Trang chính » 50 Năm Văn Học Việt Nam Hải Ngoại (1975-2025), Giới thiệu tác giả, Nghiên Cứu, Phê Bình, Quan Điểm Email bài này

Chân Dung Người Lính Việt Nam Cộng Hòa trong và ngoài Trại Giam Tù Cải Tạo của Cộng Sản: Trương Vũ (kỳ 4)

Trương Hồng Sơn - 1968


Chuẩn uý / nhà tiểu luận Trương Vũ (Trương Hồng Sơn) trong thập niên 1960

3-Nhà tiểu luận/họa sĩ/ sĩ quan biệt phái Trương Vũ viết về chinh phu và chinh phụ Miền Nam

Nếu Phùng Nguyễn chú ý đến huyền thoại “người lính VNCH ăn thịt người” đã xuất hiện trong sáng tác của một số nhà văn Miền Bắc, thì nhà tiểu luận/họa sĩ/sĩ quan VNCH biệt phái Trương Vũ (Trương Hồng Sơn) bàn về người lính VNCH và gia đình người lính sau 1975 điển hình là bài “Nói với chàng Siêu”. Bài này xuất hiện lần đầu trên tạp chí Văn Học số 95, tháng 3.1994 (trang 2-10 [8]). Giữa năm 2019, 25 năm sau, bài này được in lại trong tuyển tập Đuổi bóng hoàng hôn, Nhà Xuất bản Nhân Ảnh, (trang 89-99) [9] 31 năm sau, “Nói với chàng Siêu” được in lại trong tạp chí Ngôn Ngữ Số Đặc Biệt-Trương Vũ, Bằng Hữu & Văn Chương. Đây là một trong những đoạn mà tôi sẽ bàn đến:

– … Trong loạn ly, cái đau thương đâu phải chỉ đến với người lính. Hay, nói cho đúng hơn, trong loạn ly, cái đau thương lớn nhất vẫn không đến với người lính. Nó đến với vô số người mẹ, người vợ, những đứa con thơ và cho rất nhiều thường dân vô tội. Mà ngoài cái đau đớn, sự hy sinh của những con người đáng thương này thì sự can đảm, sức chiến đấu kiên trì của họ nhiều khi phải được kể là vượt qua những người lính. Những ai đã ở lại miền Nam sau 75 chắc chứng kiến được điều đó. Người cầm súng đã bỏ cuộc nhưng những người không cầm súng đã không bỏ cuộc. Họ phải tiếp tục chiến đấu cật lực với cuộc đời. Và, nếu sau đó, cuộc đời đã không đến nỗi tàn mạt như bãi chiến trường, thì điều đó phải là do công của họ. Chính họ, chớ không phải những người cầm súng, đã khiến cho cuộc đời phải tiếp tục, theo một chiều hướng khác, không theo ý muốn của những người nắm quyền lực mới. Trong tập hồi ký về tù cải tạo của Tạ Chí Đại Trường (3), người viết sử này nói nhiều về họ. Ông cũng ghi lại nhiều chuyện thật mà thường chỉ được nghe những cựu tù nhân kể lại ở ngoài đời. Những chuyện mà khi nghe, người lính Việt Nam không muốn nhớ. Rất ít thấy hay không thấy ghi lại trong những hồi ký khác. Ông kể chuyện những người vợ phải bán thân để nuôi chồng, hay tệ hại hơn, chỉ để chiều chuộng những thói quen hưởng thụ rất vị kỷ của chồng cho dù vào lúc đó các ông ấy đang ở trong tù. Nói chung, thì hầu hết phải vật lộn cực khổ với đời sống, chắt chiu tiền bạc, bồng bế dìu dắt con thơ, băng qua biết bao nhiêu dặm đường để mang quà đến trại học tập thăm nuôi chồng. Có ai đếm được bao nhiêu người đàn bà đã ngã quỵ trong những hoàn cảnh như vậy? Có ai đếm được bao nhiêu trẻ thơ chết oan uổng dọc bờ, bụi nào trên quê hương trong và sau cuộc chiến? Mấy ai gọi hồn họ?   … [Trương Vũ, “Nói với chàng Siêu”, tạp chí Ngôn Ngữ Số Đặc Biệt-Trương Vũ, Bằng Hữu & Văn Chương, trang 51-52, tháng Giêng 2025, Hoa Kỳ * Chú thích của Nguyễn Tà Cúc: Đoạn này bỏ 4 giòng so với Bản Văn Học và không in ngả một số giòng]

Bản xuất hiện trên Tuyển tập mới nhất sẽ được gọi là bản Trương Vũ 2025  [10] nơi tôi sẽ sử dụng để trích dẫn. Cứ nhìn số 30 tác giả thuộc các thế hệ khác nhau, cùng hay khác lãnh vực trên khắp bốn vùng chiến thuật, bầy tỏ về tài năng và tài hoa của ông, là có thể hình dung được sự tin cậy, yêu mến và, có khi, hâm mộ rộng rãi ấy. Độc giả có thể vào đọc danh sách tác giả tham dự cùng nội dung tạp chí này tại https://damau.org/101910/tap-ch-ngn-ngu-so-dac-biet-ve-truong-vu-ra-mat-thng-ging-2025.

Cũng như trường hợp Phùng Nguyễn với Da Màu, Trương Vũ (theo tôi biết) góp phần cụ thể giúp đỡ anh chị em duy trì tạp chí Văn HọcHợp Lưu. Xuất thân học cao tại Hoa Kỳ, ông hoạt động văn học với người bản xứ nên tiếng nói của ông trong thế giới này quả có chút trọng lượng. Nhưng ông đã viết ra sao về Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa mà chính ông có thời phục vụ dù ngắn ngủi (2 năm) trong một đơn vị không tác chiến, rồi sau đó, đa phần chỉ ở hậu phương như một sĩ quan biệt phái tại Viện Đại học Cộng đồng Duyên hải Nha Trang. Bài “Nói với chàng Siêu” sẽ cho chúng ta rõ. Thông thường, tôi không trở lại một vấn đề đã từng nhận xét, nhất là chỉ nhận xét ngắn ngủi trước đó nhiều năm, nhưng Trương Vũ không những đã biên tập “Nói với chàng Siêu” mà bản này còn tái hiện trong tuyển tập 2025 hầu như nguyên bản với chút thay đổi xem ra làm mạnh thêm lập luận trước đây. Do đó, tôi sẽ sử dụng thí dụ Trương Vũ hầu nhấn mạnh vào một khía cạnh trong câu chuyện với Phùng Nguyễn: Cuộc lữ hành trên đường tiến tới hầu khám phá sự thật sẽ không bao giờ ngừng dù, đôi khi hay lắm khi, chúng ta chỉ là kẻ độc hành. Hơn thế nữa, Trương Vũ còn sử dụng một chi tiết trong Một khoảnh Việt Nam Cộng hòa nối dài của sử gia/Trung úy Thủy quân Lục chiến/Đại úy Bộ binh biệt phái Tạ Chí Đại Trường nên tôi muốn mở rộng vấn đề, cũng nhắm công bằng cho sử gia này.

Theo tôi, chủ ý tốt đẹp của Trương Vũ, mà ai cũng nhận được ngay, là muốn vinh danh người vợ lính VNCH (“chinh phụ”) thay vì chỉ nhắc đến các “chinh phu”. Tuy thế, tôi muốn mở rộng phần các “chinh phu” bằng cách liệt kê hoặc so sánh các phát biểu của ông với một số hoạt động của ngưởi lính VNCH nhất là sau 1975. Giữa 3 bản mà tôi có (1994, 2019 và 2025), Trương Vũ đã bỏ một vài chữ không quan trọng trong bản 1994. Đằng khác, tôi sẽ in đậm những chỗ ông thêm vào hay, thảng hoặc, chữa lại, nay xuất hiện trong bản 2025. Từ đây trở đi, tôi sẽ trích dẫn từ bản Trương Vũ 2025 theo thứ tự trong bài và sẽ trích dẫn càng dài càng tốt hầu công bằng cho ông.

  • Những người lính VNCH thất trận

Mở đầu, ông tổng kết về người lính và Quân Lực VNCH sau khi thất trận khiến một số phải di chuyển ra ngoại quốc:

– “…Bạn bè tôi hầu hết đều có tuổi trẻ đầy ước mơ. Trong gần hai mươi năm qua, họ lại phải thu mình hoặc chịu đày đọa trong bẫy sập của thực tế. Thực tế thứ nhất là cái quân lực mà họ phục vụ không còn nữa. Thực tế thứ hai là dù quân lực đó không còn nữa và cuộc chiến đã chấm dứt, họ cũng vẫn phải sống trong lao tù. Thực tế thứ ba, làm cho đời sống lao tù của họ cay đắng hơn, nhục nhã hơn, là vì quân đội đó tan vỡ quá nhanh chóng, tan vỡ trong hỗn loạn, và gần như không có chống cự. Thực tế thứ tư là dù ở tuổi nào, con người cũng vẫn biết mơ ước, và thông thường, chỉ cảm thấy hạnh phúc khi những ước mơ có cơ thực hiện. Ước mơ, hoang tưởng và giả dối là những cái hoàn toàn không giống nhau. Đời sống ở Mỹ hay ở những nước phương Tây nói chung lại dễ cho phép những cái rất khác nhau này được sống lẫn lộn. Do đó, trước cùng một sự kiện, con người có những phản ứng hoàn toàn khác biệt. Người lạnh lùng, người thích thú, người phẫn nộ, người chua chát, người giễu cợt, v.v…” [Trương Vũ 2025, Tạp chí Ngôn Ngữ Số Đặc Biệt-Trương Vũ, Bằng Hữu & Văn Chương, trang 44-45, tháng giêng 2025 * Chữ in đậm là chữ không có trong bản Trương Vũ 1994]

Tiếp đó, ông xác định mục đích của bài viết.

