Viên Linh, Thủy Mộ Quan
Thời Tập tái bản, tranh bìa Đinh Cường, California, 1992
Sau tác giả Viên Linh, bốn độc giả khác biệt từ tuổi tác, hoàn cảnh xuất phát tới sinh hoạt văn nghệ — Huỳnh Kim Quang, Tuệ Sỹ, Huỳnh Hữu Ủy và Nguyễn Tà Cúc — sẽ có nhận xét được trích dẫn lần lượt theo đây.
2.1 Huỳnh Kim Quang: Cầu chúc nhà thơ Viên Linh thong dong vào cửa Vô Môn Quan
Đây là một trong mấy bài tưởng niệm sớm nhất mà tôi được đọc:
Hồn còn tầm tã mưa rơi
Tháng Tư máu chảy một trời sương tan.
Đó là hai câu thơ trong bài “Gọi Hồn” được in trong tập thơ Thủy Mộ Quan của nhà thơ Viên Linh, người vừa từ giã cõi mộng đi về chốn vĩnh hằng hôm 28 tháng 3 năm 2024 tại Tiểu bang Virginia, Hoa Kỳ, hưởng thọ 86 tuổi. Nhà thơ Viên Linh ra đi trong Tháng Ba, nhưng tang lễ của ông diễn ra trong Tháng Tư. Ừ nhỉ, Tháng Tư! Bây giờ đã bước vào Tháng Tư. Tháng Tư đối với người Việt Nam chứa đầy ký ức thương đau! Đất nước thay ngôi đổi chủ. Hàng hàng lớp lớp người bị đẩy vào các ngục tù khổ sai trên khắp nước. Hàng triệu người bị đuổi khỏi nhà cửa vườn tược để đi tới những “vùng kinh tế mới” xa xôi, lạ hoắc, những nơi “khỉ ho cò gáy.” Hàng trăm ngàn người bỏ nước ra đi, lên núi, xuống biển để tìm lẽ sống trong cái chết bi hùng! Đúng như nhà thơ Viên Linh đã viết, “Tháng tư máu chảy một trời sương tan.” (…) Để tưởng niệm nhà thơ Viên Linh trong Tháng Tư lịch sử biến động của đất nước bốn mươi chín năm trước, xin đọc lại vài bài trong tập thơ Thủy Mộ Quan của ông, đã được Thời Tập xuất bản năm 1982 tại Virginia, Hoa Kỳ. Nhưng trước hết hãy nói sơ qua về Thủy Mộ Quan (…) Tháng Tư mới chỉ là “đầu mùa máu tuôn,” bởi vì những năm tháng sau đó đất nước chìm sâu trong ngục tù, đói khát, lầm than và đau đớn, mà làn sóng vượt biên, vượt biển ra đi tìm tự do của hàng triệu người Việt là minh chứng. Trong làn sóng vượt biển đó, có hàng trăm ngàn người Việt đã vùi thây dưới lòng đại dương. Bài Gọi Hồn trong phần Thủy Mộ Quan của nhà thơ Viên Linh được viết vào năm 1981 để “tưởng nhớ những oan hồn uổng tử trên Biển Đông.” Bài thơ gồm hai phần: những đoạn đầu là thi điếu cho những oan hồn uổng tử và những đoạn sau nói lên ước nguyện có một ngày những người con của Lạc Long và Âu Cơ gặp lại nhau trên cố hương để cùng xây dựng lại cơ đồ. Bài thơ khá dài nên xin chép đăng phần đầu như lời chiêu niệm “Tháng Tư máu chảy một trời sương tan.” (…)
Trong rêu xanh ngần ngật bóng sơn hà
Lướt hải phận về dưới trời cố quốc.
Nhắm hướng hôi tanh
Chia bày trận mạc
Hồn binh tàn hỗn chiến Thủy Môn Quan.
Đêm rơi thời hết vận tàn
Ô y cầu nhỏ người sang Lạc Hà
Thác rồi thân hóa phù sa
Mon men trở lại quê nhà mỗi đêm.
Về đâu đêm tối
Hương lửa lung linh
Những ai còn bóng
Những ai mất hình?
Những ai vào kiếp phù sinh
Hóa thân hồ hải làm binh giặc trời
Khi nào hết quỉ ngoài khơi
Ta vào lục địa ta hồi cố hương…
Bốn mươi ba năm sau đọc lại vẫn có cảm giác nghẹn ngào vì những ký ức đau thương của một thời tao loạn đã bùng dậy. Lời thơ bi ai, tuyệt vọng như tâm trạng của những oan hồn uổng tử bơ vơ, lạc lõng giữa trời biển bao la! Tưởng niệm Tháng Tư, xin thành tâm cầu nguyện cho những vong linh được siêu thoát. Cầu chúc nhà thơ Viên Linh thong dong vào cửa Vô Môn Quan…[Huỳnh Kim Quang, “Tháng Tư, Đọc ‘Thủy Mộ Quan’ Của Nhà Thơ Viên Linh (1938-2024)”, ngày 4.5.2024, Việt Báo Foundation- https://vietbao.com/a318684/thang-tu-doc-thuy-mo-quan-cua-nha-tho-vien-linh-1938-2024- ]
Nếu nhà phê bình/dịch giả Huỳnh Kim Quang tưởng nhớ Thủy Mộ Quan sau khi tác giả qua đời, Hòa thượng /nhà thơ Tuệ Sỹ và nhà phê bình/nhà thơ Huỳnh Hữu Ủy, hai người đã quen thuộc với Viên Linh từ thời Văn Học Miền Nam, có lẽ là hai trong vài người nhận định về trường thi này sớm nhất một cách kỹ lưỡng khi tác giả còn tại thế.
2.2 Tuệ Sĩ, Tôi chẳng được phép nói gì cả/ Vẫn được chỉ định phải đứng bên lề xã hội
Tuệ Sỹ không chỉ là một học giả chân tu danh tiếng về những công trình nghiên cứu Phật Giáo.
Trung A-Hàm, Tuệ Sỹ dịch và chú,
Hương Tích-Tủ sách Triết học & Văn học Phật giáo &
Tiểu Tạng Thanh Vân & Nhà Xuất bản Phương Đông ấn hành, Việt Nam, 2009
Ông phản kháng chế độ tiêu diệt tự do, trí thức của Chính quyền Cộng Sản. Họ bắt giam và kết án ông cùng Trí Siêu (Lê Mạnh Thát), Thích Nữ Trí Hải (dịch giả Phùng Khánh) và 18 người nữa về tội “hoạt động nhắm lật đổ chính quyền nhân dân” vào ngày 28. 9.1988 theo tin trên tờ Sài Gòn Giải phóng số 4109, tháng 9.1988. Tôi xin mạn phép nhiếp ảnh gia và tổ chức Amnesty International được trưng bức ảnh từ Viet Nam: “Renovation” (doi moi), the Law and Human Rights in the 1980s, trang 29, ấn hành vào tháng giêng, 1990. Vào tháng 5. 1989, một phái đoàn tới Việt Nam với mục đích quan sát tình trạng nhân quyền sau thời gian vẫn được mệnh danh “Đổi Mới”. Họ đã trình bày sự quan tâm sau khi ghi nhận chính sách tiếp tục đàn áp nhân quyền tại Việt Nam đặc biệt dành cho giới cầm bút, tu sĩ mọi tôn giáo, cựu quân nhân, nhân viên của chính phủ VNCH và, đáng lo lắng hơn, sự bắt giữ không ngày xét xử với hệ thống luật pháp hoàn toàn trong tay chính phủ.
Tuệ Sỹ (đứng), Trí Siêu (ngồi, bên trái hàng đầu) và nhóm Phật Tử bị xét xử tại Tòa Án Nhân Dân, TP Hồ Chí Minh (Sài gòn), 9.1988
Tôi có dịp quen biết và phỏng vấn Tuệ Sỹ khi ông bị cáo buộc tàn tệ tại hải ngoại. Nhà thơ Vĩnh Hảo vận động được 163 văn nghệ sĩ hải ngoại ký vào “Bản lên tiếng của văn nghệ sĩ tự do về trường hợp nhà thơ Tuệ Sỹ”:
-…chúng tôi, những văn nghệ sĩ tự do, hết sức bất bình trước những thông tin có tính cách hàm hồ, võ đoán, từ một số báo chí, điện tử thư, diễn đàn tin tức liên mạng chính trị hay tôn giáo, qua đó, các tác giả hữu danh hoặc nặc danh, đã kết án, cáo buộc, xuyên tạc, nhục mạ văn hữu của chúng tôi là Tuệ Sỹ với những tội danh hoặc phẩm chất xấu một cách vu vơ không bằng chứng. Một trong những cáo buộc tâm điểm của chiến dịch vu khống xuyên tạc này cho rằng Tuệ Sỹ thỏa hiệp hoặc đi theo cộng sản, trong khi chính Tuệ Sỹ từng là một người cầm bút bất khuất, kiên cường cất lên tiếng nói của lương tâm để chống lại sự bạo ngược bất công của chế độ cộng sản, đến nỗi phải nhận bản án tử hình; rồi nhờ sự can thiệp của các cơ quan tôn giáo, nhân quyền cũng như văn nghệ sĩ khắp thế giới, bản án này đã được giảm xuống thành chung thân khổ sai và cuối cùng, thành án tù hai mươi năm (…) Với nhận thức trên, và trong tư cách là những văn nghệ sĩ tự do, chúng tôi đồng ký tên dưới đây, yêu cầu hãy chấm dứt ngay các phát ngôn triệt hạ uy tín cá nhân, xúc phạm phẩm giá nhắm vào Tuệ Sỹ mà không có những bằng chứng cụ thể và khả tín. Chúng tôi luôn cổ xúy cho quyền tự do ngôn luận và báo chí nhưng đồng thời cũng cực lực phản đối các hành vi chà đạp nhân phẩm và vô trách nhiệm khi thực thi quyền tự do ngôn luận và báo chí ấy. [Vĩnh Hảo, “Hải ngoại ngày 26 tháng 10 năm 2007”, sđd, https://www.vinhhao.info/Tapghi/Ban%20len%20tieng%20ve%20truong%20hop%20nha%20tho%20Tue%20Sy.htm]
Qua những câu trả lời khi phỏng vấn Tuệ Sỹ, sau này biến thành một cuộc trao đổi riêng về tình hình trong và ngoài nước, tôi được lời khuyên: sự phân hóa là lẽ thường nhưng cần bao dung. Tôi dư hiểu: Với những kẻ còn đầy sân si ấy, biết đánh đàn piano như ông cũng là 1 cái tội, huống chi còn dám làm thơ viết văn! Sau đó, Tuệ Sỹ gửi cho tôi kinh Phật xuất bản trước 1975, một số tác phẩm của Viện Đại học Vạn Hạnh cùng nhiều tác phẩm khác của chính ông. Mười lăm năm sau cuộc triệt hạ rất thâm độc ấy, Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ vẫn trở thành Chánh Thư Ký kiêm Xử Lý Thường Vụ Viện Tăng Thống GHPGVNTN vào năm 2022, chính thức kế thừa Hòa Thượng Trưởng lão Thích Quảng Độ. Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ (thế danh Phạm Văn Thương, sinh ngày 5.4.1945 tại tỉnh Paksé, Lào) viên tịch ngày 24 tháng 11 năm 2023 rồi linh cốt được hải táng ngày 11 tháng giêng năm 2024 tại biển Vũng Tầu.
