Trang chính » Biên Khảo, Nghiên Cứu, Tư Liệu, Văn Học Miền Nam Việt Nam 1954-1975 Email bài này

Một Bức Ảnh, Bảy Nhân Vật: Nhà Xuất Bản Kim Anh trong Tình Cảnh Xuất Bản tại Miền Nam (Kỳ 6)

Nguyen-thi-Hoang.jpg

Nguyễn thị Hoàng nguyễn thị hoàng - hs. Chóe Nguyễn thị Hoàng hôm nay

Từ trái sang phải: chân dung nhà văn Nguyễn thị Hoàng khoảng thập niên 1960s; qua nét vẽ của Họa sĩ Chóe (Nguyễn Hải Chí); và Nguyễn thị Hoàng của ngày hôm nay


7. Nhà văn Nguyễn Thị Hoàng

Ngoài hoạt động sáng tác và xuất bản, nhà văn Nguyễn Thị Hoàng nhận giữ chức vụ đồng Phó Tổng Thư Ký với Trần Trọng San trong Ban Thường Vụ Hội Bút Việt nhiệm kỳ 1970-1972. Nhờ vậy, bà đã có dịp dự phiên họp Đại Hội Đồng của Văn Bút Quốc Tế, 1970. Trong Nhật ký của im lặng (1990), bà nhắc tới nhà văn Paul Tabori (Chủ biên cuốn The Pen in Exile- An Anthology of Writers in Exile, 1966) mà bà có dịp gặp trong phiên họp này.

7.1 Vòng tay học trò và sự tái hiện của Nguyễn Thị Hoàng

Sau khi Vòng tay học trò được tạp chí Bách Khoa nhận đăng với tên Hoàng Đông Phương rồi Kim Anh xuất bản vào tháng chạp 1966, Nguyễn Thị Hoàng chính thức trở lại văn giới Sài gòn với tên thật.

Lê Ngộ Châu đã nhận được một văn tài và dám đăng một truyện có thể gây sóng gió. Đó là một trong những thành quả tốt đẹp nhất trong sự nghiệp của ông sau khi thừa hưởng Bách Khoa từ Chủ nhiệm sáng lập & Thời kỳ 1 Huỳnh Văn Lang. Nếu “không khí gia đình” đã làm thương tổn tạp chí này phần nào với việc Võ Phiến-Túy Hồng bởi chính thái độ của Lê Ngộ Châu, chúng ta không thể từ chối rằng, cũng chính không khí gia đình và cách đối xử ân cần của ông đã tạo nên một “gia đình” văn nghệ khích lệ nhiều anh chị em mới cầm bút. Từ Bách Khoa và cơ hội do ông trao cho, Nguyễn Thị Hoàng đã vượt lên, tự gây dựng sự nghiệp

7.1.1 Nhà Xuất bản Hoàng Đông Phương

Sự tái xuất rực rỡ của Nguyễn Thị Hoàng với Nhà Xuất bản Hoàng Đông Phương có phần dính líu tới thành công vượt bực của Vòng tay học trò do Kim Anh xuất bản rồi tái bản ngay. Theo bà, “Còn Hoàng Đông Phương có nghĩa là gì? Mặt trời, vắn tắt là như thế…Sách của HĐP gồm 3 loại: tiểu thuyết, biên khảo và dịch thuật…” [Ngê Bá Lí, “Tình hình xuất bản trước và sau biến cố Mậu Thân 1968, Bách Khoa Thời đại, số 289, trang 103, Ngày 15.1.1969]

Tác phẩm của bà thường được in khoảng 3.000 cuốn như Tình yêu, Địa ngục, tháng 8.1971 do Nguyễn Đình Vượng xuất bản hay 4.000 cuốn như Đất hứa, 1969 do bà tự xuất bản.

Nguyễn Thị Hoàng lập Nhà Xuất bản Hoàng Đông Phương với cuốn Vào nơi gió cát chỉ dưới một năm sau Vòng tay học trò. Cuốn này do Nghiêu Đề vẽ bìa, in xong cuối tháng 9. 1967, phát hành vào trung tuần tháng 10.1967 và quảng cáo trên Bách Khoa Thời Đại số 260 vào tháng 11. 1967. Nghĩa là nó phải được sửa soạn vào trước tháng 9.1967, trước khi đem kiểm duyệt, in ấn và phát hành. Kế đó là nhiều tác phẩm khác của chính tác giả như Trên thiên đường ký ức, Vết sương trên ghế đá hồng, Mảnh trời cuối cùng, Đất hứa, Tuyển truyện (bìa Đinh Cường, phụ bản Nghiêu Đề) vv. và 11 tác giả khác.

clip_image002

Tuyển truyện 12 tác giả-Bìa trước, khoảng 1968

clip_image004

Tuyển truyện 12 tác giả-Bìa sau

Sự trở lại và lập nhà xuất bản của Nguyễn Thị Hoàng có 2 lý do. Thứ nhất, khi một tác giả đã lượng định được sự thành công về mặt tài chánh, họ sẽ thêm phần tự tin vào sự độc lập, nhất là sau khi một tác phẩm gây tranh luận ồn ào dù chỉ đa phần trong báo giới lá cải.