3.2       Chinh phụ và chinh phu của hai mươi năm cũ

Mục đích của ông rất rõ:

– …Tôi viết bài này cho những chinh phụ của hai mươi năm cũ mà dấu binh lửa vẫn còn. Đặc biệt, cho những người phải bắt đầu lại cuộc đời ở mái tóc chàng Siêu. Dù ít dù nhiều, họ đều có những ước mơ. Nhọc nhằn hơn cả là phải lựa chọn ước mơ nào để thực hiện cho kỳ được và ước mơ nào nên quên đi. Sự lựa chọn này nhọc nhằn cho bất cứ ai khác, không riêng gì họ…” [Trương Vũ 2025, sđd, trang 45 * Chữ “(chinh) phụ” chỉ xuất hiện ở bản Trương Vũ 2025. Trước đó, chữ “(chinh) phu” xuất hiện cả trong bản Trương Vũ 1994 (trang 3, Văn Học, sđd) và bản Trương Vũ 2019 (trang 90, Đuổi bóng hoàng hôn, sđd]

Đoạn ông đặt hai tiếng hô “Nghiêm”—một của “cựu tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 8 Thủy Quân Lục Chiến” VNCH trong một bữa ăn uống dạ vũ và một của viên sĩ quan Nhật khi gặp lại đoàn lính tử trận—tiếp theo nhau:

 – “…Cách đây hai tháng, nhận lời mời của một người bạn thuộc binh chủng Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam Cộng Hòa, tôi đến dự dạ tiệc kỷ niệm ba mươi chín năm thành lập binh chủng này. Mới vào, tôi chứng kiến những cảnh thật cảm động. Lần đầu tiên trong một buổi dạ tiệc, tôi nghe nhiều quan khách cùng hát theo bài quốc ca Việt Nam Cộng Hòa và hát trong xúc động. Nét mặt của các cựu quân nhân Thủy Quân Lục Chiến thuộc đủ lứa tuổi, thuộc nhiều hoàn cảnh khác nhau, khi đứng trình diện quốc kỳ, quân kỳ, cùng với tiếng hát của họ đã làm mọi người quên hiện tại. Một không khí hoài niệm bao trùm. Một không khí của tiếc thương, của tình đồng đội, và của định mệnh, thứ định mệnh dành cho những người lính mà loại tuổi xanh của họ đã khiến họ lựa chọn một binh chủng có khả năng đưa họ đến cái chết nhanh hơn. Tối hôm đó còn có vẻ như một đêm đoàn tụ của nhiều bạn bè xa cách lâu năm. Thời còn trẻ, họ cũng sống lăn lóc với nhau trong quân ngũ, trên chiến trường. Lúc đó, họ không khác nhau mấy. Ngày nay, gặp lại, mỗi người có một đời sống gần như hoàn toàn khác biệt. Có người đã rất thành công trong nghề nghiệp. Có người chưa rành ngôn ngữ mới, chưa biết làm gì để sống. Có người sống ở Mỹ từ 75. Có người trải qua gần mười lăm năm trong lao tù. Cùng tuổi nhau mà người này trông trẻ trung, nhanh nhẹn, còn người kia thì lụ khụ, tóc bạc, răng cỏ không còn. Có người sống khác hẳn đời sống cũ, đạo hạnh như một thầy tu. Có người vẫn hào hoa như ngày còn trong lính. Nhưng khi tiếng kèn chiêu hồn tử sĩ được thối lên, trông họ thật giống nhau. Không phải chỉ vì họ khoác lại bộ quân phục cũ để trình diện quân kỳ, mà có lẽ vì trên tất cả, vào lúc đó, tình bạn, tình đồng đội, sự hồi tưởng về một tuổi trẻ đã mất và những bạn bè đã mất chế ngự mọi tình cảm của họ. Phải chi cuộc đời ngừng lại ở đó và thời gian đóng khung ở đó. Cuộc đời lại tiếp tục theo cách riêng. Bình thản. Bình thường. Và như thế hồn tử sĩ đã được mời gọi trở về trong không khí của một dạ tiệc. Có rất nhiều bài diễn văn và trình diễn văn nghệ giống như ở hầu hết các dạ tiệc có tính cộng đồng của Việt Nam. Khi dư âm của tiếng kèn chiêu hồn tử sĩ vẫn còn đâu đó và bài diễn văn của đại diện Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam bắt đầu, thì những tiếng cười nói, giỡn cợt ồn ào cũng bắt đầu nổi lên. Cái ồn ào lên cao độ khi bài diễn văn cuối cùng chấm dứt và khi ban tổ chức chuẩn bị tiễn đưa quốc, quân kỳ. Lúc đó, bạn tôi, cựu tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 8 Thủy Quân Lục Chiến bước lên máy vi âm. Có vẻ như anh lấy hết sức bình sinh để hét lên một tiếng “nghi…ê…ê…m” rung động cả phòng tiệc. Tiếng hô của anh kéo dài hơn bình thường. Tiếng ồn ào giảm dần. Cuối cùng thì tắt hẳn. Tiếng hô của anh cũng ngừng lại ở đó. Nhờ vậy quốc kỳ và quân kỳ được tiễn đưa trong trang nghiêm. Sau đó, nhạc dạ vũ trổi lên. Vui nhộn. Một số người tiến ra sàn nhảy, dẫn đầu là một cựu trung tướng thuộc quân lực Việt Nam Cộng Hòa (…) Tiếng hô nghiêm của anh xoáy vào tâm can tôi. Nó khiến tôi nhớ đến tiếng hô của một sĩ quan Nhật trong cuốn phim mới nhất của đạo diễn lừng danh Akira Kurosawa. Tôi muốn ghi lại đây phần xây dựng của Akira Kurosawa. Nhan đề của phim là “Những giấc mơ” (Dreams), trong đó ông xây dựng những giấc mơ khác nhau để nói về nhũng ước mơ, những sợ hãi, những ám ảnh trong cuộc đời. Từ giấc mơ của tuổi thơ đến những giấc mơ của tuổi thanh niên, trung niên và sau cùng là giấc mơ của tuổi già. Thật ra cũng có thể coi đây là những giấc mơ của một người trải qua nhiều giai đoạn khác nhau trong cuộc đời người đó. Tôi xúc động nhiều khi xem phần liên hệ đến những người lính, tựa đề “Con đường hầm” (The Tunnel) (…) Gài lại nút áo cho nghiêm chỉnh, lấy hết sức bình sinh hô “nghiêm”, hét thật to ra lệnh cho trung đội quay lại. Trung đội 3 làm theo lệnh anh, bước răm rắp trở lại đường hầm. Có tiếng kèn chiêu hồn tử sĩ… [Trương Vũ 2025, sđd, trang 45-47, 49]

            “Tiếng kèn chiêu hồn tử sĩ…” sẽ dẫn đầu cho các đoạn phát biểu về người được và không được “chiêu hồn”.

3.3       Lính chết, dân chết, đồng bạn chết, nhiều khi chỉ do thái độ tắc trách, hốt hoảng, kém tài, hoặc hèn nhát của cấp chỉ huy ở bất kỳ cỡ nào… [Trương Vũ 2025, sđd, trang 50)

            Trương Vũ tiếp tục nhận xét:

– … Có ai biết được sự thật trong trận chiến vừa qua, bao nhiêu thường dân Việt Nam đã bỏ mình, và bao nhiêu người còn sống sót đã phải hủy hoại tuổi xanh của họ? Một triệu? Hai triệu? Ba triệu? Có biết bao nhiêu người đã ngã gục, thường dân hay lính, chỉ vì do tham vọng cá nhân, do thái độ vô trách nhiệm, do kém tài năng, do những quyết định sai lầm vội vã của cấp chỉ huy? Không làm sao đếm được. Nhưng với những con người Việt Nam bình thường, đã từng nghe bom đạn, đã từng nhìn thấy xác chết vì bom đạn, đã lăn lóc trên quê hương trong những ngày chinh chiến, cũng hiểu được là con số đó không nhỏ. Đọc các hồi ký chính trị và quân sự của những cựu chính trị gia, cựu tướng lãnh, của cả miền Nam lẫn miền Bắc, mấy ai nghe thấy một lời nhận lỗi? Lính chết, dân chết, đồng bạn chết, nhiều khi chỉ do thái độ tắc trách, hốt hoảng, kém tài, hoặc hèn nhát của cấp chỉ huy ở bất kỳ cỡ nào. Các đài truyền hình Mỹ thỉnh thoảng chiếu đi chiếu lại cảnh những người lính Cộng Hòa vừa chạy vừa bắn bừa bãi vào dân chúng để giành đường thoát vào những ngày cuối của cuộc chiến. Người lính Việt Nam ngồi xem đau thắt cả ruột gan. Ai chỉ huy họ? Tiểu đoàn trưởng, đại đội trưởng, trung đội trưởng nào? Hiện giờ những người chỉ huy này đang ở đâu? Sách báo Việt Nam ở hải ngoại hàng hàng lớp lớp. Vô số chữ nghĩa đã được dùng để chửi người Mỹ bỏ cuộc, chửi cấp trên, chửi cấp dưới, chửi lẫn nhau. Bao nhiêu chữ nghĩa đã được dùng cho những lời nhận lỗi[Trương Vũ 2025, sđd, trang 50]

 Theo câu thượng dẫn “Lính chết, dân chết, đồng bạn chết, nhiều khi chỉ do thái độ tắc trách, hốt hoảng, kém tài, hoặc hèn nhát của cấp chỉ huy ở bất kỳ cỡ nào” thì cứ cho là Trương Vũ phê bình cả 2 miền. Như vậy, phần Miền Nam thì lính (VNCH) vô kỷ luật, (quan) VNCH “hốt hoảng, kém tài, hoặc hèn nhát của cấp chỉ huy ở bất kỳ cỡ nào”. Ở bất kỳ cỡ nào?!

Tiếp theo, Trương Vũ chỉ rất rõ các cấp chỉ huy này không phải…Trung tướng/Tổng Tư lệnh Quân Lực VNCH Nguyễn Văn Thiệu mà thuộc Quân Lực VNCH trong mấy câu: “những người lính Cộng Hòa vừa chạy vừa bắn bừa bãi vào dân chúng để giành đường thoát vào những ngày cuối của cuộc chiến (…) Ai chỉ huy họ? Tiểu đoàn trưởng, đại đội trưởng, trung đội trưởng nào? Hiện giờ những người chỉ huy này đang ở đâu?” Tôi sẽ xét xem họ ở đâu cho công bằng cho cà Trương Vũ lẫn các …trưởng.

 Điều đầu tiên chúng ta được biết là ông em, tức Đại úy Quân Cảnh Hoàng Khởi Phong lúc ấy đang ở đâu. Ông này nhận Trương Vũ là “ANH TÔI” đấy [Trương Vũ 2015, “Hoàng Khởi Phong- Trương Vũ và tạp chí Văn Học”, trang 331, sđd *Chữ in hoa là của tác giả]. Tôi sẽ nhắc lần lượt đến một số quân nhân VNCH—có khi kiêm người cầm bút và/hay tù nhân Cộng Sản và/hay nhập cư theo Diện H.O. – và hoạt động của họ sau 1975 hầu mở rộng cho việc lưu lại chứng tích về vị trí của họ trong thời gian hấp hối của VNCH.

Mở đầu là hồi ký Ngày N+… của nhà thơ/nhà văn /Đại úy Quân cảnh Hoàng Khởi Phong, một hồi ký chiến tranh phản ảnh phần đời cuối của không những VNCH mà còn của một người lính đã phục vụ quê hương ấy một cách can đảm và lương thiện.

  • Nhà văn/nhà thơ/Đại úy Quân cảnh Hoàng Khởi Phong với Ngày N + …Cây tùng trước bão

Ông tên thật là Nguyễn Vinh Hiển, sinh năm 1943 tại Hải Dương, Bắc phần; di cư vào Nam; nhập ngũ, sĩ quan trừ bị thuộc binh chủng Quân Cảnh 1963-1975; buộc phải di tản một mình sang Hoa Kỳ vào năm 1975. Ông đã làm thơ và có thơ xuất bản trước 1975. Ông có giọng đọc thơ rất hào sảng và rất thấm thía. Tôi không bao giờ quên ơn ông đã giúp đỡ, khi chị em chúng tôi tổ chức Diễn đàn Phụ Nữ Khởi Hành, bằng cách không những lên góp ý (rất thành thực) vào lần thứ nhất, mà còn nhận lời trở lại phát biểu trong tư cách một diễn giả vào lần thứ hai. Trong lần phát biểu tại Diễn Đàn Phụ Nữ Khởi Hành lần II, ông đã cao hứng đọc kèm một đoạn thơ …của người khác, khiến vài-chúng-tôi buộc phải tán thưởng:

            -Mấy ông-Bắc-Kỳ nói hay mà đọc thơ cũng hay.

