Trang chính » Biên Khảo, Nghiên Cứu, Nhận Định, Phê Bình, Tư Liệu, Tưởng Niệm Bùi Bích Hà Email bài này

Nhà văn Bùi Bích Hà [1.1938-7.2021]- Từ Tràng-An báo, Huế, Việt Nam đến Phương trời khác, Little Saigon, Hoa Kỳ (kỳ 3)

BBH-TMT-va-PPM_thumb.jpg

 

BBH & TMT va PPM
Từ trái: Nhà thơ Trần Mộng Tú, chủ biên Diễn Đàn Thế Kỷ Phạm Phú Minh, và nhà văn Bùi Bích Hà tại vườn nhà Phạm Phú Minh, năm 1998 (Hình: Phạm Phú Minh)

 

4. Sinh hoạt Văn Chương, Báo Chí và Truyền Thanh

Tôi có thể nói mà không sợ lầm, rằng tên tuổi nhà văn Bùi Bích Hà được liên kết tới nhiều người trong văn giới và báo giới như nhà báo Đỗ Ngọc Yến (Sáng lập nhật báo &Công ty người Việt), nhà báo Lê Đình Điểu (Chủ nhiệm Thế Kỷ 21 & Giám đốc Đài Phát Thanh VNCR), nhà văn Phạm Xuân Đài (Chủ bút tạp chí Thế Kỷ 21), nhà văn Nguyễn Mộng Giác (một trong những người sáng lập tạp chí Văn Học), nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng (Tổng Thư ký nhật báo Người Việt kiêm Thư ký Tòa soạn tạp chí Thế Kỷ 21 và Chủ nhiệm & Chủ bút tạp chí Văn) hay nhà thơ Trần Mộng Tú. Sự liên tưởng ấy không phải là không có lý do. Cặp bạn Bùi Bích Hà-Trần Mộng Tú thường xuyên nhắc đến nhau luôn. Hai người có thời cùng làm báo Phụ Nữ Gia Đình Người Việt. Các ông chủ nhiệm/chủ bút thượng dẫn đều quen biết với bà cả. Bà cộng tác bền bỉ với Công ty Người Việt từ thời Đỗ Ngọc Yến, Lê Đình Điểu cho đến khi qua đời tuy có lúc gián đoạn. Tuy thế, sự liên tưởng này có thể không chính xác nếu xét về các lãnh vực hoạt động dù bà có tiếng quen biết hay hợp tác trong một thời gian dài.

4.1 Báo quan-sang

Bùi Bích Hà là một nhà văn. Cái đó đã hẳn. Bà viết rất sớm, từ lúc là thiếu nữ:

-“Nhớ lại năm tôi 15 tuổi, thầy giáo tôi thấy đứa học trò có năng khiếu, đã khuyến khích nó viết và giúp nó gửi bài đi dự thi giải truyện ngắn của tuần báo Thẩm Mỹ ở Sàigon…” [Bùi Bích Hà, “Tuổi thơ”, ngày 30.6. 2016, https://www.nguoi-viet.com/nhin-tu-little-saigon/tuoi-tho/]

Thanh Nam và Tô Kiều Ngân là hai người đầu tiên thuộc thế giới văn chương mà bà diện kiến:

-“Bữa hai anh Thanh Nam và Tô Kiều Ngân, đại diện tuần báo Thẩm Mỹ đem giải thưởng một truyện ngắn trúng tuyển của tôi ra tận Huế (gồm mấy trăm bạc và mười bức tranh lụa mô tả mười phong thái đánh đàn của cô Kiều), bố tôi trình trọng mặc áo the, đội khăn xếp, pha trà tàu tiếp khách văn phương xa thay cho con. Khách về rồi, bố ngồi lặng trên tràng kỷ, một lúc mới khẽ khàng bảo con gái “con tập tành viết lách lăng nhăng như thế đủ rồi, phải dốc lòng lo việc học. Người viết văn ở nước ta nghèo rớt, vả chăng, con gái, đàn bà mà viết văn thì rồi thân thế long đong lắm con ạ.” Bố tôi thở dài…”[Bùi Bích Hà, “Tại sao viết văn”, Thế Kỷ 21 Số 59, trang 68, tháng 3.1994]

Nhà văn Duy Lam là người thứ ba rồi đến nhà văn Nhất Linh:

-“[…] Năm tôi mười bẩy tuổi, do nhà văn Duy Lam Nguyễn Kim Tuấn (lúc bấy giờ đang đóng quân ở Huế) khuyến khích, tôi có gửi vài truyện ngắn ký bút hiệu Chi Hương, được Nhất Linh cho đăng ở Văn Hoá Ngày Nay, bộ mới, với lời khen ngợi qua một thư ngắn viết tay cho tôi mà tự dạng về sau tôi có dịp so sánh, rất giống với nét chữ của những nhà văn khác thế hệ thứ hai của dòng họ Nguyễn Tường, mỏng, nhỏ, ngoằn ngoèo, gẫy vỡ, chông chênh nhiều khoảng trống xung quanh”… [Bùi Bích Hà, “Sự sống và cái chết của con người ngoại khổ”, Thế Kỷ 21 Số 159-Chủ đề “Ngày 7.7: Tưởng niệm Nhất Linh“, Tháng 7.2002, trang 48-

* Tưởng nhớ Nhất Linh Nguyễn Tường Tam https://www.diendantheky.net/2021/07/nguyen-tuong-thiet-en-khuya-vut-tat.html#more]

Sau Thanh Nam, Tô Kiều Ngân, Duy Lam và Nhất Linh trước 1975, hãy đọc họa sĩ/nhà văn Võ Đình nhận xét về văn Bùi Bích Hà sau 1975:

-“[…] Sau đây, xin ghi thêm đôi ba ý nghĩ về hai trường hợp đặc biệt, rất đặc biệt, của “chay” và “mặn”. Một, là trường hợp nhà văn Bùi Bích Hà. Truyện của bà không có, hoặc có rất ít, những cái mà chúng ta thường gọi là “mùi mẫn”. Cái mà ‘cõi viết’ của Bùi Bích Hà có nhiều, Bùi Vĩnh Phúc (trong cuốn Lý Luân và Phê Bình, Văn Nghệ, 1996) đã nói đến rồi, và nói rất hay: “(…) Chỉ với tập truyện ngắn và một vài bài tùy bút (…) bà đã để lại những ấn tượng rõ nét trong lòng người đọc về một văn phong, trầm lắng nhưng lại ẩn chứa đầy những sôi sục bên dưới, và một trái tim thiết tha nhưng luôn quằn quại với những câu hỏi của đời sống‘.

