Trang chính » Biên Khảo, Nghiên Cứu, Nhận Định, Phê Bình, Tư Liệu, Tưởng Niệm Bùi Bích Hà Email bài này

Nhà văn Bùi Bích Hà [1.1938-7.2021]: Từ Tràng-An báo, Huế, Việt Nam đến Phương trời khác, Little Saigon, Hoa Kỳ (kỳ 1)

clip_image002_thumb.jpg


Khi còn thơ

nàng ngỡ

cuộc nhân sinh tựa thiên đàng

nào ngờ

Hạnh phúc vút khỏi tầm với

đêm đêm mơ

thiên đàng

Cắn viên đạn

đoạn tràng

Đời trôi, nặng nề dần

Như cánh bướm căng trên vành xe lăn

Mỗi giọt lệ tựa thác ngàn

Trong đêm giông

nàng khép mắt

bay

xa lên đàng

mơ thiên đàng

Nằm dài nép mình

dưới trời bão tố

nàng tỉnh ngộ

“Ô

mặt trời đã định phận

nên sẽ phải hiện thân”

Hẳn sẽ có thiên đàng

Thiên đàng/Paradise*

Ban nhạc Coldplay, 2011, Anh quốc



Ngày 12 tháng 8.2020, tôi gửi nhà văn Bùi Bích Hà một đường link từ Thư viện Việt Nam dẫn tới Tràng An báo, kèm 2 bài thuộc mục phụ nữ “Tiếng Oanh”. Đó là món quà “mượn hoa cúng Phật” dẫn tới lá thư e-mail sau hơn một phần tư thế kỷ quen biết nhau.

clip_image002

Nhà văn Bùi Bích Hà, chân dung Thái Bá **

1-Những nàng “Bích Hà” của Huế

1.1 Trương thị Bích Hà, Tràng-An báo, Huế

Nhà cự phú Bùi Huy Tín (1875-cuối năm 1962) là thân phụ của Bùi Bích Hà. Trong phần nghiên cứu về Phan Khôi, nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân nhắc tới chủ nhiệm Bùi Huy Tín và Phan Khôi chủ bút Tràng-An báo:

-“[…] Chủ nhiệm báo Tràng An báo là Bùi Huy Tín (1875- ?), một điền chủ (có nhiều đồn điền ở Phú Thọ, Quảng Ninh, Thanh Hóa, Hà Tĩnh), một doanh gia (là chủ một số khu mỏ, chủ thầu một số đoạn đường sắt ở Việt Nam, chủ một số nhà in, tòa báo), một nhà hoạt động xã hội (ủy viên Phòng thương mại Hà Nội, Hội đồng thành phố Hà Nội, Hội đồng tư vấn Bắc Kỳ, Đại hội đồng kinh tế lý tài Đông Dương, Viện Dân biểu Bắc Kỳ, Viện Dân biểu Trung Kỳ, …) […] Bùi Huy Tín là người đầu tư kinh doanh, là ông chủ, nên đương nhiên ông giữ chức chủ nhiệm; vai trò chủ bút, tức là người tổ chức bài vở, tạo ra tiếng nói của tờ báo trước xã hội, ông Tín chọn Phan Khôi […] Phan Khôi làm chủ bút Tràng An báo liên tục từ số 1 (1/3/1935) đến số 94 (31/1/1936). […] Tràng An báo thời Phan Khôi làm chủ bút cũng từng góp vai trò là một trong những diễn đàn văn học và tư tưởng đương thời…” [Lại Nguyên An, TIỂU DẪN VỀ SƯU TẬP CÁC TÁC PHẨM CỦA PHAN KHÔI ĐĂNG BÁO TRONG NĂM 1935 http://lainguyenan.free.fr/pk1935/TieuDan1935.html]

Bài báo đối đáp giữa Trương thị Bích Hà (Số 17, ngày 26.4.1935) và Thanh Hoa xuất hiện trong “Tiếng Oanh”, mục góp ý giữa độc giả và/hay người phụ trách về những vấn đề phụ nữ. Tôi chọn bài của Trương Thị Bích Hà, cựu nữ sinh trường Đồng Khánh, vì, thứ nhất, một sự trùng tên hãn hữu với Bùi Bích Hà; thứ hai, nhiều vấn đề mà đồng môn Trương Thị Bích Hà trình bày không những tồn tại tới ngày nay mà còn đặc biệt ứng với phần nào hoàn cảnh xã hội, gia cảnh và thái độ của Bùi Bích Hà–cũng là một sự hãn hữu nữa–qua tác phẩm, hoạt động truyền thanh, và sự tham dự bền bỉ trong cộng đồng tỵ nạn Hoa Kỳ từ 1986 tới 2021. Đáng kinh ngạc hơn, ngay từ 1935, nghĩa là gần một thế kỷ trước, Trương Thị Bích Hà đã bầy tỏ một quan niệm về nhân quyền dù có chỗ quá khích khi không xét đến hoàn cảnh của phụ nữ thôn quê hay nghèo túng và hệ thống luật pháp thành văn cũng như bất thành văn bất lợi và nguy hiểm cho họ. Thứ luật lệ này được khai sinh và áp dụng nhắm phục vụ quyền lợi của giai cấp quan-sang và đàn ông. Đó là một cú đấm đôi/double whammy vì đàn ông chiếm tuyệt đại đa số trong giới quan-sang lúc ấy.

