Trang chính » Biên Khảo, Nghiên Cứu, Nhận Định, Phê Bình, Tư Liệu, Tưởng Niệm Bùi Bích Hà Email bài này

Nhà văn Bùi Bích Hà [1.1938-7.2021]: Từ Tràng-An báo, Huế, Việt Nam đến Phương trời khác, Little Saigon, Hoa Kỳ (kỳ 2)

clip_image002_thumb.jpg

3- Dăm trang sách cũ, một hồn tang thương [Thanh Nam]

Nếu có trường hợp tiểu sử của một tác giả nào được phóng chiếu đến từng chi tiết trong tác phẩm và hoạt động thì đó là tiểu sử Bùi Bích Hà. Chào đời năm 1938, bà thuộc một thế hệ độc giả của Tự Lực Văn Đoàn và các nhà văn tiền chiến trước khi sang tới tác giả Miền Nam. Thế hệ đó hoặc đứng bên lề, hoặc tham dự quyết liệt vào biến động chính trị và xã hội tùy theo hoàn cảnh cá nhân.

Bùi Huy Tín, thân phụ bà, là một nhà cự phú hoạt động không chỉ trong thương trường mà còn cả báo chí và xã hội. Ngược lại, “Cô” nông dân “S.” ( bà thân mẫu)– kém Bùi Huy Tín khoảng trên dưới 30 tuổi– được bà thứ thất cùng quê Bắc Ninh, đưa về làm một thứ máy đẻ kiêm người làm không công với toàn vẹn sự tàn nhẫn. Không bao giờ bà được coi là vợ lẽ, thậm chí nàng hầu. Vị trí hèn mọn ấy đã không cho phép bà có mặt cả trong ngày cưới của các con. Bùi Bích Hà kể với tôi rằng bà rất ngại xem lại hình ảnh ngày cưới vì chúng “cứa vào nỗi u uất” đằng đẵng mỗi khi nhớ đến mẹ. Đám mây u ám ấy báo trước cơn giông bão phá hủy một hạnh phúc không có thực sau này.

Theo lời kể của Bùi Bích Hà, tản mác qua tự sự cũng như truyện ngắn, bà thân mẫu sinh 5 nhưng chỉ nuôi được 3 người con. Khai sinh của người con gái cả, khoảng 1928, mang tên mẹ là bà chính thất. Người con trai thứ hai, 1935, mang tên mẹ là bà thứ thất. Chỉ có Bùi Bích Hà, đẻ rơi ngay tại trước cửa nhà thương tại Huế, mới mang tên mẹ. Cho đến 14 tuổi, Bùi Bích Hà và người anh 17 tuổi gọi mẹ ruột bằng “chị” và hai bà kia bằng “mẹ”. Thói tục thông thường lúc đó tại vài địa phương Miền Bắc (theo như tôi biết) hầu như buộc người vợ không sinh con trai phải tìm người đẻ thay, hoặc “biết thân” mà im lặng khi chồng có thứ thất hay nhiều thứ thất, thậm chí bất cứ ai. Các con từ dòng rẽ này phải coi những người vợ chính thức là “Mẹ”. Bởi thế, thảm kịch lộ dần bộ mặt ác nghiệt trong gia đình Bùi Huy Tín. Người con trai, anh ruột Bùi Bích Hà, không hề ngờ được sự thật kinh hoàng đó. Cho tới một ngày.

Nấp sau những đôi ngà voi trưng bầy tại đại sảnh, ẩn trong những mâm vàng bát bạc có khắc chữ “Tín”, 30-40 thầy thợ, gia nhân phục dịch, là những giòng nước mắt hầu như hàng ngày của bà thân mẫu (“Cô S.”) ở căn bếp ám khói, là một đứa bé tự cảm được rất sớm sự bất công và cô đơn qua những giòng nước mắt ấy. Khác với người anh, bà trưởng thành trong cơ cực. Thời thiếu nữ, bà đã biết dậy kèm các em láng giềng rồi nhận đan len hay thêu thùa kiếm tiền mua sắm thêm cho mình và mua vàng cho mẹ.

Định mệnh khốn khó ấy đã không dừng lại tuy bà tự xoay sở nộp đơn rồi thi đậu vào trường Nữ trung học Đồng Khánh. Tiếp đó, bà tốt nghiệp Đại học Sư Phạm Huế với học bổng suốt 3 năm. Bà tự buộc tránh vương vấn vì đã nhìn thấy tình cảnh của mẹ. Cơn gió nào lên có một chiều/Ai ngờ thổi tạt mối tình kiêu (Phạm Hầu, Vọng Hải đài)

Dậy học được chừng một hai năm, bà bị kết vào mối hôn nhân xếp đặt chớp nhoáng với một người xa lạ, bắt đầu từ cuộc xem mắt và đám hỏi hầu như xẩy ra cùng lúc. Một lần nữa, tục lệ đã cho người đàn ông quyền quyết định hoàn toàn cuộc đời người vợ tương lai. Trong trường hợp này, mọi sự tuần tự xẩy ra dẫn đến hậu quả đương nhiên khi thủ phạm cũng không hẳn là người chồng. Ông đã vô tình tước đoạt nhân quyền và phẩm giá của người vợ vì được xã hội, nói chung, cho phép, thậm chí khuyến khích. Nhìn dưới một khía cạnh thực tế, ông cũng là nạn nhân của một xã hội còn sót lại thứ suy nghĩ “chồng chúa vợ tôi”, chữ của nhà văn Trùng Dương trong bài viết tưởng niệm Bùi Bích Hà (2), khi cuộc ly dị do chính ông đòi hỏi quay ngược lại cướp mất gia đình cùng tình thương của một người vợ xứng đáng.