Là một người đọc truyện (chứ không phải một nhà phê bình văn học) tôi thấy Bùi Bích Hà viết… “mặn” đáo để. Điều đáng ghi nhận là cái “mặn” đó không phải do những mô tả trao đổi xác thịt nam nữ gây ra. Cái “mặn” đó có gốc nguồn từ một cách nhìn, một nghệ thuật. Một người đàn bà đứng tuổi, dù “đang yêu hoặc sẽ phải yêu”mà lại có cái thân hình như một thứ trái cây chín, chín ngọt ngào, như một vết thương tấy đỏ” (truyện Cơn Bão trong Buổi Sáng Một Mình, Người Việt, 1989). Cô Quyên trong Cuộc Hẹn (cùng trong một sách) được hôn: môi cô “bỏng rát vì những cái chân râu cứng (…) Tiết lên một nụ hôn tìm kiếm”. Chữ nghĩa như vậy là “mặn”,

Cái “mặn” của Thuyền trong truyện có cùng tên […] được phô bày một cách rất sinh động […] Phác họa một người đàn bà chín muồi, với vài nét đơn sơ như vậy, dù không đụng chạm gì đến chuyện chăn gối của ai, “mặn” lắm. Thuyền dan díu với Lâm, một người đã có vợ. Vợ Lâm đến “dằn mặt” Thuyền. “Bằng một cử chỉ thật nhanh và bất ngờ, vợ Lâm rút trong túi xách của nàng một con dao nhỏ, mũi nhọn, rạch ngang dọc lên đệm lưng cái ghế bành nàng vừa ngồi. Tiếng mũi dao cứa lên mặt da căng nghe xoèn xoẹt, cao su ở trong nứt bung ra, như một vết thương bày mỡ trắng hếu”. Như một vết thương bày mỡ trắng hếu! Tả một cuộc “đánh ghen” có tính cách tượng trưng mà gọn ghẽ, ít lời như vậy là hay, và “mặn”. Đặc biệt hơn nữa, theo thiển ý, là cái viết “mặn” của nhà văn này, trong chuỗi dài những khuôn mặt nữ cầm bút, trước 1975, sau 1975, nổi bật riêng rẽ một mình. “Chữ nghĩa” của bà vừa gọn ghẽ, kín đáo, lại vừa chính xác, tài tình. Chẳng những Bùi Bích Hà có một ngòi bút hiếm hoi, bà có một ngòi bút “Mặn” hiếm hoi…” [Võ Đình, “Chay và Mặn”, Văn Học số 146, Tháng 6.1998]

Võ Đình là một họa sĩ có tiếng đa tình–ít nhất trên chữ nghĩa, nghĩa là “đa tình”…chay– và tài hoa trên giấy vẽ. Được ông khen “cái viết “mặn” của nhà văn này, trong chuỗi dài những khuôn mặt nữ cầm bút, trước 1975, sau 1975, nổi bật riêng rẽ một mình. […] Chẳng những Bùi Bích Hà có một ngòi bút hiếm hoi, bà có một ngòi bút “Mặn” hiếm hoi…” là một danh dự, nhất là khi người thứ hai mà ông nhắc đến là nhà văn Võ Phiến. Ngoài ra, nhà văn Trần Doãn Nho và nhà phê bình Bùi Vĩnh Phúc cũng có nhận xét mà tôi chú ý ngay đến chữ “ý tứ” do cả hai cùng sử dụng:

-[…] Văn Túy Hồng trực tiếp, nói ngay nói thẳng; văn Bùi Bích Hà mang mang, xa xa gần gần. Huế của Túy Hồng nằm trong ngôn ngữ; Huế của Bùi Bích Hà nằm trong ý tứ […] Để kết thúc, xin dẫn lại một nhận xét của nhà phê bình văn học Bùi Vĩnh Phúc về văn chương Bùi Bích Hà: “Câu văn của Bùi Bích Hà rất lành, rất hiền, dịu dàng, tha thiết, mang một chút buồn và thơ như những chùm hoa sầu đông nở tím những cửa sổ Huế ngày xưa. Tác giả không phải là một người thích làm dáng. Bà chân thực và thiết tha trong những suy nghĩ và bày tỏ của mình. Câu văn đẹp, ý tứ, và rất ít son phấn. Trong nhiều chỗ, chúng có cái đẹp của những lời văn trong sáng nhưng vẫn làm dấy lên một chút tình trong ‘Bướm Trắng’ của Nhất Linh, và nhất là chúng có cái đẹp tươi tắn và trong sáng như những câu văn của những trang sách ‘Nắng Trong Vườn’ và ‘Gió Đầu Mùa’ của Thạch Lam”… [Trần Doãn Nho, “Nỗi Huế trong văn Bùi Bích Hà”, Người Việt, https://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/noi-hue-trong-van-bui-bich-ha/amp/]

Tôi hiểu chữ “ý tứ” này, nhưng nó gợi cho tôi một cảm tưởng khác: Bùi Bích Hà là một người hết sức “ý tứ” trong các giao dịch hay mối liên hệ, không chỉ với thân hữu. Hãy đọc Trần Doãn Nho lần nữa:

-“[…] Hôm đó, một ngày tháng 7 năm 1994, sau khi định cư tại Boston một năm trước đó, tôi ghé thăm quận Cam, được Nguyễn Mộng Giác rủ tôi đến dự một bữa ăn tối tại nhà Bùi Bích Hà. Có mặt trong bữa ăn, ngoài Nguyễn Mộng Giác và nữ chủ nhân, còn có Nguyễn Xuân Hoàng, Nhật Tiến và Trần Mộng Tú. Đây là lần đầu tiên tôi đến quận Cam, lần đầu tiên được gặp những tên tuổi văn chương mà tôi yêu mến, lần đầu tiên tôi được sống trong không khí văn chương sau gần hai thập niên im lặng và câm lặng trong nước. Đến nhà một người lạ, lại nghe giọng Bắc ngọt, đậm và lịch lãm của chủ nhân, tôi cảm thấy hơi ngại ngần. Nhưng Bùi Bích Hà lịch lãm mà thân tình, chu đáo mà cởi mở khiến cho một người vừa mới qua Mỹ định cư như tôi cảm thấy ấm áp. Bữa ăn là một kỷ niệm dịu dàng khó quên…”[Trần Doãn Nho, “Đến lúc đi, là đi”, https://www.diendantheky.net/search/label/B%C3%B9i%20B%C3%ADch%20H%C3%A0]

