Bên cạnh Minh Đức Hoài Trinh và Trần Tam Tiệp như thế phải có Nguyên Sa. Người đồng hành với Trần Tam Tiệp và Minh Đức Hoài Trinh trong suốt cuộc hành trình tái lập Trung Tâm chính là nhà thơ Nguyên Sa. Ông hiện diện và thuật lại cuộc hành trình thành lập này ngay cả trong cuộc hội họp đã bầu Nhật Tiến và Minh Đức Hoài Trinh vào Ban Chấp Hành Lâm thời, 1988, như bức ảnh kèm đây do nhà thơ/Chủ nhiệm & Chủ bút (Hồn Việt) Ngọc Hoài Phương, một người rất thân cận với Nguyên Sa, trao tặng:
Từ trái sang phải: nhà thơ Thu Nhi, Cô Trần Thị Loan & nhà thơ Phạm Công Thiện, nhà báo Đỗ Ngọc Yến, nhà thơ Nguyên Sa
Tháng 3.1988, California
Ngọc Hoài Phương giải thích hậu trường của bức ảnh: Đó là cuộc họp …thượng đỉnh Ba-Bên: Phạm Công Thiện đang phân tích tình hình quốc tế và quốc nội để bày tỏ sự đồng ý với việc thành lập một Trung Tâm tại Nam Cali hầu tham dự Đại Hội đồng Liên-Trung tâm sắp tới, Đỗ Ngọc Yến (nhóm Người Việt) tươi cười hoan hỷ đồng ý và Nguyên Sa—gương mặt nghiêm trọng– thì đang phân vân lưỡng lự, không biết có nên… đồng ý hay không.
Thêm vào đó, chúng ta cũng có thể so sánh những văn bản có nhắc tới cả Nguyên Sa và Minh Đức Hoài Trinh trong buổi họp vào tháng 3. 1988. Một bản Nghị Trình mà tôi kiếm được–trong những bản phát ra ngày hôm đó–ông được mời trình bày “Vài dòng lịch sử tổ chức Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại” từ 2 giờ 15 chiều đến 2 giờ 30 chiều, trong khi Minh Đức Hoài Trinh phát biểu về “Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại từ 1975 đến 1986” từ 2 giờ 30 chiều đến 2 giờ 45 chiều. Bốn chữ “lịch sử tổ chức” (trong phần Nguyên Sa) và thứ tự phát biểu của hai người về “lịch sử” rồi diễn tiến, chẳng lẽ không nói lên được chút gì hay sao? Phần trình bày của ông đã được tường thuật cũng trên Hồn Việt như sau:
Nhà thơ Nguyên Sa (chủ nhiệm tạp chí Đời và tuần báo Dân Chúng) trong dịp này đã trình bày về lịch sử tổ chức Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại. Ông lên tiếng ca ngợi công lao của nhà văn Trần Tam Tiệp (nguyên Tổng Thư Ký VBVNHN) đã có những hoạt động tích cực trong việc giúp đỡ các nhà văn nhà báo đang bị cầm tù trong chế độ Cộng sản ở quê nhà… [Hồn Việt, “Văn bút Việt Nam”, không rõ số, trang 10- khoảng tháng 4.1988]
Nguyên Sa không chỉ là một nhà thơ. Ông còn là một nhà báo với bút hiệu Hư Trúc, từng ác chiến với vài anh tài Miền Nam thời đó như Phạm Công Thiện là một; còn hai, ba, bốn, năm, sáu, bẩy, tám, chín, mười… thì không kể xiết. Ra trận liên tiếp nên không phải lúc nào ông cũng chiếm thế thượng phong, thí dụ như lần thi sĩ đụng độ nhà biếm họa CHÓE hay ngựa ông đương đầu voi trận Trần Phong Giao, thư ký Tòa soạn tạp chí Văn. Cứ đọc Một mình một ngựa [Nguyệt san Nhân Văn xuất bản, tháng 3.1991, Sài gòn] của Nguyên Sa sẽ rõ. Ngoài văn chương, ông còn là Đệ nhất Phó Chủ tịch Trung Tâm Văn Bút Việt Nam, nhiệm kỳ 1970-1972. Sau này, khi Miền Nam mất, khi anh chị em nhà văn vào tù, khi tìm cách tái lập Văn Bút tại một nơi hoàn toàn xa lạ, ông mới ngộ được, lẽ ra phải chú tâm nhiều hơn đến vấn đề sừng sững ngay trong Trung Tâm Văn Bút Việt Nam/the elephant in the room là các con ngựa Thành Troy như…văn hữu Vũ Hạnh thay vì Phạm Công Thiện, Nguyễn Nhật Duật, Viên Linh, CHÓE, Thanh Tâm Tuyền hay Trần Phong Giao.
Nguyên Sa nhiều lần công khai thuật lại hành trình cùng Minh Đức Hoài Trinh, Trần Tam Tiệp và cộng đồng tỵ nạn tái lập Trung Tâm–một sự kiện không thể phủ nhận được với quá nhiều nhân chứng– nên đã được ghi lại trong tiểu sử chính thức của ông:
… Thoạt tiên ông cùng gia đình định cư tại Pháp (1975) nhưng ba năm sau thì ông cùng gia đình rời Pháp qua Hoa Kỳ và định cư tại California từ đó đến nay. Thời gian ở Pháp, ông cùng với nữ sĩ Minh Đức Hoài Trinh và nhà văn Trần Tam Tiệp vận động thành công việc thành lập Trung Tâm Văn Bút Việt Nam Hải ngoại, hội viên chính thức của Hội Văn Bút Quốc Tế … [Lưu Trung Khảo, “Tiểu sử Nguyên Sa Trần Bích Lan (1932-1998)”- trích trong Nguyên Sa, Hồi Ký, trang 6, Nhà xuất bản Đời xuất bản, 1988, California]
Cho nên, theo tôi, Nguyên Sa phải được biết đến qua công cuộc sáng lập Trung Tâm Văn Bút VN Hải Ngoại. Thứ nhất, vì nhiệm vụ Đệ nhất Phó Chủ tịch, ông được tham dự một số Đại Hội đồng Văn Bút Quốc Tế nên quen biết hội viên thuộc các Trung Tâm khác và thông thạo đường lối hoạt động của họ. Khi tham dự Đại Hội Đồng Văn Bút Quốc Tế trước 1975, ông đã được đề nghị giúp đỡ một số nhà văn ngoại quốc tỵ nạn Cộng sản nên lập tức áp dụng ngay kinh nghiệm của họ vào trường hợp chính Việt Nam Cộng Hòa sau 1975. Tôi đã có dịp nói chuyện vài lần với Nguyên Sa sau lần tái ngộ tại cuộc họp Văn Bút, nơi ông tiếp tục tâm sự về buổi đầu của Trung Tâm Văn Bút VN Hải Ngoại. “Tái ngộ” vì ông đã gặp tôi tại Sài Gòn qua mối quen biết với Linh Mục/Chủ tịch Trung Tâm Văn Bút Việt Nam Thanh Lãng. Ông cho một chi tiết, mãi đến gần đây mới xác nhận được rõ ràng hơn: Chính phủ Cộng sản Việt Nam đã được mời và quả đã tính toán gia nhập Văn Bút Quốc Tế ngay sau khi Việt Nam Cộng Hòa mất. Do đó, ông càng phải xúc tiến kế hoạch tái lập trước họ dưới một tên khác vì chắc chắn nếu họ thành công, Trung Tâm của họ sẽ tiếp tục mang tên “Trung Tâm Văn Bút Việt Nam”. Thú thật, hồi xưa, tôi cũng đã có đọc một mẩu Tô Hoài thuật lại khá đủ chi tiết nhưng cách đây nửa năm, tôi mới may mắn mượn được quyền Chiều chiều có nguyên vẹn phần hồi ức đó:
.… Bấy giờ là những năm sau 1975, Nguyễn Đình Thi có quen một nhà văn Anh trong ban chấp hành hội Văn bút quốc tế. Ông này gợi ý với Nguyễn Đình Thi: Trong tình hình mới, Việt Nam nên gia nhập tổ chức quốc tế này. Cũng trong thời gian ấy một số nhà văn ở Sài Gòn đã ra nước ngoài cũng đương vận động vào lại Văn bút với tư cách Văn bút của các nhà văn Việt Nam ở hải ngoại. Hội Nhà văn Việt Nam được trên đồng ý cho tìm hiểu cách thức gia nhập, Nguyễn Đình Thi giao cho tôi lo liệu. Vào Văn bút Quốc tế, chủ chốt sẽ không là tổ chức có sẵn và không phải người có cương vị chính của Hội Nhà văn Việt Nam. Tôi đã đề nghị danh sách ban chấp hành lâm thời Văn bút Việt Nam gồm một số nhà văn tiếng tăm và ủy viên chấp hành Văn bút trước đây ở Sài Gòn (Thanh Lãng, Mộng Tuyết, …), các nhà văn trưởng thành trong kháng chiến chống Pháp chống Mỹ (Chu Văn, Anh Đức…). Tôi đã trao đổi với Nguyễn Văn Bổng và dự định Tổng thư ký là Nguyễn Văn Bổng. Thường vụ Hội Nhà văn được triệu tập bàn về vấn đề này. Hội nghị chưa thảo luận về tổ chức cũng như mọi công việc thế nào, mà có ý kiến đầu tiên cho rằng vấn đề rất quan trọng, ban thường vụ không thể quyết định mà cần có một hội nghị ban chấp hành mở rộng (…)Tôi cũng chẳng để tâm gì hơn, lại nghĩ bãi ra, thế cũng là cái sự thường…[Tô Hoài, Chiều chiều, trang 347-348, Nhà xuất bản Hội Nhà Văn, Đơn vị Liên doanh: Công Ty Sách Phương Nam, 2014 * Tôi nghĩ 2014 là lần tái bản. Hình như Chiều chiều xuất bản lần đầu vào năm 1999.]