Tuệ Sỹ viết hẳn một bài nhận xét về Thủy Mộ Quan. Bài “Thuyền ngược bến không” xuất hiện trên nhiều trang mạng, nhưng bản kèm đây do tôi soát lại theo nguyên bản—kể cả cách ngắt câu hay sang đoạn, cách viết ngả hay không ngả–đã đăng trên Khởi Hành (Số 99-100) nên có thể xem là chính xác nhất. Thủy Mộ Quan gồm 3 tập: “Thủy Mộ Quan”; thơ trong năm 1981 và năm 1982; “Ngoại vực” gồm thơ sau tháng 4. 1975 và “Dư Tập” gồm thơ thu thập được trên các tạp chí cũ trước 1975. Thế nên, tôi cũng đã thêm vào chú thích các số trang và số tập theo mục lục này cho rõ ràng hơn. Tuệ Sỹ, có truyện ngắn và thơ đăng trên tạp chí Miền Nam ngoài sở trường về Phật giáo, nên cảm tưởng của ông tượng trưng nỗi lòng người cầm bút và một vị tăng bị loại khỏi văn chương và xã hội, thậm chí bị giam giữ, theo mệnh lệnh của nhà cầm quyền. Nếu Thủy Mộ Quan lấp lánh huyền sử và thủy sử chia lìa theo một người ra đi thì “Thuyền ngược bến không” lặng lẽ trôi vào nội tâm của chứng nhân kiêm tù nhân ở lại.
Tuệ Sỹ đang kể chuyện cổ tích của chính ông qua một cửa ngục cũng của chính ông:
Dưới hiên mưa vắng hồn khua nước
Thả chiếc thuyền con ngược bến không (Viên Linh, Thủy Mộ Quan)
Tôi sinh ra thì Thế chiến II đang hồi kết thúc. Lớn lên chút nữa, khi biết nghe và hiểu, những chuyện vãn người lớn về việc đánh nhau đâu đó, lúc nào đó, bao giờ cũng hấp dẫn như chuyện cổ tích. Mà hình như đó lại là những chuyện mà tuổi con nít của tôi được nghe nhiều hơn là chuyện cổ tích.
Trong gia đình tôi, thỉnh thoảng thấy vắng đi một người lớn. Rồi lại nghe những câu chuyện thì thầm. Mấy chú, mấy anh lớn, đã từng ẵm bồng tôi, bỗng chốc họ trở thành nhân vật trong truyện cổ tích. Cách mà người lớn kể chuyện, lại làm cho không khí của chuyện cổ tích ấy càng trở thành huyền bí.
Cho đến khi lai rai đọc được tiếng nước ngoài, chuyện kể về chiến tranh bỗng thành hoài niệm, hay chỉ hình như là hoài niệm thôi, vì đấy là quá khứ mà mình không thấy, không nghe. Có điều, hoài niệm ấy không làm sao mờ đi được. Vì nó đã trộn lẫn quá khứ với hiện tại. Quá khứ ấy, khi chợt biết, nó đã có quá nhiều mất mát. Vì những người đã đi, chưa thấy ai trở lại. Rồi cả những người cùng trang lứa cũng lần lượt ra đi. Mình thì may mắn được ở lại. Nhìn quanh, bảng đen, lớp học, sân trường. Sự sống vẫn băng băng lôi người đi tới, với những cạnh tranh vất vả.
Chiến tranh, thù hận, và đâu đó, từ sâu thẳm của khát khao, tình yêu và sự chết là nỗi ám ảnh, và như chất liệu cho ý thức sinh tồn.
Có một cõi thi ca riêng biệt như vậy.
Dành cho những tâm hồn nhạy cảm.
Nhìn con chim giãy chết trong tranh mà ngơ ngẩn, bàng hoàng. Nhưng ngôn ngữ của nó cũng biến hình. Tình yêu, thất vọng, đam mê, như những con sóng nồng nhiệt trên mặt nước, mà dưới đáy sâu ai biết ẩn chứa những gì.
Nước xa cuồn cuộn ra khơi
Sâu trong tâm thể có đôi giọt gần…
(Thủy mộ quan– “Dư Tập”, trang 136)
Những câu thơ như vậy thật hiếm hoi cho một đời bận rộn. Không bận rộn sao được, khi quanh mình những bạn bè trang lứa lần lượt ra đi. Một số người vượt suối, vô rừng. Đi theo tiếng gọi của hận thù, máu lửa, trong trái tim đang bốc cháy bởi chủ nghĩa anh hùng. Để lại cho thành phố khúc hát “Người đã đi, đi trên non cao…” Một số khác ra đi, để lại tiếng khóc nghẹn ngào, điên loạn: “Ngày mai đi nhận xác chồng. Say đi để thấy mình không là mình.”
Tình yêu, thù hận, bỗng trở thành mâu thuẫn biện chứng.
Mấy chục năm sau, một thế hệ đang lớn, như nắng trưa xích đạo che lu ánh đuốc quá khứ lập lòe của mình; thỉnh thoảng tôi đi tìm lại một vài câu thơ đâu đó, mà cũng không dễ gì tìm được, để cho hoài niệm quay lại một thời, trong đó mình đã sống, đã suy nghĩ, ưu phiền, và cả đến những dại dột ngông cuồng của tuổi trẻ. Trong tình trạng mà người cũ lánh xa, vì hiểm nguy rình rập mơ hồ, thì chuyện biển rộng sông dài chỉ có trong tranh, và trong trí nhớ.
Lại vẫn điệp khúc hoài niệm bâng quơ.
Tôi không đoán được bạn trẻ yêu thơ ngày nay, nếu tình cờ đọc được bốn câu thơ dưới đây sẽ gợi lên ấn tượng gì. Nhưng người đã sinh ra và lớn lên trong chiến tranh, mà tình yêu và thù hận là những xung đột, khắc khoải trong lòng, những câu thơ ấy gợi nhớ một thời, hay đúng hơn là một ấn tượng, có thể thoáng qua chốc lát:
Chiều về trên một nhánh sông
Bên tôi con nước đỏ lòng quanh co
Nước loang dưới đáy trời dò
Buồn tôi thánh thót trên lò nhân sinh…
(Thủy Mộ Quan-Dư Tập, trang 168)
Đó là một chút hơi thở tàn sinh, như bóng nắng là đà trên mặt nước, không có những trầm mặc thăm thẳm trong lòng đại dương. Một nhúm cỏ xanh nhởn nhơ trên cánh đồng khô cháy. Nhưng ai có thể phê bình nhúm cỏ vô tình? Ấn tượng của một người đọc thơ từ trong hủy diệt bạo tàn của chiến tranh là như thế.
Rồi đất nước hòa bình, dân tộc đang trở mình từ trong khói lửa, để cho hận thù hóa thân thành tình yêu. Và cũng là lúc bắt đầu một thế hệ cầm bút bị khước từ. Vì đã không thể nhận thức tình yêu theo định nghĩa của biện chứng. Trong đó, tình yêu chỉ có thể trưởng thành bằng hận thù và hủy diệt. “Máu của người đem lại tình thương.”
Ngồi trên đỉnh đồi Trại Thủy, giữa thành phố Nha Trang, nhìn xuống bên dưới, từ trong làng kéo ra một đoàn thiếu nhi Tiểu học, hô vang khẩu hiệu chào mừng cách mạng, đả đảo văn hóa giáo dục phản động, đồi trụy. Tôi biết mình đang bị chối bỏ. Và bị chối bỏ thật. Từ chỗ là thành phần ăn bám, rồi trở thành phần tử nguy hiểm, và được liệt xuống hàng cặn bã xã hội, tạm tha tội chết để được ân huệ khoan hồng sống hết kiếp sống thừa. Lại một lần nữa, những người cũ của tôi theo nhau lần lượt ra đi.
Thời chiến tranh, một lớp bạn lên rừng.
Thời hòa bình, một lớp bạn xuống biển.
Dân tộc chợt quay trở lại với huyền thoại mở nước.
Những người con theo Mẹ, đã có lúc khinh ghét anh em mình, bỏ lên rừng. Một thời gian sau, những người con theo Mẹ lên rừng nay quay trở về đô thị. Lại những người anh em khác sợ hãi, vội bỏ trốn theo, tìm về biển:
Vua gặp Âu Cơ lúc thủy du
Cùng nàng rung động nước thiên thu
Duyên tan nàng bắt con về núi
Những đứa theo cha khổ đến giờ.
