Trang chính » 50 Năm Văn Học Việt Nam Hải Ngoại (1975-2025), Biên Khảo, Giới thiệu tác giả, Giới thiệu tác phẩm, Nghiên Cứu, Nhận Định, Văn Học Miền Nam Việt Nam 1954-1975 Email bài này

Chân dung Người Lính Việt Nam Cộng Hòa trong và ngoài Trại Giam Tù Cải Tạo của Cộng sản: Tạ Chí Đại Trường (kỳ 2)

 

Tạ Chí Đại Trường
Sử gia Tạ Chí Đại Trường (1938 – 2016)
Ảnh: Nguyễn Việt

 

1.3.7 Vì thế chỉ đoành một phát là xong

Một trong những lý do góp phần vào hố chia cắt dân tộc—ngoài chính trị, giáo dục và văn học– là sự khác biệt giữa mức sống, cách sống của người dân và sự chênh lệch giữa 2 nền kinh tế hai Miền khi chiến tranh kết thúc vào ngày 30 tháng 4. Những thí dụ do Tạ Chí Đại Trường ghi nhận sau đây cho thấy như vậy:

… Chúng tôi cũng bắt đầu có một vài lần được gởi mua đồ dùng qua trại. Bảng đăng kí–lại cũng đăng kí–theo với nhu cầu đủ thứ loại tam khoanh tứ đốm. Lẽ tất nhiên không được thoả mãn – người ta không thể hiểu dược đời sống bọn này sao mà phức tạp quá. Chúng tôi còn gặp phản ứng bất ngờ nữa. Có người đã gởi mua giấy vệ sinh, vì thói quen, vì có người đau trĩ, vì chưa hề sử dụng giấy dán tập, giấy báo, nói gì đến lá cây, cành cây, đất đá cục! Đội trưởng chuyển lại lời mắng mỏ mà mặt anh phừng phừng như chính mình bị xúc phạm: “Người chiến thắng không đi mua giấy chùi đít cho kẻ chiến bại!” Viên y sĩ tiểu đoàn lân la đến chơi, nghe chuyện đã mắng: “Sao các anh ngu thế? Người ta bảo anh không phải là tù nhưng mà là tù thật đấy! Tù sao mà đòi hỏi nhiều thế?” (…) nhưng thói quen của cả một lớp người không được chuẩn bị để chịu đựng sa sút thì phải trải qua những vấp váp nhục nhã thế thôi…! (…) Trong sinh hoạt người ta vẫn cố tránh gọi chúng tôi là “tù”. Chúng tôi chỉ là những người “đi học tập”, và thỉnh thoảng thêm chữ “cải tạo”, “học tập cải tạo” (…) Tự do hiểu như thế thì cũng là giản dị và cũng có khía cạnh thật là đúng. Này nhé: Mình tự nguyện đi trình diện học tập (có ai lại tự nguyện đi ở tù bao giờ?), ăn, ngủ, chơi thong thả, hàng rào gọi là có với một hai đường kẽm gai mỏng manh. Nhưng chớ bước qua: Tự do nào cũng có giới hạn! … [Tạ Chí Đại Trường, Đường về Long Khánh, sđd, trang 93-94]

– … Lại nổi lên sự va chạm của hai lối sống Nam, Bắc. Có anh kêu lên: “Tôi còn ba trăm ngàn đồng, một triệu bạc cất chỗ này, chỗ nọ, vợ tôi không biết. Cho tôi gởi thư về nhà…” Đề nghị được chuyển đạt, thư cho gửi cấp tốc, chẳng biết kết quả ra sao. Có điều chúng tôi lại được tập họp nghe một lời trách mắng: “Giáo dục đế quốc nó làm hư hỏng các anh, đến vợ chồng cũng không tin tưởng nhau…” Làm sao giải thích được điều này – cũng như những điều khác nữa của những người sống trong một nền kinh tế tầm mức rộng, phức tạp cho những người của nền kinh tế tiểu nông, công chức thư lại có tiền bạc nằm trong lòng bàn tay cũng không trọn nói chi đến chuyện cất giữ? … [Tạ Chí Đại Trường, Đường về Long Khánh, sđd, trang 97-98]

Và đoạn sau đây thì muốn cười mà không cười nổi. Hết còn AK47 chống lại M16 mà là “quần dải rút” chống lại “quần dây thun”, “che bẹn” chống lại “tồng ngồng” (!):

