nếu có xẩy ra chuyện gì thì cũng chẳng ai quan tâm (Nhật Tiến, Nhà Giáo Một Thời Nhếch Nhác, trang 107-112, Nhà xuất bản Huyền Trân, 2012, Hoa Kỳ)

-"Nói chung là Nhà Nước C.S nào cũng có cái tâm lý thích nhồi nhét mà lại còn tin chắc rằng cứ nhồi nhét mãi thì bất cứ cái đầu u mê trống rỗng nào cũng sẽ bị tẩy rửa để nhìn ra được"chân lý,” giống như ông Tố Hữu đã làm câu thơ “mặt trời chân lý chói qua tim. […]” Chỉ trong những giây phút chịu đựng cảnh “người nói, người nghe, chúng ta cùng nhau đóng trò dối trá” ấy, tôi mới thấy thấm thía nhớ đến bầu không khí sinh hoạt trong các nhà trường ở miền Nam trước đây. Nhà trường hồi đó êm ả dưới bóng những lùm cây, bầu không khí trang nghiêm trong giờ học đôi lúc chỉ nghe thấy tiếng sang sảng giảng bài. Trong giờ chơi hay giờ tan trường, học trò vui vẻ túa ra đường phố với những vẻ mặt hồn nhiên, vui vẻ như những bầy chim non ùa ra khỏi tổ. Và dù là trường Công hay trường Tư, sinh hoạt giảng dạy trong nhà trường không bao giờ có chuyện bị chính quyền thô bạo xen vào, bắt thầy cô phải dạy điều này điều kia ra ngoài phần chuyên môn đã được ấn định từ cả vài chục năm trước. Đấy mới chỉ một chuyện nhỏ nhoi về bầu không khí nhà trường. Nhưng trong suốt cả những ngày dài đằng đẵng bây giờ, dù ai có tất bật cách mấy thì cũng không tránh được niềm hoài vọng những gì đã có từ ngày xưa, những thứ chẳng phải là vật chất xa hoa, giầu có hưởng thụ gì mà chỉ là những cái rất tầm thường, ai cũng có thể có. Đó chính là một tâm trạng bình an, một niềm vui thanh thản khi sáng ra, biết một ngày nữa bắt đầu trong đó mọi sự lại cũng sẽ chỉ diễn tiến bình thường theo dự tính. Còn bây giờ, sự bình an không bao giờ còn ngự trị trong lòng của bất cứ ai, vì mọi bất trắc lúc nào cũng cứ sẵn sàng ụp xuống. Mọi người đều đã cảm nhận rõ như vậy. Họ tự biết Sài Gòn đâu phải là thành phố được giải phóng. Nó đang bị chiếm đóng, và nhân dân trong thành phố ấy đã và đang còn bị giầy xéo, hành hạ vì cái gốc "Ngụy" của mình. Ghê gớm thay cái trò sử dụng từ ngữ của đám cầm bút chỉ biết phục vụ cho cường quyền, dù biết nó đang là một thứ ác quyền. Bọn cầm quyền không thể đẻ ra được chữ “Ngụy.” Nó phải là sản phẩm của một chuyên viên cầm bút. Rõ ra là chỉ có một con chữ ấy thôi, nhưng cũng đã nung sôi lên được biết bao nhiêu bầu nhiệt huyết của nhiều người nhẹ dạ để bây giờ, nhiều kẻ trong đám người nhiệt huyết ấy, với súng ống rầm rộ vào thành, sẵn sàng xả hết mọi nỗi căm thù vốn đã được nuôi dưỡng từ bao nhiêu năm lên mọi ngóc ngách sinh hoạt của dân thành phố. Và sau này, người ta chỉ bừng tỉnh khi nhận ra rằng, chính mình đã bị nhồi nhét căm thù để hành xử như những con rối sẵn sàng thiêu thân. Thủ phạm làm cái việc nhồi nhét ấy, chính là những kẻ cầm bút tình nguyện làm tay sai cho bạo lực!" (Nhật Tiến, sđd, trang 221-223)

Cuốn này rồi ra sẽ thành một thứ sử cho nền giáo dục Việt nam trong cơn phong ba khởi đầu một mùa lụt cuốn phăng rất nhiều "tiên học lễ, hậu học văn" và "Muốn con hay chữ thì yêu lấy thày" của người Việt.

