Anh chàng Tử thần mân mê lưỡi hái nằm gọn trong lòng bàn tay. Từ lúc lão Tử thần bị đọa lên cung trăng chặt cây quế mà chặt mãi không xong–chặt tới đâu, cây quế liền lại tới đó–vì lấy mạng oan một người, anh chàng được Ngọc Hoàng lôi từ tử địa, ấn lưỡi hái vào tay, bắt thay thế. Được dịp rong chơi, anh chàng nhận ngay, chỉ xin Ngọc Hoàng biến lưỡi hái thành nhỏ hẳn, vừa vặn giấu trong túi áo. Anh chàng vừa uống cà phê từng ngụm, vừa nhìn cô gái dò xét:
– Cô em ơi, còn lâu mới đến lượt cô. Mùa hái này chưa mà mươi năm nữa cũng chưa.
Cô gái thất vọng. Đã bao lần cô dự định cho cái chết tuyệt hảo, nghĩa là tức khắc. Lái xe qua một khúc quành, ngắm vòng cong trước mặt, ước lượng khoảng cách với xa lộ chẩy bên dưới, cô tự nhủ: thịt xương sẽ tan tành trong nháy mắt. Nếu một phép lạ khiến khung xe bảo vệ được, những chiếc xe vận tải ầm ầm cũng sẽ nghiến nát bét cả cô lẫn xe. Cái chết ám ảnh không rời bất cứ lúc nào. Cầm dao thái củ hành tây, cô liên tưởng đến lưỡi dao sướt qua mạch máu, sâu vừa đủ để máu tuôn chảy hết khỏi thân xác, cái thân xác làm cô xấu hổ thậm chí nhục nhã.
Linh hồn cô sẽ được rửa sạch bằng máu.
Tại sao cô chần chờ? Cô không muốn các con phải chứng kiến một hình ảnh không phải người mẹ vẫn nhìn thấy, vẫn trò chuyện từ mấy chục năm nay. Một người mẹ yểu điệu, rất ít nói. Không, cô không thể để cái chết nói thay những điều cô không thổ lộ được khi còn sống. Sống đẹp, cô muốn một cái chết đẹp. Nhưng làm sao?
– Anh thấy không? Nhìn bề ngoài, ai nào biết tôi chỉ là một tử thi đang đi cạnh họ. Khi soi gương, tôi chỉ thấy một đầu lâu biết khóc biết cười trên một bộ xương biết đi biết chạy. Tôi muốn chết vì không lừa được chính tôi nên muốn chấm dứt nỗi đau phải che đậy bằng sự giả dối.
Anh chàng suy nghĩ lung. Anh muốn giải thoát cho cô, nhưng trái ý Ngọc Hoàng, anh sẽ chịu chung số phận với lão Tử thần, bị xiềng vào một việc vô vọng nào đó. Có thể anh sẽ bị gửi lên một triền đồi hiu quạnh, hì hục lăn một hòn đá tới đỉnh như được giao hẹn, chỉ để thấy sáng sớm hôm sau, nó lại nằm lù lù trêu ngươi bên cạnh. Nhưng, lẽ nào cô gái coi bộ hiền lành này cứ phải đau khổ mãi? Mối sầu não đến đỗi muốn chết của cô ta khác gì chặt cây quế mà nó cứ liền lại hay lăn một hòn đá lên đỉnh đồi nhưng nó cứ tự động lăn xuống? Lòng hào hiệp của anh chàng trỗi dậy. Anh suy nghĩ hồi lâu:
– Thiên cơ bất khả lậu, nhưng tôi nói cho cô em biết một bí mật nhé. Khi nào cô em soi gương mà thấy hết đầu lâu bộ xương, thấy được đỏ da thắm thịt như người bình thường, thì lúc đó sẽ hết dằn vặt, hết đau đớn, hết còn muốn chết nữa. Tôi có muốn rước cô đi cũng không được nếu chưa tới số.
– Trời ơi, làm sao tôi biết cách biến thành người bình thường?
– Tôi thật tình không biết, cô ơi. Cứ cố gắng. Tôi có một lời khuyên: Không việc gì ghê gớm đến nỗi đâu. Đồ tể buông dao cũng thành Phật. Tôi từng là một thằng du thủ du thực. Hãy tự tha thứ. Hãy tử tế với chính mình trước đã. Mặc kệ bá tánh. Chắc gì họ hơn cô mà xét đoán được? Này, hay cô bị ai hãm hại mà uất ức nằng nặc đòi chết? Có phải lỗi của cô đâu mà tự oán hận rồi muốn chết?