Thứ hai, nhiều nhà văn hay nhóm nhà văn, đã lập nhà xuất bản và tự phát hành để hưởng trọn công sức thay vì trông cậy vào các tạp chí văn nghệ, báo chí hay nhà xuất bản khác như trường hợp Nguyễn Hiến Lê (Nhà xuất bản Nguyễn Hiến Lê), Giao Điểm (Trần Phong Giao), Võ Phiến (Thời Mới), Nguyên Vũ (Đại Ngã), Nguyễn Thị Hoàng (Hoàng Đông Phương), Hoài Khanh (Ca Dao), Thái Độ (Thế Uyên); hoặc nhóm nhà văn như Trình Bầy (Thế Nguyên, Nguyễn Quốc Thái, Diễm Châu …) Hiện tượng người cầm bút vừa sáng tác vừa đảm trách việc xuất bản–hai công việc hết sức chiếm thời giờ thêm nặng nhọc–và phát hành xem ra bất thường, nhưng hoàn cảnh xuất bản thời đó giải thích sự bất thường ấy.

Một tác phẩm ra đời sau khi qua mấy chặng: tác giả, nhà xuất bản, nhà in và nhà phát hành.

Trước hết, tiền nhuận bút trả cho một tác phẩm thường vào khoảng 15 % -20% nếu tôi nhớ không lầm. Nếu không may gặp nhà in không lương thiện, họ in thêm cũng không có cách nào kiểm soát được. Tôi muốn mở ngoặc để nói tới một việc mà chỉ có dân trong nghề mới để ý: những nhà in không lương thiện thường in thêm, không chỉ để bán cho các quầy sách, mà còn cho các tiệm cho thuê sách ở khắp các hang cùng ngõ hẻm. Theo Linh mục Thanh Lãng, chỉ có sách giáo khoa mới thoát khổ hình bị-cho-mướn này!

Sau đó, nếu tự phát hành lấy, tác giả sẽ không phải trả “”hoa hồng” từ 40%, 50% tới có khi 60%… ” [theo Trần Phong Giao, “Sự hi sinh của những người làm văn hóa”, Tân Văn, Số 16&17, trang 47, tháng 8&9. 1969] Đó là một gánh nặng mà Nhà Xuất Bản Kim Anh đã thoát được vì bà giám đốc làm chủ một tiệm sách, lại thông thạo cách phát hành. Sau khi lập Hồng Đức rồi Kẻ Sĩ, Nguyễn Thị Thụy Vũ và Hồ Trường An cũng tự phát hành sách của họ.

Ngoài ra, tác giả (hay nhóm tác giả) có ưu thế rõ ràng khi không những xuất bản được tác phẩm của chính họ, mà còn có quyền chọn lựa tác giả khác. Đó là trường hợp Trần Phong Giao: ông đã vay mượn anh em văn nghệ hầu có thể lập Giao Điểm để xuất bản cuốn Sứ mệnh Văn nghệ Hiện Đại của chính ông sau khi không tìm được nhà xuất bản nào thuận cho in (Ngê Bá Lí, “Tình hình xuất bản: Đàm thoại với các cơ sở Văn nghệ, Văn”, Bách Khoa Thời đại, số 294, Ngày 1.4.1969]. Nếu tìm được vài tác giả “ăn khách” thì chắc chắn sống được. Một tác giả được coi là “ăn khách” khi có số in từ 3,000 tới 5,000 cuốn mà theo Bình-nguyên Lộc thì “phải bán ít lắm 1.500 cuốn mới đủ vốn.” [Bình-nguyên Lộc, “Thời vàng son của nghề xuất bản tại Sài-gòn”, sđd, trang 19].

Đó là chưa kể một tác giả làm giám đốc cơ sở xuất bản thường tạo được thanh thế và gây ảnh hưởng trong giới một cách dễ dàng hơn.

