Như đã trình bày, nhắm so sánh các tin tức của báo Sóng Thần đặng kiểm chứng, một trong những người tôi sẽ trích dẫn là Đinh Từ Thức. Ông là nhà báo kỳ cựu tại Miền Nam, đã làm việc cho mấy nhật báo có tiếng như Hòa Bình và Chính Luận với bút hiệu Đốc Đá và Sức Mấy. Ông giữ “Sổ Tay”, một mục thường xuyên trên Chính Luận, chứng tỏ khả năng và vị trí của ông với báo giới Sài Gòn lúc đó. Sang Hoa Kỳ, từ 1975 cho tới khoảng 1990, ông cộng tác với Văn nghệ Tiền Phong và một số báo in. Trong những năm của thế kỷ XXI, ông cộng tác với các diễn đàn trên mạng như Talawas và pro & contra (do nhà văn Phạm thị Hoài chủ trương & điều hành), song song với Da Màu. Ông tiếp tục lối bình luận của một xã luận gia am hiểu tình hình thế giới cộng thêm tâm cảm và kinh nghiệm — gồm cả kinh nghiệm của một người tỵ nạn Cộng sản từ Miền Nam — tích lũy trong một đời quan sát và chiêm nghiệm thế sự. Ông có giọng văn điềm tĩnh khiến dễ thuyết phục người đọc, dù về một đề tài gây tranh luận, gợi tôi nhớ lại một không gian của văn chương lịch sự, nơi người ta vẫn có thể bất đồng ý kiến quyết liệt mà vẫn duy trì được một tình thân mãi mãi.
Nhà báo Đinh Từ Thức trước tranh tường Đức Đạt Lai Lạt Ma (Miami, Dec. 2017)
(Ảnh gia đình)
Tôi đã được đọc nhiều số báo Chính Luận khoảng từ tháng 9 đến tháng chạp, 1974. Điều rất rõ ràng ở đây là chính phủ VNCH đã cho phép báo chí đăng hình ảnh và tường thuật về những cuộc biểu tình hay phản đối trong vụ chống tham nhũng và đòi quyền tự do báo chí như đã xuất hiện trên trang nhất Chính Luận số ra ngày 2 tháng 11, 1974.
![]()
Báo Chính Luận ra ngày 14 tháng 9 năm 1974 kêu gọi chính quyền trả tự do cho những người cầm bút, đồng thời cũng đăng “tuyên ngôn 4 điểm” của “Lực Lượng Hòa Giải Dân Tộc”
(Nguồn: Saigon.bao)
Tuy Chính Luận cho đăng các tin tức khác liên quan đến các bản tuyên cáo hay cáo trạng của Linh mục Trần Hữu Thanh nhưng không đăng nguyên văn bản tuyên cáo. Theo Sóng Thần, chỉ có thêm 2 nhật báo đăng bản cáo trạng đó. Hơn 40 năm sau, vào tháng 2.2015, tôi biết được lý do không đăng của Chính Luận qua một bài viết cặn kẽ của Đinh Từ Thức trên Diễn đàn Da Màu về diễn tiến ông và hai người nữa của Chính Luận bị chính phủ Nguyễn Văn Thiệu bắt giữ trái phép vào những ngày cuối của Việt Nam Cộng hòa:
-[…]Thắc mắc còn lại là, trong số mấy chục tờ báo của Sài Gòn bấy giờ, tại sao chỉ có Chính Luận bị bắt, và tới ba người? Và trong số hàng trăm nhà báo xuất sắc của Chính Luận, tại sao bắt ba người chúng tôi? Anh Đậu Phi Lục, với vai trò Phụ tá Chủ Nhiệm, hầu như không bao giờ viết bài, thường phụ giúp hay thay mặt Bác Sĩ Sung về mặt giao tế, và công việc điều hành tờ báo. Không phải người chịu trách nhiệm về đường lối hay bài vở. Anh Nguyễn Hữu Dương cũng như tôi, không làm việc thường xuyên ở toà báo. Anh là một trong những cây bút viết tham luận, mỗi tuần ghé toà báo một vài lần đưa bài, truyện trò với anh em vài câu, rồi về. Tôi phụ trách mục Sổ tay thường xuyên, lúc đầu ở trang ba, sau chuyển ra trang nhất; viết ở nhà, mỗi ngày ghé toà soạn đưa bài, rồi đi.
Trước khi bị bắt ít lâu, vào thời phong trào chống tham nhũng lên cao, một hôm cuối tuần, khi ghé đưa bài, tôi gặp anh Dương đang nói truyện với anh Lục. Bài vở của số báo trong ngày coi như đã xong, nhân viên toà soạn đã ra về gần hết, chỉ còn lại vài người. Chúng tôi đang vui chuyện, thấy Bác Sĩ Đặng Văn Sung, chủ nhiệm, tiến tới, với một ít giấy tờ trong tay. Ông mới nhận được bản “Tuyên Cáo số 2” của LM Trần Hữu Thanh, tố đích danh ông Thiệu tham nhũng, với lời yêu cầu đăng nguyên văn của Hội Chủ Báo, và Tổng Hội Sinh Viên Sài Gòn.
Bác Sĩ Sung đặt vấn đề với chúng tôi, đại ý: Mình vẫn chỉ trích ông Thiệu độc tài, không tôn trọng tự do báo chí. Nếu bây giờ cúi đầu đăng nguyên văn Tuyên Cáo của Cha Thanh, theo yêu cầu của Hội Chủ Báo và Tổng Hội Sinh Viên, có khác gì chống độc tài này để tuân phục độc tài khác. Bình thường, trong trường hợp này, đăng hay không là quyết định của Tổng Thư Ký Toà Soạn. Hôm ấy, đúng ngày nghỉ hàng tuần của ông Thái Lân, chúng tôi được yêu cầu góp ý kiến và quyết định ngay, trước giờ báo lên khuôn.