Anh chàng Tử thần đứng dậy, nắm tay cô từ giã, bàn tay anh ta lạnh giá. Lạ lùng thay, ngay lúc đó cô lại cảm thấy một làn hơi nóng ấm áp lan tỏa khắp châu thân. Buổi tối, khi nhìn vào gương, soi qua soi lại, cô thấy một lớp da đã trùm kín phần lưng.
***
Vài tháng sau, cô con gái ghé thăm. Nửa đêm, nghe cô ú ớ vùng vẫy, cô con gái chạy sang lay dậy:
– Má ơi, sao vậy? Lần này, má phải nói cho con biết. Má giấu các con điều gì mà lúc nào cũng buồn khi ai cũng vui, mà la hét dẫy đạp khi ngủ mớ?
Cô bật khóc. Cô nói cho con cô biết điều giữ kín. Con gái cô cũng khóc:
– Vậy mà má không nói. Má khổ biết bao nhiêu. Có phải lỗi của má đâu?
Sáng hôm đó, cô soi gương rửa mặt. Cô nhìn thấy mái tóc óng ả, hai con mắt long lanh nhìn lại. Không còn hai hốc xương sâu thẳm tuôn đầy lệ thảm! Đôi môi hồng của người sống từ nay không ngậm lại muôn đời. Cô mừng rỡ, ước chi biết được bí mật đã khiến cô tìm lại làn da và gương mặt như ngày xưa.
***
Cô có nhóm bạn đàn bà vẫn gặp nhau nói đủ chuyện trên trời dưới đất. Ngồi quanh chiếc bàn ăn, một bà nói:
– Có nhớ con nhỏ Thúy Hường không, vẫn chữa áo cưới may thuê cho chúng mình? Nay li dị, mới vỡ lẽ bị chồng đánh bao nhiêu năm đến nỗi có lần sẩy thai.
Bà khác cười khanh khách:
– Thế mà vẫn có những người bênh ông ta, mắng cô ấy là lăng loàn, bỏ theo trai. Khốn nạn thật cái thói tưởng mình lành lặn hơn người khác. Họ bảo cô ấy bịa chứ thiếu gì cách thoát, bên này có pháp luật, có sở xã hội giúp. Ai giúp? Đi đâu với mấy đứa con nheo nhóc lại không đồng xu dính túi? Bây giờ cũng chẳng ai giúp đâu. Cô ấy phải lãnh hàng của tôi, của chị, làm thêm cuối tuần. Tôi mới chở bao gạo và vài chai nước mắm đến nhà. Dúi vào tay thêm vài trăm bạc. Phải quát lên, cô ấy mới không giằng co. Thế mà con mụ Diệu Hát, chủ shop bên cạnh, le te sang bảo tôi đừng cho cô ấy làm nữa. Tôi bảo, Còn bén mảng đến, bà cho một cú song phi ra cửa…
Cô tư lự:
– Em tin ngay vì chính em cũng bị đánh đập chửi rủa hai chục năm mới thoát. Bậu ra cho khỏi tay qua. Cái xương bậu nát cái da bậu mềm.
Các bà ồ lên:
– Tội nghiệp em tôi. Có phải lỗi của em đâu? Thế sao em lại giấu? Từ nay, em phải biết là các chị luôn luôn thương em, luôn luôn tin em. Đúng không? Đàn bà chúng mình phải biết thương nhau trước.
Thay vì đưa cô về nhà, bà bạn chủ shop may lái xe ra bãi biển. A! Cô cũng từng muốn trầm mình, mất tích trong một thế giới không đoái hoài đến. Gió lồng lộng và cát mênh mang làm lòng cô đằm lại.
– Chị biết em còn giấu một chuyện ghê gớm hơn nhiều khi bảo chị nhiều lần muốn tự tử chừng 10 tuổi. Em đừng nghĩ như thế nữa. Có phải lỗi của em đâu?