(Thủy Mộ Quan– Thủy Mộ Quan, Đoạn 118, trang 52)
Ba chục năm, một nửa theo Cha, một nửa theo Mẹ. Nhưng huyền thoại của nhà thơ này vẫn còn quên một số anh em trở thành côi cút. Cha thì ở đâu không thấy, mà tự thân thì bị ruồng rẫy bởi chính anh em mình ngay trên đất Mẹ. Không Cha, cũng không Mẹ, ta đi tìm dấu tích Trường sơn, Quê người trên đỉnh Trường sơn/ Cho ta gởi một nỗi hờn thiên thu. (Thơ Tuệ Sỹ).
Tôi không nói đến hận thù. Nhưng một nỗi oan khiên nào đó, khiến cho lời nói của mình như trong cơn mê sảng. Bạn cũ ở quanh đây thôi, vẫn gần như những ngày nào, một thời buồn vui. Có lẽ bạn cũ ngại ngùng, ngại nghe những điều được giả thiết là tôi sẽ nói.
Thật sự, tôi chẳng được phép nói gì cả.
Vẫn được chỉ định phải đứng bên lề xã hội đang hội nhập văn minh. Còn những bạn khác, hãy gọi là cố nhân, bây giờ mỗi kẻ một phương trời. Tôi chẳng biết họ đang làm gì, đang nghĩ gì. Mỗi người một phong cách, trong một thế giới mở rộng, đa văn hóa. Tôi nghe nói như vậy.
Dù ở phương này hay phương kia, dù có hay không có hai trận tuyến văn chương cùng chung loại hình ngôn ngữ của Mẹ, vẫn còn hàng vạn nắm xương dưới lòng biển:
Lưu vực điêu tàn ở Biển Đông
Xương bầy như thú cháy rừng hoang
Nhưng rừng không cháy nào đâu thú
Người chết thân chìm Thủy Mộ Quan.
(Thủy Mộ Quan-Thủy Mộ Quan, đoạn 76, trang 38)
Hận thù có thể xóa được dễ dàng thôi, nhưng u uẩn của những hồn oan đáy biển vẫn ám ảnh tâm tư. Người sống vẫn mang mãi ân tình của người đã chết, dù trên rừng hay dưới biển, vì oan nghiệt riêng tư hay vì tình chung dân tộc.
Xưa Nguyễn Du đã làm Văn tế thập loại chúng sinh; không chỉ là món nợ văn chương cho người đã chết, mà đó còn là tình tự thiết tha từ cõi chết vọng về. Tôi đọc bài “Gọi hồn” trong Thủy Mộ Quan cũng với tâm trạng tương tợ:
Trên Huyết Hải thuyền trôi về một chiếc
Chiều bầm đen trời rực rỡ đau thương
Thân chìm xuống băng tuyền giờ tận biệt
Sóng bạc đầu hối hả phủ trùng dương.
(Thủy Mộ Quan-Thủy Mộ Quan, “Gọi Hồn”, trang 70)
Trong rêu xanh ngần ngật bóng sơn hà
Lướt hải phận về dưới trời cố quốc.
(Thủy Mộ Quan-Thủy Mộ Quan, “Gọi Hồn”, trang 72)
Bài thơ không mang tiết nhịp gây cảm xúc bàng hoàng tức khắc, nhưng những ấn tượng rải rác trong cả tập Thủy Mộ Quan làm cho bài thơ phảng phất nỗi kinh sợ, rùng mình:
Trinh nữ trầm oan nổi giữa dòng
Thân băng ngàn hải lý về sông
Chỉ cá trùng dương theo hộ tang.
(Thủy Mộ Quan-Thủy Mộ Quan, đoạn 29, trang 22)
Dù sao thì đất nước cũng đang hồi sinh. Những người ra đi, lần lượt kéo nhau về. Ấy thế, hờn giận giữa anh em vẫn còn là vết thương nhức nhối. Văn chương bây giờ vẫn là một lựa chọn, hoặc một nhân cách. Thi ngôn chí. Thiên cổ văn chương thiên địa tâm. Trong tận đáy sâu tâm khảm, mỗi nhà thơ vẫn chung một tình tự nghìn đời, dù biểu hiện có hận thù cay nghiệt. Tôi mong được như lời Viên Linh nói:
Sinh ở đâu mà giạt bốn phương
Trăm con cười nói tiếng trăm giòng
Ngày mai nếu trở về quê cũ
Hy vọng ta còn tiếng khóc chung.
(Thủy Mộ Quan, Thủy Mộ Quan, đoạn 78, trang 38)
[Tuệ Sỹ, “Thuyền ngược bến không”-Sài gòn, đông 2004, Khởi Hành số 99-100, trang 21-23, Tháng giêng & 2. 2005]
Khác với Tuệ Sỹ và Viên Linh, Huỳnh Hữu Ủy đã ở lại Miền Nam rồi đã nhập Hoa Kỳ.
2.3 Huỳnh Hữu Ủy, Thơ của một thời điêu tàn chưa từng thấy
Huỳnh Hữu Ủy, giọng Huế mạnh mẽ, trầm tư một nỗi dịu dàng. Thỉnh thoảng tôi được hân hạnh gặp ông ghé thăm Viên Linh tại tòa soạn, dung mạo luôn điển nhã, bàn luận luôn tề chỉnh Nên câu tuyệt diệu ngụ trong tính tình.
Nhà thơ/nhà phê bình Huỳnh Hữu Ủy
Tài liệu của nhà thơ Nguyễn Quốc Thái, Sài gòn
Nỗi niềm dịu dàng ấy có lẽ phát sinh từ nỗi trắc ẩn dành cho nhân thế; hết sức tương phản với lối dịu dàng của Trịnh Công Sơn hay Mai Thảo, theo sự quan sát của tôi, là của một người đàn ông dành cho một cô em dù người tình dù người quen. Tôi đón đọc trước tác của Huỳnh Hữu Ủy không chỉ vì vốn sở đắc của ông, mà vì tình cờ bắt gặp nỗi trắc ẩn ấy từ một bài viết cách đây trên dưới 15 năm. Hồi đó, cần phỏng vấn Tuệ Sỹ, tôi phải lục lại bộ Khởi Hành cũ nên tìm ra vài bài của Huỳnh Hữu Ủy. Tôi giữ bài “Tu sĩ, Thi sĩ và Gái Giang Hồ” cùng mối cảm hoài mỗi lần nghĩ tới ông:
-MỘT người bạn tôi, trong đời anh ấy, anh chỉ chọn hai hạng người để kết bạn chí tình, là những tu sĩ và những cô gái giang hồ. Tôi đã phần nào hiểu được tại sao lại có sự lựa chọn ấy, tôi tưởng rằng anh ấy nghĩ, có lẽ, chỉ hai hạng người ấy mới thấm cảm được một cách cùng tận đâu là những giòng sông cuồng nhiệt, nồng nàn mà thê lương đang trôi chảy trên trái đất ấm áp và lạnh lẽo này. (…) NHỮNG tu sĩ, những cô gái giang hồ, đối với tôi là những thi sĩ, nghĩa là những tâm hồn giáp mặt với tiếng nói bí ẩn nào đó, một thứ sấm ký như sấm ký nơi đền thờ của thành Delphes gửi đến một đạo gia trước thời tây lịch. Và từ đó là những bước chân hùng vĩ trầm thống trên đường hành hương mãi hoài, trùng nhịp với những dấu chân, của định mệnh. Chỉ những nghệ sĩ, những đạo gia và những cô gái giang hồ là suốt một đời bước đi trong tiếng gọi kỳ lạ ấy, có thể đầy oan khiên, cay nghiệt thê lương, trắc trở và phong trần…. [Huỳnh Hữu Ủy, “Tu sĩ, Thi sĩ và Gái Giang Hồ”, Khởi Hành, Số 114, trang 8-Ngày 22.7.1971, Sài Gòn * Chữ viết hoa là của nguyên bản.]
Trong đời, chúng ta đã có lần gặp một cô giang hồ, nhưng mấy người chạnh lòng nghĩ đến phận ai tan tác? Lòng trắc ẩn khiến ông nhìn thấu một tác phẩm trước khi vận dụng kiến thức và sáng tạo từ ngữ hầu thích hợp với đối tượng phê bình. Kiến thức của ông–gồm văn học, hội họa, mỹ thuật, mỹ thuật dân gian và sử học vv. –rất vững, rất rộng. Chữ của ông như một chiếc thuyền trôi trên giòng sông văn chương hoặc mỹ thuật, cắm neo dừng qua tác phẩm, hiện thân của những kinh thành chói lọi bình minh sáng tạo, đêm thâu tưởng nhớ quá khứ không trở lại. Những kinh thành tồn tại mãi. Ông xem Thủy Mộ Quan như “Thơ của một thời điêu tàn chưa từng thấy” trong một chương đã đăng trong Mấy chân dung văn nghệ hiện đại. Tôi giữ nguyên bản các đoạn dưới đây như đã xuất hiện trong bản của Văn Mới (2013):
– Lưu lạc đất khách và phải nhập vào cuộc sống mới để tồn tại, nhưng trái tim người lưu vong vẫn đập nhịp thổn thức với quê nhà. Nên khi những đợt người ngày càng nhiều, tiếp tục ra đi trên những chiếc thuyền mong manh, thách thức với mọi nỗi gian truân, thách thức với định mệnh, giữa cái sống cái chết chỉ còn là một sợi tơ mong manh, biển cả thực là bất nhân và con người cũng thực là bất nhân, thì lúc bấy giờ người lưu vong ấy, người thơ ấy, càng là người nhạy cảm nhất để sống với nỗi đau thương vô cùng tận đó. Anh gõ cửa trái tim mà hỏi lại nhiều điều. không còn là riêng tư nữa, mà đã là nỗi đau chung, là cộng nghiệp, là tan nát và đau thương. Biển Đông trở thành nấm mồ vĩ đại của đồng bào anh, những cảnh tượng bạc ác xẩy ra hàng ngày ngoài biển chấn động cả trời đất, đụng vào nỗi thương cảm sâu xa nhất nơi lương tâm con người. Đó là thời kỳ anh phải dồn hết tất cả sức lực để cô đúc chữ nghĩa, nhà thơ làm nhân chứng của một thời tàn khốc.