Chúng tôi ở thế khó xử. Nếu cho đăng nguyên văn Tuyên Cáo, ngoài việc tỏ ra tuân phục sự đòi hỏi của Hội chủ báo và sinh viên, còn trách nhiệm của nghề báo. Tố tham nhũng là điều tốt, nhưng tố đích danh một viên chức tham nhũng, cũng phải dựa trên sự thật và bằng chứng, huống chi tố đích danh một ông tổng thống. Nhà báo không có trong tay bằng chứng cụ thể, cũng không kiểm chứng được mức độ khả tín của nội dung Tuyên Cáo. Nhắm mắt cho đăng nguyên văn, là vi phạm đạo đức nghề nghiệp. Nếu không đăng, ngoài việc bị Hội Chủ Báo và Sinh Viên lên án là “báo gia nô”, “tay sai chính quyền”, còn bị dư luận coi là hèn nhát và tham lợi, tránh bị tịch thu để tăng số bán trong khi báo khác bị tịch thu. Cùng lúc, đối với độc giả, bỏ qua một chuyện “động trời” như Tuyên Cáo số 2, là thiếu sót nghề nghiệp.
Cuối cùng, chúng tôi đã dung hoà các yếu tố trên, bằng quyết định: Không đăng nguyên văn Tuyên Cáo mà viết một bản tin phản ảnh sự việc. Tuy nhiên, cả về nội dung và ngôn từ, bản tin phải đầy đủ để dự trù báo cũng sẽ bị tịch thu, như các báo đăng nguyên văn Tuyên Cáo trong số báo ra chiều hôm đó – tất cả các nhật báo ở Sài Gòn thời đó đều ra buổi chiều, đề ngày hôm sau. Bản Tuyên Cáo được trao cho một ký giả vẫn còn ở toà soạn viết thành bản tin. Nhưng anh ký giả này, ngoài Chính Luận, còn làm cho Việt Tấn Xã, cơ quan thông tấn của nhà nước. Có lẽ vì vậy, khi đọc bản thảo của anh, cả ba chúng tôi – anh Lục, anh Dương, và tôi – đồng ý bản tin quá sơ sài, nếu đăng, báo sẽ không bị tịch thu. Như vậy, Chính Luận vẫn sẽ bị lên án là tay sai, hèn nhát, và “xé rào” để thủ lợi.
Thời gian gấp rút, đã gần đến giờ báo lên khuôn, sáu mắt nhìn nhau, bản Tuyên Cáo được đẩy về phía tôi. Anh Lục nói: “Anh vào bàn Anh Sung, đóng cửa lại cho kín đáo và yên tĩnh để viết”. Tôi không làm theo, ngồi ngay xuống cái ghế cạnh bàn viết gần cửa, hối hả viết. Mới viết được vài trang để trước mặt, một anh ký giả trẻ từ ngoài bước vào, chộp mấy trang bài của tôi, cắm đầu đọc, miệng hỏi lấy lệ “ông viết cái gì đấy?” Trước thái độ có vẻ kém lịch sự, nhưng đang cố viết cho xong, tôi không nói gì. Xong việc, anh Lục rầy rà: Tôi đã nói vào phòng anh Sung viết cho kín đáo, anh không nghe. Anh ký giả đó là tay trong của cảnh sát, có nhiệm vụ báo cáo mọi việc trong toà soạn, để đổi lấy tình trạng hợp lệ quân dịch. Tôi vẫn coi thường, nói mình viết bài đăng lên báo cho mọi người đọc, có âm mưu gì đâu mà phải bí mật. Đúng như dự trù. Chiều hôm đó, Chính Luận cũng bị tịch thu như các báo đăng nguyên văn Tuyên Cáo. Và đúng như sự lo xa của anh Lục, cả ba chúng tôi đã bị bắt. Đến bây giờ, có lẽ anh ký giả này vẫn chưa biết việc làm của mình khiến ba người vào tù. Nay, các anh Lục và Dương đều không còn nữa, riêng tôi không bao giờ, dù chỉ trong lòng, oán trách anh ký giả này, nghĩ rằng anh không chủ tâm hại ai…. [Đinh Từ Thức, “Từ trại giam đến trại Guam-Bài 1”, Diễn đàn Da Màu, Ngày 25. 2.2015, https://damau.org/35800/tu-trai-giam-den-trai-guam-i ]
Tôi không ngạc nhiên khi đọc lý luận dẫn đến quyết định của chủ nhiệm cùng 3 ký giả thượng dẫn trong Chính Luận về bản tuyên cáo số 2 của Linh Mục Trần Hữu Thanh vì Chính Luận vốn nổi tiếng là một tờ báo đứng đắn, chuyên nghiệp thuộc hàng bán chạy nhất Miền Nam. Trái với sự phổ biến trên Sóng Thần, lời tố cáo đích danh Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu chưa đủ sức thuyết phục làng báo. Sau nữa, Phong trào Nhân dân chống Tham nhũng đã có sự tham dự cụ thể của Hội Chủ báo và Tổng Hội Sinh Viên. Tổng hội Sinh Viên nào? Không lẽ cũng là cái Hội Sinh viên đã cung cấp tin tức về mấy trăm ngàn gái điếm tại Sài gòn cho thế giới?! Trong bài viết về người chồng quá cố và sự tham dự của Sóng Thần vào việc chống Tham nhũng, Trùng Dương xác nhận một cách chi tiết hơn về việc chỉ có vài tờ báo tham dự:
Khoảng sau Tết năm 1975 thì Sóng Thần và bốn tờ khác bị rút giấy phép xuất bản ngang nhiên với không một lời giải thích. Chỉ biết là những tờ báo này đã cùng in nguyên văn bản cáo trạng số 1, sau khi Sóng Thần đi tiên phong đăng bản tóm lược, bị tịch thu, rồi vận động qua Hội Chủ Báo để một vài tờ khác cũng đăng nguyên văn bản cáo trạng ở số báo kế, dù biết sẽ bị tịch thu…” [Trùng Dương, “Sao đặc trời”, Thế Kỷ 21, Số 65, trang 64, tháng 9.1994]
Tổng chi, nếu chỉ được đọc Sóng Thần Vụ Án Lịch Sử 31 10 74 và nhật báo Sóng Thần, người ta rất dễ có một kết luận duy nhất: Sóng Thần đã trình diện trước bá tánh với buổi tạ từ có hơn 200 quan khách và báo chí quốc nội cùng hải ngoại chứng kiến tại Trung Tâm VBVN; đăng tải ào ạt các tuyên ngôn tuyên cáo từ các hội đoàn; đòi hỏi/đề nghị Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức; đăng tin việc dự định truy tố ra tòa và luận tội Tổng Thống Thiệu trước Quốc hội; kết án viên chức chính phủ, nhất là một ông Tổng thống, tham nhũng khi chưa có bằng cớ xác đáng (cái này tôi mượn của Chủ nhiệm tờ Chính Luận đấy nhé) mà chưa ai, từ chủ nhiệm tới loong toong bị bắt bỏ bót hay xộ khám; phổ biến kháng thư tới hội đoàn ngoại quốc; dọa khéo nhà cầm quyền về tội sát nhân đánh lén đến nỗi lôi…”chỉ mành” (sic) và cái “chuông” (sic) vô can vào; vu cáo…bức tượng Lính Thủy Quân Lục Chiến đặt trước Quốc Hội; thậm chí còn có Hội Chủ Báo và “Tổng Hội Sinh viên Sài gòn” tiếp tay khiến Bác sĩ Đặng Văn Sung, riêng vụ bị đề nghị đăng tuyên cáo, phải sử dụng chữ “độc tài”.
