Trang chính » Biên Khảo, Chuyên Đề, Tiểu luận, Tự Lực Văn Đoàn- Phong Hóa- Ngày Nay Email bài này

Từ Áo dài “Lemur” đến Thái độ tiêu cực của Tự lực Văn đoàn với Nữ đồng nghiệp cấp tiến Miền Nam

Trong lịch sử y phục phụ nữ Việt Nam, tên họa sĩ (Lemur) Nguyễn Cát Tường vẫn được nhắc đến qua một kiểu áo dài có tên là “áo Lemur”. Kiểu áo này đánh dấu một thay đổi quan trọng trên con đường dẫn đến chiếc áo dài của phụ nữ Việt hiện nay (1). Nhưng có bao nhiêu người được chính mắt nhìn thấy những bức họa kiểu đầu tiên (ký tên Lemur) và được đọc những bài ông viết (ký tên Nguyễn Cát Tường) cổ võ cho kiểu áo này xuất hiện trên Phong Hóa, do nhà văn Nhất Linh chủ trương vào đầu thập niên 1930, để vận động cho kiểu áo của ông? Càng quan trọng hơn nữa, sự kêu gọi phụ nữ ấy không chỉ giới hạn vào một kiểu áo: đó chính là một cuộc “cải cách y phục” nằm trong một cuộc vận động toàn diện nhắm thay đổi cách sống và cách suy nghĩ của người Việt thời ấy, do chính nhà văn Nhất Linh –người sáng lập và chủ trương nhóm Tự lực Văn đoàn – đề xướng cùng với sự hỗ trợ tích cực của các thành viên trong nhóm.

Phong Hóa trong tay Tự lực Văn đoàn, cùng ba người nòng cốt là Nhất Linh, Khái Hưng và Hoàng Đạo, vẫn được coi là đã làm được một cuộc cách mạng về cả báo chí lẫn cách trước thuật. Từ đó đến nay, không có một tạp chí nào tập hợp được cùng một số đoàn viên đồng tài và đồng lý tưởng như họ. Ảnh hưởng của Phong Hóa với những bài nghị luận hàng tuần ngay trang nhất của Nhị Linh [bút hiệu khác của nhà văn Khái Hưng (2)] liên quan đến một đời sống xã hội lạc hậu, một chính trường trong tay người Pháp, một văn đàn sôi động với những cuộc bút chiến liên tiếp và hai nhân vật biếm họa Lý Toét và Xã Xệ vv đã giúp họ một khí giới lợi hại để xây dựng đồng thời cũng để đả phá.

Trong bài, người viết sẽ phân tích để đối chiếu công cuộc vận động này—nhất là việc muốn giải phóng phụ nữ khỏi những ràng buộc ác nghiệt của những giá trị lỗi thời hay họ cho là lỗi thời– đối với thái độ của họ qua những bài viết trên Phong Hóa dành cho các nữ đồng nghiệp cấp tiến Miền Nam mà điển hình là nhà thơ-phóng viên Nguyễn Thị Kiêm (tự Nguyễn Thị Manh Manh) nhằm lúc cô đại diện Tạp chí Phụ Nữ Tân Văn (3) cùng ông Chủ nhiệm từ Sài gòn du hành ra Bắc (4).

I-Cuc “Ci cách y phc” bng “áo Lemur” trên Phong Hóa

 

1-N lc ca T lc Văn đoàn

Như đã nói trên, tâm điểm của cuộc “cải cách y phục” này không chỉ hạn chế vào một chiếc “quần trắng” hay một “đường ngôi lệch”. Bài “Vẻ đẹp của các Bà các Cô”, ký tên Nhị Linh (một bút hiệu khác của nhà văn Khái Hưng), được dành một chỗ trang trọng ngay trên trang bìa Phong Hóa là nơi vẫn được Nhị Linh dùng dưới hình thức một bức thư ngỏ gửi “một ông nghị” hay cho người khác như Hoàng Đạo sử dụng để bàn về những vấn đề xã hội và nghệ thuật cần được cải tiến. Trong nhóm Tự lực Văn đoàn, sự thân thiết giữa Nhất Linh và Khái Hưng đã được thể hiện không những qua số tác phẩm viết chung (Gánh hàng hoa, Đi Mưa gió hay tập truyện ngắn Anh phi sng vv) mà còn qua bút hiệu ký chung Nhất Nhị Linh như dưới bài “Cuộc điểm báo-Ông Đỗ Đình với văn annam” (Số 90, Năm thứ ba, ngày 23.3.1934). Ngoài ra, sự khắng khít gữa hai tác gia không đâu rõ hơn bằng lời Nhất Linh giải nghĩa tại sao ông nhận lời Khái Hưng tặng cuốn Na Chng Xuân cho ông và nhờ ông đề tựa: “Tôi rất lấy làm cảm kích mà nhận lời, vì ý nghĩa cuốn sách đó rất hợp với tư tưởng và quan niệm của tôi đối với xã hội hiện thời-Ngày 13 tháng 2 năm 1934” (Nhất Linh, số 90, Năm thứ ba, ngày 23.2.1934). Bởi thế, người đọc có thể kết luận rằng Nhị Linh (Khái Hưng) đã viết bài cổ võ cho áo Lemur với cả người sáng lập (nhà văn Nhất Linh) cũng như nhóm Tự lực Văn đoàn đứng sau:

– “Thưa ông Nghị,

Tôi đã tiếp được bức thư của ông […]Song ông lại chỉ trích lối y phục phụ nữ của chúng tôi mà ông đoán sẽ giống bức tranh vẽ ngoài bìa một cuốn sách của hiệu NamKý: ông chê rằng lối y phục ấy không được phổ thông và chúng tôi chỉ nghĩ đến các bà giàu có sang trọng. Điều đó, thực tôi không phục. Tôi thì tôi cho sự cải cách y phục phụ nữ của chúng tôi chỉ có một ý nghĩa phổ thông dù vẻ đẹp của bộ áo quần do họa sĩ Cát Tường chế ra được hay không được công chúng công nhận và hoan nghênh mặc lòng. Vậng, tôi nói ph thông, mà rất phổ thông.

Tôi hãy hỏi ông: những lối y phục tân thời ngày nay của các bà thì tân thời ở chỗ nào? […] Về “đường”về “nét”, về hình cắt tịnh không có cái gì khác trước[…]Không tiện thì thực là không tiện rồi, mà mềm mại óng ả thì thực cũng chẳng có chút nào rồi: song phổ thông thì phổ thông ở chỗ nào? Một cô con nhà giầu, có tiền mua nhung mầu, mua cẩm châu, hàng tầu, hàng tây đủ thứ thì cô ấy ta cho là tân thời…Còn những cô sinh vào nơi không có của thì lấy tiền đâu mà sắm thức hàng nọ với hàng kia. Các cô đành mặc cái quần lụa, cái áo lương. Thế là các cô chịu liệt vào hàng ăn mặc cũ kỹ, “không tân thời” tuy áo của các cô cũng như áo của các cô tân thời, chẳng kém một mảnh vải, chẳng thiếu một cái khuy. Nói rút lại y phục của các bà an nam ngày nay chỉ tân thời ở màu và hàng tơ lụa. Trái lại, khi sự cải cách y phục của chúng tôi có kết quả thì ai ai cũng ăn mặc theo kiểu tân thời được. Các nhà họa sĩ sẽ tìm ra các đường khâu, các cách cắt, khiến một cô con gái có thể giữ được vẻ mềm mại dịu dàng, óng ả của tấm thân xinh đẹp được, dù các cô dùng hàng “bombay”, hàng “thượng hải” hay chỉ dùng hàng an nam từ lương, the, lụa là cho đến vải annam nữa. Tôi chưa bàn nên hiến lối y phục của chúng tôi cho các cô ở thôn quê. Song, nếu cô nào muốn theo thì cũng chẳng ai dám chê là lố. Mà dẫu ông khuyên các cô trong làng theo lối ấy thì cũng chẳng ai dám kêu là bạo. Mà bao giờ được thế–rồi tất phải được thế, vì chúng tôi sẽ có nhiều kiểu, ai muốn theo kiểu nào mặc ý—thì sự cải cách y phục của chúng tôi thực sẽ hoàn toàn có tính cách phổ thông. Chúng tôi ao ứơc rằng ông sẽ lên chơi tòa báo để chúng tôi được cùng ông nói truyện về dân quê. Kính thư” (Nhị Linh, “Vẻ đẹp của các bà các cô, Phong Hoá số 89, Năm thứ ba, Thứ sáu 16.3. 1934, trang 1, 4)

2-Áo dài kiu Lemur Nguyn Cát Tưng

 

Trước đó, từ số 86 và liên tiếp sau đó trong nhiều số, Phong Hóa đã mở mục “Vẻ đẹp riêng tặng các bà các cô” do Lemur Nguyễn Cát Tường phụ trách. Dưới tên Nguyễn Cát Tường, ông viết nhiều bài đưa ra chủ đích và giải thích các sáng kiến về áo dài hay quần phụ nữ và dưới tên Lemur, ông trình bày chi tiết những lời dẫn giải ấy bằng những họa kiểu linh động. Sau đây là mấy bài tiêu biểu:

Phong Hóa Tun báo Số 86 – “Y phục của Phụ nữ” (Năm thứ ba, Thứ sáu 23 tháng hai, 1934, trang 4- Người viết giữ nguyên văn của nguyên bản)

“Mới nghe đầu đề, ta chớ vội cho là một vấn đề nhỏ mọn không đáng bàn, một vấn đề thuộc về vật chất. Chính ra vật chất vẫn có mật thiết với tinh thần mà nó lại cùng với tinh thần phân biệt rõ ràng loài người với giống vật[…]Theo ý tôi, quần áo tuy dùng để che thân thể, song nó có thể là tầm gương phản chiếu ra ngoài cái trình độ trí thức của một nước. […]Đoái nhìn lại nước nhà, tôi không khỏi có điều chán nản. Trừ y phục của bọn trai chúng tôi, phần nhiếu phỏng theo kiểu mẫu của người Âu Mỹ, còn y phục của các bạn gái, tôi xem thấy có nhiều điều bất tiện mà lại không có vẻ chi là mỹ thuật. Tuy rằng vài năm gần đây, y phục của các bạn gái cũng có một vài phần sửa đổi, song sự sửa đổi ấy chẳng qua chỉ ở mấy cái màu sặc sỡ, mấy thứ hàng lạ nườc ngòai. Rút cục lại, đâu cũng vẫn hòan đấy. Công sửa đổi cũng bằng thừa. Phụ nữ đời nay có khác phụ nữ đời xưa họa chăng ở chỗ không đội nón thúng quai thao, không đi dép cong hay giầy “mõm nhái” như họ. Còn thì, vẫn kiểo áo lòe xòe ấy, vẫn cái quần lụng thụng đen ngòm ấy. Hoặc giả cũng có người ưa mặc quần trắng, song tiếc rằng số đó rất ít. Họ có ít không phải là họ sợ mặc quần trắng nó sạch quá, chỉ tại họ sợ cái dư luận “quáng gà” của người mình. Hễ trông thấy bóng một cô mặc quần trắng đi qua là y như có kẻ bất bình nói mát…nào là tân thời, nào là lố bịch…Nhưng nghĩ cho kỹ, những kẻ đó bất bình cũng phải…Vì sao các cô không giám theo họ ở bẩn? Vì sao các cô lại tự tiện bỏ quần đen, nó là quốc hồn quốc túy của họ? Và quần đen có bẩn cũng chằng ai thấy mà lại dỡ tốn công giặt. Rõ rại vô cùng.