… Tất nhiên trong cuộc sống ở đây, chúng tôi có buông thả hơn ngoài xã hội- tù mà! Nhưng những lời chỉ trích cũng toát ra một cái gì từ thứ lễ giáo đã qua không biết đến sự thay đổi của thời đại cũng như thực tế của chúng tôi. Họ trách chúng tôi suốt ngày “ở trần trùng trục như lai (nai)!”, gặp họ không chắp tay chào, “cứ trương mắt ếch lên”. “Bọn thực dân đế quốc đã tung tiền biến các anh thành những con người mất gốc, không biết đến những gì tốt đẹp của truyền thống dân tộc, những gì quý báu ông bà ta đã tạo ra và tâng tiu gìn giữ nó. Phải tách rời những cái tốt đẹp, thân thiết đó, các anh mới đang tâm dội bom xuống xóm làng, xuống đầu những người thân thích các anh mà không chút ân hận xót xa…” Ừ, cũng đúng sách vở đấy, nhưng giá lúc nào anh gặp một tên cải tạo cũ, được hắn mời về nhà chơi trong tư thế làm chủ bản thân của hắn, anh sẽ thấy hắn như thế nào. Trừ khi anh còn nhớ sách vở và hắn còn khinh ghét anh. Bộ đội còn dạy chúng tôi cả cách đi đái. Bỏ ra ngoài tính chất hoàn cảnh ràng buộc thì đây cũng là một mối xung đột do hoàn cảnh sinh hoạt khác nhau. Họ không biết chúng tôi không ai mặc quần dải rút mà tất cả đều là dây thun, cho nên vào cầu tiêu một mình một cõi sao không tuột ra cho nó thong thả? Bây giờ bạ đâu đái đấy – đất rộng mà là tù mà! Lại cũng vẫn cách ấy mà làm, gặp quản giáo tới, luống cuống xoay đàng nào cũng chẳng được, càng ngơ ngơ ra đấy (…) Hành động như thế là mất dạy rõ ràng. “Thực dân đế quốc – lại cũng thực dân đế quốc, dạy các anh trâng tráo không biết xấu hổ là gì hết, ông bà mình xưa (!) làm việc đó một cách kín đáo, khuất lấp, vén quần che bẹn chứ có đâu như các anh bây giờ cứ tồng ngồng ra, chẳng văn minh, văn hoá gì cả!”. Kinh nghiệm trực tiếp và những hiểu biết về sau sẽ cho chúng tôi biết và chứng kiến mức độ tàn bạo của họ được hướng dẫn bằng sự quá khích lí tưởng vượt ra ngoài những ràng buộc pháp lí thông thường. Lí tưởng cách mạng biện minh cho mọi hành động đẫm máu đối với những kẻ tự nhận hay bị coi là kẻ thù – bị đặt bên kia biên giới của sự khoan dung. Nhưng những con người ưu việt kia không được biết ranh giới giới ấy co dãn là chứng nào khi bước từ lí thuyết đơn giản qua cuộc sống phức tạp để từ đó thấy bộ mặt con người thù bạn cũng thiên hình vạn trạng, nay thế này mai thế khác theo đường lối, chính sách mang tính thực dụng đến ngỡ ngàng quay quắt – hay đường lối, chính sách đẻ ra từ những sai lầm ngớ ngẩn, ngu ngốc không được thú nhận. Tuy nhiên, chẳng thắc mắc nhiều – mà thắc mắc cũng chẳng được, về đường lối giai đoạn, các tín đồ mới chỉ thấy những kẻ thù trước mắt, tức khắc, chỉ thấy lí tưởng, hay nói đúng hơn, giáo dục lí tưởng là luật pháp đã trao quyền áp dụng cho họ. Vì thế chỉ đoành một phát là xong, là đủ… [Tạ Chí Đại Trường, Đường về Long Khánh, sđd, trang 148-150]

Sự cách biệt (và khác biệt) giữa 2 miền càng được chứng minh một cách thuyết phục thêm bằng khả năng của người tù Miền Nam. Tạ Chí Đại Trường cho thấy khả năng ấy xuất phát từ một kiến thức chung đã được nâng cao trong một xã hội đa dạng, tự do và tiến bộ khiến họ có thể “tùy cơ ứng biến”. Sự kiện ấy cũng khiến ông có thể liên kết được người Tù Cải tạo tay không bấy giờ với tù binh đã dựng những “công trình cổ đại” từ bao nhiêu thế kỷ trước:

… Không phải chỉ làm cho trại, dân cải tạo còn nghiền ngẫm làm vật dụng riêng cho mình nữa. Ống sáo, điếu cày, lược, kẹp, đàn guitare… Mỗi thứ mới ra đời, mỗi một kiểu là thành một phong trào, càng ngày càng cải tiến. Dây đàn quấn bằng các dây điện phối hợp theo cỡ cần thiết, bộ trục bằng gỗ trợt lên trợt xuống, khung tôn, khung gỗ, hộp vuông, chữ nhật (vì thiếu phương tiện cưa xẻ), nhiều cạnh rồi uốn dợn sóng như đàn ngoài đời. Và chính trong những công việc phức tạp một cách lặt vặt này mà khả năng những con người cũ nổi bật. Trước kia ngày thường họ chẳng động tay động chân đến những công việc này. Không phải vì muốn “ngồi không ăn bám” như lí thuyết mới nói, nhưng vì họ đã có những công việc khác để làm. Ở đây, thời gian dư thừa giúp họ kéo dài thí nghiệm, thử thách, bằng mày mò đã đành mà căn bản còn vì sự hiểu biết từ trong sinh hoạt có kĩ thuật cao đã giúp họ nhận định một vật liệu có thể làm được cái gì, biến cải thì sử dụng làm được việc gì. Những người quản giáo trong các kì kiểm soát tập thể thật ngạc nhiên mà cũng tỏ vẻ bực mình khi lục tung túi xách nguỵ ra thấy một cuộn dây, một miếng bìa, lớp lớp bao cát mục từng mảng, cái ông bơ rỉ… “đủ các thứ trên đời”. Thế mà cuộn dây điện tách ra làm dây đàn, cái bánh xe, vòng cao su, thỏi sắt lắp lại làm cái xa quây để xe các sợi tháo ra từ bao gạo, bao cát làm dây đan túi, đan võng; bao sợi nhựa cắt ra thành cái áo sơ mi thật thời trang, thật có gu; tút đạn uốn làm bình hoa. Viên tiểu đoàn trưởng nhờ làm giùm cái nồi ngồi trên cái cốc đã phải lắng nghe tên nguỵ chỉ dẫn cách pha cà phê sao cho gọn, cho ngon. Và gật gù nhẹ nhàng, riêng tư… “Bọn chúng toàn là đại uý, bác sĩ, kĩ sư…” Dưới mắt người bộ đội tâm sự với gia đình thì sự kiện ở đây thật đáng ngạc nhiên không phải chỉ ở cái cấp bậc đại uý cao ngất đối với anh binh nhì, không phải chỉ trình độ trí thức cao nói chung mà là một tinh hoa của chế độ bị vào tròng vì bại trận. Số đông với trình độ cao có thêm sự ép buộc đã đưa đến sự thành công không ai ngờ tới: Với tay không và vài cục sắt họ tháo gỡ cả một giàn sắt thép di chuyển đi cất một ngôi nhà đồ sộ, đập nước đắp bằng tay không nhiều hơn xẻng cuốc, nhà cửa hàng hàng lớp lớp xây dựng nên… Vai trò của người tù binh ở các công trình cổ đại có vẻ được chứng minh bây giờ… [Tạ Chí Đại Trường, Đường về Long Khánh, sđd, trang 170-171]

Nhân đây, tôi muốn cho thấy bức ảnh của một chiếc bút nịt/khóa dây lưng/bell buckle bằng đồng được chạm trổ hình “Long Phượng” công phu, chi tiết (những chiếc vẩy) và tuyệt đẹp của Tâm Hữu, một người Tù Cải Tạo. Ông giải thích cách “khắc chạm” từ khi chế tạo “cái ve” đến khi khắc chạm:

– Trước hết phải có dụng cụ là vài cái “ve” (đồ nghề của thợ kim hoàn dùng để khắc chạm).