Bởi thế, tôi cũng không ngạc nhiên khi, sau 1975, Trùng Dương thừa thắng xông lên mà kết luận rằng:
Có lẽ chưa có tờ báo nào trên thế giới đã phải cáng đáng một lúc biết bao nhiêu công tác như vậy: vừa thông tin, bình luận, đánh đấm, giáo dục, giải trí, gây quỹ cho các chương trình văn hóa, xã hội và nhân đạo khác nhau… [Trùng Dương, “Sao đặc trời”, sđd, trang 63]
Ủa, khoan nói tới thế giới vội (lại thế giới!), Trùng Dương vừa ngấp nghé toan tính quá giang tiền bối Nhất Linh theo đường vào lịch sử (mượn Nguyễn Mạnh Côn) thì không nên quên nhóm Tự Lực Văn Đoàn (tiền bối của Trùng Dương chỉ vì bà đã nhắc đến thủ lãnh Nhất Linh) ngoài Bắc với các tờ báo Phong Hóa, Ngày Nay; Nhà Ánh Sáng; nhà xuất bản; Sách Hồng và họa sĩ Nguyễn Gia Trí vv. Họ còn là các nhà cách mạng danh trấn giang hồ đã lưu danh trong lịch sử chống Cộng sản. Trong Nam có Phụ Nữ Tân Văn càng lẫm liệt với đoàn quân nữ quyền tiên phong cũng danh trấn giang hồ, cũng viết báo, diễn thuyết từ Nam chí Bắc. Nhưng nói đi phải nói lại, những hoạt động của Sóng Thần, kể cả hoạt động đối kháng chính phủ, lại là một thí dụ chứng minh nhỡn tiền cho sự khác biệt giữa hai chế độ. Dưới chế độ VNCH, chính phủ bị trói tay phần nào vào luật pháp. Sau nữa, chính nhờ báo chí và tác phẩm được phổ biến khá tự do nên bất cứ cuộc “đánh đấm” nào cũng sẽ được ghi lại đầy đủ, như thí dụ Sóng Thần. Trong trường hợp này, chúng ta có ít nhất nhật báo Chính Luận và Tù binh và Hòa Bình (Phan Nhật Nam) để đối chiếu. Dưới chế độ Cộng sản, có một điều chắc chắn: không có chuyện “đánh đấm” để …lên nhựt trình với thế giới hay người Việt hải ngoại.
Tới đây, tôi có thể nói mọi sự kiện về vụ tham nhũng của Sóng Thần hầu như chỉ xẩy ra tại Sài gòn và chưa chắc đã được toàn dân và toàn quân ủng hộ. Chính báo Sóng Thần phải cải chính, rằng vụ biểu tình ở Huế ủng hộ Linh Mục Trần Hữu Thanh chỉ có 3.000 chứ không phải 30.000 người, nếu nhớ không lầm. Bỏ qua mọi chuyện, tôi nghiệm ra một điều: phần bảo vệ Miền Nam của Quân Lực VNCH đã không chiếm vị trí quan trọng trong các biến động như đã thuật lại trên Sóng Thần, một tờ báo cổ động cho việc lành mạnh hóa chính phủ bằng phương cách riêng của họ, hoặc các tạp chí khuynh tả như Đối Diện, Trình Bầy, Đứng Dậy. Nhiều lời bàn mơ hồ xuất hiện trên Sóng Thần và các nơi khác trong một niềm tin vững như bàn thạch: làm sạch chính phủ, bỏ tù viên chức và quân nhân tham nhũng; nhưng quan trọng hơn hết thảy, việc thay thế Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu sẽ nghiễm nhiên dẫn đến một lớp lãnh đạo xứng đáng hầu sửa soạn cho cuộc sống chung hòa bình hòa hợp hòa giải với người Cộng sản khi Hiệp Định Paris tuần tự được thi hành đến hồi kết.
Duy có mấy điều sinh tử chưa thấy được giải thích thỏa đáng: Ai giữ tiền tuyến trong khi thay đổi chính quyền tại hậu phương? Ai đủ tài đức đảm nhiệm trọng trách thay Chính phủ Nguyễn Văn Thiệu? Có chắc tất cả sĩ quan và binh sĩ đang trấn đóng ngoài tiền tuyến đều đồng quan điểm với những người đang gia nhập cuộc vận động tại một nơi rất an toàn? Các sĩ quan, các Tướng Vùng đang cầm quân chắc gì tin tưởng những người… chưa bao giờ cầm quân? Sau chót, liệu có thể sống chung trong hòa bình với người Cộng sản? Độc giả càng không ngây thơ đến nỗi không đoán được một chính phủ hòa giải, hiệp thương đang thành hình đâu đó, vì lẽ nào đòi thay thế chính phủ VNCH mà không có người xếp hàng sẵn sàng điền vào chỗ trống cho hợp nghĩa?!