Sau biến cố Mậu Thân, ngành xuất bản bắt đầu gặp nhiều khó khăn: giá giấy tăng, thuế nhà nước tăng và nhân công hãng in bị động viên. Tương tự Kim Anh, Nhà xuất bản Hoàng Đông Phương không đứng được lâu hay hoạt động đều đặn như lúc đầu 1970. Lê Phương Chi và Thế Nhân loan báo hai nhà xuất bản này đã hầu như kết thúc vào cuối năm 1970 trong bài tường thuật “Thị trường sách báo trong cơn lốc gia tăng của thuế má và vật giá” vào đầu năm 1971:

[…] Tuy nhiều nhà xuất bản đã bị “Kiệm ước” cho đo ván và nằm im luôn như: Thời Mới, Hoàng Đông Phương, Kim Anh, Thái Độ, Kẻ Sĩ ..vv nhưng các nhà xuất bản còn lại vẫn gắng gượng cho ra được mỗi nhà đến 5, 7 cuốn. Và đó là một nỗ lực đáng phục.… [Bách Khoa, Tân niên – Số 339, ngày 15.2.1971]

Trước đó, bà trả lời cuộc phỏng vấn của giai phẩm Văn:

-Nhà Xuất bản Hoàng Đông Phương do tôi chủ trương hoạt động từ 1967 đến 1970 thì phải tạm ngưng, vì bên ngoài, là tình trạng khó khăn, chậm chạp ảnh hưởng của vật giá sinh hoạt. Bên trong là, đời sống chúng tôi chưa ổn định vì chỗ ở vì lý do này lý do khác thay đổi luôn luôn. Chúng tôi đã xuất bản một số sách của Mai Thảo, Phạm Công Thiện, Huỳnh Phan Anh, Vũ Đình Lưu, Nghiêm Xuân Hồng, Viên Linh, Lê Văn Siêu.… [Giai phẩm Văn, Chủ đề Năm Nhà Văn Nữ nổi tiếng nhất của văn chương tiểu thuyết hiện nay-“Đi xa với Nguyễn Thị Hoàng”, trang 8, Ngày 13.7.1973-Thư ký Tòa soạn Nguyễn Xuân Hoàng]

7.1.2 Truyện Nhi đồng

Trong và sau khi Hoàng Đông Phương ngưng hoạt động, các nhà xuất bản khác tiếp tục xuất bản sáng tác của bà. Bà còn viết truyện nhi đồng như Rừng thần tiên, Tủ Sách Trăm Hoa và Gót hồng thời gianÁo trắng đêm hè, Tủ sách Tay Ngà theo “Thư mục” của Nhà Xuất bản Đời Mới (1973). Sau 1975, Nhà Xuất bản Kim Đồng phát hành cuốn Hồn Muối, 128 trang vào tháng 6.2006 cho “Tủ sách Tuổi Mới Lớn” của họ. Tuy dành cho “Tuổi Mới Lớn” nhưng đây là cuốn truyện thể hiện văn chương Nguyễn Thị Hoàng một cách tiêu biểu khiến cho người đọc cảm nhận theo từng giai đoạn tuổi tác của mình, không riêng “thời mới lớn”. Đó là sự thành công rất khó đạt được.

Tôi xin cảm ơn chủ nhân của bức hình chụp lại bìa cuốn Rừng thần tiên và cuốn Nhật ký của im lặng (Sài gòn) mà tôi mạn phép sử dụng:

clip_image006

Nguyễn Thị Hoàng, Rừng thần tiên, Tủ sách Trăm Hoa xuất bản, khoảng 1972
https://www.goodreads.com/book/show/53248711-r-ng-th-n-ti-n

7.2 Tác giả Nguyễn Thị Hoàng và tác phẩm sau 1975

7.2.1 Tác phẩm sau cuộc phần thư

Sau 1975, tác phẩm của Nguyễn Thị Hoàng cũng bị cấm, số phận đồng loạt của hầu như toàn thể tác giả Miền Nam. Gần đây, một số tác phẩm của bà đã được phép in lại. Trước đó, bà phải chu toàn bổn phận với đời sống gia đình nên sáng tác quá ít so với trước 1975. Hội Nhà Văn đã cho phép Công Ty Cổ phần Văn hóa và Truyền Thông Nhã Nam phát hành Vòng tay học trò, Cuộc tình trong ngục thất, Tiếng chuông gọi người tình trở về, Tuần trăng mật màu xanhMột ngày rồi thôi vv.

Trước khi được chính thức trở lại, Nhà Xuất bản Đồng Nai phát hành Nhật ký của im lặng, tháng giêng. 1990 (Sài gòn). Thời điểm đó sát thời Đổi Mới và độc giả khắp nơi đã muốn đọc Văn học Miền Nam một cách chính thức. Kinh đô Ấn quán tái bản tại Houston, Texas vào năm 1992 với lời giới thiệu hoàn cảnh xuất bản. Tôi có thể hiểu tại sao tác phẩm của một nhà văn danh tiếng như Nguyễn Thị Hoàng lại không có tiếng vang ngoài Việt Nam.

