Tranh Duy Thanh, 1974
Hồi chuông triêu mộ chiều nay,
Gọi tình ẩn nấp chốn này năm nao.
Người đài các, kẻ thanh cao,
mớ duyên đã cỗi, tình rào dây oan,
nửa thân viễn xứ muộn màng,
tàn vầng trăng tuyệt, nỗi nàng nỗi anh.
***
Em đã bỏ đi,
hát làm chi khúc tuyệt tình ca,
giữa một thời đại lầm than,
sấm sét gieo toàn tin dữ.
***
Anh đã bị giải qua nhiều trại giam,
mắt không bao giờ khép,
một hình nhân xám ngoét,
tim gõ từng hồi,
tựa đầu đinh nện xuống quan tài,
người bạn tù khổ sai.
***
Hàng giây, hàng phút, hàng giờ.
Những ngày, những tháng, những năm.
Tim anh như than hầm, không lụi.
Mỗi bình minh đỏ ối,
mỗi hoàng hôn đặc đen,
mỗi hình dung gia đình anh,
chật vật bên lề cuộc đời.
bất kể người chủ mới
chỉa súng đuổi người ra khỏi đất
hất chiếc bóng đen ngòm,
sang chiếc chái sau nhà.
Ngọn đèn lu,
thu vào những bộ mặt xanh xao vì đói,
nhợt nhạt vì khiếp đảm,
chỉ sợ bị đuổi trở lại vùng Kinh tế mới.
***
Anh cầm “Giấy ra trại”,
trở về trên con tàu dửng dưng,
chạm những đoàn tàu từng
chuyển tù bây giờ chất ngập hàng hóa từ Miền Nam.
Đau đớn, anh muốn hóa phép cho chúng chứa đầy văn thơ,
từ những cuốn sách bị họ tịch thu, thiêu hủy,
tuyên án đồi trụy,
sau khi Nhân dân bày tòa giữa chợ,
đã bắn tác giả ngã quỵ.
Muốn ao ước họ được mở,
mỗi cuốn sách nở bung một đóa hoa trong vườn không chỉ có cúc vạn thọ,
trổi lên từ các mảnh đất đã từng đoạt lại được từ vó ngựa Mông Cổ, từ cỗ súng Pháp đô hộ,
nay chỉ còn lay lắt các nấm mồ vô chủ của người và hoa,
không còn tiếng hoan ca.
***
Anh ôm mối tào khang vượt sóng Thần phù.
Ngầu trắng u mông táp mạn thuyền,
Ngờ đâu ròng rã sinh ly sớm chạm vực tử biệt,
anh loạng choạng,
ôm xiêu chiếc bóng chính anh, mà sống,
ôm lấy các con, mà sống.
** *
Hồi này đang yên đang lành
bỗng nhớ tha ma mộ địa nhiều hơn vào dịp Tết,
giạt vào quán cà phê ngó thiên hạ vui Xuân trực nhớ các bạn đã chết,
hẩm hút tại Suối Máu, tại Long Giao, tại Vĩnh Phú, tại Lào Kay, tại Hoàng Liên Sơn, tại Yên Báy,
tại Cổng Trời, người tù thất thần ngoẹo dựa cổng trại giam, sóng soải về với đất,
Ngục thất Gia Trung, tử lộ đầu.
Bỗng hoảng hốt thấy lại mấy con suối chẩy xiết,
những hòn sỏi những hạt cát những chiếc lá trôi mải miết,
tưởng lại những giòng sông phân rẽ sơn hà,
về đâu về đâu xuôi đời anh khi nào sẽ kết…
Quá khứ cướp lấy anh khi lặng nghe pháo Tết,
tiếng người lao xao nhộn nhịp,
tưởng lại những buổi chào cờ.
Tiếng hô Nghiêm. Tiếng hai gót giầy chạm.
vẫn ở lại trong ký ức tịch liêu,
âm vang miên viễn không bao giờ hết.
*
Anh nhớ mang máng đã làm thơ trong trí nhớ ẩm thấp, mấy câu thơ tuyệt vọng.
Em ơi, anh đã nhiều lần muốn tự tử trong trại giam, song
Trở về như một tử thi không chứng tỏ được điều gì hết.
Sống sót không để chứng tỏ
cho kẻ tử thù trong quá khứ,
mà cho anh, cho bạn anh, cho những binh nhì Noguchi,
cho những Phận trai già ruổi chiến trường. Chàng Siêu mái tóc điểm sương trong tù.
Ở chế độ hà khắc đó, sống sót được đã là chứng tỏ.
Anh đã bị buộc rút lui, anh đã bị giam nhưng không bao giờ bỏ cuộc.
Anh đã rời quê hương cũ,
vì không thể Dulce et decorum est pro patria mori được nữa,
(di tản? lưu vong? di cư? không cần biết,) tại bất cứ nơi nào.