May mà Nguyên Sa và các bạn như Du Tử Lê đã dự định tái lập với một tên khác ngay vào tháng 5, 1975. Nếu không, với thành tích “chống Mỹ thống nhất đất nước” của Đảng Cộng Sản vừa thắng trận, với nhiều lần chính Trung Tâm Văn Bút Việt Nam tố cáo chính phủ VNCH giam giữ nhà văn (như nhà văn nằm vùng Vũ Hạnh) trái phép trước 1975, với danh sách Ban Chấp hành gồm cả những hội viên uy tín trước 1975; trong khi tin tức về sự đàn áp các quyền tự do, những trại giam và vùng kinh tế mới vẫn chưa đến mắt thế giới vv. thì, theo tôi, chính phủ Việt Nam rất có triển vọng được gia nhập. Để cho rõ ràng hơn, ngoài các nguồn từ báo chí trong và ngoài, hội viên hay không hội viên, tôi sẽ cung cấp thêm một nguồn ngoại quốc có thể cho biết–ngoài Minh Đức Hoài Trinh, Nguyên Sa và Trần Tam Tiệp– còn thêm nhiều người vô danh góp phần vào việc thành lập Trung Tâm, nghĩa là Minh Đức Hoài Trinh còn được cộng đồng tỵ nạn ủng hộ một cách thiết thực. Bà hoàn toàn không “cô đơn” chút nào.
Nhà văn Joseph Brodsky phát biểu tại Đại Hội Đồng VBQT lần thứ 44–được tổ chức tại Rio de Jainero, Brazil, từ ngày 15 tới ngày 21, tháng 7, năm 1979–hầu hỗ trợ Trung Tâm Văn Bút Việt Nam được tái lập dưới một tên khác, nghĩa là tiếp tục đại diện cho Ngôn ngữ Việt Nam, dù không thể đại diện cho quốc gia sử dụng ngôn ngữ đó. Ông thuật lại vài chi tiết trong buổi đầu của Trung Tâm Văn Bút VN Hải Ngoại qua kinh nghiệm tham dự Đại Hội Đồng trong một chương của On Grief and Reason:
(…) Phác họa từ trí nhớ: 1978, một cuộc du hành sang Brazil (…) Vào phút cuối, tôi đã phấn đấu như một con sư tử cho sự tạo lập một chỗ trong Văn bút Quốc Tế dành cho các nhà văn Việt Nam lưu vong. Tôi bị xúc động đến nỗi sự phát biểu của tôi đã (có lúc) bị ngăn trở vì những dỏng nước mắt (tuôn rơi…/ Sketching from memory: 1978, a journey to Brazil (…) Toward the end I was fighting like a lion for the creation of a PEN Club section for Vietnamese writers in exile. I got all worked up and tears were interfering with my speech…” [Joseph Brodsky, On Grief and Reason, “After a journey, or Homage to Vertebrae,” trang 62, 67, Nhà xuất bản The Noon Day Press, 1995, Hoa Kỳ]
Sau khi được chấp thuận, ông kể tiếp:
(….) Người phụ nữ Việt Nam nhỏ thó, rưng rưng nước mắt, đại diện đồng bào cảm ơn chúng tôi và nói, rằng nếu tôi có bao giờ tới Úc–nơi họ đã gom góp từng xu đặng cô ấy có thể đến được Rio–tôi sẽ được đón tiếp như vua chúa và được đãi món tai kangaroo hầm/ (…) the teeny-weeny Vietnamese woman, tears in her eyes, thanked us on behalf of all her people, saying that if I ever go to Australia, whence pooling pennies, they had sent her to Rio, I’d get a royal reception and be treated to kangaroo-ear stew…[Joseph Brodsky, sđd, trang 75]
Chúng ta có thể tin Joseph Brodsky khi ông không hề biết tên “người đàn bà nhỏ thó” đó? Tôi tin là được vì, thứ nhất, việc Minh Đức Hoài Trinh tham dự Đại Hội Đồng Quốc Tế đã được chính bà và hai người khả tín khác nhắc lại. Vả lại, Joseph Brodsky còn ghi lại chi tiết về “những ai” đã chất vấn và phản đối ông. Với tư cách là một văn hào (và có vẻ không hề xem trọng Đại hội VBQT thượng dẫn), lẽ nào ông phải bịa đặt? Và bịa đăt một cách rất lớp lang, cả lúc ông bật khóc? Cứ như cô đào Thanh Nga đang diễn cải lương?! Thứ hai, việc nhiều người góp sức cử Minh Đức Hoài Trinh phó hội trong bước đầu gian nan ấy cũng được Nguyên Sa, Du Tử Lê, Ngọc Hoài Phương vv. nói đến. Các anh hào đã không thể cáng đáng việc đối mặt với quốc tế vì hoàn cảnh bắt buộc nên phải đặt gánh nặng lên vai một người (lại là một phụ nữ), chẳng lẽ cũng bỏ mặc phần chi phí cho người ta phó hội? Kinh nghiệm riêng của tôi thì, không có việc lớn hay/và việc chung nào mà một người làm nổi cả. Nhất tướng công thành vạn cốt khô. Nếu không biết ơn những tập thể vô danh, cũng xin chút thương cảm Còn chi ai quí ai hèn/Còn chi mà nói ai hiền ai ngu?
Ngoài ra, tôi còn muốn cho thấy sự đáng tiếc, nói chung, khi dành hết vinh quang cho một người trong khi vô tình làm thiệt hại cả tập thể nếu không đủ chứng cớ. Sau 1975, Việt Nam Cộng Hòa vẫn bị coi như một quốc gia bại trận xứng đáng với số phận của nó: lính thì hèn nhát đến độ đáng khinh (đã bỏ chạy khi đụng trận đúng nghĩa đen lại còn quay về cướp bóc dân lành vô tội), quan thì tham nhũng, dân thì ơ thờ, lính bỏ súng xong thì… “bỏ cuộc” cho “Bên Thắng cuộc” (mượn lời Huy Đức) hoành hành vv. Cộng đồng tỵ nạn đã chứng minh ngược lại qua một trong nhiều nỗ lực thành công bằng cách lập Trung Tâm Văn Bút VN Hải Ngoại khi góp kinh nghiệm, góp công, góp của từ giới nhà văn, giới binh sĩ và rất nhiều thường dân. Tôi xin chấm dứt phần rất cần thiết này bằng danh ngôn Một cây làm chẳng nên non. Ba cây Minh Đức Hoài Trinh, Trần Tam Tiệp, Nguyên Sa chụm lại nên hòn núi cao.
Tới đây, tôi sẽ đề cập đến phần phát biểu của nhà thơ Đỗ Minh Tuấn–một người trong nước liên quan đến Trung tâm Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại qua bài “Một bài báo nhiều ngộ nhận và quy chụp (về bài “Nhận diện Văn học Hải Ngoại” của Hoàng Huân)”. Bài này đã đăng trên tạp chí Văn nghệ quân đội, Số 21, tháng 11. 1998.
Đây là môt bài viết có những chi tiết điển hình cho loại thông tin thiếu sót chỉ vì người viết quá tin vào một nguồn mà không biết rằng cộng đồng văn chương hay văn nghệ của người Việt tại hải ngoại rất đa dạng. Người ngoài nhóm hoặc ngoài một tạp chí thường không đủ sự gắn bó và tin cậy của người trong nhóm để nhìn thấu cách vận hành hoặc những uẩn khúc đôi khi mọc rễ trong nhóm và Đỗ Minh Tuấn chỉ là một trong nhiều thí dụ. Như nhà phê bình Thụy Khuê. Bà viết về tạp chí Khởi Hành-Hoa Kỳ như sau:
…. Ở Cali, ngoài hai tờ Văn Học và Hợp Lưu, còn có tờ Văn của Mai Thảo và tờ Khởi Hành của Viên Linh (…) và Viên Linh là một kiện tướng trong nghề báo, đến Nguyễn Huy Thiệp ở trong nước ra, cầm tờ Khởi Hành, cũng phải khâm phục. Đó là những tờ báo cột trụ của Văn học hải ngoại… [Thụy Khuê, “Trương Vũ trong màu hoàng hôn”, ngày 11.2.2025, Da Màu, https://damau.org/102324/truong-vu-trong-mau-hoang-hon]
Khi một người quen gửi cho xem đoạn này, tôi bán tín bán nghi, phải vào Da Màu đọc cho chắc. Tôi liên tưởng ngay đến lời dặn dò (gần như lời trối) của nhà thơ/người đồng hành Viên Linh mà tôi đã biết trước: Hãy viết về tiểu sử Khởi Hành, đừng để ai viết thay cho chúng ta. Thế nên, tôi có thể tái xác định: “Tờ Khởi Hành” không bao giờ là “của Viên Linh”, dù ở bất cứ ý nghĩa hay phương diện nào, như đã vô tình chứng minh trong tiểu sử tờ báo qua loạt 5 bài Tưởng niệm nhà thơ Viên Linh, cũng đăng trên Da Màu, từ ngày 18 tới ngày 25, tháng chạp, 2024, với đầy đủ chứng cớ và nhân chứng. Đúng, nếu Khởi Hành thiếu một trong hai–Viên Linh hoặc Nguyễn Tà Cúc—thì không thể là Khởi Hành. Đó là lý do tôi không muốn tiếp tục sau khi ông muốn giao lại tờ báo trước khi trở về Virginia. Xét cho cùng, cũng như tôi đã trình bày, Khởi Hành không chỉ của Viên Linh và tôi. Nó còn là biểu hiệu của một sức mạnh tập thể đã lưu giữ và cổ động cho Văn Học Miền Nam từ độc giả, bạn hữu, thân chủ quảng cáo tới khối anh chị em góp sức góp tiền góp công mỗi khi tổ chức diễn thuyết, ra mắt sách, trao Giải Văn chương hoặc Diễn đàn Phụ nữ. Tôi không đọc Thụy Khuê; nhưng theo tôi biết, thứ nhất, bà chưa bao giờ làm báo văn học in, ít nhất tại California, nơi Khởi Hành xuất hiện; thứ hai, bà không phải là 1 tác giả cộng tác (trừ vài bài lúc đầu) vì Khởi Hành chỉ có 1 người phê bình duy nhất (Nguyễn Tà Cúc) và thứ ba, bà chắc chắn không đủ kiến thức về độc giả và sinh hoạt của tờ báo nên, cuối cùng, loại phát biểu sai lầm kiểu này không có gì là lạ.