            Tôi nhủ thầm “Đó là nhờ công của Ban Tổ chức đã kéo các ngôi sao này ra ánh sáng, chứ cũng có vài ông-Bắc-kỳ biến cử tọa thành Bạch Tuyết ngủ trong rừng hết trơn.” Ông cũng là một thí dụ tiêu biểu của giới văn nghệ sĩ Miền Nam: không bị kiềm tỏa như hầu hết nhà văn Miền Bắc vào chủ trương hay giáo điều của chính phủ trong cùng giai đoạn. Tôi muốn cung cấp một phần chân dung của ông qua một cuộc phỏng vấn để cho thấy chân dung ấy đã phản ảnh ra sao vào Ngày N + …Cây tùng trước bão, 2 tác phẩm đánh dấu 2 đoạn đời sau 1975 của tác giả.

  • Thời Chiến trong Văn học Miền Nam 1954-1975: Phỏng vấn nhà văn/nhà thơ Hoàng Khởi Phong

Sau khi có dịp nói chuyện với nhà văn Thảo Trường vào năm 2002, tôi đã có ý định phỏng vấn các nhà văn từng phục vụ trong Quân Lực VNCH, hầu được nghe chính cảm tưởng của họ về cuộc chiến và Văn Học Miền Nam; nhất là sau khi đã có một độ lùi cần thiết cho cảm xúc lắng xuống và có cơ hội tiếp xúc đủ với những nhà văn cầm súng Miền Bắc từng là đối thủ của họ trên chiến trường. Trong loạt “Thời Chiến trong Văn học Miền Nam 1954-1975” trên Khởi Hành, tôi đã phỏng vấn vài nhà văn mà tôi tin rằng có đủ tư cách tác chiến lẫn văn chương hầu làm nhân chứng. Một trong mấy nhà văn đó là Hoàng Khởi Phong. Sau đây là vài đoạn trích dẫn từ cuộc phỏng vấn:

Nguyễn Tà Cúc: Khi nói đến Văn học Miền Nam, lập tức anh nghĩ đến điều gì trước tiên?

Hoàng Khởi Phong: Chỉ trong câu hỏi ngắn này, trong cụm từ “văn học miền Nam” phải chăng để so sánh với “văn học miền Bắc” ít nhất phải có hai điều cần nói đến là thời gian và không gian. Hiểu một cách giản dị hơn về câu hỏi này, có nghĩa là so sánh hai dòng văn học của miền Nam và miền Bắc trong thời điểm từ 1954 đến 1975. Điều đầu tiên tôi nghĩ tới là các nhà văn của miền Nam không bị ép buộc mặc đồng phục trong các tác phẩm của họ. Những nhà văn của miền Nam khi viết không bị lùa vào một một con đường độc đạo, hướng tới chiến tranh, và chiến thắng. Những người viết và các sáng tác của miền Nam vì vậy muôn hình vạn trạng. Có những nhà văn bay lượn trên không trung như những con chim đại bàng, thì cũng không hiếm những nhà văn bay la đà trong các khóm cây như những con chim sâu, chim sẻ và cũng không thiếu gì ruồi nhặng vo ve bên cỗ bàn. Những nhà văn miền Nam có người tài hoa, có người tủn mủn, có người thông thái, và cũng không thiếu người chất phác giản dị. Những tác phẩm của miền Nam vì vậy đã chạm tới mọi góc gách của cuộc sống, kể cả những góc tối tăm nhất của con người. Nói tóm lại họ không bị ép mặc đồng phục trong các sáng tác của họ… (…)

Nguyễn Tà Cúc:   Anh viết nhiều nên độc giả ít ai nhớ là tác phẩm đầu tiên của anh là về Thơ. Tác phẩm đầu tay của anh là một tập thơ, tập thơ Mặt Trời Lên in năm 1967. Lúc ấy, dĩ nhiên anh là quân nhân, phục vụ trong binh chủng Quân Cảnh. Anh thuật lại trong một bài viết tưởng niệm nhà thơ Kim Tuấn rằng Kim Tuấn viết bạt cho tập thơ đó, một tập thơ “về sau đã làm cho” anh “vất vả, lận đận không ít trong đời quân ngũ”. Cái đó không có gì ngạc nhiên cho lắm vì trong khi anh đi “bố ráp” người ta về lon áo mũ thì anh bị các ông quan khác “bố ráp” về những bài thơ anh làm. Tôi nhớ nhất câu này trong bài viết đó của anh: “Khi viết bạt cho tập thơ, Kim Tuấn đã có lần nói với tôi: ‘Thơ phú như thế này mà lại làm sĩ quan Quân Cảnh thì thật là phí’ ”.

Tôi có vấn đề với câu nhận xét của nhà thơ (quá cố) Kim Tuấn! Tôi nghĩ hồi xưa — và nhấn mạnh hai chữ “hồi xưa”– người ta vẫn nghĩ đến lính như một cái gì không vui như “bị bắt lính” hay một cái gì xui xẻo, không đáng như “thật là phí”. Nhưng tôi nghĩ khác ngay từ “hồi xưa”. Tập thể lính ấy đúng là đã hy sinh để Miền Nam có thể sống sót trong 20 năm và trong 20 năm ấy, tập thể lính Việt Nam Cộng hòa đã là cái khiên để che cho chở cho một nền Văn học có thể thành hình. Cũng vì bị đi lính tác chiến chứ không phải lính kiểng mà Việt Nam Cộng hòa có những nhà thơ nhà văn như Tô Thùy Yên, Nguyễn Bắc Sơn, anh và một đám đông đảo không kể xiết. Chiến tranh Việt Nam đã phản ảnh khá trung thực trong Thơ (Văn) Miền Nam. Một điều mà chúng ta có thể nói được ngay là khi người ta đọc một bài thơ của các tác giả này, người ta biết là người ta không phải diễn nghĩa gì cả vì chúng không hề bị nhuộm bởi một tà ý chính trị hay một sự lệch lạc (đáng tiếc) gây ra bởi sự thiếu tin tức về chính cuộc chiến tranh đó. Riêng anh, những lần gặp nhau, anh đều nhắc lại thưở làm thơ. Khi tôi mời anh lên phát biểu trong một sinh họat do Khởi Hành tổ chức, anh cũng…ráng đọc thêm một bài thơ không phải của anh. Thế thì tôi muốn lần này được hỏi anh về Thơ, Thơ thời chiến của Miền Nam, của Việt Nam Cộng hòa. Hỏi như thế tôi biết là rộng quá, tôi chỉ muốn xin anh cho biết về vài nhận xét của anh về Thơ Miền Nam.

Hoàng Khởi Phong: Tác phẩm đầu tay của tôi đúng là một tập thơ, tập thơ Mặt Trời Lên in năm 1967. Tập thứ hai, Phục Hồi Quyền Chức Làm Người, in vào năm 1972. Từ năm 1975 trở đi, khi qua Mỹ tới giờ gần 40 năm rồi tôi chỉ làm thêm có 3 bài thơ mà thôi. Thành thử bây giờ tôi chỉ là “cựu thi sĩ” mà thôi. Cuốn thơ Mặt Trời Lên này khi đi kiểm duyệt để in, nhân viên phụ trách kiểm duyệt không nói là cấm, song toàn bộ tập thơ có khoảng chưa đầy hai chục bài, bị bỏ trọn vẹn 4 bài, những bài thơ còn lại bị dập be bét. Vì muốn in nguyên vẹn không bỏ sót một chữ nào, tôi đành phải in lậu ở nhà in của Tiểu Đoàn 20 CTCT, dùng những gam giấy thừa của nhà in quân đội, chuyên in truyền đơn chiêu hồi để thả vào núi, rừng trong lãnh thổ quân khu 2. Nhà in này lúc đó do họa sĩ Thái Tăng An trông coi, mà thiếu úy Thái Tăng An lúc đó đang ở chung một nhà với tôi, thân nhau như thể anh em ruột. Để tránh những phiền toái, ngoài bìa sau của tập thơ có dòng chữ “Phổ biến dưới hình thức bản thảo dùng để tặng bạn hữu”. Dù đã thận trọng như thế, nhưng chỉ vài tháng sau tôi cũng bị kỷ luật nội bộ, đổi nhiệm sở và cấm chỉ huy năm năm. Rất may lệnh phạt này sớm bị bỏ qua, rút cục tôi chỉ bị tham gia công tác trao đổi tù binh chiến tranh rồi sau đó thuyên chuyển từ Pleiku về Đà Lạt. Khi viết những dòng chữ này, tôi rùng mình nghĩ đến những biện pháp kỷ luật mà miền Bắc đã áp dụng với các nhà văn, nhà thơ của Nhân Văn Giai Phẩm. Bây giờ nói về “thi ca trong thời chiến” và nhất là của các “nhà thơ quân đội”. Thật tình mà nói tôi rất ghét chữ nhà văn, nhà thơ quân đội. Đã có lần trả lời Nguyễn Mạnh Trinh, trong một bài phỏng vấn khá dài mà tạp chí Thế Kỷ 21 hồi đó đã chạy cái tựa: “Hoàng Khởi Phong, nhà văn nhiêu đó đủ rồi”. Nhìn vào thực tế thì phải nói là hầu hết các nhà văn, nhà thơ của miền Nam, đều có một thời gian đi lính. Khi cả nước (cả hai miền) cùng tổng động viên, thì chỉ có một số thật nhỏ thanh niên thoát khỏi bộ quân phục trên người. Bản thân tôi giao du rất kỹ với nhiều nhà văn, nhà thơ đang ở lính, và cũng khá thân với không ít những nhà văn nhà thơ trốn lính, trốn dưới rất nhiều hình thức. Chẳng những thế, trong quyền hạn của tôi vô hình chung tôi đã trợ giúp khá nhiều anh em trốn lính. Nói một cách khác thì chiến tranh chi phối tới tận cùng, ngay với một nhà thơ trốn lính, ông ta vẫn có quyền làm thơ về chiến tranh (…) Trong khi đó ở miền Nam, những nhà thơ như Nguyễn Bắc Sơn đến với chiến tranh với một sự thật hệt như mọi thanh niên phải trần truồng khám sức khỏe khi nhập ngũ:

… Ta vốn hiền khô, ta là lính cậu
Đi hành quân vẫn rượu đế mang theo
Mang trong đầu những ý nghĩ trong veo
Coi chiến trận như tai trời ách nước
Ta bắn trúng ngươi vì ngươi bạc phước…

Không chỉ Nguyễn Bắc Sơn có hơi thơ ngang ngang, tàng tàng như thế. Hầu như các nhà thơ của miền Nam khi bước vào chiến tranh, họ có thể phải mặc đồng phục của các quân binh chủng của họ, nhưng trong văn chương và thi ca của họ, dứt khoát là những tình cảm thật của mỗi người. Nó thiên hình vạn trạng chứ không bao giờ mặc đồng phục, sáng tác theo các chỉ thị trong các nghị quyết, được ban bố từ những nơi tối cao chỉ đạo cuộc chiến. Chính vì vậy mà Nguyễn Mạnh Trinh đã có lúc coi thơ của tôi là thi ca phản chiến. Bản thân tôi tôi không hiếu chiến, nhưng dứt khoát tôi cũng không phản chiến. Tôi hơi nhậy cảm với cụm từ “thi ca phản chiến”. Tôi là một người lính có nhiều đêm suy nghĩ về chiến tranh, về thân phận con người, và tất nhiên về bản thân mình. Chiến tranh tuy chi phối tới mọi nơi, mọi chốn, nhưng ở miền Nam, chiến tranh chưa bao giờ chi phố toàn bộ thi ca miền Nam. Tuy vậy chiến tranh cũng đóng góp rất nhiều nghịch lý với nền thi ca của miền Nam. Thí dụ nhiều nhà thơ chưa bao giờ đi lính, nhưng lại cỗ vũ chiến tranh hết mình. Nhiều nhà thơ thật sự đang chiến đấu rất mãnh liệt ngoài mặt trận thì thơ phú lại rất mềm mại dịu dàng. Để có thể hiểu về thi ca của miền Nam trong thời chiến, cần phải có nhiều cuốn sách. Một vài câu hỏi thì khó có thể hình dung được các thi sĩ của miền Nam đến với chiến tranh, và viết về chiến tranh như thế nào. Ở đây tôi chỉ nói ngắn, giản dị là các nhà thơ của miền Nam trong thời điểm đó, có thể hay, có thể dở, nhưng đó là những tình cảm thật, suy nghĩ thật của họ về chiến tranh… [Nguyễn Tà Cúc, “Phỏng vấn nhà văn Hoàng Khởi Phong – Thời Chiến trong Văn học Miền Nam 1954-1975”, Khởi Hành Số 180-181, trang 32-33, Tháng 10 & 11.2011, Hoa Kỳ]

            B-Thời hậu chiến: Ngày N +…Cây tùng trước bão

Hồi ký Ngày N +…Cây tùng trước bão là tâm tình của một người lính thời tao loạn qua văn chương. Đoạn trích dẫn kèm đây trong Ngày N +… chắc chắn sẽ gợi chúng ta nhớ lại tình trạng tuyệt vọng ngày đó mà không quyết định nào là không làm những người lính VNCH bị giằng co trước tình nhà nợ nước.