Tháng giêng năm 1986, sau khi mất người con gái 15 tuổi trong một cuộc vượt biển bất thành vào tháng 4.1979, bà và các con cùng bà thân mẫu được người anh đón sang Hoa Kỳ đoàn tụ. Bà lập lại cuộc đời từ hai bàn tay trắng còn nắm chặt một quá khứ phẫn nộ. Phẫn nộ cho bà mẫu thân. Cho duyên số chính mình. Cho con gái. Cho sự bại trận của Việt Nam Cộng Hòa. Cộng thêm nỗi phẫn nộ tại miền đất tạm dung khi chứng kiến loại chữ nghĩa huê dạng rời xa hiện tại của một Miền Nam thất thủ. Tôi trích phần tiểu sử hơi dài vào phần 3 này hầu, vào phần 4, có thể phân tích và hy vọng chứng minh được lý do khiến một nhà văn phụ nữ tự lập thân, không đặt chủ đích làm báo với giới quan-sang, nhưng dấn vào hai lãnh vực khó khăn: báo thường nhật và lãnh vực truyền thanh.

Sau đây là vài đoạn tự sự về hai ông bà thân sinh, về gia đình và về hoạt động của bà sau khi tỵ nạn tại Hoa Kỳ.

3.1. Chém cha cái kiếp lấy chồng chung [Hồ Xuân Hương]

Bùi Bích Hà viết rành mạch nhiều lần về số phận tủi nhục của bà thân sinh. Hơn ai hết, bà biết rõ anh em bà chính là lý do của số mệnh ấy.

-“[…] Thế nhưng có lẽ số phận chọn mẹ tôi gánh vác sự bất công tủi cực này nên không ai sanh nở gì cả cho tới một ngày, bà hai của bố tôi nhân chuyến về Bắc Ninh thăm họ hàng […] tìm gặp, thương lượng với ông bà ngoại của tôi rồi đem mẹ tôi ‘về dinh'[…] Suốt ba tháng trời ròng rã, mẹ tôi vừa bỡ ngỡ chuyện thai nghén lần đầu, vừa phải làm lụng công việc nằm trong phận sự không khác gì tôi tớ trong nhà, vừa phải trả lời sự chất vấn cay nghiệt của bà hai […] Câu trả lời của mẹ tôi cũng lập đi lập lại trước sau không sai một chữ là: ‘Thưa bà, con không biết ai ngoài ông cụ.’ Mẹ tôi trở dạ sinh chị Túy Sơn đúng ngày tháng bố tôi ghi trong sổ nhật ký […] Sau lần đầu nhiều nghi nan và tủi cực ấy, mẹ tôi liên tiếp bỏ một anh, sẩy một lần trước khi sinh và nuôi được anh thứ tư. Là đứa con trai nối giõi tông đường hiếm muộn, lọt lòng mẹ, anh tôi lập tức được bà hai của bố tôi bế tắp lên nhà trên, khai sinh là con của bố tôi và bà…” [Bùi Bích Hà, Anh em như tay chân”, Đèn khuya-Tập 1, Người Việt Books xuất bản, trang 13-15]

clip_image002

Bùi Bích Hà, Đèn khuya-Tập 1, Người Việt Books xuất bản, 2018

-“[…] Mẹ tôi kể lại, bà mang thai tôi trong tình trạng sức khỏe sa sút vì mẹ bị sốt rét do không biết săn sóc mình qua thời gian dài lăn lóc trông coi các khu đồn điền của bố tôi trong vùng lam sơn chướng khí Bắc phần […] Ra khỏi công việc đồn điền nắng mưa cực nhọc cùng với khí hậu khắc nghiệt, mẹ tôi vất vả cách khác trong ngôi nhà rộng, mặt tiền mang số 72 đường Gia Hội, mặt sau chạy tới sát bờ một nhánh sông Hương từ Đông Ba đổ về Vỹ Dạ. Tôi lớn lên trong bụng mẹ từ sáng tới khuya lam lũ giữa căn bếp tối tăm, ám khói và cái giếng nước, phục vụ nấu nướng, giặt giũ cho trên dưới 40 nhân khẩu theo hai ba chế độ ăn uống gồm cả chủ nhân và công nhân, thợ thuyền làm việc dưới quyền của bố và mẹ già tôi. Vài tháng cuối thai kỳ của mẹ, mẹ già tôi lâm bệnh, nghỉ dưỡng tại bệnh viện trung ương thành phố Huế. Được coi là người làm thân tín, mẹ tôi phải theo săn sóc bà trong thời gian này. Mẹ kể lại, mẹ vẫn tính từng ngày không lầm lẫn, nhưng đủ 9 tháng 10 ngày rồi mà mẹ không trở dạ. Một tối mùa Đông, đã quá sang ngày hôm sau, mẹ già tôi cần chậu nước nóng để ngâm chân. Mẹ tôi khệ nệ bưng chậu nước đến cửa phòng thì cuống lên vì một cơn đau tức chợt tới ở bụng dưới. Đặt vội chậu nước xuống đất, mẹ túm lấy hai ống quần thì tôi đã tuột khỏi lòng mẹ ngay bên hòn đá chặn cho cửa không bị gió sập trong mùa Đông. Vì vậy, sau này, giấy khai sinh thân thế tôi ghi là: Née à l’hopital de Huế. Thực tế, tôi không ra đời ở khu sản khoa và mẹ tôi không ở trên giường sản phụ như mọi bà mẹ khác…..” [Bùi Bích Hà, “Đi qua đời nhau”, Nhật báo Người Việt, 2019, https://www.nguoi-viet.com/binh-luan/di-qua-doi-nhau-bui-bich-ha/amp/]

Một người đàn bà bụng mang dạ chửa đến ngày mà còn phải săn sóc (đúng hơn, hầu hạ), bà-vợ-của-người-chồng mình! Thật khó tưởng tượng nhà cự phú Bùi Huy Tín lại có thể dung túng sự phi lý ấy; nhưng cũng tương tự người chồng sau này của con gái, ông chỉ là một thương gia thuộc giai cấp cực thượng lưu, không phải một nhà cải cách xã hội:

-“[…] Từ khi lọt lòng, tôi hẩm hút trong tay người đàn bà sinh ra tôi mà tôi chỉ được gọi là chị, loanh quanh với “người chị” từ tinh mơ đến quá nửa đêm…” [Bùi Bích Hà, “Sách có linh hồn không?” [Bùi Bích Hà, “Sách có linh hồn không”, Đèn Khuya-Tập 2, trang 237, Nhà Xuất bản Người Việt Books, 2018]

clip_image004

-“[…] Mẹ tôi đảm đương công việc chợ búa, bếp núc cho hai chế độ ăn uống riêng biệt, nôm na gọi là “nhà trên, nhà dưới.” Nhà trên gồm bố tôi những khi ông không đi công cán xa, mẹ già thứ hai và anh ruột tôi được bà khai sinh nhận vơ là con. Nhà dưới gồm mẹ con tôi, các anh chị họ được bố tôi nuôi ăn học và tất cả thầy thông, thầy ký, thợ thuyền, gia nhân còn lại…” [Bùi Bích Hà, “Nước mắm”, Ngày 20. 3. 2019, https://www.nguoi-viet.com/nhin-tu-little-saigon/nuoc-mam/]

-“[…] Bây giờ nhớ lại, tôi không hình dung ra món nào mẹ tôi đặc biệt thích vì hình như mẹ tôi quanh năm suốt tháng chỉ ăn thức ăn thừa của cả nhà…” [Bùi Bích Hà, “Nghịch lý” , ngày 28. 11.2018, https://www.nguoi-viet.com/nhin-tu-little-saigon/nghich-ly/]

-“[…] Từ khi khôn lớn, con chưa bao giờ thấy cha ngồi bên mâm cơm có mẹ hay hỏi han mẹ một câu gì…” [Bùi Bích Hà, “Mẹ ơi!”, Ngày 24. 4. 2019, https://www.nguoi-viet.com/nhin-tu-little-saigon/me-oi/]

-“[…] Suốt mùa hè, bố tôi thuê bao một chiếc thuyền để chiều chiều cả gia đình đi tránh nóng trên sông Hương […] Mỗi chiều lúc mặt trời sắp khuất, chiếc thuyền cập bến phía sau nhà. Mẹ tôi khuân thức ăn xuống thuyền để cả nhà ăn tối khi thuyền sẽ neo ở một khúc sông nào đó. […] Mẹ tôi thì còn phải lội vào cồn mua mấy trái bắp tươi để luộc hoặc nấu chè…” [Bùi Bích Hà, Huế yêu dấu, Tuần báo Saigon Times, Hoa Kỳ, http://saigontimesusa.com/bai/vanchuong/1434a.shtml]

-[…] Bố tôi cai quản một sự nghiệp đồ sộ nên ông không mấy khi có nhà mà nếu thỉnh thoảng ông ở nhà một buổi thì thời giờ ấy dành cho anh tôi, thừa kế duy nhất của ông […] đêm nào mùa trăng thì trăng xế bóng ngọn cau mẹ tôi mới được lên giường ngủ một giấc ngắn, áo còn nguyên mùi khói bếp, rồi lại vội vàng thức dậy lúc trăng vẫn còn mờ nhạt ở chân trời…”[Bùi Bích Hà, “Mẹ Thiên Nhiên”, Đèn Khuya-Tập 1, trang 467-468]

Thương tâm thay, người đàn bà ấy vẫn có lòng yêu thầm người đàn ông dửng dưng từng có tổng cộng 5 đứa con với mình. Và ghen lồng khi chạm mặt người đàn bà khác, xinh đẹp hơn, được tiếp đãi thương yêu hơn mình. Và sầu hận quay quắt khi, một lần nữa sau rất nhiều lần, nhận ra mình chỉ là con sâu cái kiến:

-“[…] Năm tôi chừng 10 tuổi, một buổi chiều nắng vừa tắt, tôi đang chạy chơi trong vườn, quần áo, mặt mũi lem luốc bụi đất và mồ hôi thì nghe tiếng mẹ gọi ầm ỹ từ căn bếp ám khói. Giọng bà hổn hển: ‘Con lên gác, bảo bà khách về đi vì sắp đến giờ cơm của thầy rồi!’ […] tôi hơi sợ, bèn nhanh trí đổi lời mẹ dặn: ‘Thưa thầy, dọn cơm được chưa ạ?’ Bố tôi từ tốn trả lời, dịu dàng khác hẳn mọi khi: ‘Thầy có khách, con bảo cô S. làm thêm vài món, xong thì bưng lên.’ Tôi trở xuống, vào bếp, đã thấy đôi mắt mẹ nhìn tôi, chờ đợi. Tôi lập lại lời bố, chưa hết câu thì giật bắn mình thấy mẹ tôi phang mạnh vào tường thanh củi đang cháy dở trên tay bà […]Bà khách của bố trông sang trọng và đẹp hơn mẹ tôi vạn lần. […] Sau này khi khôn lớn, nhớ lại chuyện cũ, tôi mới hình dung được là mẹ tôi… ghen. Trí nhớ tôi ghi đậm hình ảnh bà đôi mắt thất thần, lam lũ trong chiếc áo cánh vải trắng ám mùi hành tỏi, quay quắt đi tìm tôi trong khu vườn rộng với nỗi lo âu, thổn thức buồn tủi trong trái tim không khác gì trái tim của bất cứ phụ nữ sang/hèn nào trên mặt đất này…” [Bùi Bích Hà, “Không còn Khổ đau”, Đèn Khuya-Tập 1, Trang 404-405, Nhà Xuất bản Người Việt Books, 2018]

Sau này, nhớ tới mẹ, hình ảnh còn hiển hiện với bà vẫn là một trong những hình ảnh khi ghen hờn đó:

-“Hay hình ảnh thật về mẹ tôi là người đàn bà một mình trong nhà kho chứa củi, khăn áo xổ tung, vừa chửi bới vừa hồng hộc điên cuồng ném những thanh củi khô vào tường, máu tươm đỏ trên đầu những ngón tay và mắt lệ chứa chan?…” [Bùi Bích Hà, “Đi qua đời nhau”, sđd]

Chồng không, con cũng không. Ngày cưới con gái, bà lo lắng cho các mâm cỗ tuy sẽ không được phép thưởng thức; nhưng ai oán hơn, không được phép ra mặt :

-“[…] Còn mẹ tôi nữa! Ngày cưới tôi sao mẹ vẫn cặm cụi trong gian bếp ám khói, cũng không có mặt bên tôi để tiễn đưa và chúc con hạnh phúc…”[Bùi Bích Hà, “Khóc một thành phố”, Ngày 6.6.2018, https://www.nguoi-viet.com/nhin-tu-little-saigon/khoc-mot-thanh-pho/]