Cái ve dài khoảng 10 cm, có mũi khác nhau, cái nhọn, cái rộng 1mm đến 2mm, đầu sắc bén như mũi đục. có cái mũi cong lưỡi liềm… Đến tổ rèn (anh em tù cải tạo đang rèn dao đi rừng, cuốc xẻng làm rẫy hay làm lưỡi cưa, cưa cá mập để xẻ gỗ cây…) lượm vài que sắt vụn. Chọn sắt vụn từ mấy cái nhíp xe hơi cho cứng vì bằng thép. Lượm đá làm lò nung nhỏ. Nung lên khi thấy que thép đỏ hồng lên rồi thoáng qua xanh là bỏ lên đe lấy búa gõ cho tròn hay dập cho dẹp lại. Muốn có mũi cong lưỡi liềm thì nung tiếp thanh mũi dẹp rồi lấy kềm mũi nhọn mà uốn. Khâu tiếp theo là mài trên đá cho nhẵn. Và cuối cùng là “tôi”. (Dùng tro gỗ lim ngâm nước vôi để qua đêm. lấy nước nỗi trên mặt làm nước tôi). Nung mũi ve cho cháy hồng, nhúng nhanh vào nước tôi khoảng 1 cm. Mũi ve ánh lên màu ánh xanh và màu ánh vàng là đã đạt được độ cứng và độ bền.

Khắc chạm: Sơ thảo bản vẽ lên giấy, dùng mũi ve vẽ lên trên mặt cái bút nịt (belt buckle). Lấy miếng sắt dày để dưới, dùng gỗ nhỏ chêm dưới cho chắc để khi chạm trổ cái bút nịt không bị móp. Xong dùng các mũi ve thích hợp để khắc chạm hình ảnh. Không có dầu đồng để chùi cho bóng nhưng có thể dùng bàn chải làm bằng những sợi kẽm trong dây điện thoại để đánh bóng tác phẩm [Tâm Hữu].

Ông còn cho biết thêm: bút nịt/khóa dây lưng được làm bằng đồng cho cấp sĩ quan, bằng nhôm cho cấp từ hạ sĩ quan trở xuống.

clip_image002

Bút nịt (bằng đồng) chạm trổ Long Phượng của Tâm Hữu

Những người tù này còn tạo được cả các loại đàn, như đàn của Hà Thúc Sinh:

… Hà Thúc Sinh đêm nào cũng nói với tôi rằng thèm một cây guitar quá, nhưng mới đến chưa thể tìm gỗ và dụng cụ được, cũng như chưa biết tình hình ra sao… Còn nhớ bên Trảng Lớn, Đặng Thế Tiến cũng thèm đàn và tự chế được cây “độc huyền” nho nhỏ, tối uốn lên uốn xuống, sau đó trong bữa ăn nói với tôi, chiều nay đi làm nhớ mang nhiều nhiều thứ đó một chút để hắn làm…đàn. Chuyện quá dễ, khu phi trường loại đó nhiều lắm. Thế là những ngày sau, Sinh xin làm việc nhẹ ở nhà, cặm cụi chặt, cưa, mài, đánh lõm những đoạn thép dài ngắn khác nhau rất ư là năng nổ và say mê, rồi lại đo đạc cẩn thận. Vài ngày sau, công việc đã xong, buổi tối tôi phụ Hà Thúc Sinh cột những đoạn thép đó vào những sợi dây dù, treo lên trước đầu nằm. Cây đàn coi cũng khá, loại nhạc cụ gõ Xylophone, Sinh cầm cây kẽm lớn có bịt vải ở đầu gõ thử, tiếng kêu không lớn lắm, nhưng thanh khá chuẩn, cả những nốt thăng và giáng. Thế là Sinh chơi ngay vài đoạn của Mozart, Bach… Anh em trong nhà giật mình kéo đến nghe, đông quá, nhà trưởng Bính phải “van nài” Sinh thôi chơi. Cây đàn thật tuyệt, đối với tù là quá “đã” rồi. Từ đó, tối tối cơm nước xong là HTS lại “gõ”, khởi đầu cứ làm như tập nhạc “Cách Mạng” để đánh lạc hướng “ăng-ten”, sau đó thì “tới luôn bác tài” đủ thứ loại nhạc “vàng” mà anh em lâu quá không được nghe nên thèm chết đi được … [Trích trong một bài báo khoảng 1984, không rõ xuất xứ]

Từ những quan sát đó, Tạ Chí Đại Trường đặt giả thuyết về lối ngồi kiểu nước lụt kèm theo sự lặng lẽ của người dân hay nhân viên mà ông được chứng kiến.