Chính sự “ý tứ” trong đời thường giải thích cho tính chất “ý tứ” trong văn chương Bùi Bích Hà. Sự quan sát hết sức thầm lặng mà vô cùng bén nhậy đã khiến văn Bùi Bích Hà rất “mặn” khi cần, nhưng bao giờ cũng nhuốm “tình” dù chỉ “một chút” như Bùi Vĩnh Phúc nhận xét. Hơn thế nữa, dù nhập cuộc rất muộn (1986), nhưng văn Bùi Bích Hà không hề lộ sự muộn màng đó khi đứng chung với văn chương của tác giả khác, nhất là nữ tác giả, như Võ Đình quả quyết.

Trở lại Văn HọcThế Kỷ 21, nếu tôi không nhầm, phải chăng nhà văn Trùng Dương quy trách nhiệm một các gián tiếp vào quyết định không “chuyên chú vào viết lách” của Bùi Bích Hà? Sự chọn lựa ấy không dễ hiểu như đã phản ảnh qua cảm tưởng của Trùng Dương: “Tôi nghĩ giá chị cứ chuyên chú vào viết lách thì hay hơn. Và có lẽ chị đã không gặp thất bại như đã thất bại với tờ báo và cái đài phát thanh trước…” [Trùng Dương, “Tiễn Chị lên đường”, ngày 15. 7. 2021 http://nhinrabonphuong.blogspot.com/2021/07/tien-chi-len-uong-trung-duong.html.]

Theo tôi, sự “thất bại” với nhật báo Việt Herald và Đài phát thanh VNCR–hoặc quan trọng hơn, quen biết nhiều hay ít với các quan-sang cầm bút–đã không cản trở hay ảnh hưởng được hai chọn lựa ấy. Mà chưa chắc đã là thất bại. Tôi chọn hai tạp chí văn học quan-sang Văn HọcThế Kỷ 21 vì đã được số hóa trên Thư viện Người Việt hầu kiểm chứng giả thuyết thượng dẫn.

clip_image002

Bùi Bích Hà và các quan-sang Mai Thảo, Kiều Chinh, Nguyễn Mộng Giác, Mai Kim Ngọc vv.
Mừng 10 năm tạp chí Văn tại tư gia quan-sang Nguyễn Xuân Hoàng

Tôi muốn biết số bài đã đăng của Bùi Bích Hà so với số bài của vài nhà văn nữ khác như Túy Hồng– người bạn cùng quê thuở thiếu thời, trở thành nhà văn trước 1975 trong khi Bùi Bích Hà dừng lại vì hoàn cảnh gia đình– không thuộc 2 nhóm tạp chí trên; nhà thơ Trần Mộng Tú, bạn thân, cùng hợp tác mật thiết với Người ViệtThế Kỷ 21; nhà văn Nguyễn Thị Hoàng Bắc, có thể coi như thuộc nhóm Văn Học; rồi sau cùng, Lê Thị Huệ, một nhà văn độc lập. Bởi thế, tôi sẽ cũng xác định được đề tài trong các bài đã đăng của Bùi Bích Hà.

Từ đó, tôi sẽ có kết luận một cách chính xác hơn về chủ trương và ước nguyện cũng như thành quả (nếu có) của Bùi Bích Hà, một phụ nữ nhà văn tỵ nạn chính trị giữa một rừng…tuyền các ông (bạn) nhà văn nhà báo quan-sang đảm nhiệm các trọng trách như nhà báo Đỗ Ngọc Yến–chủ nhiệm/sáng lập nhật báo & Công ty Người Việt & tạp chí Thế Kỷ 21; nhà báo Lê Đình Điểu, Chủ biên Biên Khảo &Chủ nhiệm Thế Kỷ 21 kiêm sáng lập và Giám Đốc Đài Phát thanh VNCR; nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng- Chủ biên rồi Chủ biên Văn học tạp chí Thế Kỷ 21, Tổng Thư ký Tòa soạn nhật báo Người Việt, chủ nhiệm & chủ bút tạp chí Văn, vv.; nhà thơ Đỗ Quý Toàn, Chủ bút Thế Kỷ 21 (cũng là chủ bút cuối của tạp chí này); Phạm Phú Minh, Chủ nhiệm & Chủ bút Thế Kỷ 21; Đỗ Việt Anh, Chủ nhiệm Thế Kỷ 21 & Chủ nhiệm nhật báo Người Việt vv.

4.1.1 Số bài đã đăng trên Thế Kỷ 21Văn Học

§ Tạp chí Thế Kỷ 21

Bùi Bích Hà cộng tác với tạp chí này trong suốt thời gian tồn tại từ tháng 5.1989 tới tháng 11-2007. Thế Kỷ 21 do công ty Người Việt sáng lập và hầu hết chủ nhiệm, chủ bút, tổng thư ký tòa soạn cũng là nhân viên hay thuộc Ban Quản Trị của công ty dù sau này được chuyển tượng trưng cho VAALA với giá 1 mỹ kim vào giữa năm 1994. Bà là 1 trong 15 thành viên thuộc Hội đồng Điều Hành Hội Văn Học Nghệ Thuật Việt Mỹ (Vietnamese American Arts and Letters Association-VAALA) sau khi giữ chức Thủ Quỹ trong giai đoạn đầu vào tháng 5, 1993. Thành lập vào năm 1993, VAALA sẽ trở thành tổ chức bảo trợ cho Thế Kỷ 21. Chưa đầy 1 năm sau, vào tháng giêng, 1995, VAALA giao lại cho Nhóm Chủ Biên vì chỉ có thể bảo trợ trên danh nghĩa tinh thần. Từ tháng 8.2002 (số 160) tới tháng 11.2007 (số 223, số cuối), bà có tên trong Ban Biên Tập gồm 15 người. Trên thực tế, theo lời chủ bút Phạm Phú Minh trong “Thư Từ giã”, Thế Kỷ 21 vẫn được coi như thuộc công ty Người Việt:

-“[…] Tháng 6, 2007, Hội đồng quản trị của Công ty Người Việt đã quyết định nhường lại quyền khai thác tờ Thế Kỷ 21 cho các cá nhân trong nội bộ công ty qua một cuộc đấu giá […]Kết quả ông Đỗ Việt Anh mua được tờ báo…” [Phạm Phú Minh/bút hiệu Phạm Xuân Đài, “Thư từ giã”, Số 223, trang 6, Tháng 11.2007]

Một lá “Thư Tòa soạn” khác, đăng trên Số 70, tháng 2.1995, có thể xem như một phần tiểu sử của Thế Kỷ 21, nhất là khi trách nhiệm của nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng–người duy nhất không thuộc Nhóm Người Việt– được nhắc đến với đầy đủ chi tiết hầu xứng đáng với công lao của ông. Ông là Chủ biên Số Ra Mắt với Phụ tá Hoàng Khởi Phong khi chưa có chủ nhiệm và chủ bút. Ông đảm nhận phần Chủ Biên Văn Học từ số 3, tháng 7.1989 cho tới số 26, tháng 6. 1991 với Chủ nhiệm Đỗ Ngọc Yến và Chủ bút Vương Hữu Bột. Bắt đầu từ số 27, tháng 7, 1991, khi Lê Đình Điểu (vẫn giữ phần Chủ Biên Khảo Cứu) thay thế Đỗ Ngọc Yến giữ nhiệm vụ chủ nhiệm, ông trở thành Tổng Thư ký Tòa soạn cho đến khi phải dừng (tháng 2. 1995, số 70) vì quá bận rộn với trách nhiệm Tổng Thư Ký Tòa soạn nhật báo Người Việt.

Ngoài ra, người viết lá thư tòa soạn này (chủ nhiệm Lê Đình Điểu?) cũng nhắc đến phần việc của một số nhân sự rất cần thiết như phần trị sự của nhạc sĩ Trần Đình Quân rồi Vũ Duy Tự và Phan Mỹ Sương. Trần Đình Quân–bạn của Túy Hồng và Bùi Bích Hà từ Huế–chính là người giới thiệu Bùi Bích Hà với Người Việt:

-“[…] Chủ nhiệm đầu tiên của Thế Kỷ 21 là nhà báo Đỗ Ngọc Yến, vẫn luôn luôn là một thành viên của ban chủ biên. Vương Hữu Bột đã nhận vai trò chủ bút kể từ số thứ hai dù anh ở xa trụ sở tòa báo năm ngàn cây số. Nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng đã gánh vác trách nhiệm Tổng thư ký Tòa soạn ngay từ số đầu, một nhiệm vụ nặng nề nhất trong tòa soạn. Nguyễn Xuân Hoàng đã liên lạc với các tác giả để thảo luận về bài vở, đã lo nội dung cũng như hình thức, nhờ thế mà tờ báo giữ được phẩm chất và uy tín như hiện nay. Trong thời gian gần đây, Nguyễn Xuân Hoàng đã phải trao lại bớt trách nhiệm cho Phạm Phú Minh và Lê Đình Điểu vì công tác của anh tại nhật báo Người Việt đã chiếm hết thời giờ. Về hình thức, các trang bìa tờ báo có được khuôn mặt khả ái và nghiêm túc như hiện nay là do sự chăm sóc tận tụy của hai họa sĩ Nguyễn Thị Hợp và Nguyễn Đồng. Cũng góp công với Thế Kỷ 21 ngay từ đầu còn có nhạc sĩ Trần Đình Quân, người phụ trách về trị sự. Trong vài năm gần đây Trần Đình Quân vì lý do sức khỏe đã phải rời bỏ tòa soạn, và công việc của anh hiện do anh Vũ Duy Tự đảm nhiệm. Hiện nay, Thế Kỷ 21 còn được sự đóng góp của chị Phan Mỹ Sương, người phụ trách trị sự và lo thiết lập mối liên lạc mật thiết hơn với các nhà sách, độc giả và thân chủ quảng cáo…” [sđd, trang 6, tháng 2.1995]

Một chi tiết trong bài “Đỗ Ngọc Yến trên đường Moran” tiết lộ ai là người mời Nguyễn Xuân Hoàng về làm 13 năm với công ty Người Việt. Việc làm ấy gồm cả phần Tổng Thư Ký Tòa soạn Nhật báo Người Việt lẫn phần văn học cho Thế Kỷ 21 như đã thấy trong lá thư trên vì, tuy không trong nhóm, nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng lại là người có khả năng hơn hết. Ông từng giữ chức Thư ký Tòa soạn Tạp chí Văn (trước 1975):

-“[…] Năm 1986, từ Hoa Thịnh Đốn xuống quận Cam, tôi gặp Đỗ Ngọc Yến lần đầu […] Mai Thảo hỏi tôi: ‘Cậu định đi học lại thật đấy à?’ Tôi nói phải đi học lại chứ anh. Anh cười nhìn Đỗ Ngọc Yến. Yến nói ‘Anh Mai Thảo bảo ông về trên đó làm gì. Ở lại dưới này đi. Bạn bè có mấy người.’ Câu nói của anh đã giữ tôi ở lại đường Moran 13 năm kể từ ngày đó…” [Nguyễn Xuân Hoàng, “Đỗ Ngọc Yến trên đường Moran”, Đỗ Ngọc Yến giữa bạn bè–53 tác giả, trang 229, Nhà Xuất bản Người Việt, 2006, Hoa Kỳ]

Bùi Bích Hà đã gặp Nguyễn Xuân Hoàng trong những buổi “học tập” dành cho giáo sư trung học Sài gòn sau 1975. Bà là giáo sư môn Pháp Văn. Ông là giáo sư môn Triết. Sau này, bà gặp lại ông tại tòa soạn Người Việt và rồi cũng sẽ có bài đăng trên báo Văn do Mai Thảo giao lại cho Nguyễn Xuân Hoàng.