Hoàng Khởi Phong, hồi ký Ngày N+…
Thủ bút của tác giả

 Trong đoạn đối thoại dưới đây, Đại úy Quân Cảnh Hoàng Khởi Phong và Trung úy (?) biệt phái Trương Hồng Sơn/Trương Vũ đứng giữa một Nha Trang hoảng loạn. Hoàng Khởi Phong, đem được gia đình và vợ con lính thoát về Nha Trang, nay tìm đường xuôi Nam. Trương Vũ quyết định không đi, đưa chìa khóa chiếc xe jeep cho bạn mình. Theo tin tức trong sách, tôi áng chừng “Ngày N… + 16” là ngày 2, tháng 4 năm 1975 trong đoạn trích dẫn này:

-… Ngày N + 16, 7 giờ 30 sáng

Trương Hồng Sơn đón tôi ngay ngưỡng cửa. Chúng tôi đều ngạc nhiên lẫn cho nhau tại sao còn ở chốn này. Sơn kéo tôi vào nhà, ngồi chưa yên Sơn đã hỏi tôi dồn dập:

-Ông ở đâu mà mò tới đây lúc này?

-Tôi ở Qui Nhơn vào (…)

-Ở Nha trang được bốn ngày nay, tôi ra tới Qui Nhơn, việc đầu tiên là đưa vợ con lính, vợ con tôi vào Nha Trang. Mãi hôm qua đơn vị tôi mới chạy, bị đánh tan ở Tuy hòa. Cả ba đơn vị về còn được tám mống. Tám mống kể cả tôi.

-Như vậy là ông bị đụng nặng rồi. Anh em chết nhiều không? Còn có tám mống thì chắc là bi đát lắm.

-Chết vài ba người, nhưng có lẽ bị bắt sống trọn gói.

Tôi kể vắn tắt cho Sơn biết qua cảnh chạy Liên tỉnh lộ 7, cảnh chạy ở Tuy Hoà. Tôi cho Sơn biết không thể ở lại được. Sơn nói với vợ:

-Anh đi với anh Hiển uống cà phê coi tình hình chút.

Chúng tôi không đi đâu xa, Sơn lái chiếc Jeep dân sự ra tới phố chính thì ngừng lại. [Tôi nói]:

-Ông mới là tối dạ, đã làm sĩ quan Quân cảnh coi tù binh ở Phú Quốc, dầu cho có biệt phái về dạy học chăng nữa cũng phải chạy. Ông hãy nhìn những người dân kia, không có đi coi tù ở Phú Quốc, cũng chẳng dậy đại học như ông, thế mà họ còn đi lũ lượt như thế. Ông chưa thấy tận mắt Đại lộ kinh hoàng năm 72 phải không? Mấy tháng sau tôi đi trao đổi tù binh, có những đoạn xe công binh phải ủi xác người ở dọc đường, mới có lối cho đoàn xe của tôi chạy tới địa điểm trao đổi tù binh. Ông mới là tối dạ, đã làm tới sĩ quan Giám thị Trưởng khu, mà lại là Trưởng khu Tù binh xâm nhập, giờ này còn ở đây thì tôi không hiểu nổi.

-Tôi có cái kẹt khó giải quyết.

-Bây giờ ông coi có quen ai có thuyền không?

-Ông đi với tôi vô Đại học Cộng đồng Duyên hải. Kiếm cái bus của trường rồi tôi chạy với ông.

Sơn chở tôi vô trường Đại học Nha Trang. Dọc đường người tản cư đông như kiến, càng lúc càng nhiều. Càng lúc càng cảm thấy có một cái gì bất ổn. Chiếc xe bus của trường còn đó, không chạy được, người ta đã lấy mất cái bình điện. Trên đường về chúng tôi im lặng. Sơn rủ tôi ghé vào một quán quen còn hé cửa. Rồi anh nói như mơ:

-Tôi cũng biết tôi phải chạy, nhất là đã làm việc với ông ở Phú Quốc ít nhiều cũng ảnh hưởng. Hôm qua giá gặp ông thì có lẽ tôi có cách sử dụng chiếc bus này hợp pháp. Bây giờ dù có muốn sử dụng bất hợp pháp cũng không được.

-Ông có chiếc Jeep đó sao không chở tụi nhỏ chạy? (…)

Rồi đột nhiên Sơn đứng dậy quả quyết đưa chìa khóa chiếc Jeep cho tôi.

-Ông chạy đi, ông không thể ở lại, ông cần chiếc Jeep hơn tôi. Tụi nó vô đây cái xe của tôi chỉ có giá trị bốn cái bánh để làm dép Bình Trị Thiên. Nó không có giá trị gì trong những ngày sắp tới, ông lấy chạy đi.

(…)  Tôi chọn Sơn làm Giám thị trưởng khu tù binh sĩ quan Bắc Việt, bởi lẽ tôi muốn cho tù binh thấy rõ phẩm chất những sĩ quan trẻ tuổi miền Nam, những sĩ quan trẻ cỡ tôi và Trương Hồng Sơn không thối thân từ quân đội Liên hiệp Pháp, … Cố vấn Mỹ của đơn vị tôi nhiều như ruồi, để ý chúng tôi từ chút. Họ bảo vệ tù binh như một cách gián tiếp bảo vệ những người phi công Mỹ đang bị giam tại Hotel Hilton Hà Nội. Chúng tôi, những sĩ quan trẻ tuổi của miền Nam, cứ việc mình mình làm, đường mình mình đi. (…)

*

Ngày N + 16, 10 giờ sáng

Từ Bến Đá trở về, tôi và Sơn ghé lại quán cà phê cũ. Chúng tôi chạy đôn chạy đáo tới những xóm chài, tới vài nơi mà Sơn đoán là có thuyền, nhưng không có kết quả. Chúng tôi ngồi thừ người trong quán. Nha Trang bây giờ là con bệnh đang trong giờ hấp hối. Còn Sơn và tôi cũng chẳng khác gì, Sơn đưa chìa khóa cho tôi một lần nữa.

-Thôi ông dọt đi, sáng tới giờ tôi đưa đi kiếm ghe là để chiều lòng ông thôi. Không có ghe nào giờ này đâu. Dẫu có bọn nó cũng dấu bên mấy cái đảo nhỏ. Tôi đã nhất quyết không đi từ bốn ngày trước rồi, cứ xem ông đủ biết chạy tới đâu mất tới đó, có chạy tới Sài Gòn cũng thế thôi. Mà đến khi trở về có khi nhà cửa mình lại tan hoang. Tôi dậy học ở đây mấy năm, có dành dụm mua được cái rẫy. Bọn nó vô đây thì tôi làm rẫy sống cũng chả sao. Tôi không cần cái xe jeep này nữa. Ông dông đi (…)

Chúng tôi xiết tay nhau thật chặt như muốn truyền cho nhau một chút sinh khí.

-Xe đầy xăng, bánh hơi mềm một chút, có bánh sơ cua ở băng sau. Thượng lộ bình an nghe ông.

-Cho tôi gửi lời chào bác và cám ơn chị. Hôn mấy đứa lỏi Na Nô Ni Nu Ti hộ tôi.

Và tôi nhủ thầm:

-Vĩnh biệt ông. Vĩnh biệt Nha Trang… [Hoàng Khởi Phong, “Ngày N+16”, Ngày N+ …, trang 164-169, Nhà Xuất bản Văn Nghệ, Thành phố Westminster, CA, 1988 * Tôi trích dẫn từ Bản 1988.]

 Khoảng trên dưới 1 năm sau, 1976, đến lượt Trương Vũ kiếm ghe tìm cách thoát thân sau khi nhận ra “Bọn nó vô đây” thì dù… làm rẫy sống cũng “có sao”! Thế nên, sau Ngày N+ … , tôi sẽ tiếp tục trích dẫn hai chân dung từ Cây tùng trước bão.  Tác giả nói về sự hình thành của tác phẩm này, trong đó có 8 nhân vật Diện H.O.  khi trả lời cuộc phỏng vấn của nhà phê bình Nguyễn Mạnh Trinh nhân lúc Cây tùng trước bão được “hoàn tất”:

 -… Nguyễn Mạnh Trinh: Trong thời thế này, anh có mục đích nào khi viết Cây Tùng Trước Bão? Nhìn lại lịch sử để tôn vinh những gì anh đã sống có phải?

Hoàng Khởi Phong: Đâu có lớn quá vậy, chẳng qua chỉ là một sự tình cờ, trong một cuộc mạn đàm với Đỗ Quý Toàn khi anh ghé Cali chơi cách đây mấy tháng, lúc đó tôi mới giang hồ vặt trở về, mới chân ướt chân ráo vô làm cho tờ Người Việt. Ông Toàn đề nghị làm một loạt bài đề cập tới những người mới tới trong diện HO. Nhân vật đầu tiên mà tôi có duyên gặp gỡ là ông Liên Đoàn Trưởng Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù. Có lẽ tôi cũng là một người lính, nên khi viết về đời lính thì hạp liền. Đó không phải là một cuộc phỏng vấn, mà là một buổi nói chuyện tâm tình giữa hai người lính cũ, tôi chỉ là người gợi ý và ghi lại những ý chính của câu trả lời. Bài viết được nhiều người gọi điện thoại đến chia sẻ. Ông Toàn xúi dại tôi làm luôn một loạt. Tôi thì anh đã biết là chẳng khôn gì, do đó tôi mất sáu tháng trời để chỉ có thể viết được cho tám nhân vật. Cũng không nhiều gì. “Tôn vinh?” Anh dùng chữ lớn quá, mà nếu có tôn vinh thì dành cho những người tôi có duyên nói chuyện. Những chất sống trong đó là của những nhân vật đó, tôi chỉ là một người thư ký. Nói theo lối nhà binh là ghi lại nhật ký đơn vị. Tôi không hề góp phần trong việc “tôn vinh” này. Chỉ là thư ký thôi. [Nguyễn Mạnh Trinh phỏng vấn Hoàng Khởi Phong, “Một cuốn sách, một cuộc phỏng vấn và những mảnh đời trong chiến tranh”, Văn Học số 95, trang 111, tháng 3.1994]

Một trong “tám nhân vật” này là Cao Xuân Huy. Chúng ta sẽ được biết lúc đó ông Đại đội phó này ở đâu.