Nhưng nói là nói vậy, nếu các bạn gái không sợ ở sạch, tôi sẽ khuyên nên mặc hẳn quần trắng. cái quần trắng cũng như cái đường ngôi lệch, đôi giầy gót cao, e nó chẳng hề tiêu biểu cho sự lãng mạn, dâm ô […]Bộ áo các bạn gái rồi đây phải như thế nào? Trước hết, nó phải hợp với khí hậu xứ ta, với thời tiết các mùa, với công việc, với khuôn khổ, với mực thước của thân hình mỗi bạn, sau nữa, nó phải gọn gang, dản (giản) dị, mạnh mẽ và có vẻ mỹ thuật và lịch sự. Nhưng dù thế nào, nó cũng phải có cái tính cách riêng của nước nhà mới được. […]

Muốn để các bạn khỏi mất thì giờ vô ích, tôi xin thưa: Chính cái cổ là thừa và hai ống tay bất tiện. Cúc cổ chẳng bao giờ cài thì cái cổ để làm gì, tôi xin hỏi? Để che cổ ư? Thì nó nhỏ síu (xíu) thế kia, che thế nào đủ, vả lại áo các phụ nữ nước lạnh bên Âu Mỹ còn chẳng cần cổ, nữa lá xứ ta khí hậu rất nóng. Còn hai ống tay thì …thì các bạn cứ thử co tay lại vuốt mái tóc mà xem. Có phải nó chật quá không? …nó khó chịu và bất tiện lắm không? Mà người không dám co tay vào, ruổi tay ra thì mất hết vẻ tự nhiên, mềm mại, yểu điệu của trời đất phú riêng cho các phụ nữ không? Không những thế, các kiểu áo của các bạn nó lại còn kỳ dị lắm nữa. Nếu các nhà mỹ thuật Âu Mỹ qua xứ ta, chẳng may lần đầu mà được thấy những bộ áo của các bạn, tôi dám chắc họ phải ngạc nhiên mà buột mồm kêu: “Ố là là…” (nếu họ là người Pháp). Phải, họ lấy làm lạ là phải vì phụ nữ nhà Nam sống trong thế kỷ thứ hai mươi này mà còn giữ những bộ quần áo lôi thôi, lốc thốc như thế ư?

Trời sinh ra người, vốn sẵn dành cho các hình dáng riêng, chỗ nở chỗ thắt hợp với đủ phương diện mỹ thuật chứ chẳng phải là trơn tuột như cái hộp kẹo sìu hay ống bột “nét-lê”. Bởi vậy áo mặc phải ăn với người, phải có đường lối văn minh thì vẻ đẹp ấy mới có thể lộ ra ngòai được. Sau nữa kiểu mẫu phải tùy theo từng người mà thêm bớt. Ví dụ như áo người gầy phải nhiều nếp chếp thêm mà áo người mập mạp phải cho lẵn thì trông mới mất vẻ khẳng khiu hay sồ sề. Múôn các bạn hiểu được những sự sửa sang hay thêm bớt đó thì từ kỳ sau tôi sẽ lần lược phô bầy những kiểu mẫu tôi đã nghĩ được…” (Nguyễn Cát Tường, sđd)

Phong Hóa Tun báo Số 90- Năm thứ ba, Thứ sáu 23 tháng ba, 1934, trang 4

“[…]Vậy kiểu áo này tuy có đôi vẻ khác thường, xin các bạn cứ yên lòng. Không những nó có một tính cách riêng, nó lại còn tỏ cho người ngoài biết rằng: nước ta đã đến thời kỳ biết cải cách và cũng có riêng một bộ quốc phục hợp thời . Ngòai ra nó lại còn đúng với phép vệ sinh, thâu gồm các vẻ mỹ thuật và thêm giúp giáng (dáng) điệu của “phái đẹp”. Sở dĩ tôi cho hơi chật ở chỗ bụng là vì tôi muốn phân biệt rõ ràng phần ngực với phần bụng. Trái hẳn với ý tưởng của một vài nhà đạo đức Việt Nam, người Tây Âu đều cho bộ ngực cần nhất cho nhan sắc phụ nữ. Một người con gái đẹp mà “không có ngực”, nghĩa là ngực lép kẹp như chiếc đồng hồ Oméga – thì không thể nào gọi là một người đẹp hoàn – toàn được… Có người khi trông thấy một thiếu phụ có bộ ngực nở nang thường ra chiều mai mỉa, vì họ cho thế là chướng, là lẳng lơ. Đối với người đó nếu ta đem ý tưởng Âu Tây, tinh thần mỹ thuật ra giảng, chắc họ không khi nào chịu hiểu. Họ có biết đâu rằng chính người mình cũng hay dùng câu: thắt đáy lưng ong để tả một người con gái đẹp. (Một số báo sau, tôi sẽ có bài nói về cách luyện bộ ngực cho được nở nang.)
Từ bụng trở xuống, ta nên thu hẹp lại cho mất vẻ lòa sòe. Nhưng có một điều tôi muốn các bạn để ý theo hơn hết là nên bỏ hẳn chiếc vạt con và cho chùng thêm các vạt chính. Ngoài hai việc lau tay và hỉ mũi, ta để vạt con không những không có ích gì thêm nữa, mà nó lại còn bất tiện, vì về mùa rét ta mặc hai, ba áo kép một lúc thì những vạt con ấy chồng chất lên nhau sẽ làm cho ta khó chịu và người trông sẽ thành một bên phồng cộn, còn một bên lép kẹp. Còn các vạt chính, tôi khuyên nên cho dài chút nữa…”

Phong Hóa Tun báo số 89- Năm thứ ba, Thứ sáu 23 tháng ba, 1934, trang 13

“Y phục của phụ nữ”

-"Trong bụng vẫn đinh ninh: Thế nào kỳ này cũng quyết hiến các bạn một vài kiểu áo. Nhưng…một ý tưởng vụt qua làm tôi bàng hoàng sực nghĩ tới một thứ, một thứ mà đáng nhẽ ra phải nói ngay từ đầu, vì nó là phần đầu, phần chính, phần cốt yếu trong bộ y phục. Nó là…là…nói ra sợ chẳng ai tin, nó là cái quần. Phải, chính cái quần […]Phụ nữ ta mới được ít người biết bỏ cái mầu đen di truyền, nó âm thầm buồn tẻ mà may bằng những thứ hàng màu trắng. Chị em dùng các hàng ấy để may quần là một điều rất có lý, mà có lý nhất nữa là hợp với cách vệ sinh. Tuy thế còn một điều chị em vẫn chưa để ý tới. Đó là lối cắt may. Lối cắt hiện thời của chị em tôi xem còn hơi chút lụng thụng, chính vì thế bề mỹ thuật mới có bề giảm kém[…]Vậy quần của bạn gái tôi thiết tưởng nên thay đổi theo cách sau này: Từ cạp đến đầu gối nên thu hẹp bớt để vừa khít với thân hình, như thế những vẻ đep thiên nhiên của từng người mới lộ ra được. Còn từ đầu gối trở xuống đến chân, hai ống quần lại phải may rộng dần ra để khi đi đứng cái dáng điệu của các bạn được tăng thêm vẻ nhẹ nhàng. Còn trên cạp thì có hai lối: lối thứ nhất (trong hai hình tròn) may mổ tựa như quần tây, nhưng hai miếng hai bên phải rộng và giài hơn để có thể buộc khép vào với nhau được. Rải (dải) rút ta sẽ thay vào hai cái rải (dải) cùng thứ vải may quần dính vào hai đầu cạp rồi thắt chéo sang cạnh sườn. Nếu muốn cẩn thận hơn chút nữa, ta có thể thêm mấy cái khuy bấm ở bên cạnh mép (chỗ quần mổ) cài vào với nhau. Lối thứ hai thì cũng như cạp quần thường, nhưng có một điều nên (để) ý là đừng may rộng quá. “

Phong Hóa Tun báo, Số 96- Năm thứ ba, Thứ sáu 4 tháng ba, 1934-, trang 13

“Mấy mẫu quần mới”

-“Một số trước đây, tôi đã có dịp nói tới cái mẫu quần lối “loa” rồi-Tôi tạm gọi tên lối đó là lối “loa” vì hai ống nó bắt đầu từ giữa người đến đầu gối thì hẹp và từ đầu gối xuống bàn chân thì từ từ rộng ra như cái loa (4) vậy. (Trông nó giống cái “loa” thì tôi gọi tên nó thế chứ thật ra không có ý gì khác xin ông chủ báo “Loa” đừng nghĩ ngợi.) Cứ theo như lối quần “loa” mà các bạn thêm thắt đôi chút sẽ được mấy mẫu quần khác nữa…”

Nhưng Nguyễn Cát Tường không tránh khỏi có lúc thái quá hay mâu thuẫn với chính ông đến nỗi có khi phê phán phụ nữ Miền Nam và Việt Nam bằng những nhận xét hay mỉa mai không đúng mà đáng trách nhất vẫn là cái lối hài hước đầy khinh mạn nhắc đến phụ nữ Miền Nam trong đoạn có cả thú vật:

– “Tòan thân bộ áo của phụ nữ nước nhà chỗ nào cũng đáng chỉ trích. Kiểu mẫu đã giống cái “áo chai”, đôi tay lại như cái “ống nứa” mà còn cái cổ lại “vô nghệ nghiệp”. Ống tay không thích hợp, tôi đã lạm phép sửa lại Còn cái cổ bơ vơ không việc, tôi hết sức xin bãi bỏ. […] Phụ nữ đất Bắc ta ít khi gài khuy cổ, song ở trong Nam chẳng bao giờ đàn bà chịu để cổ hở. Làm như thế, họ đã tự đặt mình vào một hạng kỳ quan…trong các kỳ quan trong vũ trụ. Họ không như con gấu hai mõm, con gà ba chân hoặc con rùa hộp, nó chỉ làm trò cười cho độc giả Phong Hóa, họ lại đứng riêng ra một phái mà đối với ngừơi biết quan sát, nó lạ đời một cách bất ngờ […] Còn ở trong Nam – cho đến tận mỏm Cà mâu – khí hậu bội phần nóng bức thì… thật là “bất trị”…áo của phụ nữ không những có đủ cỡ mà họ lại có tính chơi bướng mang cài nút lại. Như thế phỏng còn trời đất nào nữa?" (Nguyễn Cát Tường, Phong hóa, Số 88- Năm thứ ba, Thứ sáu 9.3.1934, trang 9).