Khổ đau chồng chất như núi, những kiếp người trầm luân giữa cảnh tử sinh. Khổ đau đúc kết thành nghệ thuật, trái đau khổ chín đỏ trên cây nghệ thuật xanh tươi. Dù để nói về sự đau khổ đã lên đến tận mấy tầng trời, người thơ cũng phải vận dụng kỹ thuật và những qui luật của thơ. Vậy nên, viết về cái đau thương thì cũng phải viết thành lời đẹp đẽ, trau chuốt, có như thế mới làm thành văn chương, mới cảm được lòng người. Đó là thời Viên Linh viết những vần thơ trác tuyệt nhị thập bát tú, tên gọi của Vũ Hoàng Chương để chỉ thể thơ 7 chữ, viết trong 4 dòng. Thể thơ này đòi hỏi sự tinh luyện, cô đọng và hàm chứa. Từ thể thất ngôn, Vũ Hoàng Chương chỉ dừng lại ở bốn câu mà dựng nên bầu trời thơ với những cụm 28 vì sao lấp lánh. Tiếp tay Vũ Hoàng Chương là Viên Linh, đặc biệt với Thủy Mộ Quan, để gửi thêm vào bầu trời của thi bá họ Vũ những chùm sao kỳ lạ lấp lánh. Có lẽ cũng nên nhân đây, nhắc thêm một người khác nữa là Mai Thảo, với Ta thấy hình ta những miếu đền (12). Mai Thảo tiếp bước theo Vũ Hoàng Chương và Viên Linh để mở rộng chân trời nhị thập bát tú đến một cõi định hình, thành giòng nhị thập bát tú cuối thế kỷ XX.
Trong bối cảnh như vậy để hoàn tất Thủy Mộ Quan với 171 bài thất ngôn tứ tuyệt và một bài kết thúc sau cùng là Gọi Hồn theo thể tự do, Viên Linh đã phải đi ngược lại lịch sử, tìm về lại nơi những trang sách xưa, đặc biệt là huyền sử và thời sơ sử để phần nào, tự trong vô thức, như một giải thích về cái nghiệp hiện nay, về những cảnh tượng đang xẩy ra, cùng lúc nhà thơ ghi nhận về những điều đang là thảm kịch. Như nhà nghiên cứu và nhận định văn học Trần Văn Nam đã tóm lược trong một cái nhìn tổng thể: “Thủy Mộ Quan của Viên Linh là những cảm hứng về biển Đông huyền ảo có giải đất rất huyền sử, rất đẹp dù suốt tập thơ là bóng tối của đáy vực Thái Bình Dương, là một Thủy Mộ bao la của người Việt ra đi bằng vượt biển.” (13)
Viên Linh đọc lại và suy gẫm những Lĩnh Nam Chích Quái, Việt Điện U Linh Tập, Tang Thương Ngẫu Lục, Vân Đài Loại Ngữ, Vũ Trung Tùy Bút, rất đặc biệt là bộ sử quý An Nam Chí Lược và vô số tài liệu khác. Quá khứ xa xăm và hiện tại trước mắt nhập lại thành một, điều này sẽ đưa tới một kết quả như Lê Huy Oanh từng nhận xét: “Thủy Mộ Quan gồm hai sắc diện của Biển Đông, một sắc diện phiếu diễu mơ màng thắm tươi rực rỡ, nơi phát sinh và diễn tiến nhiều ngàn năm văn hiến của dân tộc Việt-Nam, đối tượng của một lịch sử vừa êm đẹp vừa oai hùng; sắc diện khác của nó, sắc diện mới, là một cảnh ghê sợ của các thuyền nhân, trên đường vượt biên đi tìm tự do.” (14)
Ngay ở bài thơ đầu tiên của Thủy Mộ Quan, người đọc đã được dẫn vào một cõi trời nước mênh mông, trầm lặng, tĩnh mịch, mới trông thì có vẻ mộng ảo, nhưng nhìn xoáy vào thì sẽ thấy chứa đầy những nỗi hiểm nguy khôn lường. Giữa lòng đêm tối, quê nhà chỉ còn là một điểm đen mờ xa, và con đường đi tới sẽ là oan khiên, trầm luân, sẽ chồng chất mãi để chỉ còn những tiếng ma vang vọng dội lên. Kinh nghiệm và nỗi ám ảnh sâu thẳm nhất ở Viên Linh là bóng dáng Cúc Hoa, một hình ảnh ma, thì ngày nay trước nấm mồ bao la dưới đáy biển, sẽ càng như là một vùng màu mỡ vô hạn cho Viên Linh thuận tiện gieo trồng, đi tìm lại, hay khám phá cái cõi yêu ma địa phủ ấy, anh muốn đi qua mấy tầng địa ngục như Dante của thế kỷ XIII-XIV trước đây. Mặc dù cũng từng đã có Đinh Hùng với Bài thơ chiêu niệm, với Mê hồn ca, xa hơn nữa với Văn Tế Tướng Sĩ rằm tháng bảy hay Văn Tế Thập loại chúng sinh, chúng ta cũng dễ nhận ra rằng Viên Linh đã dựng nên một thế giới ma rất lạ của riêng anh. Tuy thế, ở đấy, vẫn có một cái gì luôn nối vào cuộc sống thực, như một hình ảnh thân yêu cũ, một quê nhà đã mất. Thủy Mộ Quan được đánh số từ 1 đến 171, chúng ta thử đọc lại vài bài, số 1, 3, 125, 129, 139, và 160.
1.
Một biển trôi xa nghìn đảo lặn
Trời mây vần vũ thủy mang mang
Xung quanh màu bạc, trong lòng tối
Điểm cuối quê nhà, một góc đen.
3.
Nằm mộng đêm nay vào Hỏa Ngục
Kiếm người oan thác đã trầm xanh
Dưới hiên mưa vắng hồn khua nước
Thả chiếc thuyền con ngược bến không.
125.
Ngần ngại tìm em lúc cuối năm
Xuân sang le lói ý đèn nhang
Nửa đêm trừ tịch sầu ma quỉ
Năm cũ còn chong đuốc trước thềm.
129.
Đến cầu ao cũ ngắt rau xanh
Nhìn ngược hình dung đến hoảng kinh
Vẫn tưởng Quê Nhà tìm lại được
Quê Nhà đã mất lúc u minh.
139.
Từ đáy sâu trầm giạt tiếng chuông
Gọi người dương thế giúp âm công
Gọi ma bốn biển về chung sức
Gom góp san hô dựng giáo đường.
160.
Quê ta trầm thống nỗi đau dài
Xum họp chiều hôm biệt sớm mai
Đáy nước chia lìa sơn cốc tận
Miếu đường chuông đổ mộ hồn ai.
Chỉ với mấy bài thơ trên, chúng ta cũng đã thống kê được một số chữ đặc biệt về ma quỉ và địa ngục, để thấy cánh cửa mở vào và con đường dẫn qua Thủy Mộ Quan sẽ như thế nào: Hoả ngục, oan thác, trầm xanh, hồn khua nước, ý đèn nhang, sầu ma quỉ, u minh, âm công, ma bốn biển, mộ hồn ai. Có thể nói đó là ánh sáng huyền ảo toát ra từ thi phẩm Thủy Mộ Quan, một kết tinh đặc biệt của tâm hồn nhà thơ và thời đại bất thường với tiếng kêu than u uất của ma quỉ ngập đầy ngoài biển Đông. Tôi bỗng nhớ đến Vương Ngư Dương, cũng với bài thơ chỉ có hai mươi tám từ đề từ cho bộ sách vĩ đại của Bồ Tùng Linh, mà hai câu sau: Liệu ưng yếm tác nhân gian ngữ / Ái thính thu phần quỉ xướng thi đã được Lê Đạt chuyển dịch sang Việt ngữ cực kỳ thần tình:
Ngôn ngữ nhân gian chừng đã chán
Thèm nghe mộ vắng quỉ bình thơ.
Nói chuyện ma của Vương Ngư Dương có cái gì mạnh mẽ, quỉ quái, và ngang ngược. Ở Viên Linh thì khác, thơ mộng và thần bí. Đúng là mỗi cảnh đời một khác, mỗi hồn người là một chỗ riêng tư.
Thủy Mộ Quan xây dựng tập trung trên bối cảnh Biển Đông nhưng đề cập đến nhiều vấn đề, nhiều góc cạnh, từ huyền sử, lịch sử, đến xã hội, văn hoá, tâm lý, văn học… Chúng ta hãy nói đến một trong những khía cạnh đó. Vì thể thơ nhị thập bát tú, cũng như thơ hài cú của Nhật Bản, hết sức là cô đọng nên đòi hỏi người viết phải vận dụng bút lực, rất khổ công, bài thơ ít chữ mà nói nhiều, tế nhị và hàm súc, có thể đạt đến những điều mênh mông đến không cùng. Nhị thập bát tú có nhiều lúc gần với kệ của các bậc đại tăng, như một công án thiền, hay ngay cả với sấm ký, cũng có lúc gần như một bài minh, bài trâm, hay bài tán (15). Thủy Mộ Quan cũng vậy, có một số bài gần với không khí ấy, đáng kể là thành công. Hãy đọc thử lại vài bài.
55.
Xuân nào lụt lội khắp trung châu
Nước rút đầm hoang Phật xuất đầu
Phật nổi từ xưa là Phật gỗ
Hèn chi Phật có đắm chìm đâu.
111.
Tầm sư học đạo bốn mươi năm
Thân thế gian nan chữ nghĩa cùng
Mạt lộ lần lưng tìm bí kíp
Một tờ giấy nhảm viết lung tung.