Tuy nhiên, phần nào sự chỉ trích của Trương Thị Bích Hà vẫn đúng tới ngày nào phụ nữ còn tự nhận “hồng nhan bạc mệnh” kiểu Thúy Kiều để “ve kêu dế khóc” với lối “văn chương liệt nhược” hầu bào chữa cho những sai lầm của mình; ngày nào còn đặt số phận vào tay người đàn ông; và, có lẽ đáng buồn nhất, ngày nào còn đầy khinh xuất khi bàn về nữ tác gia khác. Một đoạn sau đây của cựu nữ sinh trường Đồng Khánh Trương Thị Bích Hà-Tràng An báo sẽ chứng minh vài điều nhận xét thượng dẫn:

-” […] Em ở đây xa xuôi, từ khi ra khỏi trường Đồng Khánh […] Em kể mấy chị em con nhà quan-sang như thế, xin chị chớ vội tưởng lầm em có cái óc “quan sang”; em kể đây, chỉ vì những nhà quan sang là những nơi giữ gìn cẩn thận […] Nay chính chị em sanh trưởng trong những lề lối xưa ấy đã được tự do ra giữa xã hội mà làm lụng như ai, thế thì lấy cớ gì mà than phiền phong tục tập quán nữa? Phong tục tập quán đã vì thời thế mà thay đổi, nên hay hư bây giờ chỉ tại chị em ta. Nếu ta muốn ngang hàng cùng bạn mày râu, ta chẳng cần đem hư văn mà kêu gào than khóc chi cho thêm phiền. Ta phải có tinh thần tự lập, phải lấy công việc làm mà nâng cao phẩm giá của ta lên. Cái quyền bình đẳng kia, ta không cần đòi hỏi, tự nhiên nó cũng đến. Cái thuyết nam-tôn nữ ti, ta không cần phản đối nó cũng sẽ tự tiêu diệt. Trái lại, trong khi kêu gọi không được ngang hàng cùng các bạn nam nhi, chính trong chị em ta, còn có hạng người, chịu ăn cơm nguội nằm nhà ngoài. Chẳng những một vài chị em vô học thức thích cái cuộc đời đáng khinh ấy, cả đến một ít chị em đã hưởng cái giáo dục tân thời, trí thức có, học vấn rộng, cũng cam tâm “làm tớ không công”. Một mai gặp cảnh ngộ không như ý, mở miệng ra là hồng nhan bạc mệnh, tình đời bạc đen, ve kêu, dế khóc, nuốt sầu, ngậm thảm…gây nên một lối văn chương liệt nhược, di hại cho chị em ta sau này không phải là ít […] Ôi thế thì ta tự khinh ta, ta tự làm hèn cái phẩm giá của ta, nào phải phong tục tập quán bắt buộc ta phải thế! Dẫu ta có than trách kêu gào mấy, sự bình đẳng nào có đến ta làm gì! Cái quyền bình đẳng của chị em ta, ta phải tự làm lấy mà thôi, nghĩa là ta phải làm thế nào đặng nâng cao phẩm giá của ta. Muốn đạt mục đích ấy, ta phải có tinh thần tự lập, phải có một nghề để nuôi sống lấy ta, và nhất là phải đánh đổ chế độ “đa thê”, một cái chế độ làm cho ta không cần nhân cách nữa.” (Trương-thị BÍCH HÀ, “Đôi lời cùng chị Thanh-hoa” – Mục “Tiếng Oanh”, Tràng An báo, Số 17, Ngày 26. 4. 1935, http://baochi.nlv.gov.vn/baochi/cgi-bin/baochi?a=d&d=WJMY19350426.2.22&e=——-vi-20–1–img-txIN——]

Sau này, Bùi Bích Hà sẽ biểu tỏ thái độ trước những vấn đề muôn thuở ấy. Ngày 13, tháng 8, bà cho biết đã nghiệm rằng tên “Bích Hà” của chính bà đã có xuất xứ từ bài báo thượng dẫn:

-“TCúc ơi,

Phải nói là rất bất ngờ được nhìn lại một chút công việc ngày xưa bố chị đã làm. Tờ báo Tràng An ra đời trước cả anh Đ(.) chị mấy tháng (cùng năm 1935) Một cô Bích Hà thời xa xưa đó đã viết một bài về nhân phẩm của người phụ nữ thể hiện ở tính tự lập, có lẽ impressed bố chị khiến ông cụ giữ trong trí nhớ cái tên của cô và khi có thêm chị, cụ đặt ngay cho con gái cái tên này […] Chị không biết lý do cho mãi đến bây giờ!” [Bùi Bích Hà, Thư gửi Nguyễn Tà Cúc, ngày 13.8.2020]

Viết-và-nghĩ về bà khi viết bài này trước là gửi lời ly biệt tới giòng sông xanh đã về tới biển, sau nữa tôi muốn ghi lại tiến trình của một nhà văn phụ nữ đã tạo được chỗ đứng đặc biệt qua hoạt động cả về văn chương lẫn truyền thanh. Tiến trình đó, mặt khác, cũng có thể sử dụng như một trong những thí dụ về kinh nghiệm di dân vì lý do chính trị mà phương thức sáng tác đồng nghĩa với lý do tồn tại trong khi vẫn tiếp tục quan tâm tới cố quốc.

1.2 Bùi Bích Hà, Phương trời khác, Little Saigon, Hoa Kỳ

Tháng 8.2020, tôi gửi bức thư 1 trang cảm ơn Bùi Bích Hà. Khoảng cuối những năm 1990, tuy chưa quen biết nhiều, bà đề nghị một cuộc nói chuyện giữa 2 chị em trong một chương trình phát thanh nhắm cho tôi cơ hội trình bày về nhiều vấn đề, chẳng hạn như hoàn cảnh một người mẹ đơn thân hoặc hoạt động hướng về Văn học Miền Nam, nhất là về trách nhiệm trưởng ban Ủy Ban Văn Nghệ Sĩ-Bị Cầm Tù, Trung Tâm Văn bút Việt Nam Hải Ngoại (thay thế tạm thời người tiền nhiệm, Trung Tá Không quân Trần Tam Tiệp, một trong 3 người sáng lập). Khoảng 2006, bà muốn mời tôi trình bày về cơ hội đã đưa tôi tới tạp chí Khởi Hành-Bộ Mới, Hoa Kỳ. Trước 1975, Khởi Hành vốn là tạp chí thuộc Hội Văn Nghệ Sĩ Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa. Cả hai đều do nhà thơ Viên Linh đảm trách với Đại Tá Anh Việt Trần Văn Trọng trước 1975 và cùng tôi sau 1975. Điều bà chú ý đương nhiên không phải là bản thân tôi mà hoàn cảnh đã đưa một phụ nữ tới chỗ giữ Ủy Ban Văn Nghệ Sĩ-Bị Cầm tù thay thế một Trung tá Không quân và rồi lại giữ trách nhiệm Thư Ký Tòa soạn cho một tạp chí từ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Năm 2008, bà tình nguyện làm nhân chứng, nếu cần, nhắm giúp phản bác nguyên đơn khi tạp chí Khởi Hành và tôi bị kiện vì 2 bài điểm sách.