Lại nữa, tuy kêu gọi phụ nữ tập thể thao, nhưng xem ra Cát Tường (và cả một số nhà văn trong nhóm) hạn chế sự tập thể thao vào việc “làm đẹp” mà chống lại việc nam nữ bình quyền một cách cụ thể như diễn thuyết, đua xe đạp hay chơi một môn thể thao như nam giới. Vì quá hăng hái trong việc muốn đổi mới, Cát Tường viết những lời không đẹp mà cũng không đúng:

-“Phụ nữ nước ta ít người có thân hình đẹp: không béo lùn, tất gầy khẳng khiu như cái “xe điếu” hay khô đét như con “cá mắm mực”[…]Nói như thế không phải là khuyên chị em vận quần đùi, áo cộc, đi giầy “sáng đá” rủ nhau lập hội bóng tròn như mấy cô ở “cái Vồn” trong Nam kỳ hồi năm ngoái đâu […] Thể thao làm cho người béo được săn da lẳn thịt, thể thao cần thiết cho thân thể cũng như cơm gạo. Chị em Âu, Mỹ đều công nhận như thế…” (Nguyễn Cát Tường, Phong Hóa, Một môn thể thao, Số 91- Năm thứ ba, Thứ sáu 30.3.1934, trang 8).

Thế còn đa số (theo Cát Tường) phụ nữ “lùn, gầy khẳng khiu như cái “xe điếu” hay khô đét như con “cá mắm mực” thì tập “15 phút mỗi buổi sáng” có chữa được các chứng bệnh này hay không? Và các cô Hà nội đã được vào thơ của nhà thơ Quang Dũng (“Đêm mơ Hà nội dáng kiều thơm”) thì nhờ tập môn thể thao nào? Sau nữa, những kiểu lý luận như “Thể thao làm cho người béo được săn da lẳn thịt, thể thao cần thiết cho thân thể cũng như cơm gạo. Chị em Âu, Mỹ đều công nhận như thế…” dễ khiến giới bảo thủ quá khích càng có cớ khích bác. Tại một nơi như thôn quê Miền Bắc lúc ấy mà nhiều nơi người ta vẫn còn phải ăn cơm độn sắn hay khoai và điều kiện sinh sống của họ bị chính Nhị Linh cho là “mọi rợ” vì “Bên cạnh những vật bẩn thỉu nổi lềnh bềnh, một người ngồi vo gạo người khác gánh nước ăn…” (Phong Hoá số 86) thì việc tập thể thao (để làm đẹp thân thể) rõ ràng là một thứ xa xỉ phẩm. Bởi thế, người đọc dễ có cảm tưởng rằng khi Nguyễn Cát Tường và một số nhà văn này đề cập đến “cái đẹp” của phụ nữ là một cái đẹp để trang trí hơn là một cái đẹp “thậm hùng dũng” (mượn lời học giả Nguyễn Văn Tố chỉ Hai Bà Trưng). Hơn thế nữa, những phụ nữ cấp tiến từ Nam ra Bắc diễn thuyết như Phan Thị Nga, Nguyễn Thị Kiêm (bỉnh bút và đại diện tờ Phụ Nữ Tân Văn tạm thời tại Hànội) về cùng những vấn đề Phong Hoá đã đặt ra đều bị bỡn cợt có khi một cách rất ác độc và có khi, thô bỉ.

Như thế, chiếc “áo Lemur” xuất hiện trên một tờ báo thế lực như Phong Hóa với một sứ mệnh tuy rõ ràng nhưng có xung đột ngay từ chính nó: cải cách y phục, nghĩa là phần xác, cho phụ nữ nhưng chưa chấp nhận một cuộc cải cách toàn diện có cả phần hồn tức là tinh thần cấp tiến của phụ nữ, một điều mà bà Phan Thị Bạch Vân, chủ nhiệm và chủ bút sáng lập của tờ Tinh thn Ph N (sau phải đổi thành Nữ Lưu Thư Quán khi bà bị chính quyền Pháp đưa ra Tòa) ở Gò Công, đi tiên phong trước đó khoảng 5 năm và sau này, Chủ nhiệm sáng lập Cao Thị Khanh với Ph n Tân văn.

 

II- Thái đ ca T lc Văn đoàn đi vi các N Đng nghip Min Nam trong vn đ N quyn: Mt s t xung đt đy mâu thun

 

1-Tn công nhà thơ, ký gi và nhà tranh đu cho n quyn Nguyn Th Kiêm (1914, Sài gòn-2005, Pháp)

Sự tự xung đột đầy mâu thuẫn ấy ngay từ chính Tự lực Văn đoàn–cải cách y phục cho phụ nữ nhưng chưa chấp nhận một cuộc cải cách toàn diện về tinh thần cấp tiến của phụ nữ –đã được thể hiện qua một số bài viết không đẹp thậm chí có khi ấu trĩ hay thô bỉ về nữ giới hay nữ đồng nghiệp Nguyễn Thị Kiêm và Phan Thị Nga qua những bài chế diễu nhẹ nhàng từ Nhất Linh, Thạch Lam, Hoàng Đạo cho tới thậm tệ của Lê Ta và Tú Mỡ. Nguyễn Thị Kiêm, nhà diễn thuyết lừng danh xuất thân từ Sài gòn, là mục đích chính của cuộc tấn công này, một cuộc tấn công kéo dài ròng rã trong mấy số và cả ngay trên bìa Phong Hóa.

Sự thể bắt đầu vào cuối tháng 8, 1934 khi phái đoàn Tạp chí Ph n Tân văn ra thăm Hà nội. Chuyến viếng thăm này được ghi lại trong cuốn Ph n Tân văn: Phn son tô đim sơn hà (Thiên Mộc Lan, Nhà xuất bản Văn Hóa Sài Gòn & Công ty sách thời đại, 2010) như sau:

-"Chuyến đi gồm có: Ông Chủ nhiệm Nguyễn Đức Nhuận (lái xe), ông Nguyễn Đình Trị (thân phụ cô Kiêm), cô Nguyễn Thị Kiêm, Cô Phan Thị Nga[…] Phần trách nhiệm diễn thuyết của Nguyễn Thị Manh Manh (tức Nguyễn Thị Kiêm-Chú của người viết) được sắp xếp như sau: Tại Hà nội, cô Kiêm diễn thuyết ở Hội Khai Trí Tiến Đức đêm 8 tháng 9 năm 1934 với chủ đề ‘Một ngày của một người đàn bà tân tiến'[…] Tiếp theo, Nguyễn Thị Manh Manh đến tỉnh Nam Định diễn thuyết với đề tài ‘Có nên tự do kết hôn chăng?’ Và cô đến Hải phòng thuyết trình với chủ đề ‘Nên bỏ chế độ đa thê không?’ Từ cô nữ sinh trường áo tím, Nguyễn Thị Kiêm bước vô làng báo chí mới 19 tuổi. Có thể nói cô là hình tượng đặc biệt của phụ nữ Sài gon hồi thập niên 30. Nhất quyết đòi ‘Niêm phong cái tam tùng’ (Tựa đề một bài xã luận của Nguyễn Thị Kiêm-Chú của người viết.)" (Thiện Mộc Lan, sđd, trang 268-269)

Theo lẽ thường, một phụ nữ như Nguyễn Thi Kiêm phải được những người như Tự lực Văn đoàn, đang muốn có một cuộc cách mạng xã hội, cụ thể là bắt đầu ngay từ vấn đề y phục, tán trợ. Nhưng không phải thế. Những diễu cợt nhẹ nhàng của Nhất Linh hay mạt sát của Thế Lữ (và Tú Mỡ trước đó) không khỏi cho người đọc cái cảm tưởng rằng họ không muốn tiếp tay với các phụ nữ hay nữ đồng nghiệp cấp tiến để giúp sự đòi hỏi được bình quyền của phụ nữ lúc bấy giờ vì vẫn còn duy trì một thứ thành kiến coi nhẹ phụ nữ rất tai hại. Nhân một trong những chủ đề diễn thuyết của Nguyễn Thị Kiêm là về đa thê, Phong Hóa đã cho đăng những bài chế diễu, bịa đặt tin tức để chế diễu, thậm chí còn liên kết nó với việc “đa ngôn” (vẫn gán cho phụ nữ) để dè bỉu:

-“Cô Nguyễn Thị Kiêm hết diễn thuyết ở Hanoi, ở Namdinh lại xuống Haiphong diễn thuyết lần thứ ba. Lần này cô nói về chế độ đa thê […]Nhưng còn cái tệ đa ngôn? Ngẫm nghĩ mãi tôi mới hiểu vì cớ gì bọn đàn ông biểu đồng tình với cô mà muốn bỏ chế độ đa thê: đàn ông ai mà chẳng có lần lầm lỡ. Về nhà một bà diễn thuyết cho nghe cũng đủ khổ, huống chi lại ba bốn bà, ba bốn lần diễn thuyết[…]Cô Kiêm muốn ngỏ ý lên Pac-hin-Buon để diễn thuyết cho dân mán sơn đầu nghe và khuyên họ nên để tóc. Được tin này, dân mán sơn đầu hỏang hốt, sợ hãi vô cùng, sợ hãi đến nỗi có một đêm mà đầu người nào cũng mọc đầy tóc cả để cô Kiêm đừng lên nữa.” (Nhất Linh, “Tin tức .. …mình”, Phong Hóa 124, 16. 11. 1934, trang 2)