Miễn được tự do,
tự do dựng bảo tàng viện thuyền nhân, tượng chiến sĩ trận vong, trường việt ngữ,
tự do cầu nguyện anh rồi không có tên trong chiếc phướn sổ điển vong tổ.
Tự do mơ mộng. tự do tưởng nhớ.
Tự do nhớ em.
***
Giữa chạng vạng đời,
gặp em
bất chợt gặp lại anh tưởng đã mất hút.
Có bao giờ em trở lại?
Cho cuộc chiến, cuối cùng, không thể,
dập tắt đốm nhang luôn ủ sáng trong linh hồn anh. –
Nguyễn Tà Cúc (Pennsylvania, Mùa đông 2009-California, Mùa xuân 2025)
1- Chỉa súng đuổi người ra khỏi đất và,
2- bày tòa giữa chợ
Hai câu này được trích trong bài “Nỗi đợi” (Tô Thùy Yên)
(…) Kẻ mới tới bày tòa giữa chợ,
Giải người ra, sỉ mạ ba đời,
Cho đeo bảng, dong đi khắp phố,
Bắn bỏ bên đường, cấm nhận thây.
*
Chỉa súng đuổi người ra khỏi đất,
Đày đi biền biệt miệt thiên thu.
Đuổi cả người chết ra khỏi mộ,
Cày nghĩa trang, trả vói thâm thù… [Tô Thùy Yên, “Nỗi đợi”- Sài gòn 1988 & Saint Paul 1994, Thơ Tuyển, trang 161, Tác giả xuất bản, Thu 1995, Hoa Kỳ]
Tôi muốn đặc biệt giới thiệu bài thơ này từ một trong những nhà thơ/Sĩ quan Tâm Lý chiến VNCH danh tiếng nhất Miền Nam. Đây là bản cáo trang mãnh liệt dành cho chính phủ Cộng sản. Ông diễn tả bao khổ hình và bao lầm than của dân chúng sau 1975 một cách cụ thể “Chuyện trần thế nghe như thất thiệt…/Đất ta, ta giẫm mà ghê chân… Quân rã, còn ai điểm trống canh?/Dân cùng ăn đến cả nhau đẻ/Bán tình thâm mà mua gạo châu/Con tố cha cầu được cất nhắc/Cháu giết bà cướp nửa chỉ vàng…” Độc giả có thể đọc “Nỗi đời”- bản chưa hoàn chỉnh đã đăng trên Thế Kỷ 21 Số 70, Tháng 2.1996 https://issuu.com/nvthuvien/docs/theky21_-_so_70?mode=window&viewMode=doublePage
Và bản hoàn chỉnh, bỏ 1 đoạn, trên https://quenoi.com/noi-doi/ .
Tôi cũng muốn kèm bút tích và chữ ký của ông hầu lưu lại thêm dấu vết của một nhân chứng Miền Nam. Ông gửi tôi—người cùng phụ trách với nhà thơ Viên Linh về các chủ đề và bài vở cho Khởi Hành—nhiều bài viết hay tài liệu của ông. Tờ post-it notes này do ông kèm vào sách tặng vì, lúc ấy, tôi đang sửa soạn Chủ đề Tô Thùy Yên cho Khởi Hành Số 26, tháng chạp, 1998.
“ảnh Tô Thùy Yên cạnh một tác phẩm của danh họa Nguyễn Gia Trí.
Gởi Khởi Hành tùy nghi.”
“Bản tặng Nguyễn Tà Cúc. Saint Paul, 10.98”
Tô Thùy Yên, Thơ Tuyển, 1995
3-chỉ sợ bị đuổi trở lại vùng Kinh tế mới
Sau khi chiếm được Viêt Nam Cộng Hòa vào cuối tháng 4. 1975, chính phủ (Cộng sản) Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa bắt buộc cư dân tại nhiều thành phố Miền Nam di chuyển vĩnh viễn đến các vùng “Kinh tế mới”. Nói một cách khác, chính phủ tước đoạt nhà cửa, tài sản của người dân Miền Nam một cách ngang nhiên và tàn nhẫn. Họ cũng không cung cấp phương tiện đủ để sinh sống nên nhiều người dân, bỏ trốn trở lại thành phố, bỗng nhiên trở thành người vô gia cư, sống lây lất đầu đường xó chợ. Ngoài ra, chính sách này cỏn được ghi lại rõ ràng trong một số “Giấy ra trại” phóng thích tù nhân từ Trại Cải tạo: người được thả sẽ phải tới cư ngụ tại một vùng Kinh tế mới do chính phủ địa phương chỉ định. Thế nên, nếu gia đình có cầm cự ở lại được cũng phải ra đi vì, nếu không, sẽ bị phân tán. Sau này, nhận biết sự ác nghiệt của chính phủ mới, một số gia đình (dù còn chỉ đàn bà và trẻ con) đã chống lại, nhất định không chịu di chuyển, dù chỉ được cho phép ở lại trong một góc căn nhà hay khu vườn mà họ từng làm chủ.