Đúng như người lính/ký giả chiến trường/nhà văn Phan Nhật Nam tiên đoán, người Cộng sản chỉ hợp tác “đoản kỳ” nếu có, hầu phục vụ cho chủ trương chiếm Miền Nam. Sau khi Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh cho quân đội bỏ Miền Trung dẫn đến sự sụp đổ quá nhanh chóng của VNCH, Đảng Cộng Sản không cần hợp tác, hòa hợp hòa giải dù “đoản kỳ” hay trường kỳ. Không còn quân đội bảo vệ, Chính phủ Tổng thống Dương Văn Minh của những Phó thủ tướng Vũ Văn Mẫu, những Bộ trưởng Thông tin Lý Quí Chung, những Bộ trưởng Tư Pháp Trương Như Tảng bị tước quyền nội trong 2 ngày rưỡi. Mặt Trận Giải Phóng bị giải giới công khai cùng đoàn quân lếch thếch trong buổi diễn binh mừng “đại thắng” tại Sài gòn. Ngày nay, đọc lại báo chí Miền Nam để ngậm ngùi thay cho những người đã đánh giá chính họ quá cao, nhưng đánh giá cả dân quân Miền Nam lẫn người Cộng sản quá thấp.
Phan Nhật Nam, trong Tù binh và Hòa bình, sẽ cho chúng ta thấy một quan điểm đối nghịch cả với Sóng Thần lẫn các tạp chí khuynh tả. Theo tôi, vài chương của tác phẩm này có thể xem như lời phản bác phẫn nộ, nhuốm đau đớn dành cho số tác giả và sinh viên thiên Cộng hay nằm vùng, những chính trị gia Sài gòn can dự vào việc muốn thay đổi ông Thiệu, các ký giả…giả vờ đi ăn mày, các linh mục khuynh tả cùng Linh mục Trần Hữu Thanh và Phong trào Nhân dân (lại nhân dân!) chống Tham nhũng. Cách đây gần 50 năm của một ngày 30 tháng 4. 1975, ông đã dùng trường hợp của Phong Trào này để quả quyết chúng ta không thể hòa giải với người Cộng Sản.
Phan Nhật Nam, tốt nghiệp Khóa 18 Trường Võ Bị Quốc gia Việt Nam, phục vụ tại Binh chủng Nhẩy Dù, rồi Biệt Động quân, phóng viên chiến trường, thành viên thuộc Phái đoàn VNCH tham dự Ban Liên Hợp Quân Sự Trung Ương 4 Bên và 2 Bên. Sau 1975, ông bị giam 14 năm và bị chỉ định nơi cư trú thêm 3 năm, tổng cộng 17 năm. Ngoài các tác phẩm như Dấu binh lửa, Mùa hè đỏ lửa, Dọc đường số 1 vv. ông còn để lại một tài liệu với Tù bình và Hòa bình. Trong tác phẩm cuối này, xen kẽ vào các cuộc họp, ông còn tường thuật và cho biết cảm nghĩ về Huỳnh Tấn Mẫm, luật sư Ngô Bá Thành, Phong trào Nhân dân chống Tham nhũng cùng các linh mục khuynh tả, nhất là nhóm chủ trương các tờ Đối Diện, Đồng Dao và Đứng Dậy.
![]()
Phan Nhật Nam – Đại úy Sư Đoàn Nhảy Dù Quân Lực VNCH (tư liệu PNN) và bìa sách Tù Binh và Hòa Bình, bản Việt ngữ và bản dịch Anh ngữ
Tôi trích dẫn vài đoạn chính trong chương “Trên chiến địa trong Sài Gòn”, Tù binh và Hòa bình (Hiện Đại xuất bản, 1974), nhắm cho thấy một quan điểm rất khác về Phong trào Nhân dân chống Tham nhũng, hòa giải dân tộc và các cuộc biểu tình như “Ngày ký giả đi ăn mày”. Phan Nhật Nam không ngần ngại bầy tỏ rằng, không có sự hy sinh của quân nhân và gia đình, đám “cấp tiến” và “chống Mỹ” đang vung bút trên Đối Diện sẽ không có chỗ để phát biểu bất cứ điều gì. Họ “chỉ có thể viết như thế vì đang ở trong một thành phố của miền Nam. Miền đất bảo vệ bởi chính máu của chúng tôi“. Ông đề cập tới 2 chữ “hiếu chiến” trên Đối Diện đã từng được viết hoa trên Sóng Thần:
-[…]Đành rằng trong nhà binh (và cũng là một môi trường chính) tham nhũng hoành hành và tác hại gớm ghiếc. Nhưng thiểu số thụ hưởng đó quá nhỏ bé so với tập thể bao la những người chỉ mơ ước được một giấc ngủ ngắn và bữa cơm không pha mùi thuốc súng cùng máu nóng. Và quả tình thật đốn mạt và hèn hạ khi gọi chúng tôi là: “Những kẻ hiếu chiến trong cuộc chiến tranh này. Những tên diều hâu thực thụ. Thứ nhiên liệu tinh hảo và rẻ mạt ném vào lò đúc kim cương. Những kẻ đánh thuê, và khi đã là lính đánh thuê bao giờ cũng được trả một giá cao vì ý thức rõ bản chất của điều họ muốn và điều họ làm…” -Nguyễn Tử Lộc báo Đối Diện số 20 . Ai thuê và với giá nào? Phải chăng là người Mỹ với giá tiền lương một sĩ quan cấp úy chưa đủ tiền mua gạo cho gia đình?! Đừng nói như trên vì nói thế là vô ân, là kẻ ngụy trí thức, là kẻ bạo dâm liêm sỉ. Hắn ta chỉ có thể viết như thế vì đang ở trong một thành phố của miền Nam. Miền đất bảo vệ bởi chính máu của chúng tôi…” [Phan Nhật Nam, bi ký Tù Binh và Hòa Bình, “Trên chiến địa Trong Sài gòn”, trang 414, Hiện Đại xuất bản, 1974, Sài gòn]
Một số đoạn nữa trong chương Trên chiến địa trong Sài Gòn cũng cho thấy một người lính kiêm viết văn–từng phải đối đầu với người Cộng Sản bằng cả vũ khí lẫn trên bàn hội nghị–suy nghĩ ra sao về những vấn đề mà Sóng Thần cũng có đăng tải và đề cập tới:
[…]Nhưng tháng 7-74 trên báo chí đối lập khuynh tả, trong những cuộc hội thảo của lực lượng đối lập tiến bộ yêu nuớc, của đám trí thức Sài Gòn nhan nhản xuất hiện một loại luận cứ: “Chỉ vì Hiệp Định Genève 1954 không được thi hành nên mới xảy ra chiến tranh trong hai mươi năm qua và vì “mâu thuẫn” vẫn còn nên Hiệp Định Ba Lê 28-1-73 không được thực hiện, Hòa Bình cho Việt Nam vì thế chưa có. Cuối cùng, chỉ còn con đường hòa giải và hòa hợp dân tộc, con đưòng độc nhất để hoàn thành hòa bình…” Loại luận cứ này được coi như chót đỉnh của ý thức tiến bộ của đám trí thức đối lập ở miền Nam. Song, tôi muốn hỏi những người này những câu hỏi cụ thể: Tại sao không dùng lại xác định: Vì Hiệp Định Ba Lê không được thi hành (Như đã dùng với Hiệp Định Genève) mà chỉ lấy cớ miền Nam còn “mâu thuẫn”? Mâu thuẫn gì? Ai mâu thuẫn với ai? Tại sao các anh không dám nói thẳng: Cũng chính bởi vì Hiệp Định Ba Lê không được thi hành nên hòa bình chưa có và chính phe Cộng sản là phe phá hoại nhiều nhất thâm độc nhất, có hệ thống nhất. Hai mươi năm chiến tranh, hai năm “hòa bình” mất dạy chưa làm cho đám người này thấy đủ, biết được một sự thật-Sự thật rất đơn giản- Làm thế nào hòa giải được cùng người Cộng sản. Người Cộng sản mang quốc tịch Việt Nam!!!” (Phan Nhật Nam, sđd, trang 398-399]
Ông phản bác các Linh mục Trần Hữu Thanh, Chân Tín, Nguyễn Ngọc Lan:
[…]Trong những tháng 8, 9, 10 năm 1974 tại Sài Gòn có phong trào chống tham nhũng tố đích danh Tổng Thống Thiệu bằng một cáo trạng sáu điểm, phong trào đòi Tự Do, Dân Chủ, đòi hỏi hủy bỏ sắc luật 16-69 và 007, những sắc luật kìm kẹp báo chí một cách chặt chẽ hà khắc .… Cuộc tranh đấu lên đến cao điểm: Đòi hỏi chính phủ Tổng Thống Thiệu phải thực thi Hiệp Định Ba Lê, thành lập Hội đồng Hòa giải gồm có ba thành phần và chấm dứt ngay tiếng súng để cùng ngưòi Cộng sản “Hòa hợp và hòa giải trong tinh thần dân tộc.” Phong trào tập trung được toàn thể những linh mục Công giáo cấp tiến cánh tả như Nguyễn ngọc Lan, Phan khắc Từ, Trương bá Cần, Chân Tín… Những người của nhóm Đối Diện trước đây. Phía Phật giáo cũng nhập cuộc trên một địa bàn khác với sự đồng ý của giáo hội Ấn Quang tích cực yểm trợ cho Lực lượng Hòa giải, Chủ tịch là Vũ Văn Mẫu .… (sđd, 403-404)
Và Cha Thanh cũng là lý thuyết gia của Phong Trào Nhân vị ở Vĩnh Long trước đây, một Linh mục thuộc Dòng Chúa Cứu Thế nổi tiếng về hùng biện và tinh thần chống cộng của người dân gốc Quảng Trị. Mục đích của phong trào thoạt tiên rất chính đáng, vì đó cũng là cơ hội cuối cùng để miền Nam kiện toàn lực lượng đối lập trong thế tranh đấu đối với Cộng sản lẫn phe Quốc gia, hình thành một lực lượng hòa giải trong giai đoạn sắp tới khi Hiệp định Ba -lê được thi hành theo từng chi tiết nhỏ. Thái độ và tinh thần chung của Cha Trần hữu Thanh, chủ tịch phong trào là thái độ tích cực đấu tranh với tinh thần cấp tiến, thiết tha đến tương lai của miền Nam, một tương lai rất gần phải chung sống cùng người Cộng sản .…”(sđd, trang 405)
[…]Nhưng phong trào đã không phải chỉ ngừng ở phạm vi chống tham nhũng thuần túy như danh xưng, cũng trái ngược luôn với lời của Linh mục Thanh nói ở Xóm Mới hôm 6 tháng 10 …. “Chúng tôi không đòi lật đổ Tổng Thống Thiệu, ông Thiệu muốn ngồi thêm năm, mười năm nữa cũng được, nhưng cần nhất là ông Thiệu phải quyết liệt bỏ tham nhũng vì ba, bốn tháng nữa là Việt Cộng vào đây ở với chúng ta, mà với tình trạng tham nhũng thối nát thế này thì chúng ta “lúa rồi”. Lời nói của Cha Thanh, hướng đi của phong trào, mục tiêu của phong trào lần lần có những xa cách, nếu không nói là trái ngược nhau. Mà sau hơn một tháng bùng nổ, phong trào đã đi đến điểm cao “Vận động trưng cầu dân ý về việc bất tín nhiệm Thổng Thống Thiệu hay không.” Mục tiêu chót đã không dấu diếm- Để chuẩn bị thế Hòa giải sống chung với người Cộng sản. Tôi dừng lại ở đây để trở lại vấn đề ban đầu: Có thể hòa giải hay không cùng người Cộng sản Việt Nam. Phải, không thể nghi ngờ thiện chí và lòng tha thiết muốn hướng dẫn dân chúng vào một phong trào sinh tử để chuẩn bị thế nhân dân tranh đấu với đối phương, một kẻ quỷ quyệt tinh vi, vô cùng thâm độc trong việc khuynh đảo, gây hỗn loạn, cướp chính quyền. Nhưng hướng tấn công chính của phong trào (Tổng Thống Thiệu) cùng mục tiêu tối hậu (hòa giải cùng người Cộng sản) đã gây trong tôi những công phá mạnh mẽ bởi mối phát hiện nghi ngờ: Phong trào hay nhóm linh mục lãnh đạo hay cụ thể hơn là Cha Thanh chỉ là những lực lượng dọn đường để sống chung cùng người Cộng sản bởi một áp lực tinh vi ghê gớm- Sức công phá gây nên nỗi não nề khi theo dõi các cuộc biểu tình (to lớn và quan trọng nhất), như cuộc biểu tình ngày 10-10-74 tại Sài Gòn. Nhìn thấy tận mắt một lớp đào kép cũ diễn trò vui trên đau đớn và hy vọng cuối cùng của nhân dân. Phong trào phải chăng đã xử dụng nhân dân như là một con ngựa chiến để đi đến đấu trường (…) Nhưng là cảm giác gây nên bởi tinh thần cấp tiến “Có thể sống chung được cùng người Cộng sản” của những người đã có kinh nghiệm máu với cộng sản. Tôi khai triển tiếp vấn đề này…” (sđd, trang 406-408)