-"Theo lời bà Nguyễn Đức Nhuận tuyên bố thì quốc dân đương lo sợ vì nỗi cô Kiêm lại đi đường xa, đi ra “tận” Hà nội (theo đúng lời bà N.Đ.Nhuận). Quốc dân lo sợ thật, nhưng không lo sợ vì cô Kiêm là gái đi đường xa, mà chính vì cô Kiêm là gái…đa ngôn.” (Shin, “T.S…G-Tin Saigon”, Phong Hóa số 124, trang 8, ngày 16. 11. 1934)

Khó hiểu hơn là trường hợp Hoàng Đạo, người xả thân cho việc cải cách xã hội:

-“Mới biết là gian phòng đấu xảo của phụ nữ. Đàn bà con gái, ở xã hội Việt Nam, họp, thôi đủ mặt: gầy có, béo có, già có, trẻ có, nhàng nhàng có, nhỡ nhỡ có. Họ chia ra làm hai phái, không khác gì Nghị viện Dân biểu Bắc Kỳ cả: phái tả và phái hữu. Phái hữu là phái cổ. Nón quai thao, dép cong…phần đông đương ngồi kể truyện nói xấu nhau…đợi người đến mua về làm vợ. Bên phái tả có các cô tân thời, ăn vận xa hoa lòe lọet, trông xa như đàn bướm lượn. Lại gần có tiếng ồn ào: hóa ra họ diễn thuyết. Mấy cô …đương hô hào bình quyền, giải phóng, phá đạo tam tùng, giải nghĩa tự do. Diễn thuyết đoạn, các cô tân thời vỗ tay như pháo nổ, rồi…im lặng […]Còn về phần đông lại ngồi kể truyện nói xấu nhau… đợi người đến mua về làm vợ. Thật là tiến bộ trông thấy.” (Tứ Ly, “Cuộc Hội chợ Phong Hóa tổ chức”, Phong Hóa số 126, trang 5, ngày 30.11.1934)

Chủ ý miệt thị “đàn bà con gái, ở xã hội Việt Nam” bằng câu nhiếc mắng "Thật là tiến bộ trông thấy" của Tứ Ly (Hoàng Đạo) qua câu “đợi người đến mua về làm vợ” là một sự xúc phạm nặng nề hơn nữa vì tác giả đã công khai phát biểu trên một tạp chí có thế lực như Phong Hóa dường như trong sự an tâm rằng không phụ nữ nào có thể phản ứng được. Tứ Ly đã có những dòng viết trên chỉ mấy tháng sau Tú Mỡ — người vẫn dùng một chữ rất nôm na là “mẹ đĩ” để gọi các bà vợ– đã làm nguyên một bài thơ dài từ mấy tháng trước khi Nguyễn Thị Kiêm ra Bắc để xỉ mạ các cô gái (tân thời) muốn đòi nữ quyền một cách hết sức ngoa ngôn và thô bỉ. Hai chữ "tân thời" được cả Hoàng Đạo và Tú Mỡ nhắc đến với hàm ý không khen và nếu người viết không nhầm thì "tân thời" đối với Tự lực Văn đoàn cũng đồng nghĩa với "Nữ quyền":

-“Hn xưa giòng giõi thế gia/Bn ngàn năm gi nếp nhà nho phong/… My ai có chí tang bng/My ai khăn yếm vy vùng giang san/T khi ni cuc danh hòan/Sóng Âu gió M song tràn b Nam/Git mình tnh gic bàng hòang/Hn toan nhng s gic ngang vi đi/ Tiếng oanh the thé vang tri/Nay đòi gii phóng, mai đòi t do/Th thành ry tiếng reo hò/Bên trai bên gái cu cho bình quyn/ Mm môi b gy ta quyn/Giang tay git ly n quyn xem sao/Báo chương vn đng hô hào/Mt phen sôi ni n ào bn phương/Làm cho rõ mt phi thưng/Ch em long ln trên đưng văn minh/Hn rng t chí tung hoành/Nên hn cuc b Hà thành-Đ sơn/Đưng xa, gi mi, chân chn /Sau dù d thính thi hn cũng thôi/Hn rng hn thích “sch po”/Đến trưng th dc hn hò xây sân/Xây sân tưng đ đánh qun/ Nào ng ch đ phơi qun, than ôi!/Thy hn hăm h bi hi/Ai ng hăng hái như mi la rơm/Hay hn thiếu bn đng tâm/Trơ vơ hn chu âm thm, lng im/Thương đi gi, nh đi tìm/Biết đâu hn n mà đem hn v/…/Hay hn xóm “đăng xinh”/Hn còn đng cn, rp rình cùng ai… ” (Tú Mỡ, Mục Giòng nước ngược, “Chiêu hồn Ph n tân thi”, Phong Hóa số 113, trang 3, ngày 31.8.1934-Người viết gạch dưới)

Khác với Tú Mỡ, Thạch Lam thì có cảm tưởng bi quan sau khi cô Phan Thị Nga diễn thuyết vì ông nghi ngờ sự thành công của một cuộc vận động mà ông cho rằng xuất phát từ giới "thượng lưu" : "Nhưng tập thể dục thì không nói còn muốn tập thể thao đánh vợt cưỡi ngựa bơi lội…thì phải có nhiều thì giờ và có nhiều tiền…Ở các nước Âu, Mỹ, những phụ nữ tập thể thao đều do hạng phụ nữ thượng lưu ấy đứng chủ trương cả. Bên ta có những hạng phụ nữ như thế không?[…]Nếu chị em may được vào hạng giàu có, không phải làm việc để sống, thì những thời giờ ngoài việc trông nom nhà cửa, để làm gì mà không tập thể thao?" (Thạch Lam, "Cô Nga diễn thuyết", Phong Hóa số 116, ngày 21.9. 1934, trang 9)

Sự hoài nghi và đề nghị ấy của Thạch Lam xem ra cũng hữu lý, nhưng trên thực tế lại không đúng: Đội Nữ cầu thủ của Đoàn đá banh Cái Vồn đã được ông Phan Khắc Sửu thành lập vào năm 1932 tại Mỹ Tho mà có cầu thủ xuất thân là người trong giới buôn gánh bán bưng! Đội này từng nhận lời đấu với các đoàn nam. Nhưng dĩ nhiên, theo "thể thao" để tranh tài với cả đàn ông không phải là mục đích của cuộc cải cách y phục theo Nguyễn Cát Tường như ông đã viết trong bài thượng dẫn. Trước sau hình như không chỉ Nguyễn Cát Tường mà cả Phong Hóa chỉ chấp nhận cho phụ nữ tập thể dục để làm đẹp (mắt đàn ông) mà thôi!

Dù thế, Thạch Lam không vấp vào sự khiếm nhã quá đà như Thế Lữ. Thô bỉ không kém Tú Mỡ, ông bịa đặt việc cô Nguyễn Thị Kiêm (còn có bút hiệu khi làm thơ là Nguyễn Thị Manh Manh) gửi thư cho ông để tiện “trả lời” một cách xấc xược, liệt những lời phát biểu về văn học và nữ quyền của cô vào loại "nói mê, nói sảng" và có liên hệ với "mán" mường:

-“[…] Nhưng cô thì cô có bệnh nặng lắm. Đàn bà lắm lời. Cô, cô lắm lời gấp ba. Đó là một bệnh. Cô còn bệnh nữa là bệnh sốt rét. Tôi cứ nghe lời nói của cô cũng biết thế. Cô nói rằng ở đâu cũng hoan nghênh bài diễn thuyết của cô, và cô có tài diễn thuyết. Người sốt rét nặng không nói mê, nói sảng là gì? CĂN BỆNH: Nếu còn ở trung châu thì đó là bệnh…mán chài. Chắc dân mán Lô-lô tìm cách chài vắng mặt cô để cô đình việc bàn về chế độ đa thê với họ. CÁCH CHỮA: Sốt rét rừng hay bệnh chài ở người khác thì khó chữa vô cùng. Nhưng ở cô thì dễ chữa vô cùng: cô kiêng khem sự diễn thuyết và chịu khó ngậm hạt thị độ một vài tháng.” (Dr. de Lêta, “Hỏi Bệnh”, Phong Hóa số 129, trang 7, ngày 21, tháng chạp, 1934)

Nhưng chính ra Thế Lữ có lẽ không phải là người duy nhất đã sỉ nhục Nguyễn Thị Kiêm bằng cách gieo cái tiếng "mán". Trong mục "Tin tức mình" có mấy đoạn chế nhạo bằng sự bịa đặt còn công phu hơn nữa rất ăn ý với thái độ của Thế Lữ:

-"Bc kỳ– được tin cô Nguyễn Thị Kiêm mất tích. Dân thượng du mừng, dân báo giới ngạc nhiên. Mưng Kheo-Cô Nguyễn Thị Kiêm đã đến đây. Mưng kheo-Tin này không đúng. Nghe đâu hiện nay cô ở Bản Yốc. Bn Yc-Cô Kiêm không ở Bản Yốc. Cô đã đến Lô-Hmồng. Lô-Hmng-Không hề gì. Dân Lô-Hmồng vẫn được vô sự. Cô mới đi đến Lô Trồng. Lô Trng-Chúng tôi phòng bị đã lâu không xẩy ra tai nạn chi hết. Bc kỳ (tin các nơi) Cô Kiêm đâu? Cô Kiêm đâu? Cô Kiêm đâu?…" (Phong hóa số 129, trang 5)

Cần nói thêm –trước khi những độc giả chưa có dịp đọc cho rằng Phong Hóa vốn là một tờ báo trào phúng nên có thể tha thứ được–Phong Hóa rất hiếm có một bài đường hoàng bàn đến [trừ bài "Trái, gái bằng quyền" (Khái Hưng, Phong Hóa số 116, ngày 21.9.1934), dù đồng ý hay phản bác, cùng một tầm mức với chủ ý những bài diễn thuyết của cả hai cô mà đa phần chỉ tường thuật về sự hỗn loạn, thiếu tổ chức của các buổi diễn thuyết hay rặt những lời chế nhạo có khi đấy ác ý nhắm toàn lực vào Nguyễn Thị Kiêm. Nếu không có trật tự do người tham dự gây ra khiến ngăn trở đến việc nghe cô Kiêm nói, điều gì đã ngăn trở để sự phát biểu của cô về những vấn đề trọng đại này không đến được với độc giả của Phong Hóa? Do đó, người viết phải nói rằng, trong lịch sử của tờ tuần báo này, có lẽ chưa có tác gia nào bị tấn công ở mức độ thô bỉ và bằng nhiều thành viên của Tự lực Văn đoàn đến như vậy. Cứ xem hình bìa Phong Hóa số 124 là đủ thấy: Nguyễn Thị Kiêm được chú bằng một câu có mấy chữ rất khó nghe: "Cô Nguyễn Thị Kiêm vượt bể ra Bắc đọc ‘đit cua, đit càng’". Chưa hết, phía sau cô, trên nửa mảnh sò còn lại là một quyển sách mở ra có mấy dòng chữ "Một ngày một đêm của phụ nữ tân thời". Đó là sự bẻ quẹo đề tài diễn thuyết của Nguyễn Thị Kiêm mà nguyên văn là "Một ngày của một người đàn bà tân tiến". Sự bẻ quẹo ấy càng hợp với cái tiểu tâm mà người vẽ nhắm tới: "sò" vốn thường dùng để chỉ cơ quan sinh dục của phụ nữ (Lê Văn Đức&Lê Ngọc Trụ, Việt Nam Tự điển-Quyển Hạ, trang 1295). Thiệt là hết chỗ nói!