  • Nhà văn/Trung úy Đại đội phó, Thủy quân Lục chiến Cao Xuân Huy: Nước mắt tôi ràn rụa. Tôi bỏ vào nằm vật trên giường, chìm đắm trong một nỗi tuyệt vọng vô bờ…

Trung úy Đại đội phó Cao Xuân Huy– bị bắt làm tù binh khoảng 1 tháng trước tại bãi biển Thuận An– thổ lộ cho Hoàng Khởi Phong biết ông ở đâu và nghĩ gì vào ngày 30 tháng 4 thuở năm xưa ấy:

 -… Tôi coi nửa đại đội, hơn tám mươi người lính dưới quyền (…) Cái tháng tư năm 75 đó nó đến một cách kỳ cục. Lạ một điều là trước khi có những cơn giông thì bầu trời làm như oi ả, im phăng phắc. Trong chiến trận cũng vậy, trước khi bom đạn nổ ra tơi bời hoa lá thì những ngày cuối tháng hai cho tới đầu tháng ba 75 hầu như chỗ tôi đóng quân là một chỗ thanh bình. Đêm đêm nằm ở nơi gió cát địa đầu, tụi tôi lắng nghe tình hình chiến sự vùng hai qua mấy cái đài BBC, VOA thổ tả, khỉ gió. Đánh chác cái mẹ gì mà lạ thế này. Đùng một cái tụi tôi được lệnh bỏ vị trí hành quân rút về phòng thủ Huế, rồi từ Huế lại di tản… chiến thuật về Thuận An. Ở Thuận An chính mắt tôi đã nhìn thấy những điều mà tôi không bao giờ quên được. Cái cảnh chen lấn để xuống tầu Hải Quân ở ngoài bãi biển(1). Đến bây giờ tôi vẫn còn uất vì cái khoảng thời gian ngắn ngủi này. Uất vì chẳng hề nghe các… đại bàng ra lệnh đánh gì cả.  Có được bắn phát nào đâu. Mà rồi cũng chẳng thấy… đại bàng với lại… mặt trời gì cả. Qua cái máy truyền tin lệnh của mấy đại ca chỉ là… rút, rút và rút. Điệu này thì đến cả cái ruột của bọn tôi người ta cũng sắp… rút ra luôn. Nằm cứng ở bãi biển nhìn chiến xa của mình trong cơn hoảng loạn, chạy cán bừa lên lính của mình. Máu của bên ta do bên ta gây ra đỏ ngầu một vũng biển, nhiều xác người lềnh bềnh…Bọn chúng đến vồ tụi tôi trọn gói ngay tại bờ biển. Tụi tôi được áp tải ngược trở lại phía Bắc, giam giữ trong những doanh trại cũ của Cộng Sản, bỏ lại đằng sau trong khi truy kích quân ta. Ai thì tôi không biết, chứ riêng tôi thì Sài Gòn vẫn còn, miền Nam vẫn còn. Xui thì bị bắt, năm 73 đã từng trao đổi tù binh của hai miền. Ăn cơm nhà pha Việt Cộng một thời gian thử coi răng của mình có cứng không. Ở tù ai mà chẳng buồn, nhưng rồi cũng chẳng sao, sẽ có ngày về làm lại. Trong thời gian này tuị tôi được coi là tù binh, được chúng đối xử theo quy chế giam giữ tù binh, ăn uống đầy đủ bẩy trăm gram gạo một ngày (…) Tôi được gọi lên làm việc, sau phần khai lý lịch tên chấp pháp hỏi tôi là đã tham gia bao nhiêu cuộc hành quân. Tôi trả lời là một. Hắn hỏi tiếp là đi lính lên tới Trung úy mà sao lại chỉ có một cuộc hành quân mà thôi. Tôi trả lời là tôi hành quân từ ngày mới ra trường cho tới bây giờ cuộc hành quân vẫn chưa chấm dứt. Hắn hỏi tiếp đã giết bao nhiêu quân Cách Mạng? Tôi trả lời có đếm đâu mà biết. Thời gian đó tôi đinh ninh rằng miền Nam sẽ mãi mãi còn đó. Tôi bị bắt cùng binh sĩ. Thầy trò, anh em, trông xuống, quân nhân các đơn vị khác nhìn vào thì phải cố mà giữ mình cho bảnh. Tuyệt không để cho Cộng Sản mỉa mai cái kiểu tranh ăn với lại theo đuôi. Nó nhơm nhếch, mất tư cách. Chẳng gì cũng là quan hai Thủy Quân Lục Chiến. Đây là lúc phải cho chúng thấy phẩm giá của mình, phong thái của mình. Kỳ dư mọi chuyện khác hậu xét.  Tụi tôi bị bắt đâu được một tháng. Ngày ngày chúng đánh đòn cân não, mở máy phóng thanh nghe điếc cả tai. Tất nhiên là đài của chúng nó nên nhờ vậy mà tôi không tin quân ta lùi chi mà lẹ thế. Mới hôm trước Qui Nhơn là ải địa đầu, hôm sau bộ chúng có cánh hay sao mà bay qua khỏi Tuy Hòa, nhẩy vô tới tận Nha Trang làm chủ. Án một cánh quân ở đèo Đại Lãnh thì chúng có mọc cánh cũng phải rụng đuôi mới có thể làm khó Nha Trang được. Lúc này mà tụi chúng cho bọn tôi nghe đài BBC hay VOA chắc là sẽ có thêm khối người tự tử. Ngày 30-4-75. Tôi đang ngồi lơ mơ nghĩ ngợi vớ vẩn về tình trạng rối mù của trận chiến. Cái loa quái ác ở ngoài đang thuật chuyện chiến trường, mà cứ y như là ký giả Huyền Vũ trực tiếp truyền thanh đá banh không bằng. Lúc này tôi hút thuốc lào đã nhuyễn lắm. Tôi vê một điếu thuốc cho vào nõ. Tay kia cầm một cái đóm đã châm lửa. Đột nhiên trên loa phóng thanh nghe rõ mồn một tiếng Tổng Thống Dương văn Minh hạ lệnh cho quân đội thôi chiến đấu, chờ bàn giao đơn vị, doanh trại cho Cộng Sản. Thế là đầu hàng rồi còn gì nữa. Còn đâu là Sài Gòn, niềm hy vọng cuối cùng của tất cả chúng tôi. Chúng tôi mới bị bắt chỉ trong vòng một tháng, thế mà đã ra nông nỗi này. Cái điếu cầy tuột ra khỏi tay rơi xuống đất mà tôi không hay, lửa trên cái đóm cháy tới tận ngón tay mới biết. Nước mắt tôi ràn rụa. Tôi bỏ vào nằm vật trên giường, chìm đắm trong một nỗi tuyệt vọng vô bờ… [Hoàng Khởi Phong, Cây tùng trước bão, “Trước giờ ngưng bắn”, trang 46-48, Người Việt xuất bản, 1994 – https://damau.org/16821/truoc-gio-ngung-ban]

 

Tiếp đó, ngày cuối của Đại tá Phan Văn Huấn– Chỉ huy Trưởng Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù, cấp chỉ huy cỡ…Tá– sẽ được đề cập, cũng qua Cây tùng trước bão. Nếu không lầm, ông chính là cảm hứng của chính tên tác phẩm này: “Ông có dáng của một cây tùng chẳng cong lưng khi gặp bão…” [Hoàng Khởi Phong, sđd, trang 32]. Tôi có viết một bài cũng có liên quan đến Liên đoàn 81 Biệt Cách Dù. Bài đó có tên “Lên Non xuống Bể” “Để tưởng nhớ những Y sĩ Quân Y đã hy sinh”, đăng trên Khởi Hành cách đây 23 năm. Nhận được báo tặng, Đại tá Phan Văn Huấn ân cần ghé Tòa soạn thăm Chủ nhiệm & Chủ bút Viên Linh, cũng đặng gửi lời cảm ơn…ông- tác- giả (!) kiêm Thư ký Tòa soạn Nguyễn Tà Cúc.  Viên Linh kể lại với nụ cười mỉm cố hữu, kèm đề nghị ngày nào đó sẽ mời Đại tá Phan Văn Huấn ăn trưa, đặng tôi có dịp trình diện nhỡn tiền là một quý cô. Sau đây là đoạn hồi ức của Đại tá Phan Văn Huấn khi ông tập họp hơn 2.000 sĩ quan và binh lính “giã từ vũ khí’ sau khi nhận lệnh buông súng. Đến đây, tôi xin được rẽ vào ngõ hẻm…có cây tùng trên con đường mang tên Cây tùng trước bão hầu trích dẫn đoạn viết về ngày 30 tháng 4. 1975, thử xem cấp Tá như Đại Tá Chỉ huy trưởng Liên đoàn 81 Biệt cách Dù Phan Văn Huấn đang ở đâu đặng trả lời tỏ tường cho cấp Úy Trương Vũ.

  • Đại Tá Phan Văn Huấn, Chỉ huy trưởng Liên đoàn 81 Biệt Cách Dù: Quân đội của chúng tôi không phải là những đạo quân không biết chiến đấu…