Theo tôi, ngay trong lúc ấy, ngay trong một thời kỳ mà một biến cố chính trị đã thay đổi vận mạng của một nửa rồi cả dân tộc, của hàng chục triệu người, thì thứ nhật ký về tâm sự một người sẽ chỉ là một thứ xa xỉ phẩm. Ngày nay, nhiều tâm sự riêng đã công khai hóa thành tâm sự chung. Nhật ký của im lặng đầy vùng giao thoa giữa tác giả với chính mình, với xã hội đang thay đổi phản ảnh một Nguyễn Thị Hoàng không bao giờ thay đổi. Từ sự không thay đổi ấy, một thế giới cũ cháy âm ỉ mãi với (Trịnh Công) Sơn, với (Phạm Công) Thiện và một hiện tại mới đầy chất vấn về phận mình phận người. Tác phẩm này–viết liên tiếp trong 15 năm trong im lặng dù “trơ trọi, cô quạnh, không nhà xuất bản, không người phê bình”–đánh dấu khúc quanh quan trọng mà bà gọi là “chuyển hóa” trong hành trình sáng tác.

clip_image008

Nguyễn Thị Hoàng, Nhật ký của im lặng, Nhà Xuất bản Đồng Nai, 1990, Sài gòn
https://www.goodreads.com/book/show/53233765-nh-t-k-c-a-im-l-ng

Cũng như Nguyễn Thị Thụy Vũ, bà tham dự nhiều buổi ra mắt sách chào mừng độc giả mới cùng bạn văn mới, có điều hình bóng Miền Nam trong thế giới các nhà xuất bản, họa sĩ vẽ bìa và nhiều tác giả trước 1975 vv. đã không cùng bà trở lại.

7.2.2 Nguyễn Thị Hoàng-Như một nhà văn

clip_image010

Nguyễn Thị Hoàng, Dưới vầng hoa trắng
Khởi Hành
ngày 4.2.1971
Tài liệu của Lưu Đức & Viên Linh & Nguyễn Tà Cúc

Trong cuộc phỏng vấn của giai phẩm Văn (1973), chỉ 2 năm trước khi Sài gòn mất và Văn Học Miền Nam trở thành một giai đoạn lịch sử, Nguyễn Thị Hoàng rất tự tin ở tương lai:

-Phải về Sài gòn. Còn dự định lớn? Hoàn thành định mệnh như trời muốn. [sđd, trang 20]

Lúc đó, bà đã có hàng chục tác phẩm được xuất bản và vẫn còn hy vọng hồi sinh Nhà xuất bản Hoàng Đông Phương:

-Đang rình chực một cơ hội thuận tiện tối thiểu để có thể trở lại hoạt động. Cũng gần. [sđd, trang 8]

Một người đàn bà cầm bút vực lại được cuộc đời sau “tai nạn hầu như hủy diệt cuộc đời” [Nguyễn Thị Hoàng phát biểu tại buổi tọa đàm Phụ nữ & Văn Chương, tối 16.12.2020, Sài gòn], xứng đáng được tự tin như vậy. Bà cho biết đã làm thơ từ 12 tuổi, đã viết từ hồi trẻ thơ, để “giải tỏa nỗi niềm” hay nói chuyện với chính bản thân”, một thứ viết “không có lý do mục đích gì hết” rồi “trở thành thói quen cứ viết mãi viết hoài”. Cho tới 1964, sau Vòng tay học trò, bà “cứ thế mà viết” theo đòi hỏi cấp bách của nhà xuất bản, báo chí chỉ để thỏa mãn nhu cầu sinh sống cho một gia đình đông con. Thế nên, Nguyễn Thị Hoàng tự coi không là nhà văn của quãng thời gian này.

Tại đây tôi muốn dừng lại để nói về Vòng tay học trò. Có thể tôi không trưởng thành vào thời đó nên không có nhận xét chính xác, nhưng những ồn ào kết án hay lăng mạ tác phẩm đã không ảnh hưởng nổi tới giới nhà văn, bạn đọc hay số bán của nó. Trong bài “Sinh hoạt tiểu thuyết một năm qua,” trong khi Nguyễn Thị Thụy Vũ bị chỉ trích, Nhật Tiến đã dành nhiều lời đẹp cho Nguyễn Thị Hoàng:

[…] Người ta cũng phải công nhận Nguyễn Thị Hoàng là một ngòi bút lý tưởng viết về tình yêu. Sự nhận xét này càng được chứng tỏ hơn nữa qua truyện dài Vào nơi gió cát ấn hành vào gần cuối năm 67 [.…] Tiếng nói của Nguyễn Thị Hoàng là tiếng nói của tình yêu tuổi trẻ bây giờ, với đầy đủ ngọn lửa nhiệt tình bốc cháy cao độ nhất, si mê nhất, diễn tả bằng một thứ kỹ thuật bay bướm, hào hoa, xen vào một chút hương vị triết lý hợp thời trang, do đó tác giả đã được giới trẻ tiếp đón nồng nhiệt.… [Nhật Tiến, “Sinh hoạt tiểu thuyết một năm qua”, Bách Khoa Thời Đại 265-266, ngày 15.1.1968]

Lời nhận xét của nhà văn Nhật Tiến vẫn còn đúng tới ngày nay qua sức thu hút từ tác phẩm của Nguyễn Thị Hoàng với giới trẻ.