Lần này cô cũng khóc. Cô có cảm tưởng cô là đại dương chứa ngập nước mắt mặn chát. Sự độc ác của những kẻ hại cô rồi của những kẻ dùng sự đau đớn của cô phụng sự cho cái mà họ dán nhãn nghệ thuật. Thứ lề thói lỗi thời lại càng dung túng cho sự ngược đãi đàn bà. Cô rùng mình nhớ lại những lời diễu cợt, nguyền rủa, những cái nhìn ghẻ lạnh dửng dưng. Bấy lâu nay, cô có cảm tưởng bị nhốt vào một chiếc lồng sắt khổng lồ kín mít, trừ một chiếc cửa tý hon chỉ đủ thấy một chút ánh sáng bên ngoài. Bóng tối, nhất là đêm tối hãi hùng trùm kín. Cô mỏi mòn trong cái chết chậm chạp của sợ hãi, của căm phẫn tủi hờn mà vẫn không dám kêu cứu. Hốt nhiên hôm nay, cuối cùng cô nhận ra nhiều lớp sóng của những người thương cô đã đẩy vào bờ đoạn mang nỗi thống hận của cô ra biển, tẩy xóa dần dần trong sóng nước ngời ngời ánh sáng ban ngày hay đẫm sao trăng ban đêm. Lòng trắc ẩn của họ đã làm tan chẩy chiếc lồng sắt, giải thoát cô. Từ nay, cô có tự do như họ, tung bay như những con chim khác.
Tối hôm đó, khi soi gương, nửa phần thân trên của cô đã có máu thịt bao kín. Cô cũng không hiểu tại sao. Cô chỉ cầu nguyện và hy vọng. Rồi ngày trôi đi và đêm cũng trôi đi. Những đêm mang sự khủng khiếp tái hiện trong mơ, nhưng chúng xuất hiện lần lần ít hơn.
***
Ngày sinh nhật cô, người đàn ông đến với món quà là bó hoa.
Ông ta vẫn giúp cô sửa nhà sửa xe, cho cô tiền vào Giáng sinh ngày Tết, thậm chí mang thức ăn nuôi cô suốt 6 tháng trời ròng rã khi đau ốm nằm liệt, đến nỗi phải ngưng chuyến bay về Việt Nam đặng an tâm chăm sóc cô. Cô chọn một quán vắng. Cô tự nhủ, Lần này, mình sẽ nói thiệt cho ảnh biết để coi ảnh còn thương hay khinh rẻ mình như người ta, rồi tính. Người đàn ông yên lặng lắng nghe tới hết. Lần này cô không hề khóc. Cô đã cảm thấy mạnh mẽ hơn. Ông ta không có vẻ bị kinh ngạc. Hay quá kinh ngạc đến độ không phản ứng được? Cô chờ đợi với vẻ chai lỳ mà thời gian qua đã học được từ những kinh nghiệm chua chát khi lỡ dại trao phó tâm sự lầm người.
Ông ôm vai cô:
– Em à, tại sao không nói cho anh biết từ trước để anh bù đắp cho em nhiều hơn? Để em đỡ khổ hơn? Có phải lỗi của em đâu? Đâu phải chỉ một mình em bị như vậy. Ai mà không biết nhiều người đàn bà cũng bị như vậy. Em sống được bao lâu nữa mà khổ đau làm chi. Quên hết đi em à. Ngày nào em sống, em còn các con, các bạn, còn anh…Không đủ chứng tỏ cho em biết sao?
***
Tối hôm đó, khi cô soi gương, nửa phần dưới đã cũng đầy đặn máu thịt. Trong gương, cô nhìn thấy một người toàn vẹn, không còn hình dáng một bộ xương chỉ chăm chắm tìm cái chết. Cô thầm cảm ơn lời khuyên của anh chàng Tử thần. Những gì cô đã trải qua, chắc Địa ngục cũng không thể khủng khiếp hơn, nhưng sự cứu rỗi tới từ chung quanh, cô đọng trong chính mình đã mang cô ra khỏi Âm Phủ ngay trên cõi đời này. Điệp khúc Có phải lỗi của em đâu không những tượng trưng cho lòng thương từ bao người thân mà còn đẩy cô đến chỗ nhận được Có phải lỗi của mình đâu. Đó chính là hai câu thần chú giúp cô tái sinh với hình hài toàn vẹn và tâm linh trên đường bình phục. –
Nguyễn Tà Cúc
Tương truyền, theo sách Đậu dương tạp trở (Đoạn Thành Thức, đời Đường), một nhân vật tên Ngô Cương, vốn đã là tiên nhưng phạm lỗi, bị Ngọc Hoàng đọa lên cung trăng, bắt chặt ngã cây quế. Ngô Cương chặt đến đâu, cây quế liền lại ngay đến đó. Tương tự như Sysiphus, trong thần thoại Hy Lạp, bị chúa tể Zeus trừng phạt bằng cách bắt lăn hòn đá lên đỉnh một ngọn đồi trong địa ngục. Sysiphus không bao giờ thoát được hình phạt đó vì hòn đá lại tự động lăn xuống chân đồi.