clip_image002[4]

Bìa Phong Hóa số 124 có phần mỉa mai Nguyễn Thị Kiêm (Diễn đàn Sách Xưa)

 

Chứng kiến những sự chế nhạo và tiểu tâm đó, người ta sẽ rất khó mà tưởng tượng rằng Việt Nam vốn là một quốc gia vốn có truyền thống hết sức tiến bộ về luật pháp (7) và chỉ chưa tới bốn năm trước đó, Nguyễn Thị Giang, Nguyễn Thị Bắc cùng một số phụ nữ khác đã tham gia Việt Nam Quốc Dân Đảng và hy sinh theo đảng để mưu cầu giải phóng cho đất nước. Nói cách khác, nếu đọc Phong Hóa thì chỉ thấy một “xã hội” của những cô mặc áo Lemur hay những cô gái sống một đời để “đợi người ta đến mua” mà không có những phụ nữ liều chết đi làm cách mạng hay cấp tiến mong cải tổ xã hội hay sao? Câu hỏi ấy càng khó trả lời khi Tự lực Văn đoàn vốn nổi tiếng về những tiểu thuyết coi như mở đầu việc giải phóng phụ nữ khỏi những ràng buộc khắt khe của những tục lệ cổ hủ (như đa thê) hay tranh đấu cho một xã hội công bằng và tốt đẹp hơn.

Trên Phong Hóa, cũng chính Tứ Ly (Hoàng Đạo) lên tiếng bênh vực một người con gái bị người bố đăng báo từ bỏ bằng cách nhắc nhở người bố ấy về phẩm giá (bình đẳng) của con người. (Tứ Ly, “Ông Lê Đại Nho”, Phong Hóa số 130, trang 4). Nhất Linh (và Phong hóa) còn sẽ luôn luôn được nhắc tới với tiểu thuyết luận đề Đon tuyt, một cuốn tiểu thuyết quả đã có những tư tưởng táo bạo. Những ràng buộc ác nghiệt có khi vi phạm quyền căn bản của con người như không được tự do chọn người yêu để kết hôn, việc gả con trừ nợ, việc coi người phụ nữ cần phải có trinh tiết trước khi kết hôn, thói mê tín dị đoan khiến con trẻ chết oan, việc mẹ chồng khắc nghiệt với con dâu, hủ tục đa thê để có con trai vv đã được Nhất Linh gói trọn vào Đon tuyt, một tác phẩm mà nhân vật chính Loan chính thức cắt đứt với quá khứ đầy thua thiệt cho phụ nữ bằng nhát dao giết chồng. Ông khởi đăng Đon tuyt ngay trên Phong Hóa, số 124, năm thứ ba, 16 tháng 11, 1934, trang 10-11 như đã dẫn trong bài. Ba mươi hai năm sau, ông tái xác định rằng Đon tuyt đã phản ảnh xã hội bấy giờ qua câu trả lời với Nguiễn Ngu Í: “Nhân vật nào của tôi cũng được khai sinh do người thật cả. Mà cô Loan tiểu thuyết do mươi cô Loan thật mà nên.” (Nguiễn Ngu Í, “Sống và viết với Nhất Linh", Sng và viết vi…, trang 13, Ngey Xanh xuất bản, Sài gòn, 1966).

Nguyên nhân của sự mâu thuẫn này–tranh đấu cho nữ quyền bằng văn chương mà chưa cho người nữ bằng xương bằng thịt những quyền đó trên thực tế– theo người viết, là vì Tự lực Văn đoàn không chấp nhận được những phụ nữ ngang hàng với họ về phương diện tri thức. Những phụ nữ này càng trở thành đáng sợ hơn khi bầy tỏ cái tri thức ấy bằng chính những phương cách mà Tự lực Văn đoàn cũng đang sử dụng: diễn thuyết và dùng báo chí như một phương tiện hữu hiệu để vận động đám đông. Trường hợp Nguyễn Thị Kiêm, mục tiêu bị tấn công của Tự lực Văn đoàn là một thí dụ điển hình. Những lời người khác khen ngợi cô và chính lời phát biểu của cô về giới tính trong văn học và tình cảnh phụ nữ bấy giờ chứng minh cho giả thuyết trên. Nhưng Nguyễn Thị Kiêm là ai? Chúng ta sẽ không thể có nhận xét công bằng cho cả cô và Tự Lực Văn đoàn nếu chúng ta không biết rõ về sự nghiệp tuy ngắn ngủi mà đầy vinh quang và rất tiến bộ của cô.

2-Thân thế nhà thơ, ký gi và nhà tranh đu n quyn Nguyn Th Kiêm

Tiểu sử của Nguyễn Thị Kiêm được ghi lại đầy đủ trong cuốn N sĩ Nguyn Th Manh Manh (Thanh Việt Thanh&Thiên Mộc Lan, Nhà xuất bản Văn Nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, 1988).

Nguyễn Thị Manh Manh là một bút hiệu khác của Nguyễn Thị Kiêm khi làm thơ. Theo hai ông, cô từng là một ký giả với những bài tường thuật về những vấn đề nan giải của xã hội như "Người điên ở nhà thương Biên Hòa" hay "Viếng một cái thành sầu: Nhà thương Bạc Hà" (nơi giam giữ các cô gái điếm), và là một ký giả kịch trường đã phê bình các vở tuồng cải lương như vở "Ai là bạn chung tình" của tác giả Tư Chơi, gánh Trần Đắc vv.

Không những thế, không khác những thành viên của Tự lực Văn đoàn mà đa số đều tham gia hoạt động chính trị (như thí dụ Khái Hưng sau này sẽ bị người Cộng sản thủ tiêu vào năm 1947), Nguyễn Thị Kiêm cũng có tham dự hoạt động tương tự vào năm 1936. Bà là một trong hai phụ nữ (người kia là Nguyễn Thị Lựu) có chân trong Ủy ban Lâm thời của phong trào Đông dương Đại hội quy tụ những nhân vật lẫy lừng nhất thời bấy giờ như Nguyễn An Ninh, Trịnh Đình Thảo, Phan Văn Hùm, Tạ Thu Thâu, Diệp Văn Kỳ, Bùi Thế Mỹ, Nguyễn Phan Long vv (Thiện Mộc Lan, sđd, trang 270). Nguyễn Thị Kiêm góp phần trong "Tiểu ban Học chánh và Giáo dục" (Thiện Mộc Lan, trang 270, sđd-Trích lại từ Phụ nữ Tân văn số 8, ngày 28.8.1936)

clip_image002

Tạp chí Phụ nữ Tân văn (Diễn đàn Sách xưa)

 

Nhưng điều làm người ta nhớ nhất về cô vẫn là những bài viết và những bài diễn thuyết bênh vực cho Thơ Mới và Nữ Quyền. Sự nghiệp ấy đã lưu lại tiếng thơm trong nhiều bài tường thuật hay bình luận của người đồng thời. Cách đây hơn 40 năm, nhà thơ Nguyễn Vỹ xem cô đủ quan trọng để nhắc đến trong bộ tự truyện của ông:

-“Có điều Tuấn ngạc nhiên nhất trong lãnh vực văn nghệ lãng mạn ấy, là phong trào "thơ mới"ở Saigon được hăng hái khởi xướng bởi hai người không phải là thi sĩ : một cụ Tú nhà Nho, người Trung kỳ, ông Phan Khôi, chủ bút tờ "Phụ Nữ Tân Văn", có ít nhiều Tây học, chỉ thỉnh thoảng, lúc nào cao hứng, mới làm chơi một bài thơ thuộc loại trào phúng, và một nữ sinh, cô Nguyễn thị Manh Manh, người Nam kỳ, con gái một ông Huyện hàm về hưu, vừa thi đỗ diplôme ở trường Áo Tím. Cô Manh Manh không chuyên làm thơ, cô không hề xuất bản một tập thơ nào cả, nhưng cô lại hăng hái viết báo và diễn thuyết cổ xúy Thơ Mới. Không những riêng ở Saigon, cô còn lại đi với ông Huyện Trị, thân phụ của cô, ra Hà Nôi để diễn thuyết về "Thơ Mới ". Hôm cô diễn thuyết ở hội AFIMA, Tuấn bị sốt rét nên không đi nghe được, nhưng bạn của Tuấn đi khá đông, có về thuật lại cho Tuấn rõ rằng cô nói trôi chảy, giọng Saigon nghe là lạ dễ thương. Về nội dung bài diễn thuyết không có gì đặc sắc. Người ta phê bình nhan sắc của cô nhiều hơn là bài diễn thuyết. Đối với người Hà Nôi., cái tên của cô đã là một sự lạ rồi, Nguyễn thị Manh Manh. Sao lại đặt cái tên dị thường như thế? Phải chăng cô muốn lấy tên một giống chim ở Nam kỳ, con chim manh manh, bé nhỏ, có giọng hót líu lo khả ái? Tại sao cô không thích để tên thật của cô là Nguyễn thị Kiêm mà đáng lẽ phải viết là Nguyễn thị Kim? Người cô thấp và mập, mặt tròn vo, đôi mắt cũng tròn và to, tròng con ngươi đen nhánh, đầu để búi tóc như hầu hết các thiếu nữ Saigon 1935. Cô Manh Manh xuất hiện trên nền trời Thơ Mới Việt Nam như một ngôi sao chổi, chỉ thoáng qua rồi biến mất. Cô không để lại một bài thơ nào có giá trị, dù là thơ cũ hay thơ mới.” (Nguyễn Vỹ, Tun Chàng trai nước Vit-Chng tích thi đi t 1900 đến 1970, Quyển II, trang 230-231)

Báo Mai, số 20 (22.1.1938), phong cho Nguyễn Thị Kiêm là "Nữ tiên phuông Thơ Mới của Nam Kỳ ta" (Thanh Việt Thanh&Thiên Mộc Lan, sđd, trang 55).