Sau khi được thông tin tòa án bãi bỏ vụ án nhờ công sức thúc đẩy bằng tài năng, lòng hào hiệp và án phí tốn kém của luật sư (và bà) Hoàng Duy Hùng, bà gọi tôi góp vui trong một ngày mùa đông tuyết trắng xóa. Nước rơi nén lại như đá, phủ lóng lánh trên những cành cây khô khốc, nơi tôi đang theo học nốt chương trình bỏ dở sau gần 30 năm.

Lá thư đó mở đầu như sau:

-“Cerritos, ngày cuối tháng 8, 2020

Chị Bùi Bích Hà thân mến,

Chị là người áp chót trong một danh sách mà, từ năm 1996, Tà Cúc đã giữ trong nhà, đựng trong hành lý, mang qua nhiều nơi và giữ gìn qua nhiều thời gian […] Chắc chị ngạc nhiên vì chị và Tà cúc có 2 nhóm bạn hoàn toàn khác cộng thêm 2 môi trường sinh hoạt hoàn toàn khác […] Chính vì chị “khác” với Tà Cúc mà sự giúp đỡ của chị càng vô giá […] Tà Cúc chỉ còn phải viết 1 lá thư cảm ơn cho người chót của danh sách là xong. Một phần đời nữa đã thực sự đi qua. Tà Cúc sẽ đi tiếp trên con đường đã định…” [Nguyễn Tà Cúc, Thư gửi Bùi Bích Hà, 8. 2020]

Bà trả lời ngay, kèm thêm bài viết về nhà văn Túy Hồng vừa gửi tới Diễn đàn Da Màu đặng tôi đọc luôn:

-“[…] Nói thì xem ra khách sáo. Em cảm ơn chị nhưng chị cũng phải cảm ơn em là một người không làm gì sai để chị cũng do vậy mà làm được việc tử tế. Sống trên đời, chị luôn tâm niệm là phải có duyên lành dẫn dắt thì mình mới làm được việc thiện, là cái phước cho mình […] Chị mừng thấy em tai qua nạn khỏi nhiều phen, nuôi dạy con cái nên người […]Sau cùng, lúc cuối ngày, đời người sẽ chẳng còn gì ngoài trái tim biết yêu thương để sống chân thật. Nhân tiện, chị gửi em đọc bài viết cho Túy Hồng, vừa mới xong hôm qua. Chị đã gửi cho Da Màu.” [Bùi Bích Hà, Thư gửi Nguyễn Tà Cúc, Ngày 31. 8. 2020]

Sau đó, bà cười khanh khách nghe tôi bình phẩm về bốn chữ “tai qua nạn khỏi”:

-“Sao em ghê gớm thế? Lập cả một danh sách cảm ơn nữa à?! Có danh sách phục hận cần thanh toán hết chưa? Nhưng đừng thù dai, chỉ khổ thân thôi. Đúng là em nhiều ‘tai qua’ thật. Nhớ hôm chị với Yến Tuyết tiễn em sang Pennsylvania học lại không? Chị lo cho em quá. Người thì mỏng như một chiếc lá, một ổ bệnh biết cười. Dám sang Pennsylvania tứ cố vô thân.!

-“Writing well is the best revenge/Viết sao cho hay cho đẹp là cách phục hận tốt nhất. Trở lại Pennsylvania đối diện Chiến tranh Việt Nam nên Tà Cúc cần ngó lại cái tứ cố vô thân ngày nào của một người Miền Nam thoát nạn.”

Bùi Bích Hà chớm xuất hiện trong thế giới văn chương Miền Nam ngay từ những năm 1950, nhưng bị gạt bên lề một thời gian rất dài vì chính “phong tục tập quán” mà Trương Thị Bích Hà đã đề cập đến. Từ thân mẫu, một nạn nhân mãn đời, qua tới bà, một nạn nhân bán kiếp, bà phấn đấu không ngừng. Tuy không cầu mong hư danh, bà tham dự cộng đồng văn chương và cộng đồng Việt tỵ nạn để tiếp tục cuộc phấn đấu ấy, lần này không chỉ cho riêng mình.

Bà đã tự thân tạo được một chỗ đứng, khởi đi từ những cuối năm 80 dẫn sang nhiều đầu năm 90 sôi động phong trào “hòa hợp hòa giải”, nhà văn Miền Bắc cùng “văn nghệ phản kháng”. Mới sang định cư tại Hoa Kỳ lúc đó cũng chỉ chừng mới hơn 2 năm, sau 11 năm dở sống dở chết, bà lập tức chứng kiến nỗ lực của một nhóm nhà văn tự nhận “độc giả” của Nguyên Ngọc, Trần Độ, Dương Thu Hương, Thu Bồn, Đặng Nhật Minh, Nguyễn Trọng Tạo, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Đắc Xuân vv. đặng giới thiệu “Cao trào văn nghệ phản kháng tại Việt Nam 1986-1989″, một phong trào gợi ý từ Trăm hoa đua nở trên đất Bắc, Hoàng Văn Chí, 1959. Riêng với Bùi Bích Hà, đó là kinh nghiệm thảng thốt đầu tiên của một di dân tỵ nạn chính trị nhập vào một cộng đồng tự do đúng nghĩa, của một người hốt nhiên ngộ ra máu đã cùng chẩy, thịt đã cùng bị nghiến nhưng mỗi bộ xương nhoài đứng dậy được, không từ điểm khởi hành chung tất nhiên sẽ không hẳn tiến cùng một lối. Mỗi tác gia, hoặc nhóm của họ, trong cộng đồng tỵ nạn sẽ có toàn quyền hành động theo ý họ. Chúng ta sẽ chứng kiến bà sáng tác, hoạt động ra sao hay với ai và cho ai sau kinh nghiệm này.