Những dữ kiện thượng dẫn đưa đến kết luận người Miền Nam không thể hòa giải với người Cộng sản Việt Nam:
[…]Có thể hòa giải với người Cộng sản Việt Nam được không? Chúng tôi cần khẳng định lại, vì ngay ở xưng danh, trong khi chúng tôi gọi họ là những người Cộng sản Việt Nam, những người Việt theo chủ nghĩa Cộng sản; trái lại họ gọi chúng tôi là “Ngụy quân”. Họ dành riêng cho mình quyền và bổn phận phải làm “Cách mạng, dân tộc, giải phóng miền Nam.” Chỉ có họ mới là người Việt Nam yêu nước; người Hà Nội, Thanh Hóa, ở các xã giải phóng mới là nhân dân yêu nước, tiến bộ,yêu hòa bình còn nhân dân ở An Lộc, Quảng Trị, ở Tân Mai ( Biên Hòa), ở Cai Lậy, Song Phú là nhân dân “Ngụy” không được quyền sống mà cần phải giết bỏ và tiêu hủy.…(sđd, trang 414-415)
“[…]Họ có muốn ta hòa giải cùng họ không? Chắc chắn là không. Vậy ta hòa giải với ai và như thế nào? Tôi xin trao lại phần trả lời cho những người hòa giải. Nói thêm một điều: Nếu người Cộng sản chịu hòa giải trong một chiến thuật đoản kỳ nào đó, chắc chắn rằng họ cũng không ngồi chung chiếu với ‘lãnh tụ’ Dương Văn Minh, Vũ Văn Mẫu chứ đừng nói đám đào kép cải lương mới nổi từ đồng lầy chính trị miền Nam.… (sđd, trang 417)
Từ một người giao trả tù binh đến trở thành tù binh, Phan Nhật Nam sẽ không phải là thanh niên duy nhất không bao giờ phải bào chữa cho quyết định chống Cộng Sản. Trước ông, Dương Nghiễm Mậu, người cũng được biết đến như một nhà văn và một ký giả chiến trường, đã bày tỏ quan điểm chống Cộng Sản nhiều lần. Tôi sẽ trích dẫn ông vào đoạn khác, sau khi trích dẫn nhà thơ Hà Thượng Nhân (bút hiệu của Trung Tá Phạm Xuân Ninh), chủ nhiệm nhật báo Tiền Tuyến.
§ Nhà thơ Hà Thượng Nhân, Chủ nhiệm Nhật báo Quân đội Tiền Tuyến
Trong một bức thư ngỏ vào tháng giêng, 1973, Hà Thượng Nhân “làm trung gian” để nhận và chuyển tiền “của đồng bào ở Hoa Kỳ cho nạn nhân chiến cuộc” đặng cảm ơn nhà hoạt động Hoàng Văn Chí, bút danh Mạc Định, lúc ấy định cư tại Hoa Kỳ. Ông được biết đến với độc giả người Việt qua cuốn Trăm hoa đua nở trên đất Bắc. Tôi muốn trích dẫn vì Hà Thượng Nhân và Hoàng Văn Chí đã có kinh nghiệm đau thương với những “danh từ” cao đẹp mà người Cộng sản đưa ra nhử chúng ta. Trên thực tế, họ thực hành hoàn toàn ngược lại:
-[…]Cũng chính vì thế anh không chịu làm công chức để rồi suýt bị giết trong thời kháng chiến, chỉ vì nghĩ rằng tuy giầu có nhưng “mình không thuộc loại cường hào ác bá”. Nghĩ thương cho anh! Tướng Nguyễn Sơn người bạn “cột chèo” của anh đã cho anh đọc tập tài liệu về cải cách ruộng đất. Ông ta đã ngầm nhắc anh nên cuốn gói mà đi. Anh không đi. Để bị bắt, bị giam. May mà anh còn sống để thoát được vào Saigon. Anh còn nhớ câu đầu tiên mà anh nói với tôi khi ta gặp nhau lại là câu gì không? Tôi không sao quên được anh Chí ơi! Đó là lời thú tội. Hiện bây giờ ở Miền Nam này cũng còn không biết bao nhiêu người như anh xưa kia. Chúng ta hiểu cộng sản theo lý luận của những người tự do. Chúng ta đã bị lầm lẫn bởi những danh từ. Người cộng sản không nghĩ như chúng ta, không làm như chúng ta. Khi họ nói phải tiêu diệt cường hào ác bá thì ta phải hiểu rằng ta sẽ là cường hào ác bá nếu ta chẳng phải là đảng viên hoặc không chấp nhận đường lối của đảng. Bởi thế, Hoàng Văn Chí và cha ông Hoàng Văn Chí làm cách mạng trước ai hết, hy sinh cho cách mạng trước ai hết, mỉa mai thay, lại bị liệt vào hàng ngũ cường hào ác bá. Mà tôi quên nhắc lại câu anh nói với tôi lần đầu gặp lại. Rằng “đừng tin vào bề ngoài của danh từ”. Danh từ là “Nhân dân dân chủ chuyên chính”. Dân chủ của nhân dân. Nhân dân cầm chính quyền, cương quyết tiêu diệt kẻ thù của mình. Nhưng nhân dân không phải là anh, là tôi. Nhân dân phải hiểu là người cộng sản. .… [Hà Thượng Nhân, Mục “Tạp ghi”, trang 2, nhật báo Tiền Tuyến-Tiếng nói của Quân Dân miền Nam tự do, số 2378, ngày 26. 1. 1973-Tài liệu của Võ Phi Hùng, Huỳnh Chiếu Đẳng (Quán Ven Đường) và Đại học Cornell, http://ndclnh-mytho-usa.org/KhoSachCu/Nhat%20Bao%20Tien%20Tuyen/TienTuyen_2378%2026JAN1973.pdf ]
Thật là thấm thía: “Chúng ta đã bị lầm lẫn bởi những danh từ…” Vào tháng 4, năm 1975, ý nghĩa của những “danh từ” hòa bình, hòa giải này đã được chứng kiến nhỡn tiền sau sự thất thủ của Việt Nam Cộng Hòa.