Tạp chí Thế Kỷ 21 là sản phẩm của một nhóm anh em thân hữu đã gắn bó qua hoạt động xã hội từ trước 1975 và một phần của công ty/tổ chức sau 1975 nên, tuy thay phiên trong các chức vụ chủ nhiệm hay chủ bút, tất cả đều góp phần và liên đới chịu trách nhiệm. Bằng cớ của sự góp phần và chịu trách nhiệm chung này là danh sách Hội đồng Quản Trị, đặt trên cả danh sách chủ nhiệm & chủ bút: Đỗ Quý Toàn (Chủ bút 1989-2001& Chủ nhiệm nhật báo Người Việt), Đỗ Ngọc Yến (Chủ nhiệm 1989-1991 & Tổng Giám Đốc Công ty và Nhật báo Người Việt), Đỗ Việt Anh (Chủ nhiệm 2005-2007 & Chủ nhiệm nhật báo Người Việt), Hoàng Ngọc Tuệ (chủ nhiệm 2001-2004), Phạm Phú Minh (Chủ nhiệm (1997-2001 & Chủ bút 2001-2007), Phan Huy Đạt (Chủ nhiệm nhật báo Người Việt & Tổng giám đốc Công ty Người Việt), Phạm Phú Thiện Giao (Chủ bút nhật báo Người Việt) và Trần Văn Ngô. Nhờ vậy, công việc của chủ nhiệm chủ bút không nặng nề như đồng nghiệp các tạp chí khác vì vấn đề tài chính, trị sự và phát hành đã được nhân viên như Trần Đình Quân, và một thời gian dài do Phan Mỹ Sương–một nhân tố quan trọng–đảm nhận.

Đây là số bài của mỗi nhà văn nữ đã được chọn trên 223 số Thế Kỷ 21:

-Túy Hồng: 9 bài

-Trần Mộng Tú: 98 bài

-Nguyễn Thị Hoàng Bắc: 11 bài

-Lê Thị Huệ: 6 bài

-Bùi Bích Hà: 22 bài

§ Tạp chí Văn Học

Tạp chí Văn Học [2.1986-3&4.2008] do nhà văn Nguyễn Mộng Giác và một nhóm thân hữu sáng lập và duy trì. Trong số thân hữu này có thể kể: nhà văn Hoàng Khởi Phong, nhà văn Cao Xuân Huy, Võ Thắng Tiết (Nhà xuất bản Văn Nghệ, Hoa Kỳ-Nhận trách nhiệm phát hành trong một thời gian dài), Châu Văn Thọ, Lê Thọ Giáo, nhà thơ Trịnh Y Thư, Trương Vũ, nhà văn Mai Kim Ngọc vv. Qua khoảng 15 lần thay đổi ban biên tập hay điều hành, Nguyễn Mộng Giác, Hoàng Khởi Phong, Cao Xuân Huy, Châu Văn Thọ, Trịnh Y Thư, Thạch Hãn vv. thay phiên làm chủ nhiệm, chủ bút, tổng thư ký. Như đã đối chiếu với Thế Kỷ 21, nhân sự của Văn Học đương đầu với vấn đề tài chính một cách chật vật hơn vì khó lấy được quảng cáo lại phải kiêm phần trị sự trong khi ban chủ trương vẫn phải mưu sinh cho cá nhân và gia đình. Hoàng Khởi Phong là người chịu trách nhiệm pháp lý từ đầu. Cao Xuân Huy sẽ là “Chủ biên” duy nhất có tên trong những tờ Văn Học cuối cùng với phần Thơ do Trịnh Y Thư phụ trách. Tạp chí Văn Học đình bản với cơn trọng bệnh rồi qua đời của ông.

Đây là số bài của mỗi nhà văn nữ đã được chọn trên 236 số Văn Học:

-Túy Hồng: 1 bài

-Trần Mộng Tú: 62 bài

-Nguyễn Thị Hoàng Bắc: 27 bài

-Lê Thị Huệ: 9 bài

-Bùi Bích Hà: 13 bài

§ Tổng cộng bài của các nhà văn nữ đã chọn trên 459 số Thế Kỷ 21Văn Học

-Túy Hồng: 10 bài

-Trần Mộng Tú: 160 bài

-Nguyễn Thị Hoàng Bắc: 38 bài

-Lê Thị Huệ: 15 bài

-Bùi Bích Hà: 35 bài

Những con số này cho chúng ta thấy ngay sự cách biệt bình thường giữa Bùi Bích Hà và Túy Hồng, khá lớn giữa Bùi Bích Hà và Trần Mộng Tú, hầu như không khác giữa Bùi Bích Hà và Nguyễn Thị Hoàng Bắc hay một khoảng cách vừa phải giữa Bùi Bích Hà và Lê Thị Huệ. Điều có thể gây ngạc nhiên, không phải là số bài khác biệt không đáng chú ý giữa Bùi Bích Hà và Túy Hồng, Nguyễn Thị Hoàng Bắc hay Lê Thị Huệ, nhưng là số khác biệt quá lớn giữa Bùi Bích Hà (35 bài) và Trần Mộng Tú (160 bài). Đáng ngạc nhiên hơn nữa là con số quá ít (35) bài của Bùi Bích Hà đã đăng trong 459 số tổng cộng của Thế Kỷ 21 Văn Học. Chính số khác biệt quá lớn ấy sẽ giúp củng cố vị trí độc lập của Bùi Bích Hà trong thế giới văn nghệ đầy các quan-sang như đã đặt giả thuyết. Đặc biệt hơn, thể loại và chủ đề các bài của Bùi Bích Hà cũng rất khác với thể loại sáng tác (thơ và truyện) của các nhà văn nữ kia như sẽ được tiếp tục tìm hiểu.

4.1.2 Danh sách các bài đã đăng của Bùi Bích Hà (và qua bút hiệu Thái Hà & Vương Tiểu Muội)

§ Trên Thế Kỷ 21

1- Ngay trên quê hương mình, Vương Tiểu Muội, Số 1, Tháng 5.1989.

2- Đỗ Kh.: 13 Câu trả lời, Thái Hà, Số 3, Tháng 7.1989.

3- Một giờ với Mai Thảo, Vương Tiểu Muội, Số 10, Tháng 2.1990.

4- Tôi đọc “Ly Thân” của Trần Mạnh Hảo, Bùi Bích Hà, Số 14, Tháng 6.1990.

5- Chuyện những người H.O., Vương Tiểu Muội, Số 25, Tháng 5. 1991.

6- Khi người ta không thở được nữa nên phải ôm lấy ngực giải thích…, Bùi Bích Hà, Số 30, Tháng 10. 1991.

7- Thư gủi Dương Thu Hương, Bùi Bích Hà, Số 36, Tháng 4. 1992.