4- Giấy ra trại
Tên của văn bản phóng thích tù nhân từ những “Trại Cải tạo”, một thứ tên che đậy cho những trại giam tập thể sau 1975.
5- Cúc vạn thọ
Ba chữ này mượn của Phan Khôi khi ông phê bình chủ trương khống chế văn nghệ sĩ Miền Bắc của các nhà lãnh đạo Cộng Sản ngay từ năm 1956:
-“(…) Trong nghệ thuật ngụ cái cá tính của mỗi người một khác, do đó cái nghệ thuật tính của văn nghệ của mỗi tác giả cũng một khác. Có thế thì mới có được cái quang cảnh “trăm hoa đua nở”. Nhược bằng bắt mọi người viết phải viết theo một lối với mình, thì rồi đến một ngày kia, hàng trăm thứ hoa cúc đều phải nở ra cúc vạn thọ hết. Mà nếu cứ thế nầy mãi, than ôi, cái ngày ấy cũng chẳng xa đâu!.. – PHAN KHÔI (Viết xong ngày 30-7-1956 tại Hà Nội)” [Trích lại từ Lại Nguyên Ân, Phan Khôi-Tác phẩm đăng báo in sách 1948-1958 – https://hosovanhoc.wordpress.com/2017/01/09/mot-bai-bao-cua-phan-khoi-nam-1956-phe-binh-lanh-dao-van-nghe/ ]
6- Ngầu trắng u mông táp mạn thuyền,
Câu thơ này được trích trong bài “Vượt biên”, Thanh Tâm Tuyền:
Vượt biên
Cúi trông cố lý mây vô xứ
Ngầu trắng u mông táp mạn thuyền
Ngút ngọn triều dâng vách sụt lở
Bọt xóa thiên thanh dấp sóng quên.
[Thanh Tâm Tuyền, “Vượt biên”, Thơ ở đâu xa, trang 87, Nhà thơ Trầm Phục Khắc (một thân hữu) xuất bản & Cơ sở Văn phát hành, Buena Park, California, 1990 * Bản do tác giả tặng, có bút tích của tác giả “sửa các lỗi ấn loát” tại các trang 56, 82, 83, 93, 94. Thanh Tâm Tuyền xác nhận với tôi tên của bài thơ là “Vượt biên”, không phải “Vượt biển” dù con trai ông mất tích trên biển khơi năm 1986.]
7- Ngục thất Gia Trung, tử lộ đầu.
Câu thơ này được trích trong bài “Sau…” (Nguyễn Sỹ Tế)
Sau…
Tưởng niệm Trung tá THANH chết vì tra tấn
(…) Sau sáu năm ròng phận nhục đau,
Bắc Nam lao lý mấy mươi cầu,
Anh còn phải chịu điều oan trái:
Ngục thất Gia Trung, tử lộ đầu…
[Nguyễn Sỹ Tế, “Sau…”, Khúc hát Gia Trung, trang 72, Nhà xuất bản edition lmn, Bonn, Đức quốc, 1994 * Nhà thơ/nhà văn/nhà tiểu luận Nguyễn Sĩ Tế, thuộc Nhóm Sáng Tạo, bị giam tại Gia Trung và Hàm Tân từ năm 1976 đến năm 1987. Trước 1975, ông giữ chức Chánh Văn phòng Bộ Ngoại Giao cho chính phủ Phan Huy Quát trong một thời gian ngắn. Ông di cư sang Hoa Kỳ cùng gia đình dưới diện H. O. vào năm 1992.]