Những nhà phê bình sau đó như Hoài Thanh và Hoài Chân phải nhắc nhiều lần đến vai trò tiên phong của Nguyễn Thị Kiêm (như báo Mai đã xưng tụng) về trận chiến Thơ Mới với toàn những tay kiệt hiệt ở cả hai bên khi viết bài tựa "Một thời đại trong thi ca" cho cuốn Thi nhân Vit Nam.

-"Từ hai tháng trước, hôm 26 Juillet 1933, một nữ sĩ có tài và có gan, cô Nguyễn Thị Kiêm, đã lên diễn đàn hội Khuyến học Sài gon hết sức tán dương thơ mới. Hội Khuyến học Sài gòn thành lập đến bấy giờ đã 25 năm. Lần thứ nhất một bạn gái lên diễn đàn và cũng là lần thứ nhất có một cuộc diễn thuyết được đông người nghe như thế. Nối gót cô Nguyễn Thị Kiêm, còn nhiều diễn giả cũng theo một mục đích: dành lấy phần thắng cho thơ mới. Juin 1934, ông Lưu Trọng Lư diễn thuyết tại nhà Học hội Quy Nhơn[…]Janvier 1935: cô Nguyễn Thị Kiêm lại diễn thuyết tại Hội Khuyến học để tranh luận với ông Nguyễn Văn Hanh. Novembre 1935: ông Vũ Đình Liên diễn thuyết tại hội Trí Tri Nam Định. Fevrier 1936: ông Trương Tửu diễn thuyết về thơ Bạch Nga tại hội Khai trí Tiến Đức Hà nội …" (Hoài Thanh&Hoài Chân, trang 19, sđd, Hoa Tiên phát hành-In lần thứ hai, Miền Nam, ngày 25. 1. 1968)

Cũng theo Hoài Thanh& Hoài Chân, tại Miền Nam thì bên Thơ Mới có Phan Khôi làm nguyên soái với bài Tình già (đăng trên Phụ nữ Tân văn số 122, ngày 10.3.1932) rồi tới Nguyễn Thị Manh Manh và nhiều người khác (trang 16-17, sđd). Sau đó, phong trào Thơ Mới ra tới Bắc và Phong Hóa là tạp chí dương danh nó đắc lực và thành công nhất với Lưu Trọng Lư, Thế Lữ, Vũ Đình Liên, Đoàn Phú Tứ, Huy Thông vv (trang 18, sđd).

Gần đây hơn, Tiến sĩ Phan Văn Hoàng (Việt Nam) cung cấp những tin tức hết sức cần thiết để chân dung Nguyễn Thị Kiêm được trọn vẹn hơn:

-“Nhà nghiên cứu Thiện Mộc Lan gọi điện từ Sa Đéc: ‘Xin báo cho anh một tin đã cũ nhưng vẫn còn mới. vì đã xảy ra cách nay 6 năm rồi, nhưng mi vì một người bạn bên Pháp vừa tin cho tôi biết chiều nay. Đó là nữ sĩ Nguyễn Thị Manh Manh đã qua đời ngày 26/1/2005 tại một nhà dưỡng lão ở Paris’[…] Chị tên thật là Nguyễn Thị Kiêm, quê ở Gò Công nhưng sinh tại Sài Gòn ngày 3/1/1914. Chị học trường Áo Tím ở Sài Gòn (nay là trường Trung học phổ thông Nguyễn Thị Minh Khai). Sau khi thi đậu bằng Thành chung (1932), chị bước vào làng báo, cộng tác với các tờ Ph N Tân Văn (1933-1934), N Lưu, Công Lun, Vit Nam (1936), Tun L Nay (1940)… Tối 26/7/1933, tại trụ sở Hội Khuyến học Sài Gòn, Manh Manh diễn thuyết về thơ mới. Bác sĩ Trần Văn Đôn, Hội trưởng Hội Khuyến học Sài Gòn, phát biểu: ‘Lịch sử Hội Khuyến học 25 năm trời, lần này mới có nữ sĩ đăng đàn diễn thuyết’[…]Buổi diễn thuyết có tiếng vang lớn. Bà Nguyễn Đức Nhuận, người sáng lập Ph N Tân Văn, kể lại: ‘Trong hơn một giờ, Nguyễn nữ sĩ chỉ ứng khẩu, nói như nói chuyện thường… Một người thiếu nữ đứng trước gần ba trăm thính giả nam nữ mà giảng về thơ…’. Nhà nghiên cứu Thẩm Thệ Hà khen Manh Manh ‘diễn thuyết lưu loát, hùng hồn, đôi khi châm biếm duyên dáng, tế nhị, có khả năng lôi cuốn, thuyết phục người nghe’… Không chỉ bảo vệ thơ mới, Manh Manh còn là một chiến sĩ đòi giải phóng phụ nữ, bình quyền với nam giới. Chị đả kích các tập tục hủ bại như trọng nam khinh nữ, tảo hôn, đa thê…, bênh vực những quyền lợi chính đáng của nữ giới. Trong năm 1934, chị đã đi tới 4 thành phố (Huế, Hà Nội, Nam Định, Hải Phòng) để diễn thuyết các đề tài Dư lun nam gii đi vi ph n tiên tiến; Mt ngày ca mt người đàn bà tiên tiến; Có nên t do kết hôn chăng?; Nên b chế đ đa thê không? …Đầu năm 1950, chị sang Pháp định cư. Bặt vô âm tín. Nhưng ở trong nước, tên tuổi và sự nghiệp của chị không bị lãng quên. Tháng 1/1999, hai nhà nghiên cứu Thiện Mộc Lan và Thanh Việt Thanh cho xuất bản cuốn N sĩ Nguyn Th Manh Manh. … Lúc đó, chị đã 85 tuổi, đang sống trong nhà dưỡng lão ở Paris. Hơn 6 năm sau, chị trút hơi thở cuối cùng sau hơn nửa thế kỷ sống xa quê hương.” (Tiến sĩ Phan Văn Hoàng, “Nhớ một nữ sĩ có tài và có gan”, ngày 22.3.2011, http://honvietquochoc.com.vn/Nhan-vat/Nho-mot-nu-si-co-tai-va-co-gan.aspx)

Đó là các người khác viết về Nguyễn Thị Kiêm (tự Manh Manh). Còn đoạn văn dưới đây, trích ra từ một bài diễn thuyết, tiêu biểu cho tính khí và tinh thần của bà, một tinh thần đi rất xa trước những nam đồng nghiệp cùng thời như Thế Lữ và Tú Mỡ:

-“Đàn bà muốn nam hóa thì cứ việc nam hóa, mà đâu có nam hóa được hết, và đâu có thể bỏ hẳn được cái bổn sắc của mình. Nhà nữ khoa học sẽ làm cho khoa học nên thơ. Nhà nữ văn học sẽ làm cho tư tưởng thêm ngộ. Nhà nữ tác giả sẽ làm cho nghĩa lý thêm duyên. Mà rồi mỗi thể trong văn học (genre littéraire ) sẽ đều có cái vẻ dịu dàng êm ái, cái vị phong phú, thanh tao của đàn bà có điểm chuyết vào cho… Vả, bây giờ ta mới thấy ở văn học nữ lưu có phong trào nam hóa, mà từ trước đến nay, ở bên nam giới đã có bao nhiêu sự nữ hóa về văn chương? …Ở Hà-tiên có nhà văn sĩ Đông Hồ viết văn đã nhiều mà chỉ có bài văn khóc vợ là hay hơn hết cả. Ở Hà-nội có nhà thi sĩ Tản-Đà, thường phải giả thiết ra một người tình nhân không quen biết để lấy tứ làm thi. Nay có cái phong trào nam hóa, không biết sự nữ hóa còn được ở trong văn học không? Hai việc đó xét ra không có gì là mâu thuẫn cả. Đàn bà muốn học cái cứng cỏi của đàn ông cũng chưa bớt cái uyển chuyển của đàn bà. Đàn bà muốn có cái khách quan của đàn ông, thì đàn ông cũng vẫn mượn được cái chủ quan của đàn bà chớ sao? … Thấy các bà chủ thơ quán hô hào việc dân, việc nước, các bà chủ tân văn cổ động bình đẳng, bình quyền, các cô nữ tác giả, nữ trợ bút, kẻ kê cứu học thuật, người nghị luận văn chương, kẻ giữ việc khôi hài trên báo chí, người chuyên bàn đạo lý giữa văn đàn … nhứt nhứt đều nhiệt thành nam hóa, công nhiên phản đối hẳn cái địa vị trước kia đàn bà ở văn học, mà tư tưởng, học thức, giáo dục, hành động đều muốn như bạn nam nhi để mưu lấy quyền lợi bình đẳng ở xã hội… Đối với những cái thiên tài xuất chúng, nữ lưu học hội có thể không là cần thiết; đối với những kẻ dung tục chí ngu, nữ lưu học hội có thể cho là đồ thừa…Nhưng đối với những người như chúng tôi đây, ngu mà muốn học cho khôn, dốt mà muốn học cho giỏi, không biết mỹ thuật mà biết yêu mến mỹ thuật, không biết văn chương mà biết cảm mến văn chương, thì nữ lưu học hội thiệt là cần ích cho chúng tôi lắm… Kinh Phật có câu ‘T giác nhi giác tha’ nghĩa là tự sáng mình để sáng người. Người đàn bà cũng có cái tinh thần cần phải tự giác để chiếu sáng ra ở chung quanh mình, cho gia đình được êm đềm phong phú, cho xã hội được rực rỡ quang minh.” (Nguyễn Thị Kiêm, “Cô Nguyễn Thị Kiêm nói về vấn đề Nữ-lưu và Văn-học”, Ph n Tân văn, số 131, ngày 26.5.1932)

III-Tng kết

So sánh những dữ kiện trên đây, người viết có thể kết luận một cách chính xác ít nhất hai điều.