8- Tại sao viết văn?, Bùi Bích Hà, Số 59, Tháng 3. 1994.

9- Trả lời phỏng vấn “Gia đình, Tình yêu và…Tâm sự“, Phan Mỹ Sương thực hiện, Số 105&106, Tháng 1&2.1998.

10- Vòng ngựa gỗ, Bùi Bích Hà, Số 142, Tháng 2. 2001.

11- Cát bụi -Chủ đề tưởng niệm Trịnh Công Sơn, Bùi Bích Hà, Số 145, Tháng 5. 2001.

12- Hãy bước vào, và chọn lấy cho mình những đóa riêng, Bùi Bích Hà, Số 148, Tháng 8. 2001.

13- Đi xem Mùa Hè Chiều Thẳng Đứng, Bùi Bích Hà, Số 149, Tháng 9. 2001.

14- Đi xem Green Dragon, Bùi Bích Hà, Số 158, Tháng 6. 2002.

15- Sự sống và cái chết của con người ngoại khổ-Chủ đề Tưởng niệm Nhất Linh, Bùi Bích Hà, Số 159, Tháng 7. 2002.

16– Đọc Huyệt Tuyết, Bùi Bích Hà, Số 160, Tháng 8. 2002.

17– Yếu tố thành công của người phụ nữ di dân, Bùi Bích Hà phỏng vấn, Số 161, Tháng 9. 2002.

18– Tự do và thân phận, Bùi Bích Hà, Số 162, Tháng 10. 2002.

19– Nhìn lại quê hương, Bùi Bích Hà, Số 173, Tháng 9. 2003.

20– Bà Nhất Linh Nguyễn Tường Tam, Bùi Bích Hà, Số 186, Tháng 10. 2004.

21– Hình như, Bùi Bích Hà, Số 189&190, Tháng 1&2. 2005.

22– Biệt Ly-Chủ đề Tưởng niệm nhà báo Đỗ Ngọc Yến, Bùi Bích Hà, Số 209, Tháng 9. 2006.

§ Trên Văn Học

1-Tôi đọc Ly Thân của Trần Mạnh Hảo, Bùi Bích Hà, Số 52, Tháng 6. 1990.

2-Những cái thùng giấy, Bùi Bích Hà, Số 93&94, Tháng 1&2. 1994.

3-Trả lời phỏng vấn 20 Năm Văn học Việt Nam Hải Ngoại, Tác giả Bùi Bích Hà &Tác phẩm: Truyện ngắn Chỗ về, Số 110, Tháng 6. 1995.

4-Linda Lê, “Ôi gia đình, ta căm ghét ngươi!“, Bùi Bích Hà, Số 116, Tháng 12. 1995.

5-Gạch Đỏ, Bùi Bích Hà, Số 120, Tháng 4. 1996.

6-Thư viết cho con gái lúc dọn nhà, Bùi Bích Hà, Số 122, Tháng 6. 1996.

7-Cái địa chỉ cũ, Bùi Bích Hà, Số 128, Tháng 12. 1996.

8-Tây Tạng và góc phố đỏ, Bùi Bích Hà, Số 141&142, Tháng 1&2. 1998.

9-Mùa Phục Sinh, Bùi Bích Hà, Số 157, Tháng 5. 1999.

10-Đôi cánh ước mơ của con, Bùi Bích Hà, Số 160, Tháng 8. 1999.

11-Hư Vô, Bùi Bích Hà, Số 183, Tháng 7. 2001.

12-Cỏ dại và thú dữ, Bùi Bích Hà, Số 188, Tháng 12. 2001.

13-Thiên Thu, Bùi Bích Hà, Số 196, Tháng 8. 2002.

§ Phân loại theo chủ đề

· Hậu quả của chủ nghĩa Cộng sản

1- Ngay trên quê hương mình, Vương Tiểu Muội, TK 21 Số Ra mắt, Tháng 5.1989.

2- Chuyện những người H.O., Vương Tiểu Muội, TK 21 Số 25, Tháng 5. 1991.

3- Khi người ta không thở được nữa nên phải ôm lấy ngực giải thích…, Bùi Bích Hà, TK 21 Số 30, Tháng 10. 1991.

4– Nhìn lại quê hương, Bùi Bích Hà, TK 21 Số 173, Tháng 9. 2003.

· Phản ứng trước một số tác giả được mệnh danh “phản kháng” từ Việt Nam

5- Tôi đọc “Ly Thân” của Trần Mạnh Hảo, Bùi Bích Hà, TK 21 Số 14, Tháng 6.1990.

6- Thư gủi Dương Thu Hương, Bùi Bích Hà, TK 21 Số 36, Tháng 4. 1992.

7-Tôi đọc Ly Thân của Trần Mạnh Hảo, Bùi Bích Hà, VH Số 52, Tháng 6. 1990

· Hoạt động xã hội

8- Trả lời phỏng vấn “Gia đình, Tình yêu và…Tâm sự“, Phan Mỹ Sương thực hiện, TK 21 Số 105&106, Tháng 1&2.1998.

9– Yếu tố thành công của người phụ nữ di dân, Bùi Bích Hà phỏng vấn, TK 21 Số 161, Tháng 10. 2002.

· Văn học

10- Đỗ Kh.: 13 Câu trả lời, Thái Hà, TK 21 Số 3, Tháng 7.1989

11- Một giờ với Mai Thảo, Vương Tiểu Muội, TK 21 Số 10, Tháng 2.1990.

12- Tại sao viết văn?, Bùi Bích Hà, Số 59, TK 21 Tháng 3. 1994.

13- Cát bụi -Chủ đề tưởng niệm Trịnh Công Sơn, Bùi Bích Hà, TK 21 Số 145, Tháng 5. 2001.

14- Sự sống và cái chết của con người ngoại khổ -Chủ đề tưởng niệm Nhất Linh, Bùi Bích Hà, TK 21 Số 159, Tháng 7. 2002

15-Trả lời phỏng vấn 20 Năm Văn học Việt Nam Hải Ngoại, Tác giả Bùi Bích Hà &Tác phẩm: Truyện ngắn Chỗ về, VH Số 110, Tháng 6. 1995.

16– Bà Nhất Linh Nguyễn Tường Tam, Bùi Bích Hà, TK 21 Số 186, Tháng 10. 2004.