Câu thơ này được tác giả dịch sang Pháp văn trong tập Chants D’Ya (bản Pháp văn của Khúc hát Gia Trung): “…Celui de Ya, l’infernal rebord…” [Nguyễn Sỹ Tế, “Après…”, Chants D’Ya, trang 31, Tác giả xuất bản, Hoa Kỳ, 1997]
8-Trở về như một tử thi không chứng minh được điều gì hết
Câu này được mượn từ một đoạn đối thoại trong phần 4-“Con đường hầm”/The Tunnel (nguyên bản Nhật ngữ-phụ đề Anh ngữ) trong phim “Những giấc mơ”/Dreams. Phim này diễn tả cảnh tượng trong 8 giấc mơ khác nhau của nhà đạo diễn Nhật Bản Akiro Kurosawa do chính ông viết kịch bản rồi đạo diễn với sự cộng tác của Ishirô Honda, một nhà đạo diễn khác. Dreams, dài 1 giờ 59 phút, ra mắt khán giả vào năm 1990. Đoạn “Con đường hầm”, dài gần 20 phút, diễn tả cuộc đối thoại thứ nhất giữa một sĩ quan Bộ Binh Nhật bản sống sót sau chiến tranh với Binh nhì tử trận Noguchi; tiếp đó bằng cuộc đối thoại thứ hai với một toán lính, cũng đã tử trận, từng được sĩ quan này chỉ huy. Một con chó mang chất nổ trên lưng mở đầu và kết thúc đoạn phim khi vửa chạy quanh viên sĩ quan, vừa sủa và gầm gừ rất dữ tợn. Binh nhì Noguchi và đoàn lính không biết họ đều đã tử trận cho đến khi viên sĩ quan xác nhận. Vừa nén tiếng khóc– vừa cố đứng cho vững, vừa cố không nức nở mà đôi mắt vẫn trào lệ và nước mũi vẫn chảy ròng– viên sĩ quan báo cho họ biết trong khi họ tử trận thì ông đã bị cầm tù và, có lần, khổ nhục quá, đã nghĩ thà chết còn dễ hơn được sống sót:
“(…) I sent you out to die (…) Nevertheless, the Third platoon was annihilated. You were all killed in action (…) However, I was taken prisoner. I suffered so much in the camp that I felt dying was easier. And now as I look at you, I feel the same pain. I know that your suffering and torture were much greater. But honestly, I would have wanted to die with you. I really would have, believe me. I feel your bitterness. They call you “heroes,” but you died like dogs. However, returning to the world like this proves nothing/ Tôi đã gửi các anh đến chỗ chết (…) Tuy nhiên, Trung đội 3 đã bị tiêu diệt. Tất cả các anh đều tử trận (…) Dẫu sao, tôi đã bị bắt làm tù binh. Tôi chịu cực nhục quá nhiều trong trại giam, (đến nỗi) cảm thấy cái chết sẽ dễ dàng hơn. Và bây giờ, nhìn thấy các anh, tôi (lại) cảm thấy nỗi đau cũ. Tôi biết nỗi cực nhục và (nỗi đau) bị tra tấn của các anh còn lớn hơn nhiều. Nhưng, thực tình, tôi đã muốn tử trận cùng các anh. Tôi đã thực tình muốn thế, xin tin tôi. Tôi (còn) cảm nhận được niềm cay đắng của các anh. Người ta gọi các anh là “anh hùng”, nhưng các anh đã chết như những con chó. Tuy vậy, việc trở lại thế gian như thế này chẳng chứng tỏ được gì hết…” [https://www.youtube.com/watch?v=Klsar-nwJN8, (nguyên bản Nhật ngữ-Phụ đề Anh ngữ, Nguyễn Tà Cúc dịch sang Việt ngữ), Phút 11:51-phút 15:10 * Trong phụ đề Anh ngữ, họ dùng chữ “platoon/ tiểu đội”, nhưng chiếu theo màn ảnh với 6 hàng lính, mỗi hàng có khoảng ít nhất 6, 7 người, tôi tạm dịch là “trung đội” có lẽ chính xác hơn.]
9- Phận trai già ruổi chiến trường. Chàng Siêu mái tóc điểm sương trong tù.
Hai câu này mượn từ Chinh Phụ Ngâm khúc: “Phận trai già ruổi chiến trường. Chàng Siêu mái tóc điểm sương mới về. (Đặng Trần Côn, bản Hán văn/ Đoàn Thị Điểm, bản dịch).
10- Anh đã bị buộc rút lui, anh đã bị bắt giam, nhưng không bao giờ bỏ cuộc
Câu này mượn từ phát biểu của Trung Tướng Roméo Antonius Dallaire, người Canada gốc Pháp. Ông là Chỉ huy trưởng “Lực lượng Duy trì Hòa bình Liên Hiệp quốc” vào năm 1993 khi cuộc thảm sát tại Rwanda xẩy ra: “Don’t withdraw, don’t surrender, don’t give up! / Đừng rút lui, đừng đầu hàng, đừng bỏ cuộc!”
11- Dulce et decorum est pro patria mori
Dulce et decorum est pro patria mori (Tiếng Latin, từ một câu thơ của nhà thơ Horace) có nghĩa “Được chết cho quốc gia là một danh dự và là một cái chết xứng đáng”.
12- sổ điển vong tổ
“…Sổ điển vong tổ (數典忘祖) là một thành ngữ ngụ ý chê trách những kẻ chỉ biết chạy theo những học thuyết hoặc cậy vào học thức, hoặc những chuyện trước mắt, không nhớ đến nguồn cội…” [ https://www.vbeta.vn/phap-bao/42-chanh-tong-phan/4/372/16242 ] .