2.1.3 Mấy tầng huyết đổ/Lệ hoen chốn này (Thạch Trung Giả, cuối tháng 3.1975) — Việt Nam Cộng Hòa thất thủ
Kết quả như chúng ta đã biết, VNCH bị xóa chỉ 6 tháng sau. Sau 1975, Đảng Cộng Sản đóng cửa tất cả các tờ báo, chỉ còn báo của chính phủ Cộng Sản. Không còn báo để các Thư ký Tòa soạn thiêu hủy cho “thế giới” chứng kiến hay đăng những bản tin được hàng triệu con tim thổn thức theo dõi mà chỉ có Cơm nhà quà vợ báo… Nhân Dân (câu này tôi được nghe từ nhà thơ Tô Thùy Yên, người bị giam mươi năm và tự tử mà không chết trong tù Cộng sản). Dĩ nhiên không ai dám đốt báo Nhân Dân mà chỉ dùng gói quà tiếp tế cho “tù cải tạo” thôi. Tôi đã được nghe và được đọc một số tin tức rằng, các bà vợ hay thân nhân thăm tù đã khéo gói quà vào các tờ báo có những mẩu tin cần biết như con cái của “Ngụy” đứng vào hàng thứ mấy (mươi) khi dự thi tuyển vào các đại học. Không luật sư nào mũ mão xênh xang ra tòa trước ống kính các hãng thông tấn Thế Giới hay Quốc Tế vì đã có Tòa án Nhân Dân thay thế. Một đoạn sau đây của nhà thơ Trần Đình Sơn Cước (Sài gòn) cho thấy sự tương phản kinh hoàng giữa hai chế độ khi luật sư–chứ đừng nói tới phó thường dân– phản đối nhà cầm quyền Cộng Sản:
[…] Anh đã sẵn sàng cùng bè bạn, những luật sư, trí thức, chỉ mới hai năm sau ngày chế độ mới thiết lập, cùng nhau ra bản “Tuyên Ngôn Nhân Quyền Của Những Người Việt Khốn Cùng”. Theo lời kể lại của chính luật sư Trần Danh San, người cùng luật sư Triệu Bá Thiệp chấp bút bản Tuyên Ngôn: “Chúng tôi gồm hơn 10 luật sư trước 1975 đang hành nghề tại Huế và Sài Gòn đã hẹn nhau chia làm hai ngả tiến theo hai đường tập trung trước nhà thờ Đức Bà vào chiều ngày 23 tháng tư năm 1977. Chúng tôi đã dùng một cái loa phóng thanh qua một máy ghi âm nhỏ để đọc lên bản Tuyên Ngôn. Ngay lúc đó công an ập đến bắt chúng tôi về Tổng Nha Cảnh Sát cũ rồi sau đó giải về Phan Đăng Lưu” (2). Cái giá mà họ phải trả là những ngày tù tội qua nhiều trạm giam khắc nghiệt với các bản án nặng nề. Có một vài người phải tự sát hoặc chết trong lúc thụ án…” [Trần Đình Sơn Cước, “Luật sư Nguyễn Hữu Doãn, ‘Cổ vật của một thời lãng mạn'”, Ngày http://vanviet.info/van/luat-su-nguyen-huu-don-co-vat-cua-mot-thoi-lng-man/]
Không có Trần Đình Sơn Cước và nhiều thường dân thuật lại, chính tôi còn không biết hành động dũng cảm của quý luật sư này, nói chi tới truyền thông thế giới và quốc tế vẫn còn bị hạn chế tại Việt Nam. Trước đó, linh mục Giuse Nguyễn Thế Thuấn thuộc Dòng Chúa Cứu Thế, dịch giả Kinh Thánh Công Giáo, theo một số nguồn tin ngay từ chính những người Công Giáo, đã bị Cộng sản hạ sát vào ngày 28.3.1975 khi đi giảng cho tín đồ tại Di Linh, Lâm Đồng. Một nhóm tín hữu và linh mục–gồm có cả linh mục Chân Tín, Nguyễn Ngọc Lan, Nguyễn Quốc Thái vv.–lập tức chuyển bản thảo của bản dịch Kinh Thánh Phần Cựu Ước còn dang dở về Sài gòn rồi hoàn tất, và cho xuất bản …chui tại Sài gòn vào năm 1976. Theo lời Nguyễn Ngọc Lan, đó có lẽ là cuốn sách đầu tiên xuất bản “chui” vì lúc đó, tuy bản Cựu Ước chưa được xuất bản, họ vẫn thêm vào cùng ba sách mà linh mục Giuse Nguyễn Thế Thuấn chưa kịp hoàn chỉnh. Họ nộp bản cho Chính Phủ …Cách mạng cứ như chuyện đã rồi để xin phép tái bản mà thật ra là xuất bản. Đợt xuất bản này gồm 10.000 bản. Hoàng Ngọc Biên (nhóm Trình Bầy) trình bầy và vẽ bìa. Tôi rất may mắn được tặng 1 bản in lại từ bản Sài gòn (lúc đó đã có tên Thành phố Hồ Chí Minh) vào năm 1976 và 1 bản do Dòng Chúa Cứu Thế in lại tại Califonia vào năm 1980. Bản Dòng Chúa Cứu Thế rất giá trị vì ấn hành đầy đủ tin tức cần thiết như ngày được cho phép xuất bản (ngày 13.11.1975) và ngày “nạp lưu chiểu” tức là được phép phát hành (tháng chạp 1976). Họ còn kèm lời giới thiệu về tiểu sử của dịnh giả và hành trình dịch sang Việt ngữ cùng cái chết của dịch giả mà họ cho là đã bị Việt Công giết: “Trong những ngày đầu của cơn ly loạn (…)Việt công đã tràn vào quận. Sáng ngày mồng 3 (?) tháng 3 (…) Ngài xin cha sở là cha Quang, cho đi thăm các tín hữu chung quanh (…) Ít ngày sau, người ta tìm thấy thi thể Ngài tại một con đường ven núi!.… (Dòng Chúa Cứu thế Việt Nam, “Vài nét tiểu sử của dịch giả”, Kinh Thánh, California, Hoa Kỳ, 1980).