1.3.8 Tránh nước lụt nhân tạo kinh niên

Theo ông, kiểu ngồi nước lụt — hai chân co lên, “đầu gối quá tai”– đi kèm với sự lặng lẽ khác thường của người dân (trái ngược với lối sống cởi mở và kiểu ngồi thong dong của dân Miền Nam) phản ánh sự tự bảo vệ một cách vô thức trong khuôn phép của hoàn cảnh sống đã được định hình:

… Khi có việc lên tiểu đoàn (lãnh gạo, muối…), lên trung đoàn chúng tôi kịp nhận ra cảnh vắng lặng trái ngược. Không phải cái không khí lặng lẽ của một nơi làm việc nghiêm túc. Vài người lính lui cui ngoài vườn tưới nước, xới cây. Đám anh nuôi lăng xăng qua lại nhưng cũng không nói một lời. Những anh trai tán gẫu cô thợ may mà như người thăm bệnh. Trong các phòng, họ xúm lại quanh tách trà, điếu thuốc lào, im lặng. Những người ngồi góc cột, dưới gốc cây, ngó vẩn vơ. Tất cả cùng ngồi một kiểu – kiểu nước lụt, hai chân co lên trên giường, trên ghế, trên đất với hai tư thế: hoặc là đầu gối quá tai như hai cái càng muốn che khuất cả thân mình, hoặc là chống trên hai bàn chân để bộ mặt nhô ra, nhưng tất cả đều có một vẻ gì gò bó, muốn thu nhỏ lại chừng nào hay chừng nấy. Cái lối sống đó đối chọi với chúng tôi nhưng tất nhiên lại là căn bản cho khuôn mẫu học tập. Sự sửa sai thường xuyên được nhắn nhủ qua các lần giao ban hoặc lên lớp… [Tạ Chí Đại Trường, Đường về Long Khánh, sđd, trang 148-150]

1.3.9 Đi, Về, Vào, Ra trại giam Tù Cải tạo: Cái ta không phải chỉ là riêng tư, mà dù không phải là của một chế độ, cũng còn là của một tập họp, một thành phần thế hệ, một tập thể biết tự trọng…

Một trong những đoạn quan trọng nhất về tiểu sử văn học của Tạ Chí Đại Trường nằm trong chương này, trong cuốn sử ký này. Ông thuật lại về việc, ngay trong khi bị giam, đã viết phản bác khi Lịch sử nội chiến ở Việt Nam từ 1771 đến 1802 bị sử quan thắng trận kết án ròng rã. Tác phẩm này nguyên là luận án Cao học, Đại học Văn Khoa (niên khóa 1962-1964)- Viện Đại học Sài Gòn, rồi đoạt giải thưởng quốc gia VNCH về Bộ Môn Lịch Sử, 1970, do Văn Sử Học xuất bản, 1973, Sài gòn. Năm 1976, hai nhà phê bình Nguyễn Phan Quang và Nguyễn Đức Nghinh chỉ trích cả tác phẩm lẫn tác giả qua bài viết đăng trên tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 2 và 3. Được tin và được đọc, ông viết tay bài phản bác khi bị giam tại “Trại tập trung 7590-L19 T5, Long Khánh” từ tháng giêng, 1978 đến tháng 7. 1978. Sau đó, ông nhờ được một bạn đồng tù không quen biết–một “giặc lái”-viên phi công mãn hạn tù– giấu xấp bài vào chỗ kín nên thoát được kiểm soát của quản tù rồi gửi đến Tòa soạn. Giới sử quan Miền Bắc thắng trận đang kiêu ngạo nhận được một cách đột ngột bài phản bác với câu kết đầy thách thức từ một sử gia Miền Nam thua trận đang bị giam giữ:

-… Và nhất là đừng đe dọa chúng tôi. Đừng để chúng tôi phải mang tiếng hợm mình nhắc lại chuyện Galilée sau khi phủ nhận vũ trụ quan Copernic trước tòa Inquisition lại tuyên bố: “Tuy vậy trái đất vẫn cứ quay.” Thân xác có sự run sợ chính đáng của nó, nhưng chân lí lại ở bên ngoài sự hèn nhát đáng thông cảm ấy: xin hiểu cho…