Điều bất công lớn nhất do phong tục tập quán thời đó gây ra trong trường hợp này là thân mẫu bà không hề có quyền tư hữu, ngay trên đời sống chính mình, chứ chưa kể tới những đứa con. Đòi hỏi quyền tư hữu ấy, bà sẽ bị trừng phạt bằng pháp luật vì, ngay từ đầu, người con trai đã không mang tên bà:

-“[…] Đám cưới mẹ bên giường bệnh ông Ngoại và chuyến bay đưa mẹ vào cuộc đời riêng với hình ảnh bà ngoại giấu mình trong dãy nhà kho tối tăm, tay xoắn vạt áo khóc thầm […] mẹ có cảm tưởng bà không có một phút giây nào rời đôi mắt khỏi những bước chân lầm than của bà trên con đường bổn phận. Khi bắt đầu lớn khôn, mẹ có lần hỏi bà “Sao mẹ không bỏ đi?” Bà ngoại vò tóc mẹ, cười: “Đem con về quê thì con phải mò cua bắt ốc, cực lắm. Đem cả anh con đi thì thầy sẽ bỏ tù mẹ, không được gần các con nữa”…” [Bùi Bích Hà, “Thư viết cho con gái lúc dọn nhà”, Văn Học, Số 122, Trang 116, 118, Tháng 6. 1996]

Bởi thế, thảm kịch không-tư-hữu kết thúc với kết quả tuy bất ngờ nhưng có thể đoán được khi sự thật bị khám phá: Người anh trai bỏ học, bỏ nhà đi lính nghĩa là bỏ luôn quá khứ rỗng vàng son dấn vào một đời khác tại một nơi chốn hoàn toàn xa lạ. Người cha tưởng được con trai kề cận, ngờ đâu trắng tay khi người con cố ý chọn một cuộc sống trôi nổi nhiều phần nguy hiểm đến tính mạng.

3.2 Anh em như tay chân [Bùi Bích Hà]

Mọi người trong thảm kịch này đều là nạn nhân. Bùi Bích Hà và mẹ dắt díu nhau trên con đường học vấn và lập thân của bà:

-” […] Hai anh em tôi sinh ra cùng một mẹ cha nhưng chúng tôi chỉ biết điều này khi anh tôi 17 tuổi và tôi 14. Hoàn cảnh éo le ấy là do bố tôi hiếm muộn, ngoài 50 vẫn chưa có mụn con nào. Hai mẹ già tôi là vợ cả, vợ hai của bố tôi […] Dưới mắt anh, tôi là con của cô S, người hàng ngày nấu cơm, dọn cơm cho anh ăn, giặt quần áo, bỏ màn buổi tối cho anh đi ngủ, vắt màn và làm giường buổi sáng khi anh thức dậy, v.v […] cho tới một hôm, anh tôi không bằng lòng với những món ăn “cô S” dọn ra mâm và bưng lên bàn cho anh ăn trưa nên anh vung tay hất cả mâm cơm đổ xuống đất rồi chạy lên lầu mách bố tôi […] Có lẽ việc này là giọt nước cuối cùng làm tràn cái ly đã quá đầy nên ông quản gia lâu năm, rất mực trung thành của gia đình tôi không nhịn nữa, […] nên ông tiết lộ bí mật với anh tôi: “Này cậu, ‘cô S’ là mẹ đẻ của cậu đấy, không phải bà L. đâu!” Tôi thấy anh tôi đứng ngây ra một lúc, không nói gì rồi lẳng lặng vào phòng riêng đóng cửa lại. Ít lâu sau, anh bỏ học và anh nói với bố tôi anh muốn tình nguyện vào trường Bộ Binh Thủ Đức…” [Bùi Bích Hà, “Anh em như tay chân”, Đèn Khuya-Tập 1, trang 13-15, Người Việt Books xuất bản, 2018]

Một lần nữa, tôi rất cảm ơn Bùi Bích Hà vì, khác tôi, bà đã có can đảm và tự tin khiến vượt qua mọi ngần ngại hầu trình bày và phân tích về những kinh nghiệm oan trái của chính mình chỉ vì muốn cổ động và thuyết phục độc giả và thính giả phụ nữ tiến bộ từ bản thân tới xã hội. Khi còn sinh tiền, biết tôi là người cực kỳ riêng tư–tối kỵ những kẻ nhân danh văn chương nghệ thuật để tự tô điểm, than thở hoặc loại tabloid/lá cải nhân danh nữ quyền để nhăng cuội về đời riêng cũng như đời văn người khác dù chưa hề giáp mặt–bà đã thổ lộ: “Em ạ, nếu chị nói rõ đến thế thì người đọc mới tin, mới hiểu rằng những đối đáp với họ cũng là từ trái tim, kinh nghiệm sống của chị. Chị cũng như họ thôi, có lúc đã ngã quỵ, rồi phải bò rồi mới dậy mới đi mới chạy được.” Những lời tự thuật này cũng giải nghĩa sự thành công của bà trong các buổi tâm tình hay hội thoại với độc giả phụ nữ. Phấn đấu lớn nhất của bà là quyết tâm tìm đường thoát bằng học vấn, từ khi chỉ 12 tuổi:

-“[…] -“[…] Nhất bưởi, nhì phu, tam thu, tứ tín.” Bố tôi là người giàu có thứ tư trong cả nước[…] Khi tôi cần cặp sách để đi học, Thuý biết nhiều khi đi học mình không có cặp sách thì tôi cứ lấy hai cái áo dài vắt lên trên bụng để làm thành một nếp gấp, để mình cho tập vở vào thì được, nhưng mà bút với thước thì hai bên trống không có gì kín hết, thì lại rơi ra. Nên mẹ tôi thấy mới nói với bố tôi là, thầy cho em Bích mua cặp sách đi học không thôi thì bút viết rơi lả tả ở trên đường. Tôi nghe bố tôi nói với mẹ tôi rằng là cô bảo với nó muốn cặp sách đẹp thì học cho giỏi đi để có tiền mua, đừng có xin...” [Đặng Thúy Võ phỏng vấn Bùi Bích Hà , Vietnamese American Oral History Project– UC Irvine- Đoàn Giang ghi lại, Ngày 23.12.2012. http://ucispace.lib.uci.edu/bitstream/handle/10575/3273/vaohp0082_f01_viet.pdf?sequence=4]