Một loại hồi ký nữa mà người viết cũng cần đọc là loại đã được xuất bản trong nước nhưng nội dung có thay đổi khi được xuất bản ngoài nước. Ngay sau 1975 thì chỉ có ngoài nước mới có người in lại hồi ký như bộ 2 cuốn Tuấn -Chàng trai nước Việt của Nguyễn Vỹ v.v…. Tới mãi sau này, khi nhà nước nới ra từ từ, thì mới lác đác thấy hồi ký của các nhà văn. Nhưng phải đến năm 1993 mới thấy xuất hiện cuốn hồi ký của một gương mặt quan trọng trong giới cầm bút Miền Nam: Hồi ký Nguyễn Hiến Lê. Đó là cuốn hồi ký mà người viết muốn dùng làm thí dụ cho phần B, đề cập tới một phần lịch sử Việt Nam qua một phần văn sử Miền Nam của thời khuyết sử này.

2- Hồi ký Nguyễn Hiến Lê và chủ nghĩa cộng sảnChiều nay nhấp chén lên môi/ Không dưng tưởng nhấp máu người tanh tanh/ nhớ nhau ném chén tan tành/ Nghe vang vỡ cái bất bình thành thơ! (Trần Huyền Trân, 1941)

Hồi ký Nguyễn Hiến Lê được Nhà xuất bản văn học cho phát hành vào năm 1993. Hai trang rưỡi "Lời nhà xuất bản" (trang 5-7) có một đoạn kết rất khả nghi, như sau:

-"Vì tác giả đã mất, Nhà xuất bản không nỡ cắt bỏ nhiều quá. Trong quá trình biên tập chúng tôi chỉ lược bớt phần rườm rà và cắt những chỗ không thể nào để lại được. Chúng tôi mong bạn đọc thông cảm…" (trang 7, sđd)

Dĩ nhiên độc giả phải … thông cảm với ông Hoàng Lại Giang (người biên tập) vì đâu có biết các ông cắt đi những chỗ nào để mà không thông cảm. Nhưng người viết rất không-thông cảm với cái câu "Vì tác giả đã mất, Nhà xuất bản không nỡ cắt bỏ nhiều quá …." Ủa, té ra , tác giả mà còn sống chắc còn bị …cắt nhiều hơn chăng?! Đương nhiên, khi được đọc cái kiều "không nỡ" đó, người đọc sẽ chạy ngay đi kiếm xem các đoạn không cắt ra sao.

Dĩ nhiên không ai có thể biết "những chỗ không thể nào để lại được" đó là những chỗ nào. Nhưng trước đó tới gần 5 năm, Nhà Xuất bản Văn Nghệ (Võ Thắng Tiết, Hoa Kỳ) đã cho in ba tập Hồi ký của Nguyễn Hiến Lê với lời của nhà xuất bản như sau, những lời mà chắc "ai kia" sẽ phải cầm kéo ra cắt không thương tiếc:

-"Ông Nguyễn đã có lần rưng rưng nước mắt […],Và ông viết hồi ký ghi lại những điều ông đã thấy về cộng sản[…] Sau ngày cộng sản đến, ông vẩn tiếp tục trước tác, nhưng tuyệt nhiên không cho in một trang sách nào dưới chế độ mới. Mọi bản thảo, mọi di cảo của ông, một khi viết xong, liền được chuyển ra hải ngoại…" (sd9d , trang xii-xiii).

Trong tập III, Nguyễn Hiến Lê viết về bọn "vừa ăn cắp văn, vừa ăn chặn tiền[…]Chưa bao giờ Miền Nam có bọn cầm bút bẩn thỉu như vậy…" (trang 105, sđd), về mấy lần đốt sách đến nỗi "cán bộ Sài gon đã đốt nhiều sách về văn thơ cổ của ta, cả nhiều bộ tự điển nữa…" (trang 167, sđd) và dĩ nhiên, về những lần đổi tiền làm điêu đứng dân chúng. Nghĩa là, nói theo dân Sài gòn, các nhà học giả, như Nguyễn Hiến Lê, chưa bao giờ phải sống chung với cộng sản một ngày, nay đều sáng mắt ra "như Văn Vĩ.”

Thế cho nên, để kết luận phần này, người viết có thể nói rằng tác giả và độc giả của hai nền văn học tự do sau 1954, một ở Miền Nam và một ở Biển-ngoài, đã làm được điều tưởng ra không thể làm được trong khi có khi vừa phải cầm súng tay trái và cầm bút bằng tay phải. Đó là trong cơn máu lửa tuốt xương da của những kẻ chậm chân ẩn náu, trong mưa đạn trùm kín quan hà, trong căn biệt giam của một thời mạt kiếp, cả tác giả và độc giả đã phải vịn vào nhau mà lần những bước âm hồn trong cơn tang tóc của sách vở thiêu ngùn ngụt. Nhưng chính nhờ những bước âm hồn đó mà còn thơ mà còn văn phục sinh từ nơi địa phủ của những chủ nghĩa rồi ra sẽ chết yểu trong mùa dài lịch sử./.