Linh mục Giu-se Nguyễn Thế Thuấn
Ngày nay, cầm quyển Kinh Thánh do Linh mục Nguyễn Thế Thuấn dịch, mấy ai — ngoài giới Công giáo– biết được số phận bi thảm của dịch giả và lịch sử in … chui công lao của ông?
Đó là nói tới trong nước. Ngoài nước, Văn Bút Quốc Tế im lìm. Khi nhà thơ/Phó Chủ tịch TT VBVN Nguyên Sa và ký giả/Trung tá Không quân Trần Tam Tiệp cử nhà thơ Minh Đức Hoài Trinh dự Đại Hội Đồng VBQT hầu xin cho Trung Tâm VBVB được tái hoạt động, các Trung Tâm hội viên thuộc Khối Cộng Sản đã phản đối kịch liệt. Không có văn hào Joseph Brodsky tiếp sức đến nỗi phát khóc, Trung Tâm VBVN đã chết theo VNCH. Phong trào Phụ nữ Đòi Quyền Sống biến mất, giản dị chỉ vì dưới chế độ Cộng Sản, không ai còn tự do đòi quyền sống cho những người đang sống hùng sống mạnh ngay tại Sài gòn. Nhiều năm sau, giới ký giả ngoại quốc mới được trở lại đặng hân hạnh gia nhập đoàn tiền vệ-sáng thứ hai có nhiều người dân Việt Nam đi hàng đầu ngay từ ngày 30, tháng 4, năm 1975.
Sau khi đã tường thuật về một số hoạt động của thành phần thứ ba, nằm vùng, thân Cộng cùng một phần hoạt động báo chí phản ảnh sự tự do của Việt Nam Cộng Hòa trước 1975, tôi thu thập vài tin tức sau 1975 về các tiền vệ tưởng-là-quân-ta hầu cho thấy người cộng sản đã đối xử ra sao với những người liên quan và/hoặc cổ võ cho Phong trào chống Tham nhũng, có cảm tình và/hoặc muốn hòa giải hợp tác với họ, hoặc tham dự tích cực các tổ chức thượng dẫn, nghĩa là đại đa số đã tham dự chỉ vì thành tâm mong muốn hòa bình đích thực cho đất nước.
(Còn tiếp)
Ý thức trong tiếng nói
If history were taught in the form of stories, it would never be forgotten. — Rudyard Kipling.
Nếu lịch sử được dạy trong hình thức những câu chuyện, nó sẽ không bao giờ bị lãng quên.
(trích)
Có thể hòa giải với người Cộng sản Việt Nam được không? Chúng tôi cần khẳng định lại, vì ngay ở xưng danh, trong khi chúng tôi gọi họ là những người Cộng sản Việt Nam, những người Việt theo chủ nghĩa Cộng sản; trái lại họ gọi chúng tôi là “Ngụy quân”. Họ dành riêng cho mình quyền và bổn phận phải làm “Cách mạng, dân tộc, giải phóng miền Nam.” (trích, Phan Nhật Nam)
Đúng vậy. Người CS họ có hẳn một mặt trận tiếng nói và văn bản chữ viết trong chủ trương cách mạng giải phóng của nó. Họ có một lằn ranh rất rõ ràng ta và địch. Trước 75, sau 75, và ngay bây giờ cũng vậy. Trước 75 người dân Miền Nam đã đọc được, nghe được loáng thoáng trên báo trên đài phát thanh những từ ngữ: thống nhất, tự hào, hòa bình, hòa giải, hòa hợp, biểu ngữ, quê hương, dân tộc, giải phóng, xuống đường, v.v.
Đọc giả thính giả lúc ấy nói chung ít để ý. Cũng là tiếng Việt cả chứ có gì đâu. Đúng là tiếng Việt. Có điều, ngay sau ngày 30/4/75 thì loại tiếng Việt này xuất hiện hiên ngang tràn ngập dữ dội hơn. Cải tạo, thủy lợi, tư sản, mại bản, học tập, ngụy quân, ngụy quyền, đế quốc, thống nhất, tự hào, vinh quang, tiêu diệt, phản động … Đó là những ngày rất hồ hỡi phấn khởi và rất xanh mặt khiếp đảm.
Nhưng mà, ít người để ý, hầu hết ngôn ngữ tiếng nói loại này đều gần như cóp nguyên xi từ báo chí sách vở của China. Phản động cực đoan quá khích ngay bây giờ trong tiếng nói VN vẫn còn nguyên sức nặng đe dọa và trấn áp của tập thể quần chúng theo đảng. Ngay cả từ “Việt Cộng” cũng rất hàn lâm, nó được định nghĩa trong từ điển của TQ:
Việt Cộng 越共 = Việt Nam Cộng Sản Đảng 越南共产党. Và nó được dùng rất trang trọng trên các trang báo đảng CSVN, bản tiếng Hoa.
https://cn.dangcongsan.vn/