2-Xuân có sang mà hoa không tươi [Vũ Hoàng Chương]

Nhập cư Hoa Kỳ vào tháng giêng, 1986, bà chọn cách viết và hoạt động không chỉ nhắm tới giới quan-sang, nghĩa là các tạp chí văn học. Ngoài Thế Kỷ 21 thuộc công ty Người Việt, bà còn thừa cơ hội xuất hiện trên tạp chí Văn (nhà văn Mai Thảo rồi nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng) và Văn Học (nhóm Nguyễn Mộng Giác). Tuy vậy, kiểm lại Văn HọcThế Kỷ 21, sự có mặt của bà phải kể là hiếm so với sự xuất hiện thường trực của vài người bạn cùng nhóm hay nhiều cây bút nữ khác. Sự có mặt ấy càng đặc biệt hơn ở chỗ, tuy vẫn được biết đến cho đến khi qua đời như một bà “phụ trách mục Tâm Sự lòng thòng” [Bùi Bích Hà, “Thay lời mở”, Bạn gái nhỏ to, trang 7, Nhà Xuất bản Người Việt, 1991, Hoa Kỳ], bà lại là một trong những nhà văn (nữ) hiếm hoi phản bác Dương Thu Hương một cách công khai.

Đó là vì những Bùi Bích Hà đánh giá Dương Thu Hương, Trần Mạnh Hảo hoặc phản bác hay bênh vực nhà phê bình Thụy Khuê trên Thế Kỷ 21, trên Văn Học không phải một-Bùi Bích Hà dò dẫm. Khởi hành từ năm 1986, bước cô đơn quyết định cuộc lữ thứ nhiều thử thách đã bắt đầu tại một chỗ khác, hoàn toàn khác. Đó là tại Ban Chấp Hành Trung Tâm Văn bút Nam California vào năm 1988 về dự thảo của một thứ tuyển tập kiểu Trăm hoa đua nở trên đất Bắc (Hoàng Văn Chí, 1959, Sài Gòn).

Tuy sự trùng hợp có thể là ngẫu nhiên, nhưng tôi có bằng chứng cùng nhân chứng để suy luận rằng xuất xứ một phần việc thực hiện Trăm hoa vẫn nở trên quê hương đã chính thức bắt đầu từ một buổi họp của Trung Tâm Văn Bút Nam California, vốn là một chi nhánh của Trung Tâm Văn bút Việt Nam Lưu vong/Hải ngoại. Đúng 2 năm trước, vào tháng 8. 1988, một vài thành viên thuộc Ban Chấp Hành đã dự định sử dụng nhân sự, tài lực và ảnh hưởng của nó trên cộng đồng vào việc xuất bản. Sau phiên họp khẩn cấp triệu tập lần thứ hai, chỉ 3 ngày sau với đông đủ thành viên hơn, ngày 29 tháng 8. 1988, một trong những thành viên của Ban Chấp Hành khai tử dự định này chính là Ủy viên Tu thư & Xuất bản Bùi Bích Hà.

Đúng thế, nhà văn Bùi Bích Hà.

2.1 Phong trào Phản Kháng trong thời Đổi Mới

Nhiều người trong chúng ta hẳn còn nhớ hay nhớ loáng thoáng về giai đoạn 1985-1992 khi tin đồn hay các bài viết bầy tỏ sự bất mãn và chỉ trích nhà cầm quyền, từ chính một số nhà văn xuất thân trong & ngoài Hội Nhà Văn Miền Bắc và đảng viên cao cấp Cộng sản, lan sang hải ngoại. Tháng 8. 1990, Nhà Xuất bản Lê Trần và nhóm chủ trương cho xuất bản Trăm hoa vẫn nở trên quê hươngCao trào văn nghệ phản kháng tại Việt Nam 1986-1989 (từ nay sẽ dùng Trăm hoa vẫn nở trên quê hương để chỉ cuốn này).

clip_image004

Bìa sau Trăm hoa vẫn nở trên quê hươngCao trào văn nghệ phản kháng tại Việt Nam (1986-1989)
Nhà Xuất bản Lê Trần, Tháng 8.1990, California, Hoa Kỳ

Theo tôi, những người chủ trương Trăm hoa vẫn nở trên quê hương đã không lường trước được mấy điều. Thứ nhất, nhà cầm quyền Cộng sản, sau 1975, đã không thể đàn áp như đàn áp nhóm Nhân Văn-Giai Phẩm vì dân chúng Miền Bắc–có cơ hội thông thương với dân Miền Nam và ngoại quốc–đã nhìn thấy sự thực về cuộc chiến ở một khía cạnh trước đây họ chưa được tiếp xúc. Chính sách hà khắc riêng với dân Miền Nam cũng là hồi chuông cảnh tỉnh lương tâm của họ. Cộng thêm tình trạng bất công trong xã hội toàn quốc không thể được tiếp tục ngụy biện bằng khẩu hiệu “Đánh cho Mỹ cút Ngụy nhào”, sự phản kháng của giới trí thức, dù được ưu đãi là đương nhiên. Và cũng đương nhiên không thể so sánh với Nhóm Nhân Văn-Giai Phẩm thời những năm 1950.

Ngoài ra, dân chúng Miền Nam đã chống lại công khai bằng nhiều phương cách và hình thức. Tuy không coi thường nỗ lực của những nhà văn “phản kháng” và hảo tâm của các tác gia hải ngoại muốn hỗ trợ, nhưng tôi có cảm tưởng, sự không đầu hàng của người dân Miền Nam và thái độ đoàn kết–không đồng lõa với công an văn nghệ hay đấu tố lẫn nhau–của tác giả và trí thức Miền Nam cũng có thể được coi là chất xúc tác, hay cơ hội, hay mảnh đất, hay gương soi cho vài “hoa phản kháng — xuất thân từ Miền Nam nhưng thân Cộng hoặc đã và đang hoạt động cho chính phủ Cộng Sản–có cơ hội tỏa hương chuộc lỗi. Dù giải nghĩa thế nào, nhìn vào tiểu sử của một số tác gia phản kháng đã can dự trực tiếp vào việc tiến chiếm Việt Nam Cộng Hòa bằng vũ khí hay hoạt động thân Cộng, tôi không thể nào không liên tưởng đến trách nhiệm của họ với số phận toàn dân Miền Nam sau 1975.