-“[…] Lý do tôi thi vào đệ thất trường Đồng Khánh Huế sau khi học hết bậc tiểu học ở Jeanne d’Arc là vì lúc bấy giờ bố tôi đã già, gia cảnh bắt đầu sa sút, tôi lại có một ông anh đang học nội trú tại Thiên Hựu Học Đường, phí tổn hàng tháng phải trả cho anh bằng với năm lần sự sống của một gia đình nghèo. Tôi là con gái, không được bố kỳ vọng mấy, vì vậy, tháng tháng phải lên xin ông tiền học, đối với tôi là cả một cực hình. Thường thường, tôi đứng lấp ló đến mỏi rục cả hai chân ở chỗ quanh cầu thang mà vẫn chưa tập trung đủ can đảm để dàn mặt bố. Ở lớp học, tôi luôn luôn bị gọi tên vì trả học phí chậm. Cũng may là tôi học giỏi nên ma soeur thương tình. Thi đậu xong bằng tiểu học, muốn nộp đơn thi tuyển vào đệ thất Đồng Khánh, tôi cần cái chứng chỉ tạm do Hội Đồng Giám Khảo kỳ thi tiểu học gởi về trường gốc. Các ma soeur hẳn trông vào thanh thế trước đây của bố tôi, lại tiếc đứa học trò có đôi chút triển vọng nên giữ rịt cái chứng chỉ tạm, chỉ vuông vức bằng lòng bàn tay một người lớn, không chịu trao. Các soeurs không biết nội tình gia đình đứa học trò khốn khổ là tôi, những buổi chiều sân trường ươm nắng, tôi đứng vẩn vơ ở một nơi nào đó, nhìn các bạn nội trú ăn gouter với chuối và phó mát, bánh mì nướng và mứt dâu mà thèm, mà ao ước. Cũng những bạn ấy, khi tan trường, tôi nhìn thấy họ đi những bước chân sáo dọc theo cái hành lang rộng với quần áo giặt ủi thơm tho xếp gọn gàng trên tay, để đến phòng tắm nội trú. Các ma soeur đâu biết rằng từ lúc đó cho đến chạng vạng hoàng hôn, tôi vẫn còn phải đi những bước cuối để về nhà trên chặng đường dài hơn bảy cây số, qua hai con sông, chỉ có một trò chơi giải khuây là đếm cột điện hoặc vừa đi vừa tung ném hai chiếc guốc gỗ. Các ma soeur cũng đâu có biết là suốt mùa đông ẩm ướt và giá lạnh ở Huế, trong lúc các bạn tôi ấm áp đến trường trên những chiếc xe kéo che diềm kín mít (những tấm diềm vải nâu mới cong, có những cái khoen bằng thiếc sáng lấp lánh) hoặc trong những chiếc áo tơi nhựa xinh xắn thì tôi đã phải thức dậy từ nửa đêm để cố đến trường lúc chưa có ai, dấu cái tơi lá của tôi vào cuối bờ dậu rồi đội cặp sách lên đầu mà ù té chạy qua sân để vô lớp, không cho ai thấy cái thiếu, cái nghèo vẫn làm tôi khổ sở vì xấu hổ. Vì vậy, tôi nhất quyết phải ra khỏi cái thế giới trưởng giả mà bố tôi, chắc là vì tương lai học hành của con, đã có lúc vô tâm bỏ tôi vào bằng thông hành của ông rồi quên đi. Tôi nghĩ ngợi lao lung mất mấy ngày mới tìm được kế đánh lừa soeur C. để lấy tờ chứng chỉ. Tôi nói với soeur là: Nếu bố con không thấy bằng chứng con thi đậu, ông không cho con tiếp tục học nữa…” [Bùi Bích Hà, “Trường Đồng Khánh: Giấc Mơ Một Đời”, Phương trời khác, trang 41-43, Nhà Xuất Bản Cảo Thơm, California, 2002]

clip_image006

Bà thi đậu vào trường Nữ Trung học Đồng Khánh, rồi tự lực cánh sinh tiếp tục thi đậu vào trường Đại học Sư Phạm, Huế. Qua những trang tự sự, bà giúp chúng ta cảm nhận được thứ văn hóa “trọng nam khinh nữ” đã luồn những chiếc rễ đầy độc dược của một thứ đại thụ, bẩy tung nhiều mối liên hệ gia đình và sự tiến thủ của một cá nhân. “Cô S.” (bà thân mẫu) đại diện cho đa số phụ nữ giai cấp “mò cua bắt ốc” khi đối chiếu với các Cô LoanCô Mai trong Tự Lực Văn Đoàn của giai cấp trung lưu. Số phận họ cũng không khác gì nhau lắm.

Hai anh em bất ngờ rời tổ ấm gia đình. Người anh đột ngột bỏ học, lập tức gia nhập Quân lực Việt Nam Công hòa, binh chủng Công Binh. Phần Bùi Bích Hà, sau khi tốt nghiệp và đi dậy một thời gian rất ngắn, bà thình lình lập gia đình, hầu yên lòng mẹ, qua cuộc “coi mắt” chớp nhoáng của đàng trai rồi theo chồng xuôi Nam. Quyết định gượng ép này, theo bà, gây nhiều hậu quả gian nan, nhưng chính vì thế, khơi nguồn tự tin vào việc sử dụng truyền thông để giúp chị em khác.