156.
Không biết bao giờ. Biết có chăng.
Biết đâu ngày tháng. Biết đâu năm.
Hoàng hôn nào biết. Đêm sao biết.
Thời khắc lưu cầm. Phút hỗn mang.
171.
Cái chết nhiều khi thấy thật xa
Chết từ trong lửa chết trong hoa
Chết trong trầm ải trong trăng tịch
Và có đâu ngờ trong chính ta.
Khởi từ một kinh nghiệm cá nhân, Thủy Mộ Quan đi tới thảm kịch lớn của dân tộc trong một thời điểm rất đặc biệt của đất nước. Giấc mộng, kỷ niệm, và niềm đau riêng của nhà thơ được nhập vào giấc mơ và bi kịch chung của đất nước. Một số thơ chung quanh chủ đề lịch sử và hiện thực ngoài biển Đông được nhiều người khen ngợi, như Lê Huy Oanh cho rằng Viên Linh đã góp vào kho tàng thi ca Việt Nam một loại thơ với những hình ảnh mới lạ chưa hề có trước 1975 (16) . Tôi không trích dẫn lại những bài thơ ấy ở đây vì thấy có phần không toàn hảo: Vì Viên Linh nuôi một ý tưởng quá lớn khi dựng lại bầu khí Thủy Mộ Quan nên ở đôi chỗ anh phải hy sinh chất thơ để đạt cho được ý đồ kết cấu. Nó chỉ còn là một thứ quốc sử diễn ca chứ không phải là thơ nữa. Về chủ điểm lịch sử, có đôi chỗ Viên Linh rớt vào bệnh dân tộc chủ nghĩa, là căn bệnh dường như không còn được thích hợp trong ánh sáng nhân bản của thời đại mới, như căn bệnh Eurocentrism, lấy phương Tây làm trung tâm và thước đo của văn minh nhân loại, ngày nay hầu như đã bị loại bỏ hoàn toàn.
Bỏ qua những nhược điểm, bỏ qua những bài thơ không hay vì làm được thơ hay thì đâu phải dễ, cứ lật truyện Kiều ra cũng đủ thấy, biết bao nhiêu là thơ dở trong đó, huống hồ Thủy Mộ Quan đánh số đến 171 thì có vài chục bài hay, hoặc chừng mười bài hay, thậm chí chỉ vài bài hay thì cũng đã là thành tựu lớn rồi. Chúng ta hãy đọc thêm vài bài khác nữa:
7.
Lúc nhỏ anh em thường đánh lộn
Bây giờ sông núi nhớ thương nhau
Ngó xem vết sẹo bàn tay trái
Bên phải đầu tôi bỗng nhói đau.
110.
Tuổi trẻ nghe mưa mộng hải hồ
Mộng đi bốn biển sống phiêu du
Hôm nay mưa tuyết quê người lạnh
Ta mộng quay về ngõ hẻm xưa.
137.
Em có hai chân đẹp tựa men
Hai tay như ngọc tiếng như chim
Em yêu như mãn gào trên ngói
Tuy vậy em cần một trái tim.
117.
Thăm thẳm trời cao thăm thẳm sâu
Mênh mông sông nước mênh mông sầu
Nhỏ nhoi một chiếc thuyền không lái
Không biết về đâu không biết đâu.
108.
Cửa ngục A Tỳ ở biển Đông
Xưa kia Phật dọa rộng vô chừng
Nào hay Phật chỉ mơ hồ biết
Ngục ấy nay to gấp vạn lần.
78.
Sinh ở đâu mà giạt bốn phương
Trăm con cười nói tiếng trăm giòng
Ngày mai nếu trở về quê cũ
Hy vọng ta còn tiếng khóc chung.
Tất cả kỷ niệm, huyền sử, lịch sử, tất cả đau thương và địa ngục kia, nói cho cùng, cũng đều là vốn liếng và tài sản của đất nước, bởi vì tất cả những điều ấy đã cùng tập hợp thành chiều sâu và sức mạnh tâm linh của dân tộc, là kinh nghiệm và quá trình của hôm nay để chuẩn bị cho ngày mai phải tới. Bầy chim bỏ xứ bay đi khắp trời đất, rồi cũng đến lúc phải trở về chốn cũ, quên đi những ngày mưa tuyết quê người, trăm con sẽ cùng giòn giã trong một tiếng cười giọng nói chung, và tiếng khóc chung. Lời Gọi Hồn của Thủy Mộ Quan phần nào có gần gũi với Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh, nhắc đến tập tục cầu siêu thoát cho mười loại cô hồn uổng tử, nhưng khác hẳn với bản văn tế ấy, vì nó không phải chỉ là lời cầu khi lập đàn cho các hồn ma bóng quế vật vờ, mà Gọi Hồn là một lời kêu cầu sum họp trong truyền thống đại gia đình Việt tộc. Tôn giáo chính yếu của người Việt là thờ cúng tổ tiên, nên ở những cuộc họp mặt thiêng liêng, Như trong mấy ngày lễ tết, thì mọi người trong gia tộc bao giờ cũng ngưỡng vọng lên bàn thờ ông bà, như người khuất bóng đang có mặt và đang linh thiêng chứng giám đời sống của đàn con cháu.
Gọi hồn viết theo thể thơ tự do, dù nhạc điệu cũng là yếu tố được chú tâm, nhưng không quá thê thiết và trầm buồn như bài ngâm khúc Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh. Tôi được nghe Phạm Duy hát bài ca Gọi Hồn do chính ông phổ nhạc; tiết tấu nghe chừng như dồn dập và hân hoan, niềm vui nỗi buồn pha trộn, dưới sự tiết chế và bao trùm bởi một thứ ánh sáng rất trí tuệ, để nói về cuộc đoàn viên đẹp đẽ của đại gia đình dân tộc. Tôi tưởng như đó là lời bổ túc cho Tổ khúc Bầy Chim Bỏ Xứ trước đây, mới chỉ nói về sự trở về của mấy triệu người sinh cơ lập nghiệp phương xa, kéo nhau đi về quê cũ, mà quên nói về những người vắng mặt đang chìm đắm nơi một cõi âm u nào.
Thấp thoáng trần gian
Mịt mù bóng đảo
Trôi về Tây về Bắc về Đông
Trôi về đâu bốn bề thuỷ thảo
Hồn ơi dương thế xa dần
Hồn đi thôi nhé thuỷ âm là nhà.
Hồn về trong cõi hà sa
Sống không trọn kiếp chết là hồi sinh.
(… …)
Hồn vẫn ở la đà Nam Hải
Hồn còn trôi mê mải ngoài khơi
Hồn còn tầm tã mưa rơi
Tháng Tư máu chảy một trời xương tan.
(… … … …)
Về đâu đêm tối
Hương lửa lung linh
Những ai còn bóng
Những ai mất hình
(… … …)
Ta vào lục địa ta hồi cố hương
Cùng nhau ta dựng lại nguồn
Chẻ tre đẵn gỗ vạch mương xây đình.
(… … … … …)
Năm nghìn năm lại bắt đầu
Chim nào tha đá người đâu vá trời.
Chúng ta rời bỏ xứ người
Loài chim trốn tuyết qui hồi cố hương.
[Huỳnh Hữu Ủy, “Thơ của một thời điêu tàn chưa từng thấy: Thủy Mộ Quan”, Mấy chân dung văn nghệ hiện đại, trang 99-108, Văn Mới, California, 2013]
Tuệ Sỹ và Huỳnh Hữu Ủy đã biết Viên Linh, từ thập niên 60. Phần tôi, chỉ cộng tác với ông từ năm 1995, nhưng có một kỷ niệm với Thủy Mộ Quan liên quan đến nhà văn Chủ nhiệm & Chủ bút Nguyễn Xuân Hoàng (Tạp chí Văn, tái lập tại Hoa Kỳ). Ông dành nửa tập Văn số 95 & 96, cho Chủ đề Viên Linh. Lẽ ra, Thập điện Diêm La có thật: Về những bài viết trong Chủ đề Nhà thơ Viên Linh trên tạp chí Văn, nghĩa là bài “Điểm sách” về loạt bài đã xuất hiện trong chủ đề thượng dẫn cộng thêm phần phê bình riêng, sẽ phải xuất hiện trên Văn ngay sau đó nhưng không bao giờ… có thật.
2.4 Nguyễn Tà Cúc, Đám tang cho một quốc gia chết đuối mà bao nhiêu hồn chết cùng hồn sống lênh đênh trên biển cùng nhau tiến về Thập điện Diêm La
Nguyễn Xuân Hoàng nhận lời đề nghị của tôi là sẽ viết một thứ “điểm sách” cho Chủ đề Viên Linh sau khi ra mắt độc giả vì, như ông vẫn tiếc, chủ đề này thiếu một người có lẽ hiểu rất rõ đời văn nghệ Viên Linh. Mới đầu, tôi cũng làm tròn lời hứa, nhưng viết xong bản thảo đầu tiên dài gần 40 trang (với tên Diêm La có thực), tôi quyết định Thập điện Diêm La có thật: Về những bài viết trong Chủ đề Nhà thơ Viên Linh trên tạp chí Văn không nên đăng trên Văn vì lý do riêng. Nguyễn Xuân Hoàng, vẫn còn tiếc, khuyên tôi nghĩ lại mà đưa cho Khởi Hành vì đó là một bài viết công phu kèm đầy đủ dẫn chứng khi nhận xét về bài của 10 tác giả có mặt trong chủ đề này. Tôi trả lời: Không thể, vì tôi vẫn gửi bài dựa trên tình thân nên thường dành độc quyền cho người ấy. Tình thân hữu giữa Nguyễn Xuân Hoàng và tôi khởi đi từ chỗ khúc khuỷu, nhưng đã thành thân mến sau khi trải qua vài thử thách. Tôi thành thực với ông; ông che chở lo lắng một cách kín đáo cho tôi như cho một cô em có tật đãng trí. Thế nên xá gì một bài viết mà vất vả, mà phải chạy vạy tìm chỗ đăng.