· Điểm sách & Điểm phim

17- Hãy bước vào, và chọn lấy cho mình những đóa riêng, Bùi Bích Hà, TK 21 Số 148, Tháng 8. 2001.

18- Đi xem Mùa Hè Chiều Thẳng Đứng, Bùi Bích Hà, Số 149, TK 21 Tháng 9. 2001.

19- Đi xem Green Dragon, Bùi Bích Hà, TK 21 Số 158, Tháng 6. 2002.

20– Đọc Huyệt Tuyết, Bùi Bích Hà, TK 21 Số 160, Tháng 8. 2002.

21-Linda Lê, “Ôi gia đình, ta căm ghét ngươi!” Bùi Bích Hà, VH Số 116, Tháng 12. 1995

· Xã Luận

22– Tự do và thân phận, Bùi Bích Hà, TK 21 Số 162, Tháng 10. 2002

23-Cỏ dại và thú dữ, Bùi Bích Hà, VH Số 188, Tháng 12. 2001.

· Sáng tác

24- Vòng ngựa gỗ, Bùi Bích Hà, TK 21 Số 142, Tháng 2. 2001

25– Hình như, Bùi Bích Hà, TK 21 Số 189&190, Tháng 1&2. 2005.

26– Biệt Ly-Chủ đề Tưởng niệm nhà báo Đỗ Ngọc Yến, Bùi Bích Hà, TK 21 Số 209, Tháng 9. 2006.

27-Những cái thùng giấy, Bùi Bích Hà, VH Số 93&94, Tháng 1&2. 1994.

28-Gạch Đỏ, Bùi Bích Hà, VH Số 120, Tháng 4. 1996.

29-Thư viết cho con gái lúc dọn nhà, Bùi Bích Hà, VH Số 122, Tháng 6. 1996.

30-Cái địa chỉ cũ, Bùi Bích Hà, VH Số 128, Tháng 12. 1996.

31-Tây Tạng và góc phố đỏ, Bùi Bích Hà, VH Số 141&142, Tháng 1&2. 1998.

32-Mùa Phục Sinh, Bùi Bích Hà, VH Số 157, Tháng 5. 1999.

33-Đôi cánh ước mơ của con, Bùi Bích Hà, VH Số 160, Tháng 8. 1999.

34-Hư Vô, Bùi Bích Hà, VH Số 183, VH Tháng 7. 2001.

35-Thiên Thu, Bùi Bích Hà, VH Số 196, Tháng 8. 2002.

Theo danh sách thượng dẫn, Bùi Bích Hà không có truyện ngắn hay thơ sau khoảng 2001-2002 ngoài vài bài thơ tiễn bạn như bài tiễn Đỗ Ngọc Yến. Bài thơ Hình như (Thế Kỷ 21, 2005) và Hư Vô (Văn Học, 2001) chỉ là một với vài sửa chữa nhỏ. Bài thơ này phác họa chân dung cuộc tình linh đình với sự chứng kiến và góp vui của bạn hữu quan-sang, nhưng kết thúc ảm đạm một cách bất ngờ. Chỉ trong vòng vài năm, “đóa hư vô thơm một hồn đầy”, 2001 đã nhường chỗ vĩnh viễn cho “Sợi tóc buồn ngơ ngác nhớ vai”, 2005.

Như đã trình bày, Bùi Bích Hà có quan điểm khác hẳn với một số quan-sang.

“Tôi đọc Ly Thân của Trần Mạnh Hảo” [Bùi Bích Hà, Thế Kỷ 21 Số 14, Tháng 6.1990 & Văn Học Số 52, Tháng 6. 1990] là thí dụ thứ nhất. Cả hai tạp chí này đăng cả bài của Bùi Bích Hà lẫn bài phản bác của Vũ Huy Quang [“Thông điệp của Ly Thân… và Trần Mạnh Hảo”, sđd].

Chưa đầy 2 năm sau, Thư gửi Dương Thu Hương [Thế Kỷ 21 Số 36, Tháng 4. 1992] là thí dụ thứ 2, một phản bác dữ dội:

-“[…] Trước hết, bản Tự bạch về Tiểu thuyết Vô Đề làm tôi vô cùng kinh ngạc […] quả thật chỉ là một Dương Thu Hương của những tranh chấp cuồng nhiệt, của những kiến thức chính trị nông cạn, hồ đồ, bó chặt trong giới hạn người cực đảng viên CS của những nhân danh giả trá và lạm dụng…” [Bùi Bích Hà, sđd, https://issuu.com/nvthuvien/docs/theky21_-_so_36?mode=window&viewMode=doublePage]]

clip_image004

 

Bùi Bích Hà, thủ bút bài “Thư gửi Dương Thu Hương”, xuất hiện trên Phụ nữ Diễn đàn Số 98, trang 28, Tháng 3.1992 và Thế Kỷ 21, Số 36, trang 21-25, Tháng 4.1992,

Gửi Cúc đọc cho vui chuyện cũ

clip_image006

Bùi Bích Hà, sđd, trang 2

Một bài phản bác khác, Khi người ta không thở được nữa nên phải ôm lấy ngực giải thích… trên Thế Kỷ 21 Số 30, Tháng 10. 1991, góp ý rất sát phạt và chua chát về cái “ghetto” tưởng tượng mà vài nhà văn hay phê bình lúc đó đang loay hoay tìm cách đào thoát để sang một ghetto khác:

clip_image008

Bùi Bích Hà, Khi người ta không thở được nữa nên phải ôm lấy ngực giải thích…
Thế Kỷ 21 Số 30, Tháng 10. 1991

Chỉ 3 bài này thôi đủ chứng tỏ bà không bao giờ ỷ lại vào tình thân hữu để không dám phát biểu một cách độc lập. Đằng khác, cũng không ông quan-sang nào thiên vị bà qua số bài quá ít ỏi trên cả Thế Kỷ 21 lẫn Văn Học.