Sau 1975, bà xác nhận đã không thể viết đều đặn do những “xáo trộn của cuộc đời” chính mình, những chấn động không từ bên ngoài. Bà chỉ viết cho mình. Hồn muối (viết khoảng 1990, xuất bản 2006) là Nguyễn Thị Hoàng 1964-1975. Nhật ký của im lặng (xuất bản năm 1990) là Nguyễn Thị Hoàng lùi lại thời viết “giải tỏa nỗi niềm” hay “nói chuyện với chính bản thân” nhưng có lý do. Chính vì lắng nghe và “viết được những tiếng nói bên trong như vậy với tất cả mọi người với tất cả mọi vấn đề “, bà mới “cảm thấy là nhà văn”. Nhật ký của im lặng gộp nhiều chương rải rác về nhân vật, “ngỏ ý” về vấn đề nào đó … cũng chính là lúc bà “chuyển đoạn” hay “chuyển hóa” “từ tiểu thuyết, từ thực tại” sang nhận thức “tâm linh” khiến bà có thể kết luận:

-[…] Qua cuộc chuyển hóa, tôi cảm nhận được tôi tương thông khắp cùng cho nên tôi có được toàn thể cái vô hình đó, nó nuôi sống tôi mãi hoài như thế, cho nên cái vui của tôi là mỗi một phút giờ, mỗi một trải qua, khó hay là dễ, vui hay là buồn, tôi đều sống tràn ngập đầy đủ trọn vẹn cái tôi của mình mà tôi gọi trong Nhật ký của im lặng đã biến hóa thành ngàn tôi.…

Liệu Nguyễn Thị Hoàng có thành công như trước 1975 với lối viết ngàn tôi không? Độc giả sẽ trả lời, nhưng tôi có cảm tưởng bà đã biết “định mệnh” của bà qua chính lời kết thúc phần phát biếu dài gần 14 phút trong buổi tọa đàm ngày hôm đó: “Chỉ có biết một điều thôi: trong mỗi phút giây, tôi vẫn sống và sống như không bao giờ chết.” (7)

8. Nhà xuất bản Kim Anh và tác giả phụ nữ cộng tác trong thế giới văn chương Miền Nam

Nhà xuất bản Kim Anh với Nguyễn Thị Nhiên và Nguyễn Thị Thụy Vũ cùng số thân hữu cộng tác đã đưa Vòng tay học trò và Nguyễn Thị Hoàng trở lại Sài gòn.

Nguyễn Thị Hoàng, nhờ thế, đã chứng minh được tác phẩm này không phải chỉ là một sự may mắn nhất thời khi tiếp tục với nhiều tác phẩm khác cộng thêm sự nghiệp xuất bản một cách độc lập mà trong 5 nhà văn nữ thời đó, chỉ có bà thực hiện được. Kim Anh giúp Túy Hồng đánh dấu quãng đời sáng tác mới với Vết thương dậy thì. Nhà Xuất bản Kẻ Sĩ xuất bản Khung rêu– Nguyễn Thị Thụy Vũ, tác phẩm đoạt giải nhì cuộc thi Văn học nghệ thuật của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, 1970. Nhà Xuất bản Thái Phương xuất bản Cúi mặt, tác phẩm tiên tri về những trại tù cải tạo trên toàn Việt Nam sau 1975.

Nguyễn Thị Hoàng, Túy Hồng và Nguyễn Thị Thụy Vũ đều khởi đi từ hoàn cảnh bất thường, nhưng vượt qua mọi thử thách bằng tài năng. Bà Nguyễn Thị Nhiên để lại tên tuổi trong ngành xuất bản nhờ sự sắc bén trong nghề phát hành với tình thân hữu cùng Nguyễn Thị Thụy Vũ, Hồ Trường An, Lê Phương Chi, Phan Ngọc Diên. Sau khi đóng cửa Kim Anh, bà vẫn thành công với quán sách cho tới tháng 4.1975. Những phụ nữ này phản ảnh một xã hội Miền Nam tương đối cởi mở và một thế giới văn chương của riêng họ.

Nếu văn sử là một truyện dài thì Kim Anh là một truyện ngắn quá ngắn nhưng tuyệt vời.