Sau nữa, tôi không thể đưa cho Khởi Hành hay cho báo khác vì thứ luật bất thành văn: Nếu muốn phê bình một bài đã xuất hiện trên tờ báo nào thì phải phản bác hay góp ý ngay trên tờ báo ấy mới “danh chính ngôn thuận”. Tay mơ văn nghệ nào mà không biết, huống chi Thư ký Tòa soạn Khởi Hành. Bởi thế, điều tối kỵ là mang bài phê bình/phản bác/chỉ trích sang một tờ báo khác, trừ phi đã được đăng trên tờ báo đầu tiên. Tôi vốn không viết cốt để đăng cho bằng được, nên rất kỵ phải tính toán hơn thiệt, lại mang tiếng đi cửa hậu với các quan văn nghệ. Ta tới văn chương bằng cửa chính/Cũng bằng cửa ấy lúc chia phôi (mượn thơ Hà Huyền Chi Ta tới tình yêu bằng cửa chính…) Sau đó, tôi mới đưa cho Viên Linh đọc vì biết không nên không cho ông biết. Ngày nay, hai người bạn đều đã qua đời, tôi muốn nhắc lại tự sự, trước hết, để tưởng nhớ mối giao tình vô vị lợi trong tình cảnh tế nhị của những người làm báo. Sau nữa, quan trọng hơn, cũng nhân dịp này, cho đăng nhận xét về đoạn thơ mà Viên Linh viết về công chúa Huyền Trân trong Thủy Mộ Quan. Đó là cách đọc, không những của một độc giả mà còn là một nữ độc giả. Đoạn này, trích ra từ bản thảo thượng dẫn tuy đã được hoàn chỉnh từ nhiều năm trước, nhưng vẫn còn rất sơ sài:
– (…) Nếu không có bài Huỳnh Hữu Ủy, chủ đề báo Văn về nhà thơ Viên Linh sẽ thiệt hại đáng kể vì mỏng đi rất nhiều! Bài của Huỳnh Hữu Ủy chiếm gần nửa số trang tổng cộng (…) Thủy Mộ Quan còn được nhắc đến vì dễ chạm vào độc giả, nhất là xuất thân người Việt tỵ nạn Cộng sản từng lênh đênh trên biển thẳm đêm sâu. Tôi là một trong những độc giả đó.
Tôi rời Sài Gòn rất tình cờ vào 1 ngày trước ngày cuối của Miền Nam, của Sài gòn. Khi đến gần cửa biển, trời tang tảng sáng. Quân đội Cộng Sản, chiếm được miền duyên hải, hướng đại pháo nã vào thuyền dân chúng, vào chiến hạm, vào tàu vận chuyển Hoa Kỳ vừa vớt người tỵ nạn vừa cố tiến ra khơi. Tiếng đạn, tiếng khóc, tiếng máy bay trực thăng vần vũ lao xuống nước…Gia đình tôi chọn ở trên boong tàu nên tôi có thể nhìn thấy hàng dãy tàu và hàng dãy thuyền tủa ra đại dương cố vượt thoát một cửa điện Diêm La nháng lửa đầy thịnh nộ. Đêm rồi cũng hạ xuống. Một sự yên lặng phân vân bao trùm cả vùng biển. Hốt nhiên, tôi nhớ lại, có phải tất cả đã cố thoát thân trên những chiếc thuyền hay tàu mà, chỉ trong một giây độc ác, sẽ biến thành những quan tài tập thể bằng gỗ hay bằng sắt? Những chiếc quan tài di động trên một thủy lộ tàn bạo dẫn đến chín cửa ngục khác? Có phải, theo các chiếc tàu chiếc thuyền, vẫn lặng lẽ đầy những thây ma cố nương vào mạn thuyền mạn tàu vì quá kinh sợ nên chưa cảm nhận đã hết là người? Ngày là địa ngục với xương thịt tan tành, mỗi khúc xương mỗi mảnh thịt trôi vào một cửa địa phủ không đợi chờ. Hồn hẳn cũng chia lìa, mỗi mảnh mỗi cửa ngục. Đêm mới là nơi cứu rỗi? Còn các bạn và gia đình họ? Cửa ngục Diêm La nào mở toang chờ đợi? Sau 1975, chúng ta đã biết tên mới của Thập điện Diêm La: Ngục Kinh Tế mới, Ngục Đổi tiền, Ngục Đốt sách, Ngục Tù Cải tạo, Ngục Vượt biển, Ngục Vượt biên, Ngục Nấc thang dành cho con cái gia đình “Ngụy” trong các buổi thi tuyển vào Đại học, Ngục Vượt biển Vượt biên bị bắt lại, Ngục Đói khát, Ngục Thất lạc thân nhân vv.
Ngay khi tới Trại Tỵ nạn Indiantown Gap, Pennsylvania vào khoảng tháng 6, năm 1975, giữa cơn mê sảng nhưng cực kỳ tỉnh táo của một linh hồn bấn loạn, tôi đã xin giấy bút từ một người Mỹ tốt bụng, viết một truyện ngắn khoảng 4 trang về một hồn ma không toàn vẹn, lê lết qua bao cửa ngục, cố đoàn viên từng phần của chính mình, nhưng than ôi, các quan coi ngục cũng chẳng biết các mảnh hồn xiêu phách lạc ấy giạt sang đâu. Thay vào đó là những mảnh lạ hoắc khác, cũng đang mải mê tìm kiếm. Hồn Trương Ba da Hàng thịt nay đã tái hiện thành cả hồn Trương Ba lẫn hồn Hàng thịt. Tôi sẽ không bao giờ quên cảm tưởng hãi hùng, bộ mặt kinh sợ không cần che giấu giữa ban ngày, tương phản với tiếng khóc nén ban đêm trên vùng nước bao la.
Đó là đám tang cho một quốc gia chết đuối mà bao nhiêu hồn chết cùng hồn sống lênh đênh trên biển cả, cùng nhau tiến về Thập điện Diêm La.
Thế nên, Thủy Mộ Quan như một con thuyền chở khẳm ý nghĩ, cảm xúc về Thập điện Diêm La xẩy ra ngay trong thời chúng ta. Có ai thoát được hết mọi cửa ngục khi Địa phủ vây bủa? Dẫu lần này không tìm Hạnh Phúc—một thứ xa xỉ phẩm — mà chỉ tìm một nơi để trốn lánh? Chết rất oan nên hồn còn gượng lại. Không chỉ người chết, người sống cũng lâm cảnh tịch nhiên. Thoắt cái trần gian biến thành cõi âm hồn. Những người như Tuệ Sỹ nay bị khép vào “án ba chữ”/tam tự ngục. Ôi cái “án ba chữ”, cái vạ văn tự khiến cả một thế hệ cầm bút bị khước từ. Và bị chối bỏ. Khiến văn chương từ đây chịu cảnh Sinh bình văn thái tàn lung phượng. Con phượng Tuệ Sỹ bị giam lỏng vào một chiếc lồng oan nghiệt “trong tình trạng mà người cũ lánh xa, vì hiểm nguy rình rập mơ hồ” (trang 22, sđd) kêu hoài một “điệp khúc hoài niệm bâng quơ”, nhưng bạn xa ngàn dặm vẫn hiểu cái bâng quơ ấy có nghĩa gì. Phải chăng khi trào oan khiên, hai thế giới sống chết mới giao thoa để người ta nghe được giọng ma quỷ lén lút khóc cho thế nhân lâm cảnh khốn cùng? Đêm không những dài tối tăm mà còn dài máu hận:
…Biên đình lưu huyết thành hải thủy (…)
Cổ lai bạch cốt vô nhân thu
Tân quỷ phiền oan cựu quỷ khốc
Thiên âm vũ thấp thanh thu thu…
[Đỗ Phủ, “Binh xa hành”]
…Biên thùy biển máu ghê hồn (…)
Từ xưa ai nhặt xương
Ma mới hờn oan, ma cũ khóc,
Nghe càng thảm đạm trời man sương!…
[Lam Giang dịch-Trích trong Giảng Luận Chinh phụ ngâm khúc, Vũ Tiến Phúc]
Đâu phải tình cờ mà Tuệ Sỹ dịch Quỷ thi của Lý Hạ từ năm 1973 tại Sài gòn?
Gió heo may rợn hồn tráng sĩ
Lạnh se da, dế rỉ đèn lu
Dở trang bóng chữ lờ mờ
Mấy rây mọt phấn ơ hờ điểm hoa
Buồn ray rứt kéo ra ruột thẳng
Khóc người thơ, mưa lạnh hồn ma
Tanh hôi giọng quỷ trên gò
Máu hờn thiên cổ xanh mồ cỏ thu…
[Tuệ Sỹ dịch “Thu Lai”, Lý Hạ- Thời Tập, 1973-Đăng lại trên Khởi Hành số 31, trang 21, tháng 5.1999]
Tôi cũng còn một nhận xét nữa, liên quan đến Huyền Trân Công chúa. Đúng như Huỳnh Hữu Ủy nhận xét, có những đoạn trong Thủy Mộ Quan không toàn hảo vì tác giả “đã hy sinh chất thơ để đạt cho được ý đồ kết cấu. Nó chỉ là một thứ quốc sử diễn ca chứ không phải là thơ nữa…”
Theo tôi, những đoạn hay nhất, bởi thế, vẫn là những đoạn viết về “lòng giếng hạt trai”, về “thủy âm”, về “xác thân em dưới cát lầy”, về “sách anh em chôn cạnh mộ thày”, chứ không phải đoạn mà nhà thơ đem phán đoán riêng vào, căn cứ trên các cuốn sử cũ dùng làm tài liệu, như đoạn sau đây:
Hai châu Ô, Lý đổi Huyền Trân
Vua chết người Chiêm hỏa táng nàng
Lúc lửa thiêu chồng còn ngút cháy
Nàng đang cùng bỉ tướng thông dâm.