Hơi khác với trường hợp Thụy Khuê, Đỗ Minh Tuấn có nhận xét liên quan đến Trung Tâm Văn Bút VN Hải Ngoại nên xứng đáng được phân tích tại đây. Thoạt kỳ thủy, bài “Văn học hải ngoại nhìn từ trong nước” của nhà thơ/đạo diễn Đỗ Minh Tuấn được đăng trên tạp chí Việt số 2, Chủ đề “Sống & Viết ở hải ngoại”, xuất bản tại Australia vào “giữa năm1998” với Chủ nhiệm Phan Việt Thủy và Chủ bút /Nhà phê bình Nguyễn Hưng Quốc [https://tienve.org/home/viet/viewVietJournals.do?action=viewArtwork&artworkId=186]
Kế đó, bài “Nhận diện văn học hải ngoại” của Hoàng Huân xuất hiện trong mục “Văn học và Dư Luận”, Văn nghệ quân đội số 18, trang 8, ngày 25, tháng 9. 1998. Hoàng Huân chỉ trích nhận xét và thái độ của Đỗ Minh Tuấn về Văn Học Việt Nam Hải ngoại. Đây là đoạn ngắn có liên quan đến Trung Tâm Văn Bút VNHN của Hoàng Huân:
Hoàng Huân, “Nhận diện văn học hải ngoại”
Văn nghệ quân đội, số 18, tháng 9. 1998
…. Ngược lại, với số người có tư tưởng phục thù, thì coi “chống cộng” là để “làm lại cách mạng ở Việt Nam” và là mục tiêu của công việc sáng tác. Họ sáng tác là để “phục thù”. Số này phần lớn là văn nghệ sĩ cũ của Sài Gòn di tản và cũng có một số người mới lớn cùng một số mới di tản từ trong nước ra. Họ tự coi mình là lực lượng chủ đạo của “nền văn học lưu vong”– nền “văn học Việt Nam hải ngoại” (VHVNHN). Và lấy chỗ dựa là các tổ chức phản động của người Việt cực đoan được các thế lực phản động quốc tế khác nhau tài trợ. Lực lượng chủ đạo của VHVNHN được tập hợp trong các tổ chức mà họ tự thành lập như: “Vietnam pen-club (Văn bút Việt Nam hải ngoại) (…) Đặc biệt là Vietnam pen-club, được coi là trung tâm lớn nhất, tập hợp các nhà văn chống cộng ở nước ngoài (…) “Vietnam pen-club” đặt ra mục tiêu chống phá cách mạng trong nước. Họ viết bài, in sách vu cáo xuyên tạc Nhà nước Việt Nam vi phạm “nhân quyền”, đòi thả “tù nhân lương tâm” (!) Đây cũng là mục đích hoạt động của Phong trào Hưng ca Việt Nam” với Hà Thúc Sinh…” [Hoàng Huân, “Nhận diện văn học hải ngoại”, Văn nghệ Quân đội số 18, Mục “Văn học và Dư luận”, trang 8, tháng 9.1998 *Chú thích của Nguyễn Tà Cúc: dấu chấm than (!) trong bài là của tác giả.]
Với tôi, bài của Hoàng Huân không cần bàn đến, nhưng tôi sẽ đề cập đến bài của Đỗ Minh Tuấn vì những nhận xét về Trung Tâm Văn Bút VNHN khi phản bác Hoàng Huân. Trong “Một bài báo nhiều ngộ nhận và quy chụp (về bài “Nhận diện văn học hải ngoại” của Hoàng Huân)”, chính Đỗ Minh Tuấn cũng phạm trường quy khi chỉ trích Hoàng Huân:
Đỗ Minh Tuấn, “Một bài báo nhiều ngộ nhận và quy chụp (về bài “Nhận diện Văn học Hải Ngoại” của Hoàng Huân)
Văn nghệ quân đội số 21, trang 14, tháng 11.1998
Bài “Nhận diện văn học hải ngoại” của Hoàng Huân in trên báo Văn nghệ quân đội số 18 ra ngày 25 tháng 9 năm 1998 có nhiều nhận định chưa thỏa đáng, dựa vào phỏng đoán, không chứng minh hoặc dựa trên những tư liệu sai lầm, lạc hậu mà chúng tôi xin chỉ ra cụ thể dưới đây:
1- Có lẽ do nhìn văn chương hải ngoại bằng cái nhìn thiếu thiện chí, không thấy trong đó có những nhân tố tốt đẹp nên Hoàng Huân đặt tiêu để “Nhận diện” nền văn học này. Rất tiếc, một nền văn học có rất nhiều diện mạo như văn học hải ngoại mà người tự đặt nhiệm vụ “nhận diện” nó lại tỏ ra chưa nhìn rõ một diện mạo mà ông coi là diện mạo chính của nó. Bằng chứng là tác giả Hoàng Huân quan tâm tới vai trò của các tổ chức Văn bút hải ngoại (VBVNHN) trong khi ông không nắm rõ tính chất, quy mô và ảnh hưởng của chúng trong thực tế đời sống văn chương hải ngoại là rất nhỏ. Từ khi thành lập, tổ chức “Văn bút Việt Nam hải ngoại” về cơ bản cũng chỉ thu hút được những cây bút kém chất lượng, háo danh, cơ hội chủ nghĩa hoặc tiêm nhiễm tư tưởng chống cộng cực đoan rẻ tiền. Nhiều vị chủ tịch các hội văn bút địa phương ở hải ngoại, thậm chí chưa có một tác phẩm, dù là dở, in trên báo chí. Những người cầm bút thực sự có tài năng và có tâm huyết ở hải ngoại luôn coi những tổ chức này là của những quý vị “chữ không hay, cày không giỏi”, nhưng lại háo danh hoặc mượn văn chương để đầu cơ chính trị. Vì thế, các cây bút đứng đắn chưa từng tham gia vào VBVNHN. Hầu như không một tờ báo đứng đắn nào ở hải ngoại nhắc đến những hoạt động của tổ chức này. Thậm chí, một tờ tạp chí mà Hoàng Huân định kiến như Hợp lưu từ khi ra đời đến nay chưa một lần nhắc đến Văn bút Việt Nam hải ngoại. Mới đây, trong phiên họp ngày 11 tháng 8 năm 1997 tại Edingburgh Tô Cách Lan, Tổ chức Văn bút quốc tế (Pen International) đã ra quyết định tạm khai trừ Hội Văn bút Việt Nam hải ngoại do tổ chức này đã ngừng sinh hoạt 3 năm nay sau khi chia làm hai phe tranh giành uy tín và quyền lợi. Bình luận về sự kiện này, tờ Văn học số 137 (9-1997) đã viết: “Những người cầm bút thực sự lắc đầu thở dài, nhưng biết làm gì hơn. Nhìn vào các Trung tâm Văn bút mọc như nấm khắp nơi, thử tìm cho ra vài người cầm bút thực sự có uy tín để được các bạn văn trên thế giới kiêng nế, quý trọng? Khi đất không lành thì chim không đậu và trở thành chỗ trú cho những kẻ ưa chuyện náo loạn sinh dùng văn”. Rõ ràng, tổ chức Văn bút Việt Nam hải ngoại không đại diện cho những người viết thực sự có tâm, có tài và hầu như không có ý nghĩa gì trong đời sống văn chương hải ngoại (…) […] Vì không muốn độc giả trong và ngoài nước hiểu sai hiện tình đất nước, ngộ nhận qua thái độ của tác giả nên tôi thấy có trách nhiệm trả lời. Mong rằng những tác giả như Hoàng Huân, nên ý thức được trách nhiệm lớn của mình, ý thức được tầm quan trọng của những điều mình viết, để cố gắng viết khách quan, chính xác và thận trọng hơn, tránh tình trạng vì thiếu tư liệu, vì đọc vội hay vì định kiến mà có những nhận định vội vã. [Đỗ Minh Tuấn, “Một bài báo nhiều ngộ nhận và quy chụp (về bài “Nhận diện Văn học Hải ngoại” của Hoàng Huân)”, Văn nghệ quân đội số 21, Mục “Văn học và Dư luận”, trang 14, tháng 11.1998]
Tại đây, tôi sẽ nhận xét về những điều Đỗ Minh Tuấn phát biểu liên quan tới Trung Tâm Văn Bút VN Hải Ngoại. Ông đã căn cứ vài nhận xét thượng dẫn vào một mẩu trong mục “Tạp Ghi” trên tạp chí Văn Học, Nam California, Hoa Kỳ. Do đó, trước khi góp ý, tôi sẽ cho đăng lại hoàn toàn mẩu Tạp Ghi này và nguồn đặng công bằng cho ông:
Tạp Ghi
— Nguyễn Quốc Trụ
Việc phải đến đã đến