Thứ nhất, khuyết điểm của Tự lực Văn đoàn (chỉ tuyền đàn ông) là không tin rằng những nữ đồng nghiệp của họ lại có khả năng bằng hay hơn trong sự cải cách những vấn đề có liên quan đến phụ nữ từ y phục cho đến văn chương hay xã hội. Kế vào đó, hậu quả của khuyết điểm này là chỉ trích quá đáng những người không cùng ý hướng với họ, như trong trường hợp Lemur Nguyễn Cát Tường. Nhiều người thời đó và bây giờ có quyền không tán thưởng Áo Lemur vì nó không thực dụng và không vượt được vẻ đẹp của một chiếc áo dài có những chi tiết truyền thống (có cổ, có hai tay áo không điểm xuyết bằng ren hay các lối may mới vv). Nhưng khuyết điểm ấy vẫn có thể giảm khinh được: chúng ta không nên kết án quá nặng những người không thể đi trước thời đại của họ. Ngẫm lại mà xem, ngay cả thời này, bao nhiêu chị em dấn thân làm việc đã phải chịu bao nhiêu "điều ong tiếng ve" rất bất công và bất lợi cho nỗ lực hay thành tích của họ? Bởi thế, người viết quan niệm rằng: cần đưa một vấn đề ra để cùng rút lấy kinh nghiệm mà tiến bộ chung, chứ không phải để kết án. Cái kinh nghiệm ấy ở đây càng rõ hơn nữa: không riêng phái nào–Khỏe hay Đẹp–có thể đơn phương thay đổi những hủ tục của xã hội.

Thứ hai, tuy phạm vào một lỗi lầm đáng tiếc và trầm trọng như thế, ưu điểm của họ là, tuy đi sau phụ nữ hay báo chí Miền Nam cả về thời điểm sáng lập lẫn tinh thần cấp tiên khi so sánh với những Phan Thị Bạch Vân (Tinh thần Phụ nữ, 1928), Cao Thị Khanh (Phụ nữ Tân văn, 1929), hay Nguyễn Thị Kiêm vv, thì Tự Lực Văn đoàn cũng đã góp công cho nỗ lực ấy trên đất Bắc bằng văn chương hay xã hội hầu đẩy mạnh những phong trào nhắm thay đổi số phận hay cải tiến đời sống người dân nói chung và phụ nữ nói riêng. Tự lực Văn đoàn và Nguyễn Cát Tường đã gióng lên được một hồi chuông về một quan niệm mỹ thuật thực dụng liên quan đến sự phục sức. Những bức minh họa như của Cát Tường về phụ nữ mặc áo tắm bó sát người, những tiểu thuyết bênh vực phụ nữ như Na Chng XuânĐan Tuyt, những bài xã luận in ngay trên bìa của Nhị Linh nhắm thay đổi đời sống dân quê, những mẩu tin châm biếm kẻ trọc phú hay đám quan trường nhũng lạm vv đã tạo được một sự chú ý.

Nhị Linh nhấn mạnh hai chữ “phổ thông” để làm nền cho một kiểu y phục mà ai cũng có thể mua được mặc được và Nguyễn Cát Tường cũng đã xướng ra rồi thể hiện ý muốn ph thông đó qua một kiểu áo có thm m bằng những đường cắt khéo lợi dụng được nét đẹp tự nhiên của phụ nữ. Hồi chuông ấy được sự tiếp tay cụ thể của giới chị em làm nghề may cải tiến và hoàn thiện với khối phụ nữ thầm lặng–đó mới chính là mục đích “phổ thông” mà Nhị Linh nhắm đến ngay từ đầu — khiến dẫn đến chiếc “áo dài quốc phục” ngày nay, một chiếc áo vừa giữ được những nét thẩm mỹ căn bản vừa loại được những bắt chước rườm rà hay không thực dụng từ các kiểu áo Tây phương mà Lemur Cát Tường đã thất bại hoàn toàn trong việc cổ võ nhắm biến chúng thành thông dụng hơn (8).

Người viết có thể dùng ngay chính chiếc áo Lemur như một thí dụ, tuy oái oăm nhưng trùng hợp vào thái độ của Tự lực Văn đoàn với nhà nữ quyền Nguyễn Thị Kiêm nói riêng và vấn đề Nữ quyền nói chung: khi chiếc áo Lemur mới xuất hiện đã bị cực lực phản đối thế nào thì khi Nữ quyền mới xuất hiện qua bóng hồng Nguyễn Thị Kiêm, nó cũng bị Tự lực Văn đoàn cực lực phản đối y như vậy. Nhưng Nữ quyền, như Thơ Mới, đã như một cơn sóng lớn cuốn phăng những thành trì bảo thủ cho dù được dựng lên từ một nhóm lừng lẫy như Tự Lực Văn đoàn. Nếu còn lại chút gì thì dù oan hay ưng, trong trường hợp này, thí dụ Nguyễn Thị Kiêm là cánh cửa hé mở sang một khía cạnh khác để đánh giá các tiểu thuyết của Tự lực Văn đoàn: nếu cô Loan trong Đon Tuyt sau khi được trắng án mà theo bước…cô Kiêm thì Dũng của Nhất Linh có còn yêu cô ấy hay không? Quan trọng hơn, cô Loan có còn yêu được Dũng nữa và phải chăng lần này mà nếu cô Loan "đoạn tuyệt" thì sự đoạn tuyệt ấy chắc chắn phải là đau đớn gấp bội. Dĩ nhiên đó chỉ là một câu hỏi. Muốn trả lời câu hỏi ấy, chắc chắn người đọc phải trở lại phân tích tất cả các cô Loan và chân dung cũng như mối tình của họ trong các tiểu thuyết của Tự Lực Văn đoàn.

IV. Đề Nghị

Người viết, là một (nữ) đồng nghiệp hậu sinh, tin rằng có thể trả lời thắc mắc của nhà văn Khái Hưng về tâm điểm của vấn đề Nữ quyền (“Vậy nam nữ có thể bình quyền được không? Mà thế nào là nam nữ bình quyền?”) — ngoài vấn đề cải cách chiếc áo dài, một hình thức bên ngoài– cách đây mấy mươi năm khi ông đặt câu hỏi này trên Phong Hóa số 116, tháng 9.1934.

Theo người viết, "nam nữ bình quyền" chỉ có nghĩa giản dị là cả hai phái được sử dụng mọi quyền mà một con người được hưởng và được sử dụng. Những hạn chế nếu có thì chỉ về thể chất mà không về tinh thần. Bởi thế khi người ta nói “phái khỏe” và “phái đẹp” thì không có ý là phái “khỏe hơn” hay phái “đẹp hơn” mà chỉ có nghĩa, đúng như Nguyễn Thị Kiêm nói, là hai phái đều phải đem cái sở trường của mình tới đóng góp vào công việc chung. Dĩ nhiên, thời nào thì cũng có những người tưởng nhầm rằng chỉ có (phái) họ mới được độc quyền làm một việc nào đó. Nhưng kinh nghiệm cho thấy thường những người đòi độc quyền, từ độc quyền chính trị cho tới độc quyền văn chương, đều chứng tỏ họ cũng độc quyền về sự thiếu hiểu biết nữa. Cho nên, cái phái vẫn bị kêu là “phái yếu” trong trường hợp đó, từ phụ nữ cho tới người dân, thường chứng minh ngược lại là cái mạnh của “phái khỏe” này thường không tồn tại lâu. Bằng chứng là công lao của những người tiên phong như Phan Thị Bạch Vân (Nữ lưu Thư quán), Cao Thị Khanh (Phụ nữ Tân văn) hay Nguyễn Thị Kiêm vv nay đã được phục hồi lần lần trong lịch sử đấu tranh cho nhân quyền tại Việt Nam.[NTC]

Chú thích:

1-Chủ ý của người viết trong bài này là phân tích về thái độ của Tự lực Văn đoàn qua kiểu áo Lemur nên sẽ không bàn đến các kiểu áo dài khác, thí dụ như “áo Lê Phổ”. “Áo Lê Phổ” xuất hiện gần như cùng thời với “áo Lemur” nhưng khác với “áo Lemur”, “áo Lê Phổ” được biết tới qua một quảng cáo 1/6 trang đăng trên Phong hoá số 114, nguyên văn như sau: “Marie, 4 Rue de Mission-Hanoi (Số 4 Phố Nhà Trung, cạnh Nhà thờ Lớn). May quần áo Phụ nữ lối Mới và lối Cũ, có nhà họa sĩ Lê Phổ cho Kiểu…” (trang 9, sđd, ngày 7. 9. 1934).

2- Chúng tôi căn cứ những chi tiết này trong cuốn Lưc truyn các tác gia Vit nam-Tp II: Tác gia các sách ch La-Tinh (T đu thế k XX đến năm 1945), Trần Văn Giáp, Nguyễn Tường Phượng, Nguyễn Văn Phú, Tạ Phong Châu, Nhà xuát bản Khoa học Xã hội, Hà nội, 1972, trang 148-149.

3-Tạp chí Ph n Tân văn (1929-1935) với tiêu chí “Phn son tô đim sơn hà/Làm cho rõ mt đàn bà nưc Nam” ngay ngoài bìa, trở thành một trong những tạp chí quan trọng nhất trong thời gian thử thách của trận chiến chống Pháp đang hình thành cùng với sự trưởng thành của làng báo Việt Nam. Chủ nhiệm và người quán xuyến tờ báo là ông bà thương gia Nguyễn Đức Nhuận (1900-1968). Bà có nhũ danh là Cao Thị Khanh (1900-1962). Họ quy tụ được một ban biên tập gồm “Tứ đại” Sàigòn: Đào Trinh Nhất, Diệp Văn Kỳ, Phan Khôi và Bùi Thế Mỹ. Ngoài ra còn Tản Đà, Hồ Biểu Chánh, Phan Văn Hùm, Nguyễn Thị Kiêm, Bửu Đình, Thiếu Sơn, Đạm Phương nữ sĩ, Huỳnh Thị Bảo Hoà, Phan Thị Nga vv. Nhưng điều quan trọng nhất, khiến họ phải mời tới các tác gia này là vì họ muốn dùng PNTV như một “cơ quan” để “lấy chỗ bàn bạc mà làm” những việc liên quan đến phụ nữ. (Những tin tức trên đây được tóm tắt từ cuốn Ph n Tân văn-Phn son tô đim sơn hà, nghiên cứu của Thiện Mộc Lan, 320 trang, Nhà Xuất bản Văn hóa Sài gòn, 2010)