[Thủy Mộ Quan– Thủy Mộ Quan, Đoạn 121, trang 53]
Miệt thị Trần Khắc Chung là “bỉ tướng” có công bằng không? Xưa nay người ta chỉ thường biết đến Trần Khắc Chung qua việc Huyền Trân. Nhưng ông là người thế nào trong sử Việt? (…) Nếu có trách là trách các ông vua đã dùng phụ nữ để mưu đồ việc lớn, sao lại trách nạn nhân và viên tướng cùng binh sĩ đã liều thân giải cứu nạn nhân? Thế nên đáng lẽ phải có thơ rằng:
Vua anh vâng lệnh, gửi em ngoan
Ô, Rí đẩy xiêu thân ngàn vàng
Hoa rụng sao chọn nổi đất sạch
Thi sĩ đời sau nỡ mắng oan. (Nguyễn Tà Cúc)
Trong hoàn cảnh mưu cầu lợi ích cho tập thể, một cá nhân can đảm như Trần Khắc Chung, đưa mạng sống chính mình và binh lính ra bảo vệ đất nước và một cô công chúa sắp bị thiêu sống thì bị gán cho những tội tày trời, ghi lại trong “sử sách”. Một trong những tội đó là tội “tư thông với công chúa” (Ngô Sĩ Liên, Kỷ Nhà Trần, Bản Kỷ-Quyển VI, trang 103-104, sđd), khiến Viên Linh hạ hai chữ “bỉ tướng” rất tàn nhẫn. Còn công chúa Huyền Trân, tuổi xuân buộc vào vùng xa lạ, cuộc đời chôn vùi với cái chết bất ngờ của vị vua Chiêm Thành, nay nặng tội “thông dâm” ngay khi “Lửa thiêu chồng còn ngút cháy”? Tài văn chương càng biến hóa chừng nào, nỗi oan càng dầy cho nhân vật có thật. Bởi thế, làm thơ “quốc sử diễn ca” hay lấy cảm hứng từ lịch sử, cần có mối hoài nghi khi đọc sử trước khi quyết đoán điều gì. … [Nguyễn Tà Cúc, Khi Thập điện Diêm La có thật: Về những bài viết trong Chủ đề Nhà thơ Viên Linh trên tạp chí Văn (Bản thảo)]
Cuối cùng, Viên Linh lẳng lặng cầm bút chữa mấy chữ sai chính tả. Ông không hỏi đến việc đăng trên Khởi Hành nữa sau khi Nguyễn Xuân Hoàng, từ San Jose xuống, bàn luận với ông và tôi tại Tòa soạn, vì họ biết khi tôi đã quyết là phải có lý do chính đáng. Năm 2017, khi in lại phần Thủy Mộ Quan trong Viên Linh 60 năm Thơ Tuyển 1955-2015, ông tặng tôi bài “Đáy nậm”:
Đáy nậm
Mùa lạnh chim thiên về nhiệt đới
Ta buồn thiên xuống đáy ly con
Sang xuân chim trở về phương bối
Ta trở về trong đáy nậm không.
[“Đáy nậm”-Tặng Nguyễn Tà Cúc, Thủy Mộ Quan, đoạn 47.190, sđd, trang 211]
Ông giải thích, thứ nhất, “Đáy nậm” gợi nhớ thời tôi sang Pennsylvania. Người Việt tỵ nạn thường yêu miền nhiệt đới California, tôi lại …thiên di về nơi nổi tiếng giá buốt. Một ngày nào giữa năm 2007, tôi đưa cho ông xem chiếc vé máy bay một chiều trở lại Pennsylvania, chu toàn giai đoạn đầu sau bước ngoặc. May mà “Đáy nậm”, chứ nếu chàng tặng chúng tôi bài thơ sau đây thì sẽ bị …kiện ngay-tức-thời:
Nông cạn
Xa em uống rượu một mình
Cổ chai thì lớn cổ mình thì không
Uống nhiều thì thật tốn công
Uống ít em bảo bụng nông sờ sờ.
(“Nông cạn,” sđd, đoạn 384, trang 286)
Hai người nữa mà ông tặng thơ là Tuệ Sỹ và Huỳnh Hữu Ủy. Viên Linh xem Huỳnh Hữu Ủy như người bạn hiếm. Tháng 5.2007, Tòa soạn Khởi Hành di chuyển lần thứ hai từ đường First Street, thành phố Santa Ana tới đường Dillow, thành phố Westminster. Bản thảo chữa đi chữa lại của một trang thơ bị bỏ quên 10 năm trên kệ sách, chưa bao giờ đăng báo hay phổ biến, đã được Viên Linh trân trọng trao tặng Huỳnh Hữu Ủy:
Thân tặng Huỳnh Hữu Ủy, ngày dọn Tòa soạn Khởi Hành, 1.5.2007
(“bài thơ chưa đăng báo, bỏ quên 10 năm sau”
Xin chép lại từ bản copy mà Viên Linh cho tôi, đặng kỷ niệm cuộc hạnh ngộ giữa hai nghệ sĩ và cũng cho thấy, ngoài lục bát là sở trường, Viên Linh còn xứng đáng là đối thủ của Tô Thùy Yên về thơ bảy chữ:
BẾN QUÊN
Thân tặng Huỳnh Hữu Ủy
Ôi kẻ trăm năm ở cuối trời,
Gặp từ niên thiếu. Biệt đôi nơi.
Bóng em hiển hiện từng đêm vắng,
Trong dạ u hoài anh vẫn soi.
*
Cặp mắt em xưa. Cặp mắt sâu,
Nhìn anh phượng oán với loan sầu.
Anh nghe thăm thẳm lời thương cũ,
Hạt lệ tiền thân đọng kiếp sau.
*
Bật sóng con kinh. Bể tiếng mưa,
Bà Đen núi cũ. Tân Châu xưa.
Em ơi một tối bên Cầu Sắt.
Kinh rạch kêu gào điệu mã xa.
*
Mê hoặc, anh vương vào cát bụi,
Dầm thân đơn lẻ ngập phong ba.
Một hôm thuyền lỡ bên sông hận,
Trong sóng hoài nghi anh nhớ ra.
*
Cặp mắt em sâu. Cặp mắt xa,
Nhìn anh hồn tưởng với thân ma.
Trăm năm tự cuối trời lưu xứ,
Anh sống nghìn đêm chuyện Cúc Hoa.
[Viên Linh, “Bến quên”, Tòa soạn Khởi Hành, Santa Ana, Hoa Kỳ, 1998]
“Bến quên”, như Viên Linh giải thích, đã được làm vào năm 1998. Nhưng 2 câu Mê hoặc, anh vương vào cát bụi, /Dầm thân đơn lẻ ngập phong ba thật sự ngụ ý gì khi ông làm chỉ chưa đầy 2 năm sau khi Khởi Hành-Hoa Kỳ xuất hiện vào năm 1996? Tạp chí này có vị trí nào trong đời văn nghệ Viên Linh? Tôi sẽ giải đáp bằng hoạt động của ông trong quãng thời gian từ năm 1988 khi gia nhập Trung Tâm Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại (Trung Tâm Văn Bút VNHN) tới năm 1996 khi cùng tôi tái lập tạp chí Khởi Hành-Hoa Kỳ tại California. Tôi dùng nhóm chữ Khởi Hành-Hoa Kỳ để phân biệt với tạp chí Khởi Hành đã có mặt tại Sài gòn, Việt Nam Cộng hòa, trước 1975.
(còn tiếp)
Truyện Kiều, thơ hay thơ trung bình thơ không hay
“Bỏ qua những nhược điểm, bỏ qua những bài thơ không hay vì làm được thơ hay thì đâu phải dễ, cứ lật truyện Kiều ra cũng đủ thấy, biết bao nhiêu là thơ dở trong đó, huống hồ Thủy Mộ Quan đánh số đến 171 thì có vài chục bài hay, hoặc chừng mười bài hay, thậm chí chỉ vài bài hay thì cũng đã là thành tựu lớn rồi.”(trích, Huỳnh Hữu Ủy)
Theo tôi thấy, Truyện Kiều nếu mà như nhà phê bình Huỳnh Hữu Ủy nhận xét là “biết bao nhiêu là thơ dở trong đó” thì còn gì là … Truyện Kiều nữa. Tại sao thế? Có lẽ là bởi giữa cái hay và cái không hay, Truyện Kiều còn rất nhiều câu thường thường bậc trung (theo cách nói của Nguyễn Du).
Trích, Truyện Kiều từ câu 2355-2366
Dưới cờ gươm tuốt nắp ra
Chính danh thủ phạm tên là Hoạn Thư
Thoắt trông nàng đã chào thưa
Tiểu thư cũng có bây giờ đến đây
Đàn bà dễ có mấy tay
Đời xưa mấy mặt đời này mấy gan
Dễ dàng là thói hồng nhan
Càng cay nghiệt lắm càng oan trái nhiều
Hoạn Thư hồn lạc phách xiêu
Khấu đầu dưới trướng liệu điều kêu ca
Rằng tôi chút dạ đàn bà
Ghen tuông thì cũng người ta thường tình
Nếu mà tạm phân chia câu thơ hay, không hay, và trung bình thì:”Thoắt trông nàng đã chào thưa, Tiểu thư cũng có bây giờ đến đây” là 2 câu thơ không hay. Các câu: “Dễ dàng là thói hồng nhan, Càng cay nghiệt lắm càng oan trái nhiều” là 2 câu thơ hay. Còn lại đa số là những câu thơ trung bình. Trong những câu thơ trung bình đó, là vô số những câu đã trở thành quen thuộc đi vào văn học dân gian và cả hàn lâm VN từ lâu. “Người ta thường tình” là 1 loại thành ngữ như vậy. Truyện Kiều hay, là hay ở sự mạch lạc cốt truyện; cách dụng ngữ tài tình uốn nắn mà không kỳ bí xa xôi. Vì thế, có thể nói ở bất cứ trang nào, người ta cũng bắt gặp thành ngữ phần nhiều là do Nguyễn Du sáng chế: thường thường bậc trung, Mỗi người một vẻ, mười phân vẹn mười, dập dìu tài tử giai nhân, nửa chừng xuân, hữu tình ta lại gặp ta, mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao, mạt cưa lướp đắng, quỷ quái tinh ma, kẻ cắp gặp bà già, v.v…
Và Thủy Mộ Quan 水墓關, Cổng đường vào mộ nghĩa trang dưới lòng biển. Tác giả nhà thơ Viên Linh.