Hơn hai năm tranh chấp nhau để giành cho được sự công nhận của Văn Bút Quốc Tế (VBQT), hai phe của Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại (VBVNHN) đã nhờ Đại Hội đồng Đại biểu Văn Bút Quốc Tế phân xử trong phiên họp ngày 11 tháng 8 năm 1997 tại Edingburgh Tô Cách Lan. Năm đại biểu đã được mời lên phát biểu trước Đại Hội đồng, gồm: ông Alexandre Bloch Tổng Thư ký VBQT, ông Trần Thanh Hiệp người được VBQT ủy nhiệm đứng ra hòa giải giữa hai phe và thất bại, ông Sơn Tùng người được bầu làm chủ tịch VBVNHN tại Houston, ông Viên Linh cựu chủ tịch VBVNHN người không công nhận tư cách chủ tịch của ông Sơn Tùng và đứng ra triệu tập một đại hội khác tại Santa Ana tìm người kế vị mình, bà Trương Anh Thụy phó chủ tịch của VBVNHN đắc cử trong đại hội ở Santa Ana. Với một đa số tuyệt đối, Đại Hội đồng Đại biểu VBQT đã quyết định: Do hai phe của VBVNHN chưa giải quyết xong chuyện tranh chấp nội bộ, VBQT xem VBVNHN như tạm thời ngưng hoạt động (nguyên văn nghị quyết dùng chữ dormant), từ nay cho đến khi hai phe giải quyết xong mọi tranh chấp để hợp thành một tổ chức thống nhất, VBVNHN không được liên lạc với VBQT, mà cũng không được quyền tham dự vào các sinh hoạt của VBQT. Nhiều người bi quan cho nghị quyết trên là một hình phạt khai trừ được diễn tả một cách văn hoa. Những người lạc quan lại bảo Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại không hề bị khai tử, vì theo Ông Tổng thư ký Alexandre Bloch giải thích chữ dormant (khi một nhà văn Nam Phi chất vấn), thì từ ngữ quan trọng này có nghĩa như VBVNHN vẫn còn đó, nhưng đang ngủ, khi nào phục hồi được sinh lực và uy tín sau cuộc tranh chấp nội bộ thì VBVNHN lại thức dậy, sinh hoạt với VBQT y như một hội viên bình thường. Vấn đề còn lại là liệu hai phe có thể giải quyết các bất đồng để phục hồi sinh hoạt và danh dự cho VBVNHN hay không? Chắc chắn trong những tháng sắp tới, mức độ chửi bới, chụp mũ, mạ lỵ nhau của hai phe sẽ ác liệt hơn, bên này đổ lỗi cho bên kia là kẻ chịu trách nhiệm tạo ra hình phạt nghiêm khắc của VBQT. Văn bút đã thành văng bút, và không bao lâu nữa, thành văng mạng. Nếu những tiên liệu này đúng, thì thôi, nên cho Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại ngủ luôn giấc ngủ ngàn năm. Việc phải đến đã đến! Những người cầm bút thực sự lắc đầu thở dài, nhưng biết làm gì hơn. Nhìn vào các trung tâm Văn bút mọc như nấm khắp nơi, thử tìm cho ra vài người cầm bút thực sự có uy tín để được các bạn văn trên thế giới kiêng nể quý trọng? Khi đất không lành thì chim không đậu và trở thành chỗ trú cho những kẻ ưa chuyện náo hoạt sinh dùng văn. Vì sao đất không lành? Xin dành câu trả lời cho các bạn văn xa gần. (VH) [“VH, “Tạp ghi- Việc phải đến đã đến”, Văn Học, Số 137, tháng 9.1997, trang 134-135 – https://issuu.com/nvthuvien/docs/tapchivanhoc_137?mode=window&viewMode=doublePage]
Với tôi thì dù lịch sự đến mấy, cũng phải kết luận rằng đây là một bản tin nặc danh và đầy ác ý. Thứ nhất, bản tin này đăng ngay vào phần đầu của mục Tạp Ghi do dịch giả Nguyễn Quốc Trụ phụ trách, khiến rất dễ bị hiểu lầm nếu không chú ý đến hai chữ “VH” viết tắt ở cuối. “VH” này là ai khi Ban Chủ trương lúc ấy gồm: Chủ nhiệm Châu Văn Thọ; Biên tập: Nguyễn Mộng Giác, Nguyễn Xuân Hoàng và Mai Kim Ngọc; Tổng Thư ký: Thạch Hãn. Trừ 4 hội viên Văn Bút được nêu tên trong bản tin, tất cả hội viên còn lại đều bị đẩy vào 2 “phe” để bị kết án “mức độ chửi bới, chụp mũ, mạ lỵ nhau của hai phe sẽ ác liệt hơn…”, “bên này đổ lỗi cho bên kia là kẻ chịu trách nhiệm tạo ra hình phạt nghiêm khắc của VBQT. Văn bút đã thành văng bút, và không bao lâu nữa, thành văng mạng.…” vv. và vv.
Tôi hiểu có những khi người ta nói đến sự kiện chứ không nói đến cá nhân nên không cần danh tính, nhưng tại đây, tờ Văn Học sử dụng rất nhiều chữ có tính cách vu báng hội viên (“chửi bới, chụp mũ, mạ lỵ, đổ lỗi, văng bút, văng mạng” vv.) Không những thế, lại còn nhân danh văn chương, đạo đức, nhân nghĩa, tài năng để chửi xéo mắng khéo (“đất không lành thì chim không đậu và trở thành chỗ trú cho những kẻ ưa chuyện náo hoạt sinh dùng văn”), rồi đẩy áng văn- chương- bất- hủ này vào chễm chệ ngay trên đất của Nguyễn Quốc Trụ, thì quả rất khó để được giảm khinh. Dù gì cũng mang tiếng là tờ báo văn học chứ có phải để gói xôi đâu? Hay là “văng học”?! Hay là vừa “lắc đầu thở dài” vừa viết tin thất thiệt?! Nhất là khi bản sao lá thư từ nhà văn Trưởng Ủy ban-Nhà văn bị Cầm Tù, thuộc Văn Bút Quốc Tế, minh oan cho Chủ tịch Viên Linh–kèm danh sách những hội viên vu khống ông về tội thâm lạm tiền bạc của VBQT cùng bản tin thông báo ông kiện họ vào năm 1996—đã được gửi tới báo chí vùng Quận Cam, trong đó có tờ Văn Học do chính tôi gửi đi.
Không chỉ là một hội viên, mà còn là Trưởng Ủy ban Nhà văn-bị Cầm tù, lại là người có lẽ sống sót cuối cùng vẫn lưu giữ được nhiều văn kiện của Trung Tâm Văn Bút VN Hải Ngoại do Chủ tịch và nhiều hội viên—như Nguyên Sa, Trần Tam Tiệp, Viên Linh, Nguyễn Ngọc Bích vv.—trao tặng, tôi buộc phải bàn đến bài của Đỗ Minh Tuấn có đoạn trích dẫn bản tin trên Văn Học. Theo Văn Học, Đỗ Minh Tuấn “là một văn hữu cộng tác nhiều năm với Văn Học, qua những bài tiểu luận văn chương sâu sắc như bạn đọc đã biết. Ngoài viết văn, làm thơ, vẽ, nghề nghiệp chính hiện nay của Đỗ Minh Tuấn là làm đạo diễn điện ảnh.”
4.1 Trung Tâm Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại từ khi thành lập
Tôi sẽ lần lượt bàn đến mấy điểm chính trong đoạn thượng dẫn để tiểu sử của Trung Tâm được sáng tỏ. Do đó, tôi không bênh bay bỏ “phe” nào, kể cả phe-của-tôi trong bài này để công bằng cho hội viên, cho tập thể được nhắc đến:
…Từ khi thành lập, tổ chức “Văn bút Việt Nam hải ngoại” về cơ bản cũng chỉ thu hút được những cây bút kém chất lượng, háo danh, cơ hội chủ nghĩa hoặc tiêm nhiễm tư tưởng chống cộng cực đoan rẻ tiền (…) Những người cầm bút thực sự có tài năng và có tâm huyết ở hải ngoại luôn coi những tổ chức này là của những quý vị “chữ không hay, cày không giỏi”, nhưng lại háo danh hoặc mượn văn chương để đầu cơ chính trị. Vì thế, các cây bút đứng đắn chưa từng tham gia vào VBVNHN… [Đỗ Minh Tuấn, sđd]
Lời phán xét của ông quả nặng nề: “cây bút kém chất lượng, háo danh, cơ hội chủ nghĩa hoặc tiêm nhiễm tư tưởng chống cộng cực đoan rẻ tiền” hoặc “háo danh hoặc mượn văn chương để đầu cơ chính trị” hầu dẫn đến một câu xanh rờn “các cây bút đứng đắn chưa từng tham gia vào VBVNHN”? Đáng kể là chữ “háo danh” được ông lập đi lập lại 2 lần. Tuy thế, có đúng không?
Chắc chắn là không. Trong danh sách vài Ban Chấp hành từ Địa Phương đến Trung Ương mà tôi còn giữ ‘từ khi thành lập” (dùng chính chữ của Đỗ Minh Tuấn) hoặc sau này, đã cho thấy danh tính nhiều “cây bút” sáng lập và/hay hội viên như Nguyên Sa, Minh Đức Hoài Trinh, Phạm Việt Tuyền, Nguyễn Thạch Kiên, Nhật Tiến, nhạc sĩ Nguyễn Hiền, Nguyễn Ngọc Bích, Trang Châu, Viên Linh vv. rồi lớp khác hoặc trẻ hơn như Bùi Bích Hà, Vũ Thùy Hạnh, Khánh Trường, Hoàng Khởi Phong, Hoàng Mai Đạt, Nguyễn Thị Minh Thủy, Cao Xuân Huy, Bùi Vĩnh Phúc, Quyên Di, Trịnh Y Thư, Nguyễn Mạnh Trinh (người có nhiều bài phỏng vấn văn nghệ sĩ đương thời) vv. Đương nhiên những hội viên đó sau này có thể không còn là hội viên nữa, có thể không còn đồng ý với chủ trương của Hội (hay vài phần tử của Hội) nữa, thậm chí có thể chống lại quyết liệt nữa, nhưng mạt sát và “quy chụp” chung như thế quả là đáng tiếc; trong khi họ đã tình nguyện tham gia chỉ để góp công góp sức tranh đấu và /hoặc biểu dương tình đoàn kết với văn nghệ sĩ Miền Nam bị cầm tù hoặc còn ở lại.