Thứ hai, cuốn Trăm hoa vẫn nở trên quê hương, không may mắn thay, dự định, phát hành và phổ biến đúng ngay vào chặng thân nhân của những người Việt di tản trước, như trường hợp Bùi Bích Hà; hay cựu tù nhân chính trị, đa số thuộc quân lực Việt Nam Cộng hòa, bắt đầu di tản sang Hoa Kỳ theo chương trình H.O. (1990). Trong thời gian bị cầm tù ít nhất là 3 năm để hội đủ điều kiện nhập cư và suốt nhiều năm sau đó, họ–cũng như Bùi Bích Hà– đã bị cướp tài sản qua mấy lần đổi tiền, hoặc bị đuổi vào vùng kinh tế mới, hoặc con cái bị kỳ thị khi thi tuyển vào đại học, hoặc tan đàn xẻ nghé, hoặc tác phẩm bị tịch thu, hoặc người thân mất tích trên đường vượt biển như trường hợp đại úy Dzư Văn Tâm/ bút hiệu Thanh Tâm Tuyền/bút hiệu Trần Kha, hoặc bị cấm sáng tác, hoặc bị tất cả những điều thượng dẫn.

Bài Đôi điều không ổn [Cao Xuân Huy, Thế Kỷ 21, tháng 9.1991] có thể xem như một thí dụ cho trường hợp phản bác Dương Thu Hương–và phát biểu của Thụy Khuê trong “Tựa” liên quan đến Tiểu thuyết vô đề–của một trong những người thuộc nhóm trên (1) .

Nhà văn Cao Xuân Huy, lúc đó giữ nhiệm vụ Tổng Thư ký cho tạp chí Văn Học. Sau này, ông sẽ trả lời đạo diễn Trần Văn Thủy đầy đủ hơn về tiểu sử “yêu tự do và chống mọi hình thức độc tài ” nên tình nguyện “đi lính” “thứ thiệt”, trở thành sĩ quan Thủy Quân Lục chiến, bị tù năm 1975, được thả cuối năm 1979 vì “hết khả năng lao động”, rồi vượt biển sang Hoa Kỳ cuối năm 1983 [Trần Văn Thủy phỏng vấn Cao Xuân Huy, Nếu đi hết biển…, trang 58, 64, Thời Văn xuất bản, 2004, Hoa Kỳ]. Bởi thế, những nhận xét chuyên môn và chính xác của ông–một người lính “thứ thiệt” “thuộc loại cừ và ở một binh chủng thiện chiến nhất nhì của quân lực VNCH” [sđd, trang 64]– rất tai hại cho Tiểu thuyết vô đề khi so với kiến thức hạn hẹp của một người lính Miền Bắc kiểu Dương Thu Hương khi bà viết về những người lính này.

Dù sao chăng nữa, công bằng mà nói, tại thời điểm ấy, hồi ký của cựu quân nhân VNCH bị giam sau 1975, hồi ký của các sĩ quan Hoa Kỳ chưa được xuất bản, sự can dự vào chiến tranh Việt Nam của Trung Quốc và Nga Xô vẫn chưa được công bố đầy đủ nên ảo giác và sai lầm của Dương Thu Hương cũng là điều dễ hiểu, nhất là từ một người nằm trong hầm sâu của sự thiếu thông tin suốt một thời gian dài.

Dĩ nhiên, Tiểu thuyết vô đề xuất hiện tại hải ngoại vào nửa năm sau 1991 và Trăm hoa vẫn nở trên quê hương xuất bản vào nửa năm sau 1990 nên chân dung Dương Thu Hương trong vài mươi trang của cuốn sách này chưa toàn vẹn. Chân dung ấy sẽ được toàn vẹn với bài “Tự bạch về Tiểu thuyết vô đề”.

Ngoài phần mạt sát Thụy Khuê-người làm ơn mắc oán, Dương Thu Hương còn “bỏ công kể tội các lãnh tụ “Cộng hòa” ở Miền Nam đến “tổng cộng hơn một phần tám cả bài”, [Vương Hữu Bột, “Sự thật, khoan dung và tha thứ”, Thế Kỷ 21, Số 36, trang 8, tháng 4.1992]. Trên hết thẩy, một trong mấy lý do quyết định sự thắng trận của Miền Bắc do Dương Thu Hương quả quyết cần xét lại:

-“[…] Những người lính Miền Bắc được hưởng một mức đãi ngộ không bằng một phần ba mức đãi ngộ của người lính Miền Nam. Những sĩ quan Miền Bắc không bao giờ dám mơ tưởng tới những câu lạc bộ dành cho sĩ quan quân đội Cộng Hòa. Có lẽ chính tính lý tưởng đã huy động đến cùng tinh thần khắc kỷ và đã trở thành một yếu tố tạo nên chiến thắng…” [Dương Thu Hương, “Tự bạch về Tiểu thuyết vô đề”, Thế Kỷ 21, sđd, trang 15]

Có đúng “chính tính lý tưởng đã huy động đến cùng tinh thần khắc kỷ và đã trở thành một yếu tố tạo nên chiến thắng” không? Họ tự nguyện “khắc kỷ” hay điều kiện kinh tế lúc đó tại Miền Bắc không cho phép? Bởi thế, tôi bắt buộc phải góp ý về phần biết chắc, nghĩa là về Miền Nam, rằng: Những câu lạc bộ dành cho sĩ quan VNCH đương nhiên phải có trong một quốc gia tương đối hùng mạnh về kinh tế nên chẳng dính dáng gì đến “tinh thần khắc kỷ” cả. Trái lại là đằng khác. Các công tử chiến binh VNCH có đủ điều kiện để hưởng thụ một cách bình thường trong một thế giới tương đối văn minh mà vẫn đủ “lý tưởng” và đủ “khắc kỷ” khi ra chiến trận hàng tháng khiến đối phương xiểng liểng trên chiến trận mới càng đáng phục chứ?