Cliché, “Có phải lỗi của em đâu?”
Truyện có các nhân vật, characters: nhân vật chính “cô” ngôi thứ ba, tử thần, người đàn ông, và mấy người bạn. Nhân vật nào cũng có hình trạng và tiếng nói.
– Thiên cơ bất khả lậu, nhưng tôi nói cho cô em biết một bí mật nhé. Khi nào cô em soi gương mà thấy hết đầu lâu bộ xương, thấy được đỏ da thắm thịt như người bình thường, thì lúc đó sẽ hết dằn vặt, hết đau đớn, hết còn muốn chết nữa. Tôi có muốn rước cô đi cũng không được nếu chưa tới số. (Tử thần)
– Trời ơi, làm sao tôi biết cách biến thành người bình thường? (Cô)
– Chị biết em còn giấu một chuyện ghê gớm hơn nhiều khi bảo chị nhiều lần muốn tự tử chừng 10 tuổi. Có phải lỗi của em đâu? (Bà bạn chủ shop)
– Em à, tại sao không nói cho anh biết từ trước để anh bù đắp cho em nhiều hơn? Để em đỡ khổ hơn? Có phải lỗi của em đâu? (Người đàn ông)
Một truyện ngắn hay. Truyện ngắn, bởi vì nó là văn xuôi tự sự và ngắn hơn tiểu thuyết. Hay, bởi vì nó có tính cách characters và giọng điệu riêng. Có đề tài và chủ đề. Đề tài, theme; và chủ đề, subject, tuy giống nhau nhưng khác nhau. Đề tài là chủ đề lớn, quán xuyến toàn truyện. Còn chủ đề nhỏ hơn ở từng phần. Truyện này có thể xem đề tài là tình yêu, sự cô đơn, lòng tốt của con người. Chủ đề có thể là nữ quyền hay sự kỳ thị về phái tính gender hay sexuality.
Ngoài ra, quý vị có thể thấy giọng văn miền Nam khá rõ. Nhà văn NTC là người miền Bắc. Đó là điều thú vị. Mặc Đỗ người Bắc và Thanh Tâm Tuyền người Trung từng viết trong một vài truyện ngắn với giọng văn y như người Nam. Trong khi đó, Bình Nguyên Lộc người miền Nam viết văn thường chen vào từ ngữ hay cách nói lối Bắc.
– Đâu có được mày. Mắt tao nhìn không rõ. Xe ben chạy cà rề cà rề tao còn ngó thấy. Chớ bọn xe đò, xe nhà chạy giờ này nó chạy trối chết làm sao tao trông kịp.(Thanh Tâm Tuyền, Dọc Đường)
“Xét hồ sơ này nhiều phần chắc là ông biện lý sẽ truyền xếp, điều tra bổ túc sẽ đụng phải những vách núi thế lực. Nếu ông biện lý là một người làm văn học nghệ thuật, với hồ sơ này ông ấy có thể soạn được một vở kịch, dựng lên một tuồng hát, hay quay thành một cuốn phim, cùng lắm cũng viết được một truyện ngắn, truyện của xã hội bây giờ.” (Mặc Đỗ- Tình Thương Trong Ngoặc Kép)
“Những ngỡ không bao giờ còn viết thơ cho anh nữa! Chắc anh đã ngạc nhiên trước sự im lặng của tôi dạo sau nầy, và chắc anh đã hờn tôi, nên tôi cũng chẳng được thơ từ gì của anh.” (Bình Nguyên Lộc – Căn Bệnh Bí Mật Của Nàng)
Những nhà văn VN người vùng miền này viết y như người vùng miền khác, theo tôi, chỉ có một lý do: Họ yêu ngôn từ của địa phương đó. Chẳng những yêu, họ ắt phải có cả kinh nghiệm sống với những người bạn khác miền, quen và thân trong đời.
https://stevenpressfield.com/2016/02/the-difference-between-subject-and-theme/
Cảm ơn Long Nguyen đã có lời khích lệ.