3.3 Thân em như hạt mưa sa/Hạt vào gác tía, hạt ra ngoài đồng

Độc giả cũng có thể đoán biết tâm sự của bà qua một cuộc hôn nhân bị xếp đặt với một người chồng hội đủ điều kiện được xã hội kính trọng. Cuộc “sống chung không dài” khoảng mươi năm ấy phơi bầy não nề không e dè trong cả sáng tác lẫn tự sự dù bà đã thu mình hết sức vào bổn phận làm vợ, dù công khai chịu đựng nỗi sầu riêng, kể cả nỗi sầu không được phép sáng tác trong rất nhiều năm. Cuộc hôn nhân ấy được định nghĩa bằng một điều vô nghĩa và bạc bẽo khôn cùng::

-” […] Bố tôi yên lặng thắp hai nén nhang, đưa cho đôi tân hôn mỗi người một, bảo vái nhau. Có lẽ người đàn ông số phận bỏ vào đời tôi chưa bao giờ nghe hay biết tới câu phương ngữ của người xưa: ‘Phu phụ tương kính như tân’ nên sau này, anh nhiều lần đay nghiến tôi về cử chỉ của bố tôi… Với anh, nếu là thế, chỉ người đàn bà phải vái lạy chồng mình như một trong tứ đức xã hội dạy họ. Trong mắt anh, tôi đứng ngoài lề thói, không được dạy dỗ đúng chuẩn mực nên trong cuộc sống chung không dài, mỗi khi cần sửa trị tôi, anh luôn bắt đầu bằng câu: ‘Em ạ, con nhà có giáo dục thì…'[…] Ngày ấy, chưa biết thế nào là biệt ly, tôi làm sao hình dung được cảnh nhà quạnh quẽ khi cha mẹ đã già, anh tôi sống đời quân ngũ rày đây mai đó, để tôi biết nói không cho một điều vô nghĩa và bạc bẽo khôn cùng […] Mẹ tôi biết tôi đang đi con đường hôn nhân gập ghềnh, buồn tủi […] Càng không hối tiếc đã dắt tay con đi vào nơi khó khăn […] Mẹ lìa xa khu vườn mẹ yêu thương, chăm chút, xách giỏ theo tôi, bồng bế các cháu […] không một lần nhắc lại Huế, sợ tôi vì mẹ mà tan đàn sẩy nghé. Mẹ biết đâu không vì mẹ, cũng có ngày chúng tôi tan đàn sẩy nghé…” [Bùi Bích Hà, Mai tôi về Huế, https://www.diendantheky.net/2021/07/bui-bich-ha-mai-toi-ve-hue.html]

-” […] Phu quân tôi có thói quen, nếu không đi đánh phé hay nhảy đầm, đi ngủ vào lúc chín giờ. Khi chàng lên giường, đèn đóm trong phòng phải tắt hết. Chàng không bao giờ đọc sách, bất luận sách gì. Vì vậy, tôi làm cô giáo để mưu sinh, làm vợ, làm mẹ, làm chị sen để phục vụ hạnh phúc gia đình, không có hoàn cảnh hay điều kiện làm nhà văn. Hơn hai mươi năm sống giữa ‘Sài thành hoa lệ’, tôi lẩn khuất như một con chuột ngày ở mấy con hẻm chật […] Con cá nhỏ rạt lên bãi cạn, mắc kẹt trong sỏi đá, chết khô. Một hôm, phu quân của tôi ở ngoài phố về, cười bảo tôi ‘Em nói hồi xưa em viết báo, làm văn chương. Bây giờ bộ Thông Tin Chiêu Hồi mở cuộc thi truyện ngắn, giải thưởng hai mươi lăm ngàn (tương đương ba lạng vàng vào năm Mậu Thân) đây này, có giỏi thì viết đi.” Lòng tê tái, tôi tìm cách thoái thác “Em không có máy đánh chữ“. Chiều hôm sau, phu quân tôi tan sở về, xách theo cái máy đánh chữ của sở. Hơn cả lời thách thức của người bạn đường, hơn cả sự hấp dẫn của ba lạng vàng, tôi ôm lấy cơ hội được cầm lại cái bút đã nhiều năm không còn viết một điều gì cho riêng tôi. Trong mấy đêm liền, khi con cái đã ngủ yên, tôi ngồi viết như một người mê sảng. Truyện ấy gửi đi dự thi dưới mỹ danh của phu quân tôi. Ít lâu sau, một thư của bộ Dân Vận Chiêu Hồi gởi đến nhà, báo tin truyện ngắn dự thi của chàng được chấm giải nhất, mời chàng tới lãnh giải tại trụ sở trên đường Thống Nhất. Hôm đi nhận thưởng, chàng đem tôi theo. Tôi nhìn chàng được nồng nhiệt bắt tay và khen ngợi, như chuyện đó không liên quan gì đến tôi…” [Bùi Bích Hà, “Tại sao viết văn-Bàn tròn văn học”, Thế Kỷ 21, Số 59, Trang 68-69, Tháng 3.1994]

-“Cô cũng có sinh các em, lập gia đình cho đến khi anh cần tự do của anh, anh muốn tự do của anh trở lại thì cô trả lại tự do cho anh ấy là xong…” [Đặng Thúy Võ phỏng vấn Bùi Bích Hà , Vietnamese American Oral History Project– UC Irvine- Đoàn Giang ghi lại, sđd]

Sửa trị“! “Con nhà có giáo dục“! “Hôm đi nhận thưởng, chàng đem tôi theo. Tôi nhìn chàng được nồng nhiệt bắt tay và khen ngợi, như chuyện đó không liên quan gì đến tôi“!!! “Muốn tự do của anh trở lại…”! Dù đã biết Bùi Bích Hà rất kỵ cô Thúy Kiều nhưng không lần nào nhớ lại mấy câu này mà tôi nén mình quên được “Thân lươn bao quản lấm đầu…” (Nguyễn Du). Cuộc hôn nhân ấy kết thúc rất giản dị khi người chồng “muốn tự do” để lập gia đình với người khác. Hai chữ “là xong” của Bùi Bích Hà nhẹ như một tiếng thở dài nhưng cũng nặng như một nỗi thống hận. Thật ra, hai chữ này mới dành cho bà. Bà đã nhẫn nhịn hết mức, hy sinh cả phẩm giá nhưng cuối cùng vẫn “là xong“, là thôi. Kỳ lạ thay, định mệnh của mẫu thân mà bà muốn tránh lại tái hiện qua cuộc hôn nhân tê tái và cái chết của con gái. Trong đời bà, có 2 cái chết của 2 người thân, cùng vì chiến tranh, sẽ tái hiện lẩn khuất nhưng luôn luôn ngự trị tới những giòng chữ cuối. Người thứ nhất là người chị cả Bùi Túy Sơn. Người thứ hai là cô con gái Thái Hà.