– … Mới cách đây một tuần lễ, nơi một cánh rừng trong tỉnh lỵ Long Khánh, tướng Lê Minh Đảo đã chặn đứng đà tiến của Bắc Quân. Những người lính bộ binh của Sư Đoàn 18 đã cho thế giới biết một điều: Quân đội của chúng tôi không phải là những đạo quân không biết chiến đấu. Những người lính bộ binh ở đây trong lúc bị xô đẩy tới đường cùng đã tựa lưng vào nhau, tựa thân mình vào những cây cao su để một chống năm, đôi khi chống mười những địch quân đang đà thắng ùa tới. Địch quân mỗi lúc một ùa tới đông hơn, còn Sư Đoàn 18 thì mỗi ngày mỗi hao đi, súng thì mỗi ngày mỗi nhiều, do những người đã chết để lại, nhưng đạn thì mỗi lúc mỗi vơi đi mà không hề có tiếp tế. Bây giờ lệnh đầu hàng đã tới. Hai ngàn binh sĩ của Liên Đoàn chúng tôi có thể đánh một trận để đời, đánh để không một ai còn sống. Nhưng đánh để mà làm gì? Tính mạng hơn hai ngàn con người không thể để bị chết đi, chỉ để đổi lấy một tiếng thơm hão huyền trong những trang sử sau này. Tôi vẫn đứng trên nóc của ngôi mộ cổ. Đám đông chung quanh tôi mỗi lúc mỗi nhòe đi. Phải, không còn chối cãi gì được, chúng tôi đã thua rồi. Chúng tôi phải tuân lệnh của thượng cấp tối cao. Ngưng chiến đấu để khỏi đổ thêm máu một cách vô ích. Chúng tôi không có gì để thẹn với chính chúng tôi, vì chúng tôi đã làm tất cả những gì chúng tôi có thể làm trong khi tuân lệnh cấp trên. Giờ đây chúng tôi phải trở về doanh trại, chờ những người chiến thắng đến bàn giao địa điểm. Không còn xe để di chuyển, chúng tôi tập hợp đơn vị để di chuyển bộ trên đường. Di chuyển lần cuối trong bộ quân phục của chúng tôi. Tôi cố gắng giữ binh sĩ kỷ luật, cho dù chúng tôi thất trận chúng tôi vẫn là những người lính có chỉ huy, có trật tự và có trên có dưới, có anh có em. Tôi sẽ dẫn đầu, vạn nhất nếu họ nổ súng thì tôi sẽ chết trước anh em. Tôi nghe giọng tôi có lúc như nghẹn lại. Làm sao mà có thể dõng dạc nói những lời chót cho binh nghiệp của hơn hai ngàn con người. Tôi nhìn lại những binh sĩ của tôi, những người anh em thật sự của tôi trong tám năm cuối cùng của chiến trận. Đã nhiều người vĩnh viễn ra đi, đã nhiều người chẩy máu, tất cả anh em chúng tôi đã từng đổ mồ hôi. Nhưng anh em chúng tôi hầu như chưa bao giờ đổ lệ, nhất là những giọt lệ uất ức. Có những người đầm đìa nước mắt, có những người tuy không có một hạt ngọc nào trên khuôn mặt đen đủi, nhưng cặp mắt đỏ ngầu trợn trừng như muốn rách cả khóe mắt. Chính tôi, tôi cũng cảm nhận được có một chút gì mằn mặn ở trên môi. Trong vòng một tiếng đồng hồ toàn thể Liên Đoàn tập họp xong. Hơn hai ngàn người lính súng ống, đạn dược đầy đủ từ trong rừng tiến ra xa lộ. Cơ nào đội nấy, tuyệt không có lộn xộn, ồn ào. Dẫu cho có thua nhưng đó là một đơn vị tinh nhuệ của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, một đơn vị được tuyển chọn kỹ càng, huấn luyện gian lao nhất và trang bị dồi dào nhất. Đoàn quân xếp hàng tư. Chỉ Huy Trưởng dẫn đầu. Các sĩ quan tham mưu đi kế tiếp. Các đơn vị trực thuộc theo sau. Đơn vị trưởng đi trước đơn vị của mình. Súng đeo vai, nòng chĩa xuống đất. Đoàn quân hơn hai ngàn người xếp hàng bốn thành từng khối, mỗi khối là một đơn vị. Chỉ thiếu những sĩ quan đi ngoài hàng đếm nhịp thì thật đúng là tập diễn binh trong ngày Quốc Khánh. Liên Đoàn di chuyển thành một đạo quân dài hơn một cây số trên xa lộ Đại Hàn lúc đó vắng xe nhưng thật nhiều người. Con đường mở ra hun hút trước mặt tôi. Những thôn xóm, những mái nhà, những ngã ba, ngã tư. Bầu trời xà xuống thấp, những đám mây đen kịt vần vũ ngay trên đầu, tưởng như có thể thò tay với được. Chính con đường này đây tôi và những binh sĩ của tôi đã từng đi lại nhiều lần. Chúng tôi quen thuộc từng khóm cây, bụi cỏ. Cũng vẫn là con đường đó mà sao hôm nay chúng tôi như bị ai bưng lấy mắt, không trông thấy một cái gì, nên vì đó mà nó xa cách đến dị thường. Chúng tôi khởi đi từ lăng Chú Hỏa. Ngang qua địa phận chỗ núi Châu Thới, tôi thấy rất nhiều người chạy ngược chiều với đơn vị chúng tôi. Họ ở trần, mình chỉ độc nhất có chiếc quần xà lỏn, tay cầm ví đựng tiền và giấy tờ. Tôi chặn vài người lại hỏi thì họ cho biết họ là lính của sư đoàn 5, 25, Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung… Họ cho biết là Cộng sản bắt họ tịch thu vũ khí, quân phục và cho về nhà. Tôi vẫn một mình dẫn đầu, ngoảnh lại hơn hai ngàn người lính vẫn quân phục, vũ khí đầy đủ và vẫn giữ đội hình di chuyển hàng tư. Chúng tôi vẫn ngẩng cao đầu, mắt tôi chạm vào một bầu trời đen kịt như đang chuyển cơn mưa. Nếu anh còn nhớ ngày đó thì đúng là một cơn mưa bất thường đang ập đến.

Tôi trông thấy từ xa nhiều chiếc xe Dodge chạy tới. Khi đến gần tôi thấy họ mang theo thật nhiều máy quay phim, họ chạy thật chậm, tất cả các máy quay phim chạy sè sè. Họ quay toàn thể đoàn quân từ đầu đến cuối. Họ vòng lên đầu quay lại thêm một lần thứ hai. Mãi tới lúc đó mới có một chiếc xe Jeep chạy sát tới tôi rồi ngừng lại. Cấp chỉ huy của họ xuống xe nói chuyện với tôi. Nơi cổ áo của họ, chỗ những cấp bậc đã được giấu hết chỉ còn những lần chỉ. Người này yêu cầu tôi giải tán đơn vị theo lệnh của Tổng thống Dương Văn Minh. Tôi nhã nhặn nói với người này là binh sĩ của tôi chắc chắn sẽ tuân lệnh đầu hàng, nhưng tôi không bảo đảm nếu họ bị cưỡng bách tịch thu quân phục. Những người lính của tôi thà chết chứ không thể mặc quần xà lỏn chạy ngoài đường. Người này đồng ý ngay với tôi là chỉ nộp vũ khí rồi ai về nhà nấy. Riêng đối với các sĩ quan thì người này đề nghị sau khi binh sĩ đã nộp hết vũ khí và ra về thì chở giúp các sĩ quan về nhà từng người. Tôi hội ý cùng một số sĩ quan và đồng ý với đề nghị này. Người đại diện của Cộng sản đến tiếp thu Liên Đoàn 81 có nói với tôi: “Toàn thể Quân Lực Miền Nam chỉ có đơn vị của ông là còn cầm súng tới giờ phút cuối cùng này”. Tôi về đến nhà thì trời đổ một cơn mưa rào. Nhiều năm sau tôi vẫn bị ám ảnh bởi cơn mưa trái mùa này. Tôi vốn là một người dứt khoát. Xưa thật xưa trong lúc đang mài đũng quần trên ghế nhà trường, tôi nhận được một cái giấy gọi nhập ngũ đi học Khóa 4 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức. Tôi thưa với cha tôi là tôi chưa hề thấy một người sĩ quan trừ bị nào được giải ngũ, nhất là trong thời chiến. Do đó tôi nộp đơn tình nguyện vào học Khóa 10 Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt. Mãn khóa xong tôi đã từ mặt trận này sang mặt trận khác. Tôi chỉ huy một Trung đội lên tới chỉ huy một Liên đoàn trong mười bốn năm. Cái ngày cuối tháng Tư năm đó và sau này nhiều đêm nằm chập chờn nửa sống, nửa chết, nửa mê, nửa tỉnh trong các nhà tù Việt Bắc, tôi nghĩ lại cuộc đời binh nghiệp của tôi. Nếu được làm lại từ đầu để rồi sau cùng lại chui vào nằm trong cái cũi như thế này thì tôi… vẫn làm lại y như thế, không thay đổi, không ân hận, không hối tiếc… [Hoàng Khởi Phong, “Cây tùng trước bão”, Cây tùng trước bão, sđd, trang 20-24]

Sau 13 năm tù, ông được phóng thích rồi, mười năm sau, cùng gia đình sang Hoa Kỳ bằng Diện H.O. . Vẫn không chịu …bỏ cuộc, ông nhận lại trách nhiệm của con chim đầu đàn:

-… Ngày 18/3/93 vợ chồng tôi và 3 con được ra đi đến định cư tại California theo diện nhân đạo HO, tại đây đã có hội Thân Hữu Lực Lượng Đặc Biệt thành lập từ năm 1987 và đang ngưng hoạt động, do đó anh em đã đề nghị tôi đứng ra thành lập hội Gia Đình 81BCND/LLĐB để đại diện đầy đủ hơn cho các chiến hữu của cả hai binh chủng BCD, LLĐB cũng như anh em Delta, và hội đã được thành lập ngày 04 tháng 7 năm 1993. Kể từ ngày thành lập đến nay GĐ81/BCD/LLĐB đã liên lạc được trên 500 anh em Delta (kể cả BKQ), BCD và LLĐB, đã gây quỹ TÌNH THƯƠNG để tương trợ cho các gia đình thương binh tử sĩ và anh em BCD/LLĐB nghèo khổ ở quê nhà, số tiền tương trợ đã lên tới trên 50,000 và đã được báo cáo chi tiết trên 28 bản tin nội bộ. Tuy GĐ81 là một hội riêng nhưng công việc làm đều được thực hiện dưới danh nghĩa chung cho cả hai đơn vị BCND và LLĐB vì DANH DỰ của “mầu cờ sắc áo”, và của chiếc nón mầu Xanh lá cây rừng DŨNG CẢM. [Đại tá Phan Văn Huấn, “Câu chuyện Chiếc mũ Xanh-Bài viết của anh Phạm Văn Huấn về sự thành lập binh chủng LLĐB và BCND”, Tuyển tập Đời Chiến binh, trang 18 do “Gia Đình 81 Biệt cách Dù & Lực Lượng Đặc Biệt xuất bản với sự “giúp đỡ của nhà in Five Stars Printing”, Garden Grove, California” *Những chữ viết hoa là của nguyên bản.]

Xuất thân là một Đại tá cầm quân rồi bị cầm tù mà không hàng, cuối đời không còn gì ngoài một đời phục vụ, ông vẫn xử sự đúng theo tư cách của một sĩ quan và một quân tử/An Officer and a Gentleman. Chỉ vì một bài viết nhắc chung đến binh chủng này, chứ không riêng về ông, ông đã thân hành đến tòa soạn Khởi Hành thăm chúng tôi. Sau đó, ông còn nhờ người chuyển tặng Tuyển tập Đời Chiến binh hầu tôi có nhiều tài liệu của nhiều binh chủng hơn khi cần đối chứng với Đại thắng Mùa Xuân của Tướng Văn Tiến Dũng. Chưa hết, chúng ta sẽ không thể quên sử gia/Trung tá tòng sự tại Bộ Tham Mưu Phạm Việt Châu.