4-Ông Chủ nhiệm Nguyễn Đức Nhuận giao cho Nguyễn Thị Kiêm ở lại Bắc kỳ làm đại diện cho Phụ nữ Tân văn như báo trong bức thư cảm tạ ông nhờ các đồng nghiệp đăng dùm trước khi ông trở về Sài gòn: “Ra Bắc gần một tháng nay ban đại biều báo Phụ nữ Tân văn chúng tôi […] chỉ biết đáp lại bằng hai chữ : cám ơn[…]Nên chi chúng tôi xin báo tin để các bạn xa gần biết rằng: bổn baó phóng viên Nguyễn thị Kiêm sẽ ở lại Bắc ít lâu, để đi xme xét tình hình phụ nữ các tỉnh, theo như trong chương trình đã định[…] N.B.Trong khi cô Nguyễn thị Kiêm ở lại Bắc, anh em chị em muốn giúp cho P.N.T.V. hoặc ý kiến, hoặc bài vở, cùng trả tiền báo, xin do điạ chỉ sau này: Mademoiselle Nguyễn Thị Kiêm chez Madame Lê văn Chỉnh, 26 Rue de Lac, Hanoi…”

5-Qua hình chụp 31 số Phong Hóa– mà người viết được một người bạn ở Hànội tặng từ năm 2010 khi cần một số tài liệu để hoàn thành luận án Cao học về hoạt động của giới nhà văn Miền Nam tỵ nạn (như Mặc Đỗ, Tô Thùy Yên, Nguyễn Xuân Hoàng, Viên Linh, và nhiều người khác) tại Hoa Kỳ cùng các vấn đề liên hệ–thì hầu hết các tranh bìa của Phong Hóa đều được dùng vào hai mục đích. Mục đích thứ nhất là đăng những bài xã luận có minh hoạ do Nhị Linh (có khi ký cả tên Khái Hưng như dưới bài “Văn bác học hay văn bình dân”, số 118, ngày 5. 10. 1934) hay Tứ Ly (một bút hiệu khác của Hoàng Đạo) viết, mục đích thứ hai là đăng những tranh biếm họa để trêu chọc hay nhắm sửa đổi một tục lệ nào đó, như “Vợ trọc phú đốt mã cho chồng” (Phong Hoá, số 113, ngày 31.8.1934) hay “Bát tiên quá hải” biếm họa tám người mà trong số có Nguyễn Thị Kiêm như đã dẫn trong bài (Phong Hóa, số 124, năm thứ ba, ngày 16.11. 1934). Tiện đây, một lần nữa, người viết xin được ngỏ lởi tri ân người bạn Hà Nội đã chia sẻ tài liệu trong tinh thần giúp đỡ cho việc nghiên cứu văn học. Không có sự rộng lượng ấy, người viết sẽ không thể tái tạo áo Lemur (và trình diễn ở Nam California) cũng như đủ tài liệu chính xác để viết bài này.

6-Cũng như chiếc áo dài mà Lemur đã hoạ kiểu với các kiểu cổ hay tay áo xuất xứ từ Tây phương, đề nghị về chiếc quần “loa” này, theo người viết, cũng đã bắt nguồn từ Tây phương. Theo cuốn Bách khoa Thời trang (http://www.fashionencyclopedia.com/fashion_costume_culture/Modern-World-1919-1929/Sportswear.html), loại quần ống loa là do Gabrielle "Coco" Chanel (1883–1971), một nhà vẽ kiểu thời trang Pháp, biến đổi ra vào khoảng cuối những năm 1920 từ kiêủ quần của lính thủy. Cho tới nay, không chỉ có riêng Lemur Cát Tường mới phải lệ thuộc vào kỹ thuật cắt may Tây phương mà hầu như sự thay đổi dẫn đến những kiểu áo dài khác đều có xuất xứ tương tự. Thí dụ như kiểu áo dài “raglan” đã xuất hiện ở Miền Nam trước 1975 và trở thành kiểu áo dài thông dụng nhất hiện nay là một kiểu áo lấy tên của Lord Raglan (Fitzroy James Henry Somerset, 1788-1855). Lord Raglan bị thương, mất tay phải trong trận Waterloo (1815) nên tương truyền loại tay áo này được sáng chế từ đó để giúp ông mặc áo cho dễ dàng hơn. Kiểu quần xéo – thợ may cắt chéo (“xéo” hay “bias”) chứ không cắt thẳng theo thớ vải– xuất hiện tại Miền Nam vào những năm 1970 và vẫn còn được dùng cho tới nay– chính ra đã (vô tình) áp dụng kỹ thuật may cắt từ bà vẽ kiểu người Pháp Madeleine Vionnet từ những năm 1920. Cũng thời gian đó, Jesse Langsford (một ông thợ may ở New York) sáng chế ra một cách mới để may cà-vạt bằng cách cắt chéo thớ vải khiến cho chiếc cà-vạt không còn cứng còng queo như trước mà khi đeo lên thì nằm sát theo độ cong trên ngực của người mặc. Bởi thế, cà-vạt mắc tiền thường được may hoàn toàn bằng tay để người thợ may điều khiển được sức co dãn của thớ chỉ cắt xéo và do đó bảo đảm được sự không bị lệch của chiếc cà vạt. Kỹ thuật cắt may cà-vạt và quần xéo này vẫn còn được sử dụng cho đến ngày nay.

7- Theo luật Anh quốc (và Hoa Kỳ) thì cho tới thế kỷ XIX, người đàn bà vẫn mất hết mọi phần tư sản của mình sau khi kết hôn vì chúng sẽ t đng biến thành tư sản của người chồng: “In this area of equal rights for women, The Lê Côde compared favourably even with the Anglo-American law of the nineteenth century as described by Tapping Reeve. He wrote as follows in the Law of Baron and Femme (1816) about the legal position of wives and husbands under English common law and those statutes generally adopted by the American states: ‘The husband, by marriage, acquires an absolute title to all the personal property of the wife…’”(Tạ Văn Tài, sđd, trang 136-137) Ngược lại, theo Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy thì người phụ nữ Việt Nam được hưởng quyền lợi về điền sản thuộc của mình, của nhà chồng cho và của chung hai vợ chồng: “Quốc Triều Hình Luật đã phân biệt ba loại điền sản của một gia tộc: phu tông điền sản là điền sản do bên nhà chồng cho, thê tông điền sản là điền sản do bên nhà vợ cho và tân tạo điền sản là điền sản do hai vợ chồng tạo lập […] Với việc phân biệt ba loại phu tông, thê tông và tân tạo điền sản, QTHL đã bảo vệ được quyền lợi chánh đáng của người đàn bà Việt. Trong một gia đình Việt, người vợ cũng có quyền ngang với chồng đối với các điền sản và người chồng không thể tự tiện bán các điền sản đó…(Nguyễn Ngọc Huy, B Quc triu Hình lut trong Lch s Pháp chế Vit Nam, trang 201-203, Viet Publisher Thư Quán xuất bản, Hoa Kỳ, 1989)

8) Lemur Nguyễn Cát Tường đã thất bại trong việc "phổ thông hóa" chiếc áo Lemur vào đại chúng có lẽ vì ông không ngờ đến một điều tối căn bản trong các cuộc cải cách xã hội: đám đông quần chúng sẽ là yếu tố quyết định sự thành công hay thất bại của một phong trào. Là người đầu tiên trực tiếp tái tạo Áo Lemur (7.2011) để xét vấn đề Nữ quyền của Tự lực Văn đoàn qua sự vận động của họ với chiếc áo này– gần 80 năm sau khi kiểu vẽ ấy xuất hiện trên Phong Hóa vào năm 1934–bằng cách nghiên cứu cách may và chỉ dẫn cho bà Nguyệt Điện (một nhà may ở Santa Ana, Nam California) thực hiện theo đúng y kiểu áo đầu tiên mà Lemur cho đăng trên Phong Hóa, người viết tìm ngay được sự thất bại của các loại Áo Lemur. Loại áo này quá tốn công và đòi hỏi nhiều kỹ thuật may khác nhau mà hình thức lại không đủ trang trọng cho tất cả trường hợp. Một cô bé 15 tuổi học nghề và hành nghề trong các xóm nhỏ hay tỉnh nhỏ chỉ cần ba năm là đã có thể cắt và may thành thạo một chiếc áo dài với ba loại kiểu chính: có cổ, cổ "Bà Nhu" hay "tay raglan". Đằng khác, cô bé ấy sẽ tốn thì giờ học thêm rồi lại tốn nhiều thì giờ may các kiểu cổ hay tay áo rườm rà như Lemur đã cổ động mà không kiếm được hơn bao nhiêu tiền công vì, với đại đa số phụ nữ Việt Nam, không ai có thừa tiền để may nhiều chiếc áo dài khác kiểu. Vào thời Lemur, bao nhiêu phụ nữ đủ tiền để may hơn một vài chiếc áo trừ giới trung hay thượng lưu? Trong khi thêm vào đó, các loại vải đắt tiền (như Nhị Linh đã viết "Một cô con nhà giầu, có tiền mua nhung mầu, mua cẩm châu, hàng tầu, hàng tây…") và "ren" đều nhập cảng từ ngoại quốc? Ngay tại Hoa Kỳ, trung bình một bộ áo dài tốn khoảng 90 mĩ kim (30 mk tiền vải và 40 mk tiền công cho chiếc áo và 20 mk cho chiếc quần) cho tới có khi vài trăm mĩ kim là thường. Ngoài ra, là một họa sĩ, khi vận động để bỏ "cổ" (trong áo dài), Lemur Nguyễn Cát Tường lại còn quên một điều rất thực tế: phụ nữ lớn tuổi không nên mặc áo dài không cổ vì cổ là nơi phô ra cái dấu ấn của thời gian lộ liễu nhất. Chính ra, cổ áo dài giữ một phận sự rất quan trọng: nó bầy tỏ được phần trang trọng cho người mặc cho dù những phần tay hay tà có biến chế ra sao. Cho nên, chiếc áo dài có cổ mới trở nên "quốc phục" vì nếu may bằng một thứ vải màu sắc nhã nhặn, nó có thể vững tâm đến dự một đám cưới rồi ghé sang một đám tang mà không ngại ngùng gì.

 

***Bài này – nay đưc tác gi hoàn chnh — đã xut hin trong mt lot 3 bài v T Lc Văn đoàn& Áo dài& N quyn trên Tp chí Khởi Hành và lot 2 bài trên Blog Nguyn Xuân Hoàng-VOA hay trên Tp chí Xưa&Nay vào năm 2011. Cm s dng dưi mi hình thc nếu không đưc phép bng văn bn ca tác gi. Nếu mun, xin liên lc vi tác gi ti PO Box 670, CA 92655 [NTC]

bài đã đăng của Nguyễn Tà Cúc


1 bình luận »

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006*2018 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)