 

CHÚ THÍCH

*Đây là một loạt bài vẫn còn được tiếp tục biên tập và sửa chữa cho hoàn chỉnh. Người viết xin cáo lỗi nếu có những đoạn rườm rà, thiếu sót, trùng lập hay chưa đủ rõ ràng. Người viết hoan nghênh sự góp ý của độc giả và đồng nghiệp để loạt bài này được ưng ý hơn.

1) Đoạn sau đây được trích trong “Lời Tựa” (Foreword) của Graham Tucker cho cuốn hồi ký của Giáo sư Nguyễn Đình Hoà (trang ix-x). Nhiều câu trong đoạn này được sử dụng để dẫn chứng trong bài. “It is my good fortune to have known Dr. Hòa for 40 years…In the fall of 1947 I have left Virginia to study at the Sorbornne under the G.I. Bill. When Dr. Hòa passed through Paris in 1948, I was starting to work there in the press section of the U.S. Embassy[…] I worked in the Paris Embassy from 1948 to the fall of 1955, when I was transferred to Saigon to serve as publications officer for the U.S. Information Service, one of the overseas branches of the USIA. I arrived in Saigon early in 1956. I had lived in Paris for eight years and had acquired a French wife, so I could speak French fairly well, and so it did not take me long to feel at home in colorful Saigon. In any event, I did not need to speak French with Dr. Hòa, who spoke perfect English when I met him for the first time in 1957, when he was 33 and I was 37…Most of the Vietnamese people I had met in Saigon were in one way or another, active in fields related to publishing: editors, writers, photographers, artists, and technicians. There was a need for someone who could serve as a bridge between our publications and the Vietnamese people whose activities were of public interest and about whom stories could be written. Dr. Hoa’s experiences in the United States and his knowledge of the English and Vietnamese languages made him an ideal person to work on American publications intended for Vietnamese audiences. I was delighted when he agreed to contribute a number of articles to USIS publications. Dr. Hòa and I were close friends in Saigon from 1957 to 1961, when I was transferred to Washington D.C..My short stay in Washington, D.C. gave my wife and me an opportunity to visit Dr. Hoa and his wife…. I admire Dr. Hoa’s life story as being, first, a basic source of information about Vietnamese culture and intellectual history. Of particular interest to me is the information he provides regarding the literary, artistic, moral and humanistic education given a Vietnamese through seven decades. It has been noted that young Asians perform well in America schools. This book may offer some understanding of why this is the case. (…) Our educators would do well to read what this indefatigable, perennial student says about his and his family’s attitude toward education. (Graham Tucker, United States Foreign Services officer, retired.”

2) Một số hình ảnh về các tác phẩm của nhà văn/dịch giả Mặc Đỗ như Bốn mươi, Siu cô nương, và một số tài liệu khác về các bài viết cũ của ông trên các tạp chí Văn, Sáng Tạo v.v… trong chuyên đề này là thuộc quyền sở hữu của nhiều thành viên đã đăng trên Diễn đàn Sách xưa (http://sachxua.net/forum/ ). Nhân cuộc triển lãm "Hành trình sách xưa" do Trung tâm Văn hóa và Ngôn ngữ Đông Tây phối hợp với Diễn đàn Sachxua.net tổ chức, dịch giả Đoàn Tử Huyến cho biết về các thành viên ấy như sau: “[…] Các bạn ở diễn đàn sachxua.net không chỉ là những người yêu sách, ham mê sách, hiểu rõ những giá trị của sách, mà họ còn mong muốn đem những tác phẩm quý trong tay mình giới thiệu tới những người yêu quý sách khác." ("T.L. , "Đưa “Hành trình sách xưa” đến với bạn đọc nay", ngày 20.4.2014). Người viết xin được chân thành tri ân các thành viên trong cộng đồng này mà nỗi liên đới trong tình văn nghệ và lòng yêu mến văn chương đã được thể hiện qua việc cho phép chúng tôi tái sử dụng nhiều tài liệu của họ từ tài liệu liên quan đến Phong Hóa cho tới các tài liệu này.

bài đã đăng của Nguyễn Tà Cúc


Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)