  • Sử gia/Trung tá Phạm Việt Châu: Trăm Việt trên vùng định mệnh

Ông tuẫn tiết bằng độc dược vào ngày 5.5.1975 tại tư gia, nghĩa là 50 năm trước đây. Da Màu có đăng tiểu sử và loạt bài Trăm Việt trên vùng định mệnh, từng xuất hiện trên Bách Khoa, gồm 18 chương của ông. Tôi xin trích dẫn phần giới thiệu tiểu sử tác giả để cho thấy, một lần nữa, vài cấp chỉ huy thuộc Quân lực VNCH đang ở đâu lúc ấy:

Trung tá Trưởng Ban Nghiên Cứu Chiến Lược, Bộ Tổng Tham Mưu Phạm Đức Lợi / Sử gia Phạm Việt Châu

Sử gia Phạm Việt Châu tên thật là Phạm Đức Lợi. Sinh năm 1932 tại làng Hiếu Thiện, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình, miền Bắc VN.Di cư vào Nam sau hiệp định Genève. Năm 1954, động viên vào khóa 5 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức. Thông thạo các ngôn ngữ Anh, Pháp, Nhật, Trung-Hoa và từng là Giáo Sư Anh Ngữ tại trường Sinh Ngữ Quân Đội (Cây Mai). Đã đóng góp rất nhiều trong việc soạn thảo tập tài liệu song ngữ Giải Đoán Không Ảnh và đã được tưởng thưởng Lục Quân Bội Tinh của Hoa Kỳ trong những công tác ấy. Từng là nhân viên nòng cốt trong ban Liên Hợp Quân Sự 4 bên và là trưởng phái đoàn VNCH đầu tiên ra Hà Nội năm 1972 để thi hành hiệp định Paris. Chức vụ cuối cùng trong QLVNCH là Trung Tá Trưởng Ban Nghiên Cứu Chiến Lược – Khối Tình Báo – Phòng Nhì Bộ Tổng Tham Mưu. Các bút hiệu đã dùng: Mạc Ly-Châu, Phạm Chi-Lăng, Phạm Việt-Châu. Các tác phẩm văn chương đã xuất bản: Tự Do (thơ), Loạn và Máu (kịch), Giông Tố Đêm Giao Thừa (kịch), Lộng Gió (tiểu thuyết), Diễm (tiểu thuyết), Nắng Tắt Trên Làng Mai (tiểu thuyết). Các tác phẩm biên khảo viết chung cùng một số tác giả khác: Tìm Hiểu Thơ Tự Do (tập I, II và III), Tìm Hiểu Thi Ca Miền Núi. Các tác phẩm chưa xuất bản: Dạ Lan Hương (thơ), Quân Lực Cộng Sản VN (biên khảo hợp soạn cùng Ban Nghiên Cứu Chiến Lược Bộ TTM, 1975). Trăm Việt Trên Vùng Định Mệnh đã đăng trên tạp chí Bách Khoa từ 1969-1974. Đã từng cộng tác với các báo: Bách Khoa, Phụng Sự, Quân Đội, và nhật báo Chính Luận. Sau khi CSBV chiếm miền Nam VN, tác giả đã tuẫn tiết tại tư gia ngày 5-5-1975. [Phạm Việt Châu, Trăm Việt trên vùng định mệnh, Trang Tác giả – https://damau.org/author/phamvietchau]

Người lính/người cầm bút Phùng Nguyễn đã kết luận bài viết giới thiệu Phạm Việt Châu:

– Chúng ta có thói quen chọn một ngày nào đó để cử hành lễ tưởng niệm những người mà chúng ta tôn kính, những người đã xem nhẹ tử sinh để giữ lấy khí tiết, những bậc anh hùng. Với tuyệt đại đa số người Việt ở Hải ngoại, 30 tháng Tư là một ngày như thế. Chúng ta tụ họp, buồn bã và nghiêm trang, kể cho nhau nghe những câu chuyện hào hùng về họ, những anh hùng vị quốc vong thân. Rồi chúng ta chia tay, cho đến tháng Tư năm sau. Ở trong nước cũng thế, người ta chọn một ngày để tri ân anh hùng liệt sĩ, ở đó khói nhang nghi ngút, và những nghi thức trang trọng được bày ra. Tàn cuộc, mọi người kéo nhau ra về, và sẽ “đến hẹn lại lên” vào năm kế tiếp. Nam hay Bắc, trong hay ngoài, đó là những ngày buồn thảm cho người còn lại. Cũng có những người như vì sao khiêm tốn, ẩn hiện đàng sau chòm tinh vân sặc sỡ, chỉ để chúng ta choáng ngợp khi nhìn ra sự huy hoàng của nó ở cự ly gần. Đó là những người không chỉ tinh thần trách nhiệm, sự hy sinh, và lòng dũng cảm khiến chúng ta kính trọng mà thêm vào đó là sự tiếc nuối vô bờ chúng ta dành cho phần tài năng và trí tuệ siêu việt nay đã mất đi vĩnh viễn. Chúng ta có cơ sở để tin chắc, nếu còn sống, họ nhất định sẽ có thêm những đóng góp quan trọng cho đất nước, cho dân tộc. Nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu, người lính, tác giả của Trăm Việt Trên Vùng Định Mệnh Phạm Việt Châu là một người như thế. [Phùng Nguyễn, “Trăm Việt trên vùng định mệnh: 40 năm sau”, ngày 2.9.2015- https://www.voatiengviet.com/a/tram-viet-tren-vung-dinh-menh-bon-muoi-nam-sau/2941123.html]

  • Thương phế binh Phùng Nguyễn và 7 người lính Biệt Kích Dù trên lề đường Võ Di Nguy

Ngoài các người lính như Hoàng Khởi Phong, Ngô Thế Vinh và Cao Xuân Huy, tôi sẽ cho biết thêm một cách chính xác thương phế binh giải ngũ Phùng Nguyễn và 7 người lính tại ngũ Biệt Kích Dù (Mũ Xanh) ở đâu đúng vào ngày 30 tháng 4.1975. Vị trí định mệnh vào ngày cuối của VNCH đã được chứng nhân Phùng Nguyễn thuật lại:

– …Lúc đó vào khoảng 12 giờ trưa. Trước đó khoảng hai tiếng đồng hồ, Dương Văn Minh đã tuyên bố đầu hàng quân “Cách Mạng”. Khi tôi ra đến ngã ba tiếp giáp với đường Võ Di Nguy (Phú Nhuận) thì quang cảnh hỗn loạn càng lúc càng tăng. Lính tráng thuộc đủ mọi binh chủng chạy ngược chạy xuôi, súng ống, áo quần vất bừa bãi đầy đường. Lại thêm đám thương binh từ Tổng Y Viện Cộng Hòa gần đó, kẻ cụt chân, người mù mắt dắt díu nhau trên lòng đường càng làm cho cuộc tháo chạy thêm phần bi thảm. Trong cái khung cảnh kinh hoàng và đau xót ấy, bỗng dưng tôi nhìn thấy họ! Họ gồm bảy người, đứng sắp hàng rất đều nhau trên lề đường Võ Di Nguy, quãng gần cổng hậu của bộ Tổng Tham Mưu đến cổng xe lửa số 10. Cả bảy người đều mặc quân phục nghiêm chỉnh, súng M16 trên tay phải, bá súng tựa vào hông, tay trái đưa chéo sau lưng theo tư thế nghỉ. Những chiếc “bê rê” xanh lá cây trên đầu họ lấp lánh chiếc huy hiệu nhỏ bằng kim khí sáng loáng có hình con cọp bay ngang qua chiếc dù mở rộng. Những người lính Biệt Cách Dù thuộc Liên Đoàn 81! Ý nghĩ đầu tiên đến với tôi lúc đó, dưới dạng một câu hỏi, là ‘Tại sao họ còn đứng đây làm gì?’ Tất nhiên là tôi không dám hỏi họ câu hỏi đó. Không có ai dám hỏi họ câu hỏi đó! Mọi người, kể cả những thương binh chống nạng lê lết trước mặt họ, đều cúi gầm mặt xuống trong khi đi ngang qua hàng lính đang đứng gác một cách nghiêm chỉnh này. Cả tôi, trong bộ đồ dân sự, cũng vậy. Tôi đã giải ngũ trước đó một năm, nếu không thì lúc này tôi cũng đang vội vã cởi bỏ bộ quân phục và cũng đang cúi đầu lầm lũi đi qua trước mặt họ, hướng về một nơi chốn “an toàn” nào đó. Tôi nhớ mình đã cố tình chậm lại khi đi ngang qua những chiến sĩ Biệt Cách Dù, len lén nhìn lên khuôn mặt của họ. Tất cả đều còn rất trẻ, người lớn nhất chưa đến ba mươi, và người trẻ nhất vào khoảng hai mươi là cùng. Lúc bấy giờ, anh còn trẻ hơn tôi vài ba tuổi. Đó là người lính thứ bảy trong hàng, người cuối cùng mà tôi phải đi ngang qua. Mấy giây để qua khỏi anh dài cả ngàn năm, và mấy bước sau khi qua khỏi anh dài cả ngàn dặm! Tôi quay đầu lại nhìn anh để bắt gặp ánh mắt anh cũng đang hướng về tôi. Rồi anh quay lại, nhìn thẳng về phía trước, và tôi cũng quay đi, tiếp tục cuộc hành trình. Tôi sẽ không có dịp thấy lại anh và các đồng đội của anh, nhưng ánh mắt buồn bã của anh đã ở lại với tôi cho đến mãi bây giờ (…) Bài viết này không mang một hậu ý gì đáng kể. Chỉ là một cách tự nhắc lại cho chính mình những điều đã kinh qua trong một ngày định mệnh hơn hai thập kỷ trước, ở đó, một ánh mắt đã được gởi đi và được mang theo cho đến bây giờ, và có lẽ cho đến nhiều năm sau nữa. Cái ánh mắt buồn bã và bao dung của một người lính còn rất trẻ gởi đến tôi trong một sát na chông chênh giữa cuộc tử sinh vẫn còn rất sinh động như mới hôm qua…” [Phùng Nguyễn, “Về một ánh mắt ngày 30 tháng tư năm 1975”, Đăng lần đầu vào ngày 27.4.1996. Đăng lại vào ngày 30.4.2008 trên Diễn đàn Da Màu- https://damau.org/2170/ve-mot-anh-mat-ngay-30-thang-tu-nam-75]

Đinh Từ Bích Thúy, trong bài “Ngày Oakton. Câu trả lời”, đã viết rằng bà đã “gần khóc khi đọc bài tiểu luận anh viết về ánh mắt ngày 30 tháng 4 của năm 75 của người lính Biệt Cách Dù Liên Đoàn 81…” [Đinh Từ Bích Thúy, “Ngày Oakton. Câu trả lời”, Tiểu luận (của/về) PHÙNG NGUYỄN, trang 356, Tạp chí Da Màu xuất bản, 2018, Hoa Kỳ.]

Phần tôi, đọc đoạn này, lại nhớ đến lời căn dặn ngắn ngủi của người bạn trước ngày tan hoang, một ngày mà dân quân Miền Nam đều nhớ lúc đó mình đang ở đâu. Mấy chục năm sau, một người lính của anh nhận ra khi tôi giao báo Khởi Hành cho tiệm sách Văn Khoa (Trung Tâm Phước Lộc Thọ, Westminster, California). Anh ôm lấy tôi tức tủi khóc ròng. Tôi biết anh ấy không chỉ khóc cho bạn tôi, người đã tử trận. Anh còn khóc cho chính anh–người sống sót–và cho bao nhiêu đồng đội đã không bao giờ “tìm thấy xác”. Nghe tiếng khóc, lòng tôi bỗng nhiên dần dần tĩnh lặng vì thốt nhiên ngộ ra, “xác” mất tích ấy, cuối cùng hẳn đã an lòng siêu thoát vào cõi vĩnh hằng khi đến lượt tôi được cho biết anh đã qua đời dù không bao giờ biết đích xác phút cuối ấy. Bao năm qua, tôi vẫn có cảm tưởng đã mang được theo đủ hành lý nhưng chủ nhân của nửa đám hành lý đã đứng ngoài con tầu tốc hành, không biết ở ga nào. Thôi, từ nay Trương Chi có thể vĩnh biệt mối oan tình nhờ những giọt nước mắt nhỏ xuống từ những người đồng đội– thay cho Mị Nương– đã từng ngồi cùng thuyền trên bờ biển đẫm máu chiều nào. 

Tới đây tôi cảm thấy lá sớ đã dài đủ để kết thúc bằng chính Trung úy (?) biệt phái Trương Vũ.

  • Nhà tiểu luận/họa sĩ /Sĩ quan biệt phái Trương Vũ

Đường đường là 1 sĩ quan từng “tốt nghiệp Trường Bộ binh Thủ Đức”, từng là “sĩ quan tuần tra” tại một hải đảo (Trương Vũ 2025, “Mưa ướt Vị Thành”, trang 60-61, sđd), từng e ngại vì đã giữ chức “Sĩ quan Giám thị Trưởng khu Tù binh xâm nhập” tại Phú quốc vv. và vv. nhưng quyết định ở lại vì lý do cá nhân vv. và vv. thế thì ông ở đâu vv. và vv. lúc dầu sôi lửa bỏng đó? Dĩ nhiên chúng ta đều đã biết ông ở đâu vv. và vv. qua hồi ký của Hoàng Khởi Phong. Chúng ta càng biết ông ở đâu vv. và vv. sau bài “Nói với chàng Siêu” sau 20 năm.