(Hết)

Nguyễn Tà Cúc

_____________________________________
Chú thích:

7. Đoạn này và các chữ trong ngoặc kép trong phần Nguyễn Thị Hoàng là do tôi ghi lại từ lời phát biểu của bà tại buổi tọa đàm Phụ nữ & Văn Chương, tối 16.12.2020, Sài gòn. Buổi tọa đàm này do Nguyễn Trường Trung Huy tổng kết và phổ biến trong “Nguyễn Thị Hoàng xuất hiện trở lại sau nửa thế kỷ câm lặng,” 22 tháng 12, 2020, https://ethongluan.org/index.php/doc-bai-luu-tru/5710-nguy-n-th-hoang-xu-t-hi-n-tr-l-i-sau-g-n-n-a-th-k-cam-l-ng-nguy-n-tru-ng-trung-huy

bài đã đăng của Nguyễn Tà Cúc

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

3 Bình luận

  • Long Nguyen viết:

    Vòng Tay Học Trò

    Tôi không đọc VTHT đầy đủ trọn vẹn. Hình như tác phẩm này một thời ăn khách và một thời tai tiếng. Tai tiếng bởi quan niệm đạo đức thuần phong mỹ tục của VN lúc ấy. Lý do, cuộc tình và tiếp xúc xác thịt giữa cô giáo và học trò. Xã hội vin vào đạo lý. Chỉ trích không sai. Nhà văn bênh vực cũng bằng lý do đạo lý, nhưng họ bác bỏ yếu tố đạo lý trong văn chương. Họ cũng đúng. Theo tôi, một cuộc giằng co như vậy sẽ rất khôi hài. Bởi vì nó sẽ đem lại sự mỉa mai của cả đôi bên hướng về nhau.

    Theo tôi, có thể xét tiểu thuyết này dưới khía cạnh khác. Khía cạnh pháp lý. Ơ, người ta sẽ nói pháp lý là cái quái gì mà xía vào văn chương chứ. Đúng như vậy. Nhưng có nhiều trường hợp khía cạnh pháp lý giải quyết vấn đề khá ổn thỏa thay vì là tình trạng mỉa mai khôi hài. Thí dụ, một kỹ sư máy móc rất giỏi, nhưng sau này người ta khám phá ra anh ta gian lận về bài thi trong kỳ thi tốt nghiệp. Về phưong iện luật pháp, bằng kỹ sư bị thu hồi. Công việc bị chấm dứt. Chắc chắn cũng chẳng ai tranh cãi về tài năng vốn có của anh ta.

    Trở lại cuốn tiểu thuyết VTHT xem, tôi không rõ nhân vật học trò tên Minh, học sinh trung học tuổi tác như ra sao và luật pháp thời VNCH quy định sự giao cấu giữa người lớn và trẻ vị thành niên như thế nào. Nếu luật thời đó cấm và Minh dưới tuổi trưởng thành thì sao? Việc này sẽ rất nhiêu khê. Nhưng mà, như vậy cuốn VTHT sẽ rất khó đứng vững ở những thị trường sách vở văn chương ở các xã hội như Hoa Kỳ. Nó sẽ đụng vào chẳng những pháp luật mà còn các mặt văn hóa giáo dục rất mạnh của dân Mỹ.

    • Nguyễn Tà Cúc viết:

      Tôi rất thích các lời góp ý về vấn đề xung đột giữa văn chương và đạo đức qua tác phẩm như Vòng tay học trò và có khi cả về người phê bình nếu chúng tôi nhắc đến các tác phẩm tương tự. Đó là một lãnh vực khó khăn, đúng như ông Long Nguyễn phát biểu, bên nào cũng có lý do vững chắc khiến bất phân thắng bại. Tuy thế, luật pháp chưa hẳn đứng riêng: nó đã đứng vào phe đạo đức “thuần phong mỹ tục”! Vì luật pháp là gì nếu không đại diện cho suy nghĩ và quyết định của số đông trong khoảng thời gian nào đó. Bởi vậy, tôi tin luật pháp Việt Nam Cộng Hòa cấm ngặt sự liên hệ xác thịt với trẻ vị thành niên.
      Chính vì thế tôi sẽ bắt buộc phải đề cập đến một trường hợp ngoại lệ nghe đâu đã có sự can thiệp của luật pháp. Đó là trường hợp nhà văn/ người thầy/huynh trưởng hướng đạo Cung Giữ Nguyên (1909-2008). Ông đã bị truy tố tại Tòa án vì dính líu đến học trò Nguyễn Thị Hoàng khi bà còn là một học sinh trung học như thí dụ theo bài viết của Thụy Khuê: [http://thuykhue.free.fr/stt/n/NguyenThiHoang1.html].
      Tôi không rõ việc kiện tụng diễn tiến ra sao nên ghi lại đây với mọi sự dè dặt phải có. Tôi chỉ có thể nhận xét rằng, trái ngược với nhà văn Nguyễn Thị Hoàng mà có bài viết về bà chứa đựng nhiều chi tiết rành mạch về mối liên hệ này, hầu như một số tiểu sử và bài viết về Cung Giũ Nguyên đều bỏ qua việc chấn động (liên hệ với bà), tuồng như không hề xẩy ra. Hơn thế nữa, sau đó, Cung Giũ Nguyên vẫn tiếp tục được dậy học, thậm chí được lưu nhiệm chức hiệu trưởng (?) và vẫn xuất hiện đều đặn trên Bách Khoa. Còn Nguyễn Thị Hoàng tâm sự với Mai Ninh: “Được bổ nhiệm về Nha Trang, trường nơi đây từ chối…” Tại sao bà bị từ chối nếu chuyện này có thực? Và phản ứng của một số độc giả về Vòng tay học trò thì như chúng ta đã rõ.
      Có thể vì Cung Giũ Nguyên không sáng tác về “scandal” ấy chăng (như Nguyễn Thị Hoàng với Vòng tay học trò) nên người ta không có cớ lên tiếng? Chưa chắc. Khoảng nửa thế kỷ sau, vào ngày 21. tháng 10. 2013, ký giả Ngân Hà đã đặt thẳng câu hỏi về cảm tưởng của “bạn đọc” và cảm tưởng của chính cô với Tiến sĩ Phạm Văn Quang, người chuyên nghiên cứu về nhà văn Cung Giũ Nguyên:
      -“Sau khi SGTT đưa tin về buổi nói chuyện về CGN của ông, bạn đọc đã thắc mắc, nhắc đến C.G.N, không thể không nhắc đến nữ sĩ Nguyễn Thị Hoàng. Trong quá trình nghiên cứu các tác phẩm của C.G.N, ông chắc cũng biết con người không thể chạy trốn số phận (nếu có), và có phải cuộc gặp gỡ và “scandal” với nữ sĩ này đã mở cho nhà văn C.G.N một hành trình khác vì trước đó ông vốn nổi tiếng là mô phạm và được tất cả các giáo sư và học trò kính nể. Sau vụ scandal này, ông thu mình và cô độc hơn ai hết trước những lời phỉ báng và cả sự khinh rẻ của đồng nghiệp… Nếu nghiên cứu của ông mà bỏ qua chuyện này, tôi thấy thật tiếc…”
      Và Ngân Hà tiếp tục khai triển sau câu trả lời không mấy thuyết phục (theo tôi) của Phạm Văn Quang:
      -“Và phải chăng câu chuyện trên cũng dẫn đến lời tâm sự này: “Tôi là con người nội tâm, một con người suy tư- tư duy hơn là nói. Tôi muốn viết để tống khứ cái con ma trong tôi. Con ma đó là sự mặc cảm, sự khao khát, cả sự hèn yếu…” Con ma của C.G.N, theo ông, đó là gì?…” [Ngân Hà, “Trao đổi với Tiến sĩ Phạm Văn Quang: Cung Giũ Nguyên, một “cây bút” của dòng Văn học Việt Nam viết bằng tiếng Pháp”,
      https://xunauvn.org/2013/10/21/cung-giu-nguyen-mot-cay-but-cua-dong-van-hoc-viet-nam-viet-bang-tieng-phap/%5D
      Là một phụ nữ, tôi muốn đặt câu hỏi cho chính tôi: sự “bỏ qua” cho nhà “mô phạm” Cung Giũ Nguyên từ đời cá nhân đến đời văn chương–cứ tưởng tượng trường hợp ngược lại của một bà mô phạm kiêm Hiệu Trưởng có con với nam học sinh kém mình tròm trèm 30 tuổi– có phải xuất phát từ một lý do không phải đạo đức cũng không phải văn chương càng không phải luật pháp như ông Long Nguyễn đã điểm danh đầy đủ mà vì… Kỳ thị Nam Nữ? Phải chăng quý ông phạm trường quy thì được tiếp tục ngó lơ, nhưng quý bà thì không?! Mà dẫu có đề cập đến thì có khi vài quý ông càng không lịch sự chút nào như tôi đã chứng minh quá rõ ràng qua trường hợp Lê Ngộ Châu, Võ Phiến và cả Ngô Thế Vinh, một người lẽ ra đã thoát được loại kỳ thị đó vì trẻ tuổi hơn và vì đã chứng kiến sự thành công của 5 nhà văn nữ Miền Nam.
      Đây lại là một vấn đề nữa cũng sẽ “bất phân thắng bại”, nhưng theo ngu ý, những sự kiện đã xấy ra cho một tác giả, dù thuộc phái đẹp hay phái mạnh, nếu đủ quan trọng vì liên quan đến các vấn đề xã hội đã được ghi lại trước tòa án công luận và/hay pháp đình, sẽ rất cần thiết để đánh giá không chỉ tác phẩm mà còn nhất là bản lãnh của người phê bình/nghiên cứu nếu họ chọn viết về tác giả đó. Bởi thế, “mai sau dù có bao giờ” nếu chọn nghiên cứu về Cung Giũ Nguyên, Nguyễn Thị Hoàng, Lê Ngộ Châu, Võ Phiến, Túy Hồng (và cả Ngô Thế Vinh nữa), chắc chắn tôi sẽ không thể… né tránh được các “con ma” đạo đức, văn chương, luật pháp và kỳ thị nam nữ. Dĩ nhiên, đương đầu cùng lúc với nhiều “con ma” thế lực như thế thì đáng sợ thật nhưng hình như ngành nghiên cứu/phê bình không dành cho những người yếu bóng vía.