Tôi đã trình bày về thời gian “Từ khi thành lập” ấy trong các phần thượng dẫn nên không phải trở lại một cách chi tiết nữa. Có điều chắc chắn: Hội viên Trung Tâm Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại chống lại một số chính sách của chính phủ sau 1975 liên quan đến quyền tự do phát biểu, tự do xuất bản vv. như đã tịch thu và cấm lưu trữ tác phẩm Miền Nam, như lời chứng của học giả Nguyễn Hiến Lê:
.… Văn Hóa: Một trong những công việc đầu tiên của chính quyền là hủy tất cả các ấn phẩm (sách, báo) của bộ Văn hóa ngụy, kể cả các bản dịch tác phẩm của Lê Quí Đôn, thơ Cao Bá Quát, Nguyễn Du; tự điển Pháp, Hoa, Anh cũng bị đốt. Năm 1976 một ông thứ trưởng Văn hóa ở Bắc vào thấy vậy, tỏ ý tiếc. Nhưng ông thứ trưởng đó có biết rõ đường lối của chính quyền không, vì năm 1978, chính quyền Bắc chẳng những tán thành công việc hủy sách đó mà còn cho là nó chưa được triệt để, ra lệnh hủy hết các sách ở trong Nam, trừ những sách về khoa học tự nhiên, về kĩ thuật, các tự điển thôi; như vậy chẳng những tiểu thuyết, sử, địa lí, luật, kinh tế, mà cả những thơ văn của cha ông mình viết bằng chữ Hán, sau dịch ra tiếng Việt, cả những bộ Kiều, Chinh phụ ngâm… in ở trong Nam đều phải hủy hết ráo. Năm 1975, sở Thông tin văn hóa thành phố Hồ Chí Minh đã bắt các nhà xuất bản hễ sách nào còn giữ trong kho thì phải nạp hai hay ba bản để kiểm duyệt: sau mấy tháng làm việc, họ lập xong một danh sách mấy chục tác giả phản động hay đồi trụy và mấy trăm tác phẩm bị cấm, còn những cuốn khác được phép lưu hành.
Nhưng đó chỉ là những sách còn ở nhà xuất bản, những sách tuyệt bản còn ở nhà tư nhân thì nhiều lắm, làm sao kiểm duyệt được? Cho nên sở Thông tin văn hóa ra chỉ thị cho mỗi quận phái thanh niên đi xét sách phản động, đồi trụy trong mỗi nhà để đem về đốt. Bọn thanh niên đó đa số không biết ngoại ngữ, sách Việt cũng ít đọc, mà bảo họ kiểm duyệt như vậy thì tất nhiên phải làm bậy. Họ vào mỗi nhà, thấy sách Pháp, Anh là lượm, bất kì loại gì; sách Việt thì cứ tiểu thuyết là thu hết, chẳng kể nội dung ra sao. Họ không thể vào hết từng nhà được, ghét nhà nào, hoặc công an chỉ nhà nào là vô nhà đó (…) Lần thứ nhì năm 1978 mới làm xôn xao dư luận. Cứ theo đúng chỉ thị “ba hủy”, chỉ được giữ những sách khoa học tự nhiên, còn bao nhiêu phải hủy hết, vì nếu không phải là loại phản động (một hủy), thì cũng là đồi trụy (hai hủy), không phải phản động, đồi trụy thì cũng là lạc hậu (ba hủy), và mỗi nhà chỉ còn giữ được vài cuốn, nhiều lắm là vài mươi cuốn tự điển, toán, vật lí… Mọi người hoang mang, gặp nhau ai cũng hỏi phải làm sao. Có ngày tôi phải tiếp năm sáu bạn lại vấn kế.Mấy bạn tôỉ luôn nửa tháng trời, ngày nào cũng xem lại sách báo, thứ nào muốn giữ lại thì gói riêng, lập danh sách, chở lại gởi nhà một cán bộ cao cấp (sau đòi lại thì mất già nửa); còn lại đem bán kí lô cho “ve chai” một mớ, giữ lại một mớ cầu may, nhờ trời. Một luật sư tủ sách có độ 2.000 cuốn, đem đốt ở trước cửa nhà, chủ ý cho công an phường biết. Rồi kêu ve chai lại cân sách cũng ngay dưới mắt công an… [Nguyễn Hiến Lê, Hồi Ký-Tập III, trang 74-76, Nhà Xuất bản Văn Nghệ-California, 1988]
Chưa hết, chính phủ mới còn dùng võ lực nhắm đàn áp và bắt giam anh chị em văn nghệ sĩ Miền Nam của chúng tôi đấy. Nhà thơ Vũ Hoàng Chương thì có tội gì mà bắt cho cam? Nếu vì thế mà bị mang tiếng “tiêm nhiễm tư tưởng chống cộng cực đoan rẻ tiền” và “háo danh” thì chúng tôi cũng hân hạnh xin nhận. Bằng cách sử dụng quyền tự do phát biểu một cách ôn hòa, và cùng với các Trung Tâm hội viên khác trong Văn Bút Quốc tế, chúng tôi đã “chống” những kẻ…cực đoan–từng đốt, từng cấm tiệt tác phẩm, còn tác giả thì bị họ tống vào nhà giam. Lên tiếng như thế mà không được hỗ trợ, lại còn bị mang tiếng ngược lại là …cực đoan thì quả là khôi hài đen. Viết kiểu đó mà không sợ bị người đọc nghi ngờ “chất lượng” của chính tác giả phát ngôn sao?!
Không những thế, nếu Đỗ Minh Tuấn biết có đến mấy vị trong ban sáng lập hay/và chủ trương tạp chí Văn Học—như Nhật Tiến, Hoàng Khởi Phong và Cao Xuân Huy– từng có thời, không những là hội viên mà còn làm quan trong Hội như đã ghi lại về nhân sự thuộc các Ban Chấp hành Trung Tâm Văn Bút Nam Cali, thì ông còn phán xét như thế chăng? Tôi vẫn còn giữ Hồ Sơ xin gia nhập Trung Tâm VB Nam Cali do Chủ tịch Viên Linh trao tặng. Tôi xin liệt kê tên tuổi của vài nhà văn thuộc Ban Chủ biên hay Biên tập hoặc cộng tác với Văn Học đã gia nhập Trung Tâm VB Nam Cali thời 1988 để cầu chứng tại tòa: Nguyễn Mộng Giác, 1988; Nhật Tiến, 1988; Phạm Quốc Bảo, 1988; Hoàng Khởi Phong, 1988; Bùi Vĩnh Phúc, 1988… Quý ông được kể tên có thể lên tiếng nếu tôi sai, nhưng một số Phiếu Gia nhập này được điền bằng chữ viết tay (ngày và nơi sinh, bút hiệu, địa chỉ, báo hoặc nhà xuất bản đã cộng tác) và có chữ ký của họ nên rất khó nghi ngờ rằng tôi …sáng tác để tăng thêm phần long trọng. Có lẽ điều mà Đỗ Minh Tuấn không thể ngờ, là Khánh Trường từng là hội viên—một trong 3 Ủy viên Báo chí– đã có mặt trong một số buổi họp của Trung Tâm VB Nam Cali. Cố nhân Hoàng Khởi Phong còn tiếp tục sáng tác tại Việt Nam. Bùi Vĩnh Phúc vẫn có bài phê bình đều đặn trên Tạp chí Văn chương trên Mạng Da Màu. Tôi nhắc đến Da Màu không phải vì kỳ thị các diễn đàn khác hoặc muốn…đi cửa hậu, nhưng gần đây, vì chính tôi có bài đăng trên Da Màu nên mới biết. Cố nhân Khánh Trường hồi xưa (trước khi qua đời) khi nào triển lãm tranh cũng được hội viên và không-hội viên tới dự mà không bị …các phe trong đó có cả phe ta-hội viên tẩy chay như cố nhân Võ Đình đã bị ngày nào. Chàng Võ Đình tuy cứng cựa thế mà phải viết một bài than thân trách phận cũng ngay trên tờ Văn Học. (“Ngày nào” là ngày đó sẽ đề cập đến khi tôi bàn về một câu tuyên bố của nhà phê bình Nguyễn Huệ Chi liên quan đến hải ngoại và hòa giải. Xin xem hồi sau sẽ rõ.) Rút lắm cái dây thế, không sợ bị động rừng à? Nhất là rừng Nam Cali, mang tiếng mùa hè nào cũng cháy mà vẫn tồn tại muôn niên?
4.2 Một tổ chức tình nguyện để tranh đấu cho văn nghệ sĩ Miền Nam
.… Nhiều vị chủ tịch các hội văn bút địa phương ở hải ngoại, thậm chí chưa có một tác phẩm, dù là dở, in trên báo chí… [Đỗ Minh Tuấn, sđd]
Lại…nặc danh rồi! “Nhiều vị chủ tịch” này—dù thuộc…phe nào–là “nhiều” ai? Bởi thế, một điều quan trọng về Trung Tâm Văn Bút VN Hải Ngoại thời đó mà những người như Đỗ Minh Tuấn hoặc Văn Học trước khi đăng tin chỉ trích cần phải biết: Trung Tâm là một tổ chức tình nguyện được thành lập để tranh đấu. Hội viên cần sức mạnh làm việc và đóng góp của tập thể hầu đủ tiền đóng niên liễm thường niên cho Văn Bút Quốc Tế. Tôi đã trả lời nhà thơ Tô Thùy Yên, rằng nếu không có Ủy ban Nhà văn-bị Cầm tù, chị em chúng tôi cũng chẳng cần gia nhập cho tốn tiền niên liễm (12 mĩ kim hàng năm-2 mk cho Ủy ban này). Chính một chị bạn đã đóng niên liễm hộ tôi vào năm 1995 chỉ vì muốn tỏ tình chị em đùm bọc lẫn nhau. Chị ấy hiện vẫn sinh sống tại Hoa Kỳ, nhưng ngày nay được biết đến tại Miền Nam qua những hoạt động văn hóa như về Nhạc Boléro, Áo Dài.