Tôi không có tập thơ TMQ trước mặt. Qua sự giới thiệu của các nhà văn nhà thơ và phê bình gia, tôi hiểu, nếu không tính phần Dư Tập và Ngoại Vực, thì đây là một tập trường thi 7 chữ. Không liền lạc tự sự như Truyện Kiều. Nhưng mà chúng có một sợi dây liên kết riêng. Đề tài người Việt vượt biển tìm tự do bằng thuyền trên biển sau biến cố 4/75 Miền Nam VNCH sụp đổ rơi vào tay CS. Với tín ngưỡng tin vào linh hồn con người sau khi chết, Diêm Vương, ma, quỷ và luân hồi. Giả dụ, nếu không biết gì về hiện tượng Thuyền Nhân Việt Nam sau 75, và nếu không tin vào tín ngưỡng linh hồn sau khi chết của VN thì sẽ rất khó có thể đọc được trường thi TMQ.
129.
Đến cầu ao cũ ngắt rau xanh
Nhìn ngược hình dung đến hoảng kinh
Vẫn tưởng Quê Nhà tìm lại được
Quê Nhà đã mất lúc u minh.
139.
Từ đáy sâu trầm giạt tiếng chuông
Gọi người dương thế giúp âm công
Gọi ma bốn biển về chung sức
Gom góp san hô dựng giáo đường.
55.
Xuân nào lụt lội khắp trung châu
Nước rút đầm hoang Phật xuất đầu
Phật nổi từ xưa là Phật gỗ
Hèn chi Phật có đắm chìm đâu.
111.
Tầm sư học đạo bốn mươi năm
Thân thế gian nan chữ nghĩa cùng
Mạt lộ lần lưng tìm bí kíp
Một tờ giấy nhảm viết lung tung.
Về mặt cú pháp và ngữ pháp, có điểm đặc biệt nữa là trường thi TMQ xử dụng nhiều từ Việt Hán. Nhiều chứ không đầy đặc. Và Hán Việt (u minh) hoặc Việt Hán (sâu trầm) gần với cách dụng ngôn hoặc sáng chế của người Việt, cho nên không đến nỗi chi hồ giả dã của người TQ. Điều này không có gì lạ, Viên Linh từng viết tiểu thuyết “Hạ đỏ có chàng tới hỏi” với tên các nhân vật thật ngộ: Dự Thư, Nam Đàn, Hạ Liên, Ý Hoa …
https://www.vietmessenger.com/books/?title=ha%20do%20co%20chang%20
Đọc phần bầy tỏ của Long Nguyen mà ngậm ngùi vì nhà thơ Viên Linh không còn có thể đọc lời nhận xét của độc giả về thơ ông nữa.
Về Truyện Kiều, chính tôi cũng có những nhận xét khác Huỳnh Hữu Ủy hay Long Nguyen khiến việc đọc Truyện Kiều càng thêm phong phú. Hãy lấy thí dụ 2 câu “Thoắt trông nàng đã chào thưa/ Tiểu thư cũng có bây giờ đến đây”. Đúng, khi mới đọc thì 2 câu này còn có vẻ tầm thường là đằng khác. Nhưng thử tưởng tượng một cô phừng phừng oai phong, nhìn xuống kẻ từng đánh đập đầy đọa mình, để nửa mỉa mai nửa căm giận: “Tiểu thư. Cũng. Có. Bây giờ. Đến đây.” Đó chỉ là câu nói gằn giọng, nhưng qua ngòi bút Nguyễn Du, đã thành thơ. Riêng với tôi, câu này lại hóa thân sang tình cảnh chung của phụ nữ sau 1975. Các “tiểu thư” đều đã “đến đây” nghĩa là đến vùng Kinh tế Mới, vùng biển kinh hoàng khi mong trốn thoát, vùng mất gia đình vì bị bắt vào Tù Cải Tạo. Ngoài ra, thành công nhất của Nguyễn Du mà chúng ta đều biết (Long Nguyen gọi là “thành ngữ do Nguyễn Du sáng chế”) là tạo được những nhân vật mà chỉ cần nhắc đến tên là người ta biết ngay hình dong, cá tính, hành động vv của nhân vật đó, trội nhất vẫn là Thúy Kiều. Rồi tùy mà có người thích Kim Trọng hay Từ Hải. Tôi vẫn không bao giờ chịu nổi anh chàng Kim Trọng. Đúng là “người (vô dụng) gặp gỡ làm chi”. Tôi vẫn quý Từ Hải hơn dù anh chàng này chết không oan vì tình, nhưng mấy ai dám/muốn chết vì tình, kể cả các chàng mang tiếng là bạn tình của tôi?! Tôi còn hay “bói Kiều”, không bằng cách dở truyện, mà bằng cách đoán xem người-đối-diện thích Từ Hải hay Kim Trọng. Nhiều chàng không vượt nổi cửa ải thứ nhất này. Truyện Kiều cũng không dừng lại ở những trang sách chết. Truyện Kiều có mặt trong dân gian từ đời này qua đời khác. Hãy nghe cùng 2 câu “Người đâu gặp gỡ làm chi/Trăm năm biết có duyên gì hay không” qua Hát xẩm, phút 3:38:
https://www.youtube.com/watch?v=7ZOphD00g-o
hay Gặp lại cố nhân, phút 1:37:
https://www.youtube.com/watch?v=jYKak5iuBwg
Nguyễn Du còn được biết đến, tuy ít hơn, qua nhiều thơ chữ Hán. Chúng làm sáng hơn chân dung ông, trong và ngoài Truyện Kiều, vì có khi biểu tỏ tình gia đình, như 2 câu trong bài “Minh giang chu” (Thuyền trên Minh giang) mà tôi trích từ Thơ chữ Hán-Nguyễn Du do “Bùi Kỷ&Phan Võ&Nguyễn Khắc Hanh dịch” (Nhà Xuất bản Văn Hóa, Hà Nội, 1959):
(…) Biệt hậu quan sơn tư đệ muội,/Vọng trung nham tụ kiến nhi tôn…
…/Sau khi cách biệt quan sơn, lòng nhớ các em trai em gái/Trông những chỏm đồi ngọn núi, tưởng như thấy đàn con cháu đông đúc…(sđd, trang 72)
Nay tới lượt Thủy Mộ Quan.
Nhận xét của Long Nguyen “trường thi TMQ xử dụng nhiều từ Việt Hán…” rất chính xác. Theo tiểu sử, thân phụ Viên Linh qua đời sớm. Ông được ông nội rèn cặp chữ Hán từ nhỏ. Sau nữa, tôi cũng phải công nhận “nếu không biết gì về hiện tượng Thuyền Nhân Việt Nam sau 75, và nếu không tin vào tín ngưỡng linh hồn sau khi chết của VN thì sẽ rất khó có thể đọc được trường thi TMQ…” Tương tự, chúng ta đương nhiên cũng khó thưởng thức được các trường thi ngoại quốc nếu không am hiểu các ẩn dụ từ thần thoại Tây Phương, từ Kinh Thánh vv. nghĩa là một thứ “điển tích” chỉ tồn tại trong văn chương và văn hóa mỗi quốc gia hay mỗi vùng, mỗi thế hệ. Thế nên, tôi đã đề nghị với Tô Thùy Yên và Viên Linh, rằng hãy chú thích các bài thơ của họ. Trong trường hợp này, trường thi Thủy Mộ Quan quả rất cần chú thích cho đầy đủ vì Viên Linh đã nghiên cứu hầu sử dụng, thậm chí có khi vay mượn, các biểu tượng từ văn hóa cho đến biến cố của lịch sử Việt Nam. Tiếc thay, ông đã qua đời trước khi thực hiện được.
Nay sang đến phần Văn. Long Nguyen nhắc đến tiểu thuyết “Hạ đỏ có chàng tới hỏi” với tên các nhân vật như Dự Thư, Nam Đàn, Hạ Liên, Ý Hoa…Tôi muốn đi xa hơn 1 chút để góp vào tiểu sử vản nghệ của Viên Linh. Ông tặng tôi cuốn này và cuốn “Tới nơi em ở” (1973) hầu cho tôi biết ông muốn thử một bút pháp mới nhắm vào một loại độc giả khác sau khi đã đọc tiểu thuyết Quỳnh Dao hiện bán rất chạy hồi đó. Bởi thế, ông đặt tên các nhân vật trong Tới nơi em ở cũng có vẻ Tàu nhiều hơn Ta như Gia Hưng, Gia Hội, Thanh Vi, Từ Tâm, Lý Lan Huê, Dư Liên. Đằng khác, tất cả nhân vật nam, lần này, đều vẫn là …ta: Đặng, Thức, Nhuận, Khang vv. Tuy thế, truyện vẫn là truyện của Sài gòn với thời trang áo da, của Việt Nam với nhiều câu thơ của Trúc Thiên “Suy tư lừa trắng mái đầu/Tưởng leo hết núi ngờ đâu còn trời…” (trang 168). Viên Linh còn kể tới vài tác giả khác cũng có chủ đích tương tự. Thế nên, tôi nghĩ Hiện tượng Quỳnh Dao trong văn chương Miền Nam cũng cần được xét tới.
Lại xin phép cảm ơn Long Nguyen nhắc tới bạn tôi vì tình thân rồi sẽ mất một khi chúng ta cùng qua đời, nhưng thơ văn rồi ra sẽ còn lại mãi mãi.