Tôi đọc đi đọc lại mà cứ ngờ ngợ, không hiểu có hiểu lầm tiếng Việt không. Nếu hiểu lầm, xin thứ cho vì lẽ nào một anh lính-kiểng-biệt phái-cấp-Úy an toàn tại hậu phương mà ngang nhiên viết trùm, phê bình từ cấp chỉ huy (tác chiến) ở bất kỳ cỡ đại tá Phan Văn Huấn tới cấp chỉ huy ở bất kỳ cỡ trung úy Cao Xuân Huy tại tiền tuyến nào là “tắc trách”, nào là “hốt hoảng”, nào là “kém tài”, nào là “hèn nhát” vv. và vv. mà không sợ bị dăm bẩy ngày trọng cấm hay bị biệt phái cấp kỳ ra trận tiền, đối đầu với các chinh phu từ Bắc vào? Tôi nghĩ Miền Nam mất quá nhanh nên cỡ sĩ quan biệt phái (như Trương Vũ) không kịp tái ngũ vì “nhu cầu quốc phòng”. Tôi đã nhờ một ông nhà binh cấp chỉ huy cỡ Tá, xuất thân trong ngành Giáo Dục, nhưng tại ngũ cho đến ngày cuối, giải thích cặn kẽ:

– Công chức chính ngạch, từ giáo dục cho đến các ngành khác khi bị động viên vào quân ngũ đều được lãnh lương hàng tháng như tiền lương của mình trước khi nhập ngũ (nếu lương cũ nhiều hơn lương được tính trong quân đội) và hàng năm vẫn được xét thăng trật lương (chỉ số lương) trong ngành cũ của mình. Nếu được biệt phái về lại ngành nghề cũ trước khi bị động viên thì khi cần, bộ quốc phòng có thể gọi tái ngũ. Công chức các ngành, từ giáo dục, hành chánh, tài chánh, canh nông, kỹ nghệ. . . đều có thể bị gọi nhập ngũ, được biệt phái về lại nhiệm sở cũ, được gọi tái ngũ khi có nhu cầu quốc phòng. . .

Lúc dầu sôi lửa bỏng vào Tháng Tư ấy mà bị …tái ngũ vì “nhu cầu quốc phòng”, thì không cẩn thận lại khéo có ngày không được sống sót mà ung dung ngồi xem “các đài truyền hình Mỹ”. Chưa kể, chinh phu Miền Bắc lại bị tuyên truyền là sẽ bị “lính ngụy xơi…tái” nên đương nhiên họ phải “sát sát” để tự bảo vệ trước. Khi Trương Vũ miêu tả “Các đài truyền hình Mỹ thỉnh thoảng chiếu đi chiếu lại cảnh những người lính Cộng Hòa vừa chạy vừa bắn bừa bãi vào dân chúng để giành đường thoát vào những ngày cuối của cuộc chiến…” thì tôi nghĩ ngay đến vô số thương phế binh như Phùng Nguyễn, 7 người lính còn cố ở lại nhiệm sở; rồi bao người lính trơn khác—như người lính dưới quyền bạn tôi–phải thoát hiểm mưu sinh vượt biển trốn đi. Không cần thông minh cho lắm cũng đoán được tại sao các đài truyền hình Mỹ lại “chiếu đi chiếu lại” cảnh này mà không “chiếu đi chiếu lại” cảnh dân Miền Nam bị Cộng sản pháo kích trên đường trốn chạy, cảnh những toán lính tử thủ. Hoặc lý do nào Hoa Kỳ ngưng viện trợ vũ khí đến nỗi một viên phi công lái A-37 nói với tôi từ cuối năm 1973, rằng từ xăng đến bom đều bị hạn chế. Tóm lại, khi bàn đến đoạn thượng dẫn, tôi chỉ muốn ngỏ ý:

-Có, đã có những việc đau buồn oan nghiệt xẩy ra. Có, đã có người chỉ huy bất tài làm binh lính và dân lành chết oan. Nhưng không thể bàn đến cả một quân lực, dù bên này hay bên kia, mà không bằng chứng, nhất là khi ngồi tại nơi an toàn mà bàn với tán. Hãy tỏ lòng kính trọng sự hy sinh của mọi người lính dù tại thời nào, quốc gia nào hay bên nào.

Đại tá Quân đội Nhân dân/nhà văn Nguyên Ngọc—một sĩ quan tác chiến Miền Bắc– đã nhận xét công khai về Quân lực Việt Nam Cộng Hòa:

-…Kỳ thực thực tế chiến trường cũng đã khiến chúng tôi phải suy nghĩ. Sau hội nghị Paris, Mỹ đã rút hết quân, chỉ còn đánh nhau với quân đội Sài Gòn, lại thấy khó hơn đánh Mỹ. Cả năm 1974, không diệt gọn được đại đội quân Sài Gòn nào trên chiến trường. Cho đến năm 1975 mới vỡ từng mảng lớn và sụp đổ. Có thể chắc chắn là do từ sai lầm chiến lược của Nguyễn Văn Thiệu quyết định bỏ Tây Nguyên. Nếu không có sai lầm đó sự thể hẳn sẽ còn rất phức tạp… [Nguyễn Hồng Anh thực hiện, “Văn chương về đề tài chiến tranh – Trí nhớ của ngôn từ và sự độc đoán của văn học sử thi”, Diễn đàn Văn Việt, ngày 19.3.2023. 

Sau khi thắc mắc về các ông sĩ quan– không may lại gồm nguyên 1 tiểu đội thân hữu của chính Trương Vũ đang khốn đốn bấn loạn trước mũi súng quân Miền Bắc–ông tiếp tục thắc mắc về báo chí hải ngoại: “Bao nhiêu chữ nghĩa đã được dùng cho những lời nhận lỗi…” v.v. Để trả lời, tôi rất hân hạnh được đăng lại Lời trần tình của Đại tá Nguyễn Văn Đồng, Tư Lệnh Lữ đoàn II Kỵ Binh 1974-1975. Ông bị bắt tại chân đập Đồng Chum, tỉnh Phú Yên vào ngày 26 tháng 3.1975. Ông bị giam 12 năm, được nhận vào Hoa Kỳ theo Diện H.O.,  năm 1994:   

-…Tôi tự trách tôi đã có tội lớn vì tôi đã góp một phần vào việc mất Miền Nam. Tôi tự nghĩ, 12 năm tù đày trong các trại tù Cộng sản, trong có ba năm xà-lim ở Tiên Lãnh, có thể là chưa đủ để tạ tội với bao nhiêu gia đình tử sĩ và gia đình dân chúng Tây nguyên có thân nhân chết tức tưởi trên Liên Tỉnh Lộ 7B này… [Huy Phương, “Nguyễn Văn Đồng, H.O. 29”, Chân dung H.O. & Những cuộc đổi đời, trang 211, Nhà Xuất bản Nam Việt, Thành phố Irvine, California, Tháng 5.2015]

Tiếp đây là lời “Nhận trách nhiệm” của Chuẩn tướng Lý Tòng Bá, Tư lệnh Sư đoàn 22 Bộ Binh. Ông bị giam 13 năm, được phóng thích vào năm 1988 và rời Việt Nam theo Diện H.O. 1 đoạn định cư tại Hoa Kỳ vào đầu năm 1994:

NHẬN TRÁCH NHIỆM

Dù tôi đã đem hết sức mình phục vụ, bất chấp mọi khó khăn của hoàn cảnh, quyết tâm tranh đấu Một Mất Một Còn với Cộng Sản, bảo vệ Độc Lập Tự Do cho Đất Nước, mang lại Hạnh Phúc No Cơm Ấm Áo cho Dân Tộc!

Trước:

– Tiền Nhân, các vị Anh Hồng Dân Tộc Vị Quốc Vong Thân

– Đồng bào và chiến hữu đã hy sinh vì Lý Tưởng Tự Do

– Đồng bào Việt Nam Yêu Chuộng Tự Do trong cũng như ngoài nước

– Toàn thể quân nhân các cấp Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa Oai Dũng

Ngày Đại Nạn 30 tháng 4 năm 1975- tôi xin NHẬN TRÁCH NHIỆM đối với DÂN với NƯỚC khi tôi chưa hoàn tất trách nhiệm, chưa chu toàn bổn phận trên cương vị một Tướng Lãnh-

LÝ TÒNG BÁ kính bút [Chuẩn tướng Lý Tòng Bá, Hồi ký 25 năm khói lửa: Cảm tưởng của một Tướng Cầm quân tại Mặt Trận, Tác giả xuất bản, tái bản lần thứ 6, 1000 quyển, Tháng 8.2001, Las Vegas, Nevada, Hoa Kỳ * Chữ in đậm hay hoa là của nguyên bản.]

Chuẩn tướng Lý Tòng Bá từng là Chỉ huy trưởng Thiết giáp Binh từ 1972 đến 1974. Cuối cùng, không kém phần quan trọng/last but not least và chắc chắn sẽ không phải lời nhận lỗi cuối cùng là lời xin lỗi của Hoàng Khởi Phong trong đoạn kết thúc Ngày N+ …:

– … Nếu có dịp tình cờ nào đó, các em đọc lá thư này, đọc quyển sách này, xin hãy coi đây như là một lời xin lỗi chân thành nhất của tôi gửi đến các em, bởi chính tôi đã đóng góp một phần, cho dù chỉ là một phần rất nhỏ trong trang sử u buồn này. Sau cùng, tôi xin gửi lời chúc tâm nguyện nhất tới tất cả các em, và hy vọng một ngày nào đó không xa, khi lịch sử xoay dòng, các em và tôi có dịp về thăm ngôi trường cũ để chứng nghiệm một lần trong đời câu châm ngôn: “Ngày nay học tập, ngày mai giúp đời”. [Hoàng Khởi Phong, sđd, trang 267]  

Sau khi toàn dân gồm hàng ngũ sĩ quan, “sách báo Việt Nam ở hải ngoại” –đương nhiên có cả tờ Văn Học, nơi đăng bài “xét lại” này đầu tiên– đến lượt toàn quân.

(xem tiếp kỳ 5 về Trương Vũ

____________________

[8] “Nói với chàng Siêu”, Văn Học, số 95, trang 2-10, tháng 3. 1994.

Thư viện Người Việt-Tạp chí Văn Học,

https://issuu.com/nvthuvien/docs/tapchivanhoc_095?mode=window&viewMode=doublePage

[9] và [10]. Trương Vũ, “Nói với chàng Siêu”: bản này được hoàn chỉnh và cùng đăng trên tuyển tập Đuổi bóng hoàng hôn và Tạp chí Ngôn Ngữ Số Đặc Biệt-Trương Vũ, Bằng Hữu & Văn Chương, trang 44-53, tháng Giêng 2025.

Độc giả có thể đọc bản này trên Trang Văn Học Nghệ Thuật trên mạng của nhà thơ Phạm Cao Hoàng:

https://phamcaohoang.blogspot.com/2015/12/2188-truong-vu-noi-voi-chang-sieu.html

bài đã đăng của Nguyễn Tà Cúc

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

@2006-2025 damau.org ♦ Tạp Chí Văn Chương Da Màu
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)