Bản tin trên Văn Học—mà Đỗ Minh Tuấn nhắc lại nguyên văn—có câu:
.… Nhìn vào các Trung tâm Văn bút mọc như nấm khắp nơi, thử tìm cho ra vài người cầm bút thực sự có uy tín để được các bạn văn trên thế giới kiêng nế, quý trọng?
Trước hết, Trung Tâm chỉ có 8 (rồi thêm 4 Trung Tâm mới vẫn chưa được chấp nhận) nên gây cảm tưởng “mọc như nấm” là không đúng. Sau nữa, ít nhất có 2 người trong Văn Bút “có uy tín để được các bạn văn trên thế giới kiêng nế, quý trọng” là Trần Tam Tiệp và Trần Thanh Hiệp. Về Trần Tam Tiệp, ông làm việc thẳng với VBQT. Về Trần Thanh Hiệp, tôi còn giữ bản sao của hình ảnh và văn bản cho thấy ông đã họp và thậm chí, vận động được cả Luật sư tại Pháp hầu giúp đỡ anh em bị giam. Phần tôi, tôi thấy câu “có uy tín để được các bạn văn trên thế giới kiêng nế, quý trọng…” không cần thiết: Thế có bạn văn trên thế giới nào …kiêng nể quý trọng quý bạn chưa mà chưa chi quý bạn đã hạch họe chúng tôi?
Khi cho đăng mấy câu này, Văn Học còn quên rằng chính “phe-Văn-Học/nhà văn/Tổng Thư Ký Cao Xuân Huy từng làm Chủ Tịch Trung Tâm Nam Cali lúc ấy?! Trong một nửa trang báo- có lẽ từ nhật báo Người Việt-mà tôi may mắn còn giữ được, không những ông được ghi nhận là Chủ tịch Trung Tâm Nam Cali mà còn “làm Tổng Thư Ký Hội Đồng Cố Vấn VBVNHN để phối hợp với nhà văn Duy Lam, Cố Vấn VBVNHN, xúc tiến việc thành lập Hội Đồng Cố Vấn….” Theo bản tin–đăng lại từ tuần báo Dân Chúng của nhà thơ Nguyên Sa—thì đã quá rõ ràng:
Ngày 24 và 25 tháng 2.1996, ông Nguyễn Mạnh Bích và ông Viên Linh đã triệu tập buổi họp gọi là Đại Hội Van Bút Kỳ Khóa 2 tại Houston, Texas và tại Westminster, California. Những tin tức nhận được như sau:
ĐẠI HỘI TEXAS
Tại Đại Hội Houston, Đại biểu của sáu Trung Tâm Văn Bút TT Bắc Cali – TT Nam Cali – TT Miền Đông Hoa Kỳ-TT Miền Nam Hoa Kỳ – TT Âu châu – IT Ontario đã bầu ban Chấp Hành nhiệm kỳ 1995-1998 với 26 phiếu tín nhiệm, 2 phiếu trắng và 1 phiếu bất tín nhiệm.
BAN CHẤP HÀNH
- Chủ Tịch : Ô. Sơn Tùng: Nhà văn, nhà báo
- Phó Chủ Tịch: Bà Tuệ Nga, nhà thơ
- Phó Chủ Tịch: Ô. Hoàng Nguyên (Hoàng Bảo Việt): Nhà văn, nhà thơ
- Tổng Thư Ký: Nghiêm Minh, Nhà thơ
- Cô Lê Thị Ý: Nhà thơ
HỘI ĐỒNG CHỦ TỊCH
Hội Đồng Chủ Tịch bao gồm các vị Chủ Tịch hay một thành viên trong Ban Chấp Hành của Trung Tâm với mục đích duy trì liên lạc chặt chẽ giữa các Trung Tâm với nhau, giữa Ban Chấp Hành Trung Ương và Hội Đồng Cố Vấn. Hội Đồng Chủ Tịch này đã đi đến quyết định:
- Đề cử VH Phạm Quang Trình, Chủ Tịch Trung Tâm Bắc Cali làm Ủy Viên Điều Hợp 1.
- Đề cử VH Cao Mỹ Nhân, Phó Chủ Tịch Ngoại Vụ Trung Tâm Nam Cali làm Ủy Viên Điều Hợp 2.
- Đề cử VH Cao Xuân Huy, Chủ Tịch Trung Tâm Nam Cali làm Tổng Thư Ký Hội Đồng Cổ Vấn VBVNHN để phối hợp với nhà văn Duy Lam, Cố Vấn VBVNHN, xúc tiến việc thành lập Hội Đồng Cố Vấn. [“Hai Đại Hội Văn Bút Việt Nam Hải ngoại tại Cali và Texas”, không rõ ngày, khoảng cuối tháng 2. 1996]
Tuy Cao Xuân Huy không thuộc phe-tôi, nhưng quả thật tôi rất bất nhẫn. Không hiểu ông bị dội bom nhầm/friendly fire ngay trên Văn Học (tờ báo do ông làm Tổng Thư ký đến mãn đời) thì có “văng bút” (sđd) chưa? Giở đòn “hồi mã thương” ngay với Tổng Thư ký công lao hãn mã kiểu này kể ra quý bạn VH cũng độc đấy. Chưa hết, Đỗ Minh Tuấn tiếp tục:
Những người cầm bút thực sự có tài năng và có tâm huyết ở hải ngoại luôn coi những tổ chức này là của những quý vị “chữ không hay, cày không giỏi”, nhưng lại háo danh hoặc mượn văn chương để đầu cơ chính trị. Vì thế, các cây bút đứng đắn chưa từng tham gia vào VBVNHN…[Đỗ Minh Tuấn, sđd]
“Những người cầm bút thực sự có tài năng và có tâm huyết”, “những quý vị “chữ không hay, cày không giỏi”, “các cây bút đứng đắn chưa từng tham gia vào VBVNHN…” này là những ai? Đỗ Minh Tuấn cần chỉ đích danh để họ (như Chủ tịch Cao Xuân Huy) hoặc nhận Bằng Tưởng lệ hoặc…phản bác. Nếu nói thế thì Minh Đức Hoài Trinh, Nguyên Sa, Trần Tam Tiệp và Trần Thanh Hiệp (chỉ cần nêu 4 người này thôi) “không thực sự có tài năng và có tâm huyết”, là “các cây bút không đứng đắn” à? Tôi xin cung cấp một bức ảnh gồm 4 nhân vật khác, toàn có tiểu sử lẫy lừng cả. Bức ảnh này do nhà thơ Viên Linh/Chủ tịch Trung Tâm Văn Bút VN trao tặng:
Từ trái sang phải: Nhà thơ Viên Linh, nhà văn Nhật Tiến, nhà thơ Minh Đức Hoài Trinh, nhà báo Lê Đình Điểu
4.3 Trung Tâm Văn Bút VN Hải ngoại trong sinh hoạt báo chí
Đỗ Minh Tuấn nại tạp chí Hợp Lưu do Khánh Trường làm chủ biên để củng cố cho lập luận: “Hầu như không một tờ báo đứng đắn nào ở hải ngoại nhắc đến những hoạt động của tổ chức này. Thậm chí, một tờ tạp chí mà Hoàng Huân định kiến như Hợp lưu từ khi ra đời đến nay chưa một lần nhắc đến Văn bút Việt Nam hải ngoại…” [Đỗ Minh Tuấn, sđd].