Do đó, bài viết của người lính VNCH tình nguyện (đồng nghĩa với “lý tưởng” và “khắc kỷ”) Cao Xuân Huy càng không giúp gì cho Trăm hoa vẫn nở trên quê hương sau khi độc giả đã được nhìn thấy toàn vẹn chân dung Dương Thu Hương, một trong bảy mươi chín tác giả trong nước ấy [sđd, trang 175-198].

2.2 Trăm hoa Miền Nam vẫn còn bị dầy đạp trên quê hương

Trăm hoa vẫn nở trên quê hương, khổ lớn, 800 trang, liệt kê danh sách “hai mươi bảy tác giả ngoài nước” “đọc và viết về bảy mươi chín tác giả trong nước” trên bìa sau. Nguyễn Mộng Giác, Hoàng Khởi Phong, Nguyễn Đức Lập, Trương Vũ vv. hoặc là hội viên Trung Tâm Văn Bút Nam California hoặc thuộc nhóm điều hành &thân hữu Văn Học có mặt trong hai mươi bảy tác giả ngoài nước này.

Song song với sự không quan tâm của hầu hết tác giả kỳ cựu Miền Nam, phản ứng của đại đa số độc giả càng không được như nhóm chủ trương mong đợi, tuy đã sửa soạn rất kỹ lưỡng để quảng bá. Trái lại là đằng khác, điển hình là toan tính sử dụng Trung Tâm Văn bút Nam California của vài người trong Ban Chấp Hành, nhưng đồng thời, tham dự vào việc soạn thảo Trăm hoa vẫn nở trên quê hương như nhà văn Chủ tịch Nhật Tiến–một trong những người khởi xướng theo như tôi biết–và Đỗ Thái Nhiên. Trên nguyên tắc, dự tính Trăm hoa vẫn nở trên quê hương, do chống lại sự đàn áp quyền tự do tư tưởng và phát biểu, không có gì trái ngược với tôn chỉ của PEN International, hoặc đến nỗi/thậm chí bị coi là đáng trách. Nhưng trường hợp Việt Nam lại hoàn toàn khác.

Ngược lại với giới nhà văn và trí thức Miền Nam, 79 tác giả “phản kháng” vẫn được phát biểu, sáng tác và in ấn. Hơn thế nữa, một số trong danh sách này còn là những người có trách nhiệm trực tiếp vào cuộc chiến chống Việt Nam Cộng Hòa hay gián tiếp như thái độ của họ về những tội ác chiến tranh mà cho đến nay (2021) vẫn chưa thể làm sáng tỏ. Trong khi đó, tác gia Miền Nam như Thanh Tâm Tuyền phải qua nhiều cửa ải. Ông đưa lén thơ khỏi trại tù, gửi lén thơ ra ngoại quốc với bút danh Trần Kha. Không chỉ Thanh Tâm Tuyền, thơ Tô Thùy Yên đã theo chân anh em nhập cư trước ông ra ngoại quốc với một bút danh khác. Suốt bãi sông Hằng xuất hiện tại Hoa Kỳ vào tháng chạp, 1989, với bút danh Đinh Thạch Trung. Suốt bãi sông Hằng được sáng tác vào năm 1982 và sẽ được sửa chữa nhiều trước khi chính thức ra mắt bạn đọc hải ngoại sau khi tác giả rời Việt Nam. Nhiều lần nói chuyện với tôi, Tô Thùy Yên bầy tỏ sự băn khoăn về các bài thơ tản lạc vẫn không thu thập được hết. Bởi thế, phổ biến và cổ động cho các người có quyền phản kháng xuất thân từ chế độ Cộng sản hay cảm tình viên của chế độ này vẫn là một điều gì rất khó chấp nhận cho những người đã hoặc không thể phát biểu dưới chế độ Cộng sản, thậm chí bị đầy đọa vì những điều họ có thể sẽ phát biểu.

Bởi thế, khi vài người chủ xướng, tuy có thành tâm, nhưng không thuyết phục được các thành viên khác khiến vuột mất chỗ đứng thuận lợi của Ban Chấp hành Trung Tâm Nam California, họ đã mất tính cách đại diện chính thức cho Văn Học Miền Nam, Việt Nam Cộng Hòa và cơ hội hầu sử dụng nguồn nhân lực tài lực do cơ sở này cung cấp hay kêu gọi được. Quan trọng hơn, họ cũng mất theo danh nghĩa quy tụ được một tập thể nhà văn di tản lớn nhất với nhiều khuynh hướng khác biệt tại Nam California, nếu không nói là cả Hoa Kỳ. Lúc đó, ngoài Minh Đức Hoài Trinh, Nhật Tiến, Viên Linh, Lê Đình Điểu, Bùi Bích Hà, danh sách hội viên còn có nhà văn Nguyễn Hoàng Nam (gia nhập ngày 3.6. 1988), nhà văn Nguyễn Ý Thuần (ngày 10.6.1988), nhà thơ Nguyễn Thị Minh Thủy (ngày 23.6.1988), nhà văn/ký giả Hoàng Mai Đạt (ngày 12.7.1988), nhà văn Nguyễn Mộng Giác (ngày 17.6.1988), nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên (ngày 23.6.1988), nhà thơ Đỗ Kh. (ngày 10.9.1988), nhà văn Phạm Quốc Bảo (ngày 30.?. 1988), nhà nghiên cứu Vô Ngã Phạm Khắc Hàm (1988), nhà văn Hoàng Khởi Phong (1988), nhà văn Nguyễn Tường Quý (1988), nhà phê bình Bùi Vĩnh Phúc (1988), dịch giả Trịnh Y Thư (1988), ký giả Đỗ Ngọc Yến (1988), Vũ Quang Ninh (1988) vv.