3.4 Hồn ngẩn ngơ dòng suối rừng sim (Nguyễn Du)

Bùi Túy Sơn, người chị cả, mất tích vì bị quân Pháp giết lầm theo Chị Thúy, một truyện ngắn trong tuyển tập Hạnh phúc có thật (Nhà Xuất bản Văn Mới, 2001), xuất hiện lần đầu trên tạp chí Văn, 1996:

-“Chị Thúy theo chồng được mấy tháng thì mặt trận Việt Minh kết thúc […] Khi họ tiến vào Phù Cát, nghe nói anh Mỹ và chị Thúy từ hầm trú ẩn chạy về phía họ thì do ngộ nhận, quân Pháp tưởng lầm anh chị là cán bộ Việt Minh tan hàng nên bắn gục cả hai trên đường sắt trước cửa nhà ga. Nghe nói người đưa tin cho bố tôi đã tìm thấy trong túi áo anh Mỹ tờ giấy viết những dòng như sau ‘Nếu tôi có mệnh hệ nào, xin người nhặt được giấy báo tin này cho nhạc phụ tôi là cụ Hường B. số nhà…đường…thành phố Huế. Thương nhớ anh, tôi tự nhủ thầm : “Anh chỉ có cơ hội gọi bố em là nhạc phụ khi anh qua đời…'” [Bùi Bích Hà, “Chị Thúy”, Văn số 160, trang 17-22. Tháng 9. 1996 (3)-Nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng, kế nhiệm Nhà văn Mai Thảo từ số này]

Nhiều chi tiết trong Chị Thúy về Bùi Túy Sơn trùng hợp với lời tự thuật của Bùi Bích Hà trong cuộc phỏng vấn vào năm 2012:

-“Sau này năm 1945, chị lớn tôi lập gia đình với một người gọi là trưởng khu hoả xa ở Tam Kỳ. Khi mà quân đội Pháp rút đi thì anh chị cũng trốn vào một nơi hầm trú ẩn nào đó. Khi người Pháp trở lại tiếp quản thì anh chị tôi nghĩ rằng mình là nhân viên cũ của chế độ thì có thể đi ra, và coi như là mình thoát chết, thì hai anh chị dẫn nhau ra trên đường rầy xe lửa. Tôi chỉ nghe kể lại thôi. Khoát tay cho quân đội Pháp biết là mình là người của họ, nhưng có lẽ vì Pháp không phân biệt được thế nào là Việt Minh, thế nào là người của họ, thành ra họ bắn một tràng đạn trên đường rầy xe lửa, anh rể tôi mất, còn chị tôi thì không có tin tức gì hết, không biết thất lạc hay là mất, tại vì sở dĩ nhà biết tin là có một người sau này thấy trong túi áo người anh rể tôi có một tờ giấy nhỏ viết là: “Nếu tôi có mệnh hệ nào thì xin báo tin cho cụ Hùng Bùi ở Huế được biết.” Thì gia đình biết anh đã mất rồi, nhưng mà không có tin tức gì của chị hết từ ngày đó đến giờ…” [Đặng Thúy Võ phỏng vấn Bùi Bích Hà , Vietnamese American Oral History Project– UC Irvine- Đoàn Giang ghi lại, sđd]

Sau người chị cả, cái chết của cô con gái sẽ được bà viết đến nhiều lần, như một người mở đi mở lại xem kỹ một vết thương chưa lành, cố tự thuyết phục ảo tưởng đã thành sẹo nhưng chỉ lại bàng hoàng trước huyệt máu tươi nguyên. Bà phân giải về lý do oan nghiệt đẩy đến quyết định cho con gái vượt biển:

-“Con cô không ngoại lệ, nó đang ở tuổi niên thiếu mà, 13, 12 tuổi, băt buộc cháu phải đi sinh hoạt. Một hôm cô bắt được cái thư của anh đội trưởng đội cháu sinh hoạt, nó viết thư tỏ tình với cháu. Cháu đưa cho cô xem. Bắt buộc cô phải lên trên quận đoàn, quận Phú Nhuận. Cô đi phường đoàn trước, rồi sau cô mới lên quận. […] anh hứa là anh sẽ sữa chữa […] Nhưng mà cô không tin nữa, cô bắt đầu nghi ngại rồi […]. Cô nghĩ đến chuyện cho cháu đi. Thì lúc bấy giờ cả Sài Gòn sôi nổi vấn đề vượt biên […] Đến năm 79 cô mới có cơ hội để cho em đi. Chuyến đi của em mất nạn, không thành công, nên cô mất em trong chuyến đó….”[Đặng Thúy Võ phỏng vấn Bùi Bích Hà , Vietnamese American Oral History Project– UC Irvine- Đoàn Giang ghi lại, sđd]

Nhiều chi tiết của cuộc vượt biển từ khi giao tiền đến lúc nhận xác và chôn cất con gái được chuyển hóa trong truyện ngắn/tự sự Vết chàm xâm:

-“[…] Sau cùng, khi chúng tôi đến nơi thì những người tù cải tạo do Công an lấy từ trại giam của tỉnh Cần thơ ra đang hì hục đào đất dưới ánh lửa bập bùng của hai cây đuốc cắm trên thành một cái xe bò bên trên để một cái gói lù lù bọc ny lon xanh. Tôi biết ngay là xác con gái tôi trong đó, chắc chắn cũng đã chương sinh như xác một con bò mộng! Tôi lao đến. Người ta giúp tôi run rẩy lật miếng nylon nhỏ không đủ phủ kín hình hài con tôi để nhìn mặt cháu lần cuối cùng. Như có một tiếng sét nổ trong đầu tôi vỡ tung, mắt tôi như bị lửa bỏng rát, tôi lăn ra đất và nghe tiếng khóc của tôi như từ một cõi xa lạ nào! Tất cả quang cảnh trước mặt tôi bỗng thu vào một đốm sáng nhỏ, xa dần rồi mất hút vào một thinh không lặng ngắt. Tôi tỉnh lần trong tiếng đất rớt lộp bộp trên miếng poncho gói một phần xương thịt dấu yêu của chính tôi từ nay chôn vùi ở cái xó quạnh hiu này. Hai cây đuốc đã tắt ngấm. Công an đã rong những người tù khốn khó về trại giam trong tiếng bánh xe bò lăn cọc cạch qua thửa đất mấp mô sỏi đá, tiếng những cái xẻng va vào nhau kêu xủng xoảng trong thùng xe như tiếng nghiến răng của thần chết. Đám đông hiếu kỳ cũng đã hết nước mắt cảm thương và tản mác ra về, chỉ còn tôi bên nắm đất tối đen đào lấp vội vàng và bác nông dân già trông nom khu nghĩa địa. Bác không nói gì, yên lặng hút những điếu thuốc rê vấn to bằng ngón chân cái. Đốm lửa to tướng trên đầu điếu thuốc của bác như một con mắt căm thù thao thức trong bóng đêm…” [Bùi Bích Hà, “Vết chàm xâm”, Buổi sáng một mình, trang 100, Nhà Xuất bản Người Việt, 1989]