Mấy chữ “đứng đắn” hình như ám ảnh ông đạo diễn hơi nhiều. Trật lất. Nguyệt san Thế Kỷ 21—có nhà văn/hội viên Nguyễn Xuân Hoàng và nhà thơ/ hội viên Đỗ Quý Toàn và nhà báo/hội viên Lê Đình Điểu trong ban chủ biên–đã “nhắc” đến Trung Tâm nhiều hơn một lần. Vào tháng 8.1992, trong số 40, Thế Kỷ 21 đăng bài của Trương Vũ rồi thông báo của Chủ Tịch Trung Tâm Văn Bút VB Hải Ngoại Trang Châu; kế đó Chủ tịch Trung Tâm Văn Bút Ontario Trà Lũ góp ý về cuộc triển lãnh tranh (bị tẩy chay) của Võ Đình tại Canada. Bài nữa mà tôi được đọc là “Co cãi loanh quanh và Bạo hành bằng lời nói” của Trần Thanh Hiệp, Chủ tịch Ủy ban Đặc cử Tái thống nhất V.B.V.N.H.N-VBQT trong Thế Kỷ 21 số 99, tháng 7.1997. [https://issuu.com/nvthuvien/docs/99?mode=window&viewMode=doublePage]
Luật sư/Cựu Chủ tịch Trung Tâm VBVNHN/Chủ tịch Ủy Ban Đặc cử Trần Thanh Hiệp thì chắc chắn không thuộc phe nào rồi. Cuối cùng, tuy không thể nói thay Hợp Lưu và Khánh Trường, vì “người không phải là cá, sao biết nỗi vui nỗi sầu của cá” (mượn Huệ Tử) nhưng nếu Khánh Trường không nhắc đến Văn Bút thì cũng công bằng cho ông và may mắn cho Hội. Văn bút hưng vong, thất phu hữu trách. Hội nhà lâm cảnh khốn đốn, Khánh Trường không còn là hội viên nữa thì không thể kèo nài. Không biết Khánh Trường có phải là thất phu hay không nhưng chắc chắn là người quân tử. Người quân tử không làm gì nổi để chữa cháy thì thôi, chẳng lẽ quay ra biếm nhẽ, mà lại biếm nhẽ vạch áo cho người ngoại quốc từ Việt Nam xem lưng. Tôi cũng đợi đến sau cùng mới nói tới điều này: chính tờ Văn Học đã đăng Tuyên Cáo do Trung Tâm Văn Bút và nhiều văn nghệ sĩ khác “Lên Tiếng” về bản án tử hình do “Nhà cầm quyền Hà Nội” dành cho Đại Đức Tuệ Sỹ và Đại Đức Trí Siêu cùng nhiều án tù cho “19 chiến sĩ nhân quyền khác” [Văn Học số 34, trang 2-3, Tháng 11.1988,
https://issuu.com/nvthuvien/docs/tapchivanhoc_034?mode=window&viewMode=doublePage]
Văn Học cũng loan tin về “Hội nghị Văn Bút Quốc tế tại thủ đô Tiệp khắc” vào tháng 11. 1994 [Nguyễn Huy Thạch, “Ghi chép”, Văn Học số 105 & 106, trang 207, Tháng 1 & 2. 1995, https://issuu.com/nvthuvien/docs/tapchivanhoc_105-106?mode=window&viewMode=doublePage]
Theo bản tin này, Trung Tâm Văn Bút VNHN tham dự với một phái đoàn, xin kể vài vị như sau: nhà thơ Nguyễn Sỹ Tế, nhà thơ Cung Trầm Tưởng, nhà báo Phạm Việt Tuyền, nhà thơ Viên Linh, nhà thơ Đỗ Kh. vv. Có đủ cho người ngoại quốc … Đỗ Minh Tuấn từ Việt Nam, quý trọng chưa?! Nếu tôi có thì giờ thì chắc chắn sẽ lục ra được thêm, nhưng thế là quá đủ. Thật ra, theo tôi, Đỗ Minh Tuấn tấn công nhầm mục tiêu. Theo tôi, nếu Hoàng Huân có “nhiều quy chụp” về các hoạt động văn học (chống Cộng) tại hải ngoại thì sự phản bác chắc chắn không phải chứng minh 1 hay nhiều hoạt động đó không xứng đáng—như Đỗ Minh Tuấn đã làm–nếu không biết rõ, như thí dụ Trung Tâm Văn Bút VN Hải Ngoại (mà tôi chứng minh) hay Phong Trào Hưng Ca của Hà Thúc Sinh. Khuyết điểm của loại phản bác này là tự hạ giá lý luận khiến độc giả phải hỏi lại: chữ của mình còn chưa hay, đất của mình còn cày chưa giỏi thì ngóng sang đất hàng xóm nghe hơi nồi chõ làm gì cho mất thì giờ khi bá tánh phải thanh minh, không những cho bạn họ mà còn cho người khác? Nhân thể, tôi cũng xin có vài lời về Phong trào Hưng Ca do Hà Thúc Sinh sáng lập rồi duy trì một thời gian cho đến khi ông phải rời bỏ. Sau khi Hoàng Huân nhận xét:
.… Lực lượng chủ đạo của VHVNHN được tập hợp trong các tổ chức mà họ tự thành lập như (…) Đáng chú ý nhất trong lực lượng chủ đạo của VHVNHN là các tổ chức: “Phong trào Hưng Ca Việt Nam”…” [Hoàng Huân, sđd]
Đỗ Minh Tuấn cũng có nhận xét:
“Phong trào Hưng Ca Việt Nam” đã tan rã cách đây bẩy năm. Hà Thúc Sinh đã bước ra khỏi Hưng ca cách đây mười năm…” [Đỗ Minh Tuấn, sđd]
Đúng, Hưng Ca tan rã và Hà Thúc Sinh đã rời phong trào do ông thành lập để tiếp tục con đường văn nghệ và tranh đấu của mình, nhưng Hoàng Huân rất chính xác khi cho rằng Hưng Ca có vai trò quan trọng trong Văn Học Việt Nam Hải ngoại chính vì hoạt động của Hà Thúc Sinh trước và trong khi thành lập. Tôi cho thấy ảnh một bức thư của Tiến sĩ Nguyễn Hữu Xương–Giáo sư Đại Học University of California at San Diego/Chủ Tịch Ủy Ban Báo Nguy Giúp Người Vượt Biển– cảm ơn Hà Thúc Sinh về những đóng góp cho Ủy Ban này. Kế đó là bản chụp vé vào tham dự Đêm Tường trình với Tự Do vào ngày 22 tháng 8 năm 1981. Chương trình này do nhà văn Mai Thảo đại diện Ban Tổ Chức. Hà Thúc Sinh “nói chuyện về thân phận Văn Nghệ Sĩ Miền Nam trong tù cải tạo”. Bên cạnh đó, ca sĩ Khánh Ly sẽ “trình bày những ca khúc được viết từ trại giam An Dưỡng, Trảng Lớn, Suối Máu và Hàm Tân từ 1975-1980.” Chính những buổi tổ chức nói chuyện và hát những bài ca trong tù ngục vào những năm đầu 80 với sự dự phần của Hà Thúc Sinh, Khánh Ly và Mai Thảo–những tên tuổi của văn nghệ Miền Nam–đã dự phần vào việc “góp lửa” để nhắc nhở, để thông tin và để giúp đỡ người còn ở lại. Ảnh hưởng của những buổi sinh hoạt đám đông ấy tạo thành nền tảng cho Hưng Ca. Sự thành công của Hưng Ca không thể bỏ qua được trong những năm đầu của cộng đồng tỵ nạn nên, dĩ nhiên, khi Hà Thúc Sinh rời bỏ, Hưng Ca dần dần tàn lụi. Tôi thành thực hy vọng Hưng Ca, cũng như Trung Tâm Văn Bút VN Hải Ngoại, sẽ là những thí dụ hầu những ai—kể cả tôi—khi đề cập đến, sẽ cảnh giác và có trách nhiệm hơn.
Hà Thúc Sinh và hoạt động tranh đấu sau 1975
III. Đi đi. Cố mà thoát…
Không, tôi không trích dẫn câu nói này trong tiểu thuyết hay văn bản nào. Một đoạn nói chuyện giữa hai người rất bình tĩnh, gần như thản nhiên. Cả anh và tôi đều biết phải làm gì khi chạm vào lúc vĩnh quyết. Câu nói chiếm những phút cuối cùng của hình ảnh người bạn đọng lại trong ký ức. Sau đó là thinh không. 50 năm trước, vận mệnh đẩy người bạn tôi tạ thế trong biển sâu, đẩy tôi vượt đại dương rồi trở lại đất cũ qua kỷ niệm và những trang sách mới. Một trong những phần đất cũ ấy là những người lính, đại diện cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Ngày nay, thỉnh thoảng tôi vẫn được đọc những thắc mắc về họ từ người lính Miền Bắc, như nhà văn/bộ đội Bảo Ninh. Ông diễn tả sự khó hiểu, thậm chí có vẻ bực bội (?) khi nhắc đến sự hy sinh của hàng hàng lớp lớp sĩ quan VNCH vào lúc biết chắc đã bị ra lệnh buông súng:
.… Đây là tôi muốn nói về phía đồng đội của Huy. Vào thời khắc cuối cùng ấy, khi ông Minh đã đầu hàng, khi đám Thiệu Kỳ Khiêm với bầy đoàn tướng tá, lũ ăn trên ngồi trốc béo trục béo tròn hưởng lộc chiến tranh đã cao chạy xa bay, còn lính tráng tốt đen thì đã quăng súng tan hàng, nhưng rất nhiều sĩ quan cấp thấp, thiếu uý, trung uý lại nhất định kháng cự đến cùng, để tiếp tục bị giết, bị thương, bị bắt. Tại sao? Có nhiều sự giải thích, đều đúng, nhưng không giúp tôi quên hẳn đi được cái bi kịch đau xót, thảm thương và điên rồ đó. Họ là ai, những thiếu uý, trung uý ấy. Đọc và gặp Cao Xuân Huy, tôi nghĩ họ là lớp thanh niên có số phận đặc biệt bi kịch. Theo một nghĩa nào đó, họ đứng giữa hai làn đạn(…) Còn cái chính thể mà anh phải đưa thân, thậm chí xả thân bảo vệ, thì anh đâu có ưa gì. Không ưa, là nói nhẹ, trong tác phẩm của anh cái chính thể đó, đặc sệt xấu xa tồi bại phản trắc. Vậy thì tại sao?… Sau lần gặp nhau ở Bờ Hồ tôi không còn dịp nào gặp lại nhà văn Cao Xuân Huy. Nhưng tôi đọc được thêm nhiều hơn của anh. Có một trang thế này, viết về Tết hoà bình Quí Sửu, mà tôi lại thấy như là anh kể lại buổi tối đó của hai chúng tôi. “ … Mới vừa choảng nhau trí mạng, nhưng sau khi hai bên đã hoàn toàn ngưng bắn, lính tráng ùa lên phía trước, ôm nhau hò hét: Hết đánh nhau rồi! Hết chiến tranh rồi! Cố không khóc nhưng nước mắt Toàn cứ ứa ra, không kềm được. Nhưng việc gì phải kềm chứ ! Toàn mặc cho nước mắt trào. Có tiếng nghẹn ngào bên cạnh: “Anh khóc đấy à?” Toàn quay qua, một người bộ đội nước mắt cũng đang nhòe nhoẹt. Chẳng nói chẳng rằng, cả hai ôm chầm lấy nhau…” … [Bảo Ninh, “Nhớ về nhà văn Cao Xuân Huy”. Mục “Cuộc sống quanh ta”, Trang Mạng Văn Hóa Nghệ An, Ngày 6.5.2011 / Diễn Đàn Forum, Đăng ngày 24 tháng chạp. 2021- https://www.diendan.org/sang-tac/nho-ve-nha-van-cao-xuan-huy * Chú thích của Diễn Đàn Forum: “Bài viết năm 2011, tác giả cho phép Diễn Đàn đăng lại”]