Do đó, số thành viên (trong Ban Chấp Hành) khởi xướng Trăm hoa vẫn nở trên quê hương không được đồng ý qua Ban Chấp Hành của họ, dù với bất cứ lý do nào, là một thất bại không nhỏ. Tôi vẫn tự đặt câu hỏi, Nếu ngày ấy, Ban Chấp Hành chấp thuận thì cái gì xẩy ra? Câu trả lời không bao giờ có; nhưng thứ nhất, dựa trên kinh nghiệm Trưởng Ủy ban Nhà Văn Bị Cầm tù (do nhà thơ sáng lập Nguyên Sa và nhà thơ Chủ Tịch Viên Linh giao phó cho tôi,) và thứ hai, trên thực tế, tác giả xuất thân từ văn học và báo chí Miền Nam vẫn còn bị đàn áp, tôi có thể suy luận rằng cuộc tranh đấu cho tác phẩm thuộc Văn Học Miền Nam, cho tác giả và trí thức Miền Nam–số trăm hoa đang bị dầy đạp–và cho nhân quyền của dân Miền Nam sẽ chững lại. Cuộc tranh đấu có thể được coi là sinh tử dành cho Miền Nam lúc ấy phải nhường chỗ cho cuộc vận động Trăm hoa vẫn nở cho một số nhân sự xuất thân, từng phục vụ từ hệ thống Cộng sản hay có cảm tình với cuộc chiến chống lại Việt Nam Cộng Hòa. Hậu quả đó sẽ bắt đầu một cuộc phân rẽ ngay lập tức trong Trung Tâm Nam California và các trung tâm khác khiến thiệt hại đến cuộc tranh đấu cho Miền Nam lúc bấy giờ.

Dấu tích sự xuất xứ của Trăm hoa vẫn nở trên quê hương và sự “phản kháng” phong trào này của Bùi Bích Hà được kiểm chứng khi so sánh chi tiết trong biên bản viết tay của 2 phiên họp thuộc Trung Tâm Văn Bút Việt Nam Hải ngoại Nam Cali., 8. 1988 với “Lời Nói Đầu của Nhà Xuất Bản” trong Trăm hoa vẫn nở trên quê hương, 8. 1990.

Nội dung biên bản (viết tay) của phiên họp Trung Tâm Văn Bút Nam California (một chi nhánh của Trung Tâm Văn bút Việt Nam Lưu vong/Hải ngoại) vào thứ sáu, ngày 26.8.1988, được ghi lại như sau:

– “Biên bản họp Văn Bút Ngày Thứ Sáu 8/26/88

Có mặt: Nhật Tiến-Lê Đình Điểu-Bùi Vĩnh Phúc-Nguyễn Mạnh Trinh

-V/đề thực hiện một cuốn sách do V Bút với chủ đề tương tự như sách Trăm Hoa Đua Nở ngày xưa. Tiến hành:  thành lập một nhóm để thực hiện – ngay từ bây giờ.

-Tổ chức Đại Hội Văn Bút Nam Cali ngày 10 tháng 9 năm 1988.”

Biên bản thứ hai, một bản báo cáo về một cuộc họp được triệu tập khẩn cấp chỉ ngay 3 ngày sau, nghĩa là vào thứ hai, ngày 29 tháng 8 năm 1988. Cuộc họp này  có mặt 7 người: Chủ tịch Nhật Tiến, Tổng Thư ký Lê Đình Điểu, Phó Chủ tịch Viên Linh, Ủy viên Tu thư Bùi Bích Hà và Chủ tịch Ủy ban Tu Thư và Xuất bản Bùi Vĩnh Phúc, Chủ tịch Ủy ban Định chế Đỗ Thái Nhiên và Chủ tịch Ủy ban Phát triển Vũ Thùy Hạnh. Biên bản thứ hai –phủ quyết quyết định thành lập tức khắc một nhóm để thực hiện một cuốn sách, sau này sẽ có tên Trăm hoa vẫn nở trên quê hương, của cuộc họp ba ngày trước– có nguyên văn như sau:

“Biên bản họp BCH Văn Bút ngày thứ hai 8-29-88

Có mặt: Nhật Tiến- Lê Đình Điểu- Viên Linh- Bùi Vĩnh Phúc – Đỗ Thái Nhiên – Thùy Hạnh – Bùi Bích Hà

I/Kiểm điểm công tác chuẩn bị Đại hội

II/ Thông qua dự thảo bản báo cáo của TT Ký về các công tác đã thực hiện trong nhiệm kỳ Lâm thời

III/ Phân công những công tác cần chuẩn bị-

IV/ Linh tinh :

Không lập task force-Phải xerox các bài để mọi người đọc trước rồi mới quyết định lập task force- Tuy nhiên đã trễ vì không đủ thời gian -“

clip_image006

Biên bản (viết tay) 2 cuộc họp của Trung Tâm Văn bút Ban California liên quan đến cuốn Trăm hoa vẫn nở trên quê hương

Hãy so sánh một đoạn trong biên bản thứ nhất “V/đề thực hiện một cuốn sách do V Bút với chủ đề tương tự như sách Trăm Hoa Đua Nở ngày xưa. Tiến hành:  thành lập một nhóm để thực hiện – ngay từ bây giờ ” với một đoạn trong “Lời Nói Đầu của Nhà Xuất Bản”, Trăm hoa vẫn nở trên quê hương, tháng 8.2990. Hai đoạn này giống nhau gần như nguyên văn:

-“[…] Đặt tựa đề “Trăm Hoa Vẫn Nở” cho Tuyển Tập này, chúng tôi có ý làm một việc tư­ơng tự công trình sư­u tập văn liệu mà cụ Hoàng văn Chí đã làm vào thập niên 50 với cuốn: “Trăm Hoa Đua Nở Trên Đất Bắc”…” [sđd, trang 7]

Sau này, nhà văn Nhật Tiến sẽ viết lời giới thiệu nhà văn Nguyên Ngọc trong Trăm hoa vẫn nở trên quê hương kèm phần tài liệu tổng cộng 28 trang, có lẽ dài nhất cho một tác giả, chỉ kém phần Lưu Quang Vũ.