Nhận xét của Trùng Dương về sự “không chăm chú vào viết lách” của Bùi Bích Hà–thật ra, theo tôi, không chăm chú vào sở trường truyện ngắn hay thơ–đúng một cách vô tình dù chỉ một phần nhỏ, vì chính Bùi Bích Hà thú nhận không thể tiếp tục sáng tác được nữa sau khi trở về thăm Việt Nam vào năm 2001. Bà nhận ra sự bất lực, thậm chí vô bổ, của văn chương chữ nghĩa trước nỗi thống khổ của người dân Việt dưới chế độ Cộng Sản:

-“[…] Dẫu sao, suốt 15 năm tiếp theo, tôi trải qua một thời gian tuy vất vả đấy nhưng vô cùng hạnh phúc, vừa sinh nhai vừa vui chơi với chữ nghĩa. Tôi viết truyện ngắn, tùy bút, làm thơ, trả lời thư độc giả gởi tới tòa soạn và được công ty Người Việt giúp xuất bản cuốn truyện ngắn đầu tay Buổi Sáng Một Mình. Năm 2001, […] Sài Gòn vẫn còn nguyên cảnh những đứa bé ngủ vạ vật trên vai áo mẹ rách bươm, những đứa lớn hơn mắt hau háu chờ khách buông đũa bất cứ vì lý do gì là nhào ngay vào chụp lấy cái tô hay cái đĩa khách đang ăn dở rồi chạy ra một góc xa, cắm cúi lùa hết vào miệng. Tôi quá buồn và chán nản, thấy ra trong khi tôi an thân ngồi trước bàn phím máy điện toán, dùng chữ nghĩa văn chương phù phiếm để mô tả, vẽ vời, son phấn cho những cảnh đời và những nhân vật trong tưởng tượng của tôi thì những con người thật ngoài xã hội muôn ngàn lần khác hơn, khốn khó tận cùng […] Trở về Mỹ, tôi bỏ hết các chương trình đang thực hiện cho VOA, nhờ Hồng Vân thay thế; bỏ luôn chương trình đang làm trên Little Saigon Radio và ngưng cộng tác với các báo. Sáu tháng sau, hoàn hồn, tôi viết lại nhưng không làm văn chương nữa….” [Bùi Bích Hà, “Chữ Nghĩa”, Đèn Khuya-Tập 1, trang 147]

-“[…] Trong dịp hãn hữu này, tôi đã tận mắt nhìn lại cuộc sống lầm than của đồng bào tôi không riêng Huế mà ở cả ba miền Bắc, Trung, Nam, không khác gì ngày tôi ra đi mà ngàn lần tệ hơn. Trong phút giây cõi lòng tan nát, tôi chợt thấy chữ nghĩa mà tôi sống hằng ngày với, mà tôi gửi gắm vào đấy bao nỗi niềm và hy vọng qua những hàng chữ viết xuống giấy, thật sự là hão huyền, vô dụng, chẳng có ý nghĩa gì trước những nỗi thống khổ không bút mực nào tả xiết của dân tôi. Trở về Mỹ, tôi như con thú bị trọng thương, bỏ hết những công việc đang làm trong lãnh vực truyền thông, ăn năn riêng mình quanh những suy nghĩ viển vông, kém cỏi và sự bất lực trong bản thân. Cả năm sau, nhờ bạn bè, thính giả, độc giả thăm hỏi, khuyến khích, thuyết phục, cộng với những thao thức cá nhân ngày càng chồng chất, tôi cầm bút trở lại nhưng chỉ để viết về những vấn đề thời sự và đời sống, hoàn toàn không sáng tác được nữa. Trước tình hình đất nước/cộng đồng hiện nay, tôi không thể không cảm nhận trong vẻ đẹp hư cấu của văn chương cái hào nhoáng phù phiếm, ích kỷ và dối trá, không lợi lạc gì cho ai, quan trọng hơn, cho cả đại cuộc đang lâm vào thế bí nếu không là một cách tìm quên những điều không thể quên…”[Bùi Bích Hà, “Tự Lực Văn Đoàn”, Mục Nhìn từ Little Sài gòn, Người Việt Online, https://www.nguoi-viet.com/nhin-tu-little-saigon/tu-luc-van-doan/]

Bùi Bích Hà quả “không sáng tác được nữa“. Cơn đột quỵ tinh thần tạo một chấn thương trầm trọng cho một người tưởng đâu vượt hết được mọi cơ cực, bất ưng. Tôi gặp bà trong một bữa trưa vội vàng giữa một thời khóa biểu đầy. Như thường lệ, bà ân cần mua thêm 2 phần ăn cho tôi mang về. Khuấy nhẹ đôi đũa vào tô phở một cách lơ đãng, bà hỏi tôi như tự hỏi: “Em phải về Việt Nam, thấy tận mắt, nghe tận tai thì mới hiểu được. Em viết liên tục trong khi làm ngày làm đêm. Bỏ công sức làm Khởi Hành với anh Viên Linh. Anh Võ Đình biết mặt em đấy, bảo chị, Lạ, vẻ buồn lạc, ngự trên mặt cười. Chị gạt đi, Buồn gì. Cô ấy buồn ngủ đấy! Nếu ngự được trên một đống bạc, đã không lạc lõng thảm thân cò bươn chải nuôi con. Chị em mình có làm gì được?”

Tôi không phải người đầu tiên thấu cảm nỗi tuyệt vọng trước sự xem ra bất lực của ngòi bút. Phải, văn chương mà làm gì khi con thơ đói rét? Nhưng tôi cũng sẽ không phải người đầu tiên được chứng kiến quyền năng của ngòi bút. Chỉ trong vòng 20 năm, không ai có thể ngờ được báo chí, sức mạnh kinh tế của người Việt tỵ nạn đã góp phần vào các cuộc vận động cho người Việt hay cựu tù nhân chính trị muốn ra đi. Bởi thế, tôi an ủi bà: “Đâu phải chỉ có chúng ta mới góp chút phần khiêm nhượng. Bao người nữa, lầm than hơn, vô vọng hơn, họ còn làm được cơ mà. Có thể là không thấy kết quả ngay bây giờ nhưng có cuộc tranh đấu nào mà thấy ngay nhỡn tiền đâu. Đời còn dài lắm.”

Bùi Bích Hà, như đã thấy, không bỏ cuộc. Từ 2002, bà chuyên tâm vào lãnh vực truyền thanh và báo đại chúng. Riêng về lãnh vực truyền thanh, bà trở lại đúng một vòng từ những ngày còn là một cô sinh viên ở kinh đô Huế.

(Còn tiếp)

bài đã đăng của Nguyễn Tà Cúc

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

@2006-2022 damau.org ♦ Tạp Chí Văn Chương Da Màu
Đăng nhập | Entries (RSS) | Comments (RSS)