Nếu Bảo Ninh có hạ cố đọc đến bài này, tôi hy vọng đã giúp được ông phần nào để tự trả lời câu hỏi ấy, về lý do khiến bao người lính cấp sĩ quan VNCH đã chiến đấu ngoài chiến trận và tiếp tục trong hay ngoài nhà giam. Hình như những người như Bảo Ninh vẫn còn bị ảnh hưởng bởi quá nhiều thứ tuyên truyền về “chính thể đó, đặc sệt xấu xa tồi bại phản trắc” và về “đám Thiệu Kỳ Khiêm với bầy đoàn tướng tá, lũ ăn trên ngồi trốc béo trục béo tròn hưởng lộc chiến tranh đã cao chạy xa bay” vv. Hoàng Hải Thủy sẽ cho Bảo Ninh biết thêm về chính thể ấy:
.… Và đây là chuyện tôi được Việt Cộng “mời cộng tác”: Khoảng ba, bốn tháng sau ngày 30 Tháng Tư tôi được gặp anh Ba Trinh, một trong những cán bộ phụ trách biên tập tờ nhật báo Sàigòn Giải Phóng. Những năm 1960 Ba Trinh có đến tòa soạn nhật báo Sàigòn Mới nên anh biết tôi, rồi anh bị bắt, thả ra, bị bắt lại hai ba lần, lần cuối cùng anh từ Côn Đảo về miền Bắc năm 1972, theo thỏa hiệp trao đổi tù binh giữa Hoa Kỳ và Bắc Việt Cộng, Tháng 5 anh từ Hà nội vào Sàigòn. Ba Trinh hơn tôi khoảng mười, mười lăm tuổi. Anh nói với tôi: – Chúng tôi cần loạt bài phóng sự về cuộc sống của bọn tướng tá Ngụy, chúng tôi không viết được loại phóng sự ấy. Cậu có biệt tài về loại đó, chúng tôi mời cậu viết cho chúng tôi. Nhưng nếu viết cậu đừng để tên cậu. Cậu mà dùng tên cậu thì ngay cả các bạn cậu cũng chửi cậu. Cậu dùng một tên khác. Mai đây chúng tôi có thể nói với các ông ấy người viết loạt bài đó là cậu. Sẽ đỡ cho cậu nhiều lắm. Và cũng có ít tiền giúp cậu đỡ khó khăn trong lúc này. Tôi ừ ào cho qua nhưng tôi không viết. Khi còn Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa tôi có thể viết những phóng sự hoạt kế châm biếm bọn có quyền thế, có địa vị, bọn giầu tiền, như tôi đã từng viết những phóng sự Bà Lớn, Yêu Tì đăng trên nhật báo Ngôn Luận những năm trước 1963, nhưng bây giờ Quốc gia Việt Nam Cộng Hòa của tôi vừa bị diệt, những bộ trưởng chính phủ, tướng tá, tỉnh trưởng, thẩm phán, dân biểu của tôi không chạy ra nước ngoài được nay đang bị tù đày, họ đang khổ cực hơn tôi, vợ con họ khổ cực hơn vợ con tôi, dù sao họ cũng là anh em tôi, có xấu xa đến mấy đi chăng nữa họ cũng là anh em tôi, trong tình cảnh khốn khổ, nhục nhã chung này tôi không thể viết chửi bới họ… [Hoàng Hải Thủy, Những tên biệt kích cầm bút-Hồi ký của một “Tên Biệt Kích Cầm Bút”, trang 77-79]
Lời chứng của nhà văn/viết phóng sự kỳ cựu Hoàng Hải Thủy cho thấy người lính, viên chức, người dân VNCH không “xả thân” bảo vệ một chính thể chỉ có “đám Thiệu Kỳ Khiêm với bầy đoàn tướng tá, lũ ăn trên ngồi trốc béo trục béo tròn hưởng lộc chiến tranh”, và nhất là, không tôn sùng một lãnh tụ. Dân chúng và Quân Lực Miền Nam “xả thân” chiến đấu cho sự sống còn của chính họ trong một chính thể tự do dân chủ đã cho phép, khuyến khích và bảo trợ sinh hoạt từ giáo dục đến văn nghệ được chứng minh như Văn Học Miền Nam. Sự hy sinh và tiếp tục làm việc của người lính VNCH trước và sau cuộc chiến khó có thể xem là “cái bi kịch đau xót, thảm thương và điên rồ.” Nếu quả thật có một bi kịch như thế thì là chính sách ngược đãi, kỳ thị, ức hiếp họ nói riêng và dân Miền Nam nói chung–mà Bảo Ninh đã dự phần phục vụ cụ thể–áp dụng sau 1975. Cái gì xẩy ra sau khi 2 người lính hai Miền ôm nhau khóc mừng khi hết chiến tranh? “Toàn quay qua, một người bộ đội nước mắt cũng đang nhòe nhoẹt. Chẳng nói chẳng rằng, cả hai ôm chầm lấy nhau…” [sđd]
Người Lính Miền Bắc Bảo Ninh trở về với gia đình, với sự “đãi ngộ” của xã hội. Người Lính Miền Nam (như Tạ Chí Đại Trường, như Hà Thúc Sinh, như Cao Xuân Huy vv.) thành người tù Cải Tạo; gia đình phân tán có khi mất mạng; con cái bị kỳ thị trong hệ thống giáo dục; nhiều gia đình bị tước đoạt tài sản qua mấy lần đổi tiền rồi có khi bị dồn vào Vùng Kinh Tế Mới; mồ mả của chiến hữu bị phá hủy và thương phế binh không được giúp đỡ; bị cấm viết, cấm phát biểu, cấm xuất bản vv. Chính sách khắc nghiệt ấy dẫn đến một bi kịch còn “điên rồ” hơn: Một nhà văn được tiếng tiến bộ và có lòng trắc ẩn như Bảo Ninh mà hàng chục năm sau, vẫn không thể vượt được các thành kiến chính trị lẽ ra không thể tồn tại nổi sau khi ông đã có dịp chứng kiến một số hậu quả của chính sách ấy.
Nhưng Bảo Ninh không phải là người duy nhất có thể lên tiếng khi tàn cuộc chiến. Tôi hy vọng những trang viết này—dù thiếu sót– sẽ góp phần vào chân dung của người lính Việt Nam Cộng Hòa/văn nghệ sĩ Miền Nam mà bao năm qua đã giúp phần xây dựng và tranh đấu cho 20 năm Miền Nam Tự Do (1954-1975) rồi Hải Ngoại. –
Nguyễn Tà Cúc
2022 – tháng 9. 2025
Tác phẩm, nhà văn, độc giả
Và căn cước của họ.
Tất nhiên, tác phẩm nhà văn và đọc giả tự có căn cước của họ một cách mặc nhiên. Chiến Tranh Và Hòa Bình của Nga. Thần Điêu Đại Hiệp của văn hóa Trung Hoa. Romeo And Juliet của văn hóa Anh. Cho dù đọc từ bản tiếng Việt, cũng rất khó mà xóa nhòa quên đi căn cước vốn có như trên.
Cũng vậy, cho dù được viết bằng Việt ngữ, các tác phẩm thời cận đại của VN như Mùa Hè Đỏ Lửa của Phan Nhật Nam, và Nỗi Buồn Chiến Tranh của Bảo Ninh, thí dụ, chúng đã mang 2 căn cước khác nhau. Vì thế, Mùa Hè Đỏ Lửa khác Nỗi Buồn Chiến Tranh. Theo tôi, khác rất nhiều. Khác văn chương, khác ý thức, khác chủ nghĩa, nên khác luôn hoàn cảnh tâm thế của nhà văn.
Và một cái khác rõ ràng nhất căn bản nhất đó là chúng khác quốc gia. Mùa Hè Đỏ Lửa của Phan Nhật Nam viết trong hoàn cảnh tâm thế của người lính VNCH chống lại sự xâm lăng của giặc cộng. Nỗi Buồn Chiến Tranh của Bảo Ninh viết với tâm tư nguyện vọng của bộ đội giải phóng quân CSVN. Khác nhau xa. Càng không phải là vấn đề nội chiến theo định nghĩa của nội chiến civil war. Nó giống y chang như trường hợp hiện tại 2 nước Đại Hàn Dân Quốc và CHDCND Triều Tiên vậy.
Và độc giả, độc giả cũng có một căn cước chứ. Độc giả VN, tùy theo căn cước vốn có mà họ sẽ đọc tác phẩm tiếng Việt theo cách nào.😊🙂😀😉
Long Nguyen nêu ra một vấn đề rất cần thiết trong việc nghiên cứu: căn cước của tác phẩm và căn cước của tác giả. Thí dụ như Nhà Xuất bản Giải Phóng (đặt bí mật tại Hà Nội) xuất bản tác phẩm của nhà văn Miền Nam nằm vùng hay thuộc Đảng Cộng sản trước 1975. Sau 1975, một số tác phẩm này lại được ghi là tại Tp. Hồ Chí Minh, một cái tên chỉ có sau ngày 30 tháng 4. 1975. Hoạt động bí mật của Nhà Xuất bản Giải Phóng còn góp phần vào căn cước không chỉ của tác giả được xuất bản mà còn của những tác giả, lúc đó sinh sống tại Hà Nội, đã làm việc tại cơ quan này. Riêng các trường hợp như của Tạ Duy Anh với Đi tìm nhân vật, Hồ Anh Thái với Cõi người rung chuông tận thế và Bảo Ninh với Nỗi buồn chiến tranh thì căn cước nhà văn của họ có lúc vẫn bị giữ lại ở Miền Bắc vì họ đã viết những điều không đúng về Miền Nam. Đó chính là lý do, theo tôi, họ không được công nhận với một số độc giả Miền Nam vì văn chương phải chứa đựng sự thật, dù bên nào. Cũng, theo tôi, ngày nào những nhà văn hay nhà thơ còn im lặng về thời gian cộng tác với Nhà Xuất bản Giải Phóng—cơ quan dự phần quan trọng trong cuộc chiến tuyên truyền nhằm hỗ trợ cho cuộc chiến vũ khí dẫn đến việc thiêu hủy tác phẩm và giam giữ văn nghệ sĩ Miền Nam sau 1975–ngày đó rất khó để (tôi) muốn đọc và muốn thưởng thức văn thơ của họ với một bộ mặt nghiêm chỉnh/a straight face.-Nguyễn Tà Cúc