Như đã nói trên, phiên họp thứ hai do nhà thơ Phó Chủ tịch Viên Linh triệu tập bác bỏ quyết định trước. Khỏi phải nói, ai cũng có thể tưởng tượng được phiên họp này gay go như thế nào. Chỉ cần 4 người đồng ý là Ban Chấp Hành phải tuân theo. Cuối cùng, Bùi Bích Hà là một trong những người không chấp thuận sau một cuộc bàn luận kỹ càng hơn.

Ngoài 2 biên bản này, chúng ta còn có thể nhận ra sự trùng hợp của vài nhân sự và thời gian soạn thảo cũng như xuất bản Trăm hoa vẫn nở trên quê hương khi so sánh với nhân sự và thời gian của 2 biên bản trên. Theo nhà văn Nhật Tiến:

-“[…] Người ở xa thì sưu tập tài liệu từ trong nước, nhận phân công viết bài, người ở ngay Orange County (khoảng 20 vị)  thì tụ họp hàng tuần để bàn thảo nội dung cuốn sách, góp ý cân nhắc để chọn lựa các tài liệu đã có, lập danh sách phân công viết bài. Tuy nhiên nhũng vị đóng góp công sức tích cực nhất thì có thể kể tên như : Trần Vịnh, Ðỗ Hữu Tài, Thân Trọng Mẫn, Nguyễn Quốc Trung, Lê Bửu Tấn, Nguyễn Bá Tùng, Trương Ðình Luân, Hoàng Sử Mai, Nhật Tiến, Nguyễn Mộng Giác, Hoàng Khởi Phong, Đỗ Thái Nhiên…[…] Theo tôi, có lẽ đây là một lần duy nhất tính cho đến nay, đã có một nhóm cầm bút thuộc nhiều khuynh hướng khác nhau đã ngồi lại được với nhau trong suốt ròng rã gần 2 năm trời với một sinh hoạt sôi nổi, nhiệt tình và đầy thiện chí để làm đến nơi đến chốn một công trình kể từ lúc khởi sự cho đến khi hoàn tất để có thể phát hành vào khoảng tháng 8-1990…” [Nhật Tiến, Trăm hoa vẫn nở trên quê hương, https://nhavannhattien.wordpress.com/tram-hoa-van-no-tren-que-huong/]

Hai nhân vật hiện diện trong cả biên bản thứ hai lẫn lời trình bày của nhà văn Nhật Tiến là chính ông và Đỗ Thái Nhiên. Ngôn ngữ trong cả hai văn bản thượng dẫn cũng có tương đồng nếu so sánh “thành lập một nhóm…” [Biên bản thứ nhất] với “đã có một nhóm …”[Nhật Tiến, sđd]. Thời gian sửa soạn cũng trùng hợp, suy ra từ ngày bắt đầu tháng 8. 1988 (biên bản thứ nhất) tới ngày kết thúc “ròng rã gần 2 năm trời với một sinh hoạt […] để làm đến nơi đến chốn một công trình kể từ lúc khởi sự cho đến khi hoàn tất để có thể phát hành vào khoảng tháng 8-1990…” [Nhật Tiến, sđd]

Tôi đã phỏng vấn cả ba (nhà văn Bùi Bích Hà, nhà văn Nhật Tiến và nhà thơ Viên Linh) về vấn đề này. Bằng chứng là không những tôi đã công bố 2 biên bản viết tay trong một bài trước đây khi họ còn sinh tiền mà còn giữ cuốn Trăm hoa vẫn nở trên quê hương do chính nhà văn Nhật Tiến tặng lại–sau này khi tôi quen và phỏng vấn ông–để làm tài liệu khi ông được biết trước đây, tôi không có cuốn này trong tay mà phải mượn của một người bạn:

clip_image008

Trăm hoa vẫn nở trên quê hươngCao trào văn nghệ phản kháng tại Việt Nam 1986-1989

Nói một cách khác, Bùi Bích Hà– một nhà văn lẻ loi trong văn giới, lận đận trong cuộc mưu sinh lúc đó–đã công khai không đồng ý với một số thành viên nổi tiếng, lại ổn định đời sống hơn vì nhập cư Hoa kỳ trước.

Trên thực tế, sự thất bại trước Ban Chấp Hành TT VB Nam California chỉ là một trong nhiều yếu tố quyết định. Độc giả mới có quyết định tối hậu. Họ, điển hình qua trường hợp một phụ nữ như Bùi Bích Hà và một cựu quân nhân như Cao Xuân Huy, đã là thành phần phản đối kịch liệt và hiệu quả, chứ không phải giới tác gia di tản.

Tôi muốn trình bày rất chi tiết về 2 buổi họp Văn Bút thượng dẫn với trường hợp xuất bản cuốn Trăm hoa vẫn nở trên quê hương nhắm nhấn mạnh dấu hiệu đầu tiên của một đời viết và một đời tham dự sinh hoạt cộng đồng của Bùi Bích Hà–cho tới nay, tôi chưa thấy ai nhắc đến qua các bài viết về bà–một cách độc lập, không những về phương cách mà còn phản ảnh một thái độ chính trị chống Cộng từ khi gia nhập làng văn cho đến cuối đời. Nhờ đó, tôi sẽ có thể tường thuật một cách khái quát về vị trí tiếp tục không thay đổi này bằng cách kiểm chứng qua tiểu sử nhắm đối chiếu với hoạt động trong báo chí và truyền thanh, hai lãnh vực mà bà chọn lựa, trong nhiều năm cho đến khi qua đời.

(Còn tiếp)

bài đã đăng của Nguyễn Tà Cúc

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

@2006-2022 damau.org ♦ Tạp Chí Văn Chương Da Màu
Đăng nhập | Entries (RSS) | Comments (RSS)