Và rành rẽ trong một bài tự sự khác:

-“[…] Thời gian ở Mỹ, tôi vẫn đều đặn hàng năm gởi tiền về Chùa (nơi ký vong cháu) và về An Dưỡng Địa Phú Lâm (nơi gởi tro cốt cháu) để nhờ quý vị trụ trì các nơi này hương khói, giúp săn sóc chút di hài của cháu. Năm 2001, tôi về quê hương thăm mộ thân phụ ở Huế xong thì vào nam (sic) thăm nơi an nghỉ của con gái. Cái hộp kiếng trong suốt bên ngoài hũ tro của cháu ngày tôi ra đi, sau 15 năm trong một góc tối của bảo tháp, chen chúc với nhiều tro cốt khác tới sau, đã bám đầy bụi đen như bồ hóng hay muội đèn. Quá đỗi thương tâm, tôi vội vàng đóng lệ phí cho chính quyền ở cả hai nơi để xin trích xuất cháu ra. Chúng tôi thuê sẵn xe và trực chỉ con đường oan nghiệt bất ngờ đưa cháu về cõi khác 23 năm trước tính từ ngày miền Nam Việt Nam thất thủ. Xe tới bến Ninh Kiều, Cần Thơ, chúng tôi xuống thuyền trong một buổi trưa nắng chói lòa trên dòng sông Hậu gió lồng lộng. Thuyền ra giữa mênh mông trời nước Tây Đô, tôi ôm bình tro của cháu, đặt nằm nghiêng trên mặt sông cuồn cuộn sóng để gió lùa hết những gì còn lại của kiếp người ngắn ngủi, thả xuống đáy mộ sâu. Cùng với cháu, một phần xương thịt của tôi cũng mãi mãi ở lại khúc sông này của quê hương một thời tan tác khổ đau.” [Bùi Bích Hà, ” Cõi khác”, Đèn Khuya-Tập 1, trang 192]

Bảy năm sau cái đêm đưa con vào lòng đất, Bùi Bích Hà cùng đàn con còn lại và thân mẫu bỏ xứ sang Hoa Kỳ.

3.5 Bầy chim bỏ xứ [Phạm Duy]

Như đa số mọi người bỏ xứ, Bùi Bích Hà không trở lại được ngành dậy học. Nghề viết bất đồ trở lại rất tình cờ:

-” […] Di tản qua Mỹ sau 11 năm kẹt lại Việt Nam trong biến cố 30 tháng 4/1975, tôi đi làm lao động chân tay để cấp tốc ra khỏi trợ cấp xã hội chỉ sau chưa đầy 2 tháng, từ ngày 13 tháng 1/năm 1986 đến ngày 6 tháng 3/ năm 1986. Một công việc không chuyên môn, lương thấp, không đủ để bao bọc cuộc sống tươm tất cho 4 mẹ con, bà cháu, tôi phải kiếm việc làm thêm […] Nghĩ đi nghĩ lại, chưa biết làm gì để cải thiện đồng lương eo hẹp dù lúc đó, ngoài công việc lao động chính tại công ty Baxter, tôi đã làm thêm một việc văn phòng từ 5 giờ chiều đến 8 giờ tối ở một chi nhánh bảo hiểm All States. Dịp may khi tôi gặp lại anh Trần Đ. Quân, một đồng môn thời trung học ở Huế, lúc đó đang làm việc cho công ty Người Việt. Anh bảo tôi: ‘Toa viết lách được, phụ moa làm trang Phụ Nữ cho tờ báo đang thiếu trang này nhé!’ Nghe anh đề nghị, khuyến khích, tôi nhận lời ngay, mừng rơn. Từ đó, 5 ngày trong tuần với thời khóa biểu mỗi ngày từ 5 giờ sáng đến sau 12 giờ đêm không ngưng nghỉ, tôi chu toàn được chi phí sinh hoạt gia đình trong tình trạng thiếu ngủ thường xuyên. Dẫu sao, suốt 15 năm tiếp theo, tôi trải qua một thời gian tuy vất vả đấy nhưng vô cùng hạnh phúc, vừa sinh nhai vừa vui chơi với chữ nghĩa. Tôi viết truyện ngắn, tùy bút, làm thơ, trả lời thư độc giả gởi tới tòa soạn và được công ty Người Việt giúp xuất bản cuốn truyện ngắn đầu tay Buổi Sáng Một Mình…” [Bùi Bích Hà, “Chữ Nghĩa”, Đèn Khuya-Tập 1, trang 145-157]

“15 năm tiếp theo” và sau đó nữa, tổng cộng vài chục năm tại xứ người, Bùi Bích Hà “viết truyện ngắn, tùy bút, làm thơ, trả lời thư độc giả…” và còn làm gì nữa? Tôi trích rất dài phần tiểu sử để hướng đến phần “còn làm gì nữa” vì muốn trình bày về sự chọn lựa lãnh vực báo chí và truyền thanh của bà.

(Còn tiếp)

bài đã đăng của Nguyễn Tà Cúc

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

@2006-2022 damau.org ♦ Tạp Chí Văn Chương Da Màu
Đăng nhập | Entries (RSS) | Comments (RSS)