      • Long Nguyen viết:

        VTHT

        Hóa ra bây giờ tôi mới biết. Chuyện tình trong tiểu thuyết VTHT là chiện có … thiệt. Đọc cái link bài viết của bà Thụy Thuê do nhà văn NTC cung cấp thì biết.

        “Năm 1960, Nguyễn Thị Hoàng vào Sài Gòn học Đại Học Văn Khoa, rồi Luật, được ít lâu bỏ dở, làm thư ký riêng cho một tỷ phú. Năm 1961, bỏ việc, dạy Việt và Anh văn. 1962 lên Đà Lạt, dạy trường trung học Trần Hưng Đạo; tại đây xẩy ra mối tình giữa cô giáo đệ nhất cấp Nguyễn Thị Hoàng và Mai Tiến Thành, học sinh lớp 12, sanh con gái Mai Quỳnh Chi (mẹ của Thành nuôi). Mai Tiến Thành về sau viết cuốn Tiếng nói học trò, do Thụy Vũ đề tựa và Kim Anh xuất bản; sáng tác tập thơ Bi ca và nhục cảm.”(trích, Thụy Khuê – Nguyễn Thị Hoàng người yêu muôn thuở)

        NTH trước đó, năm 1957, cũng đã có một vụ kiện tụng về chuyện tình giữa ông thầy giáo dạy kèm và cô học trò chính là NTH.

        “Tại đây, xẩy ra mối tình với nhà văn, nhà giáo Cung Giũ Nguyên (1909-2008) người dạy thêm Nguyễn Thị Hoàng về Pháp văn tại nhà, gây xôn xao dư luận. Gia đình kiện ông Nguyên tội dụ dỗ gái vị thành niên. Trước toà, người thiếu nữ đứng ra nhận trách nhiệm: không hề bị dụ dỗ, vị giáo sư được trắng án, nàng sinh con gái đặt tên Cung Giũ Nguyên Hoàng, do bà Nguyên nuôi vì bà không có con.” (trích, Thụy Khuê)

        Về vấn đề kỳ thị nam nữ. Theo tôi, rất khó đặt ra trong cả 2 trường hợp nêu trên. Nếu có thể nói, chỉ có thể nói luật thời VNCH đã không tính đến chi tiết “cô gái đã đứng ra nhận trách nhiệm: không hề bị dụ dỗ, vị giáo sư được trắng án,”. Bởi vì, tội dụ dỗ gái vị thành niên chứ không phải tội hiếp dâm hay lường gạt mà cần yếu tố tự nguyện hay không tự nguyện. Người lớn giao cấu với trẻ vị thành niền là đã đủ có tội.

        Và, chuyện thật khác cũng của NTH, lần trước, thì không rõ vì sao gia đình của nạn nhân là em nam sinh lại không thưa cô giáo NTH ? Điều này cũng có thể là sự bất toàn của hệ thống tổ chức xã hội VNCH thời đó. Nạn nhân có thể không thưa nhưng các tổ chức dân cử chính quyền và các hiệp hội dân sự bảo vệ bà mẹ và trẻ em vẫn có thể làm đơn truy tố sự phạm pháp.

        Ngoài ra, có thể người VN thời kỳ VNCH lúc bấy giờ vẫn còn tâm lý “trai năm thê bảy thiếp gái chính chuyên một chồng” mà luật về kỳ thị ở VN dường như còn phôi thai chứ không chi tiết. Cho nên cũng rất khó nói. Có điều, xã hội thời kỳ này tôn trọng pháp luật và khá bình đẳng. Người dân bình đẳng trước pháp luật chứ không ưu tiên cho giai cấp nào. Về phái tính, người phụ nữ thời ấy vẫn có những quyền căn bản chính trị, kinh tế và văn hóa giáo dục. Người phụ nữ sau khi ly dị họ vẫn có quyền và có thể tái giá đàng hoàng.

        Trong thực tế, sự kỳ thị ở Mỹ thường xảy ra tại môi trường làm việc (workplace discrimination) và vay mượn tài chính ngân hàng là nhiều nhất.

@2006-2022 damau.org ♦ Tạp Chí Văn Chương Da Màu
Đăng nhập | Entries (RSS) | Comments (RSS)