Đoạn cuối, ông nhận xét rất chính xác. “Những nhà văn VN người vùng miền này viết y như người vùng miền khác, theo tôi, chỉ có một lý do: Họ yêu ngôn từ của địa phương đó. Chẳng những yêu, họ ắt phải có cả kinh nghiệm sống với những người bạn khác miền, quen và thân trong đời.” Vâng, “Một nửa tôi là người Miền Nam”. Tôi sinh tại Miền Bắc, nhưng lớn lên hoàn toàn tại Sài gòn, theo học Trung học tại một trường Nữ trung học đa số là người Nam. Tôi nói giọng Nam một cách tự nhiên, được các gia đình bạn tôi coi như con em trong nhà. Nếu Miền Nam không mất, có lẽ tôi đã kết duyên với một chàng Nam kỳ lục tỉnh. Trong một bài đang viết về Ngày 30 Tháng 4, tôi đề cập tới lòng hào hiệp của người Miền Nam đã dang tay đón tiếp đồng bào miền Bắc (có gia đình tôi) di cư vào Nam, cũng như người Hoa Kỳ đã giúp người Việt tỵ nạn an cư tại đây..
Tình cờ mà Long Nguyen nhắc đến 3 nhà văn thì có hai người là Mặc Đỗ và Bình-nguyên Lộc. Nhà văn Mặc Đỗ (ngay trong thư từ cũng dùng những chữ Miền Nam như “té” thay vì “ngã”, “bịnh” thay vì “bệnh”) thuật lại rằng, khi vào Nam, một phần chính phủ di cư theo. Thế nên nhân viên của Bộ nào từ Miền Bắc cũng sẽ được nhập vào Bộ ấy thuộc chính quyền Việt Nam Cộng Hòa. Nhưng còn báo chí? Còn ký giả? Còn nhà văn? Nghĩa là anh em văn nghệ di cư thì …tấp vào đâu trong khi lạ nước lạ cái ấy?! Bởi thế, Mặc Đỗ (lúc ấy là Đổng lý Bộ Thông tin) mới xin một ngân quỹ từ cơ quan IRC, là cơ quan thế giới vốn trợ giúp người tỵ nạn. Ông và Vũ Khắc Khoan lập nhật báo Tự Do, mời ký giả Tam Lang đứng đầu. Đó là lý do báo Tự Do (khoảng gần 2 năm thời Mặc Đỗ) thu dụng đại đa số ký giả và văn nhân từ Miền Bắc. Nhưng đâu phải có tiền là xong việc. Ông và những người làm báo Tự Do phải lo tìm nhà in và phát hành. Đó là lúc ông bắt đầu gặp gỡ nhiều nhà văn, giới báo chí và nhà in Miền Nam. Họ sẵn lòng chỉ dẫn thêm cho những bước đầu, không ngại cạnh tranh. Số báo Xuân Tự Do năm 1955 có bài của nhà văn Hồ Hữu Tường. Nghĩa là không có sự kỳ thị về phần người dân Miền Nam với nền báo chí đã sẵn hùng hậu. Còn dân Miền Bắc di cư thì đâu dám…kỳ thị ai?! Ma cũ đã không bắt nạt ma mới thì thôi, lẽ nào ma mới dám bắt nạt ma cũ?! Anh chị em hai miền đều góp công xây dựng một quốc gia mới. Nhà văn Bình-nguyên Lộc trở thành một trong nhiều bạn văn Miền Nam thân thiết của Mặc Đỗ.
Sau nữa, tôi nghĩ trong vài trường hợp, một số nhà văn Miền Bắc như Viên Linh (với Mã Lộ, một tác phẩm có hầu như hoàn toàn giọng Nam, được Mặc Đỗ rất khen ngợi) hay Thanh Tâm Tuyền, viết giọng Nam xuất sắc vì, ngoài sinh hoạt thường nhật trong xã hội như uống ly cà phê, ăn cơm tấm trong quán, kết bạn vv. , họ còn có dịp làm việc chung với nhà in với đại đa số nhân viên, từ các em nhỏ sắp chữ tới xếp typo, đều là người Miền Nam. Bởi thế, ngoài ra và ngoài lề, tôi nghĩ cũng cần có một nghiên cứu về giới và ngành nhà in với máy móc tân tiến trong thời 1954-1975 tại Miền Nam, khiến cho Miền Bắc, sau khi “tiếp thu” tài nguyên của Miền Nam, mới chạy theo nổi (theo như tôi biết).