Điều tôi chú ý, ngoài sự can đảm của ông và thêm của người sĩ quan Không quân chuyển thư, là ý thức được việc làm của họ. Người phi công nhận chuyển chắc chắn phải biết nội dung và nơi sẽ đến (nên đem giấu vào chỗ kín), nhưng chấp nhận hậu quả nếu bị phát giác. Hậu quả đó quả là kinh khiếp nên có nhiều người, dù quen ông, đã không dám nhận. “Không dám nhận” không đồng nghĩa với hèn nhát. Chính ông đã phải giấu mấy bài thơ của mình (sđd, trang 352) đến nỗi khi được tha, chữ nhòe mực, mất hết. Lần này, ông bất chấp hậu quả hầu bảo vệ không những “phẩm giá” chính mình mà còn cho cả thế hệ (có người sĩ quan kia) hầu chu toàn điều mà ông nhắc đến 2 lần: “bổn phận”. Khi ông phát biểu: “Cái ta không phải chỉ là riêng tư, mà dù không phải là của một chế độ, cũng còn là của một tập họp, một thành phần thế hệ, một tập thể biết tự trọng…” là ông đã khẳng định vị trí không đứng bên lề thời thế, nhưng ngược lại, chủ động hầu vận hành chung với một tập thể có cùng quá khứ, giá trị và văn hóa. Không chỉ ở đây, ông cũng đã lập lại quan điểm chủ động -trong-thế-bị động đó khi quyết định “phản kháng với thân phận mình trong cơn lốc lịch sử, với đám học giả núp bóng quyền uy chính trị, ngang ngược trước mắt…” [“Đôi lời phân trần”- Thần, người và đất Việt-Bản mới]

Thế nên, có lẽ sự phản kháng của ông còn bắt nguồn từ hoàn cảnh vô vọng khi không được tiếp tục học hỏi hầu chia sẻ các tìm kiếm mới và nỗi uất ức khi bị cô lập với sinh hoạt nghiên cứu. Ông không còn được, như một ngày đã xa, làm công dân trong một chế độ cho phép có sự khác biệt hầu đạt được tiến bộ chung, trong và ngoài nền đại học tự trị của Miền Nam, đã hiện diện mấy thế hệ sử gia trước và sau, bên cạnh những sử gia khác với kiến thức chuyên môn riêng. Một chương sử mới mở ra với nhiều cái chết như cái chết của sử gia/Đại tá Phạm Văn Sơn hoặc sử gia /Trung Tá Phạm Việt Châu vv. . Chương sử ấy sẽ tiếp tục với sự phấn đấu của nhiều cá nhân hầu bảo vệ danh dự tập thể, mà sử gia/Đại úy Tạ Chí Đại Trường và viên sĩ quan Không quân vô danh là thí dụ qua lời chính ông ghi lại rất rõ ràng:

– … Về đến đây tôi mới biết được một chuyện có tầm mức vượt ngoài cá nhân của tôi. Việc các nhà sử học Miền Bắc phê bình tác phẩm của tôi. Thực ra việc cố công học hỏi trong bao nhiêu năm, ý thức thầm kín muốn làm một người viết sử của thời đại khoa học – chuyện ở nước người đã có từ khuya – muốn tách khỏi thế hệ cũ như Trần Trọng Kim, muốn chuyên môn hoá không theo kiểu những anh bàn-sử, luận-cổ-suy-kim, công chức già về hưu… ý muốn xây dựng tác phẩm theo một quan điểm riêng biệt — điều mà Mạc Đường chắc thấy rõ nên gọi một cách hằn học là “lập dị” — tất cả những công sức, ước muốn thật to rộng ấy, than ôi “trời chẳng chiều người”, cả mươi năm trời có hơn chỉ gồm trong một quyển sách còn nặng đầy tính chất compilation rụt rè của học trò. Có ước muốn tìm hiểu cơ sở của xã hội Đàng Trong, lấp một sự ơ hờ lớn trong dòng sử cũ cứ coi như 200 năm mở đất ấy chỉ là một phóng ảnh của Đàng Ngoài trên đất mới — Tôi coi quan niệm ấy như là quan niệm sử về vương triều xưa cũ được nối tiếp một cách không ý thức. Có ước muốn viết cuốn thông sử sơ sài bao gồm cả Phù Nam, Champa vào sử toàn-Việt — biết chắc là khó có người chia xẻ nên định đặt tên là “Bài sử Việt cho người ngoài phố”, ước muốn ấy chưa được nơi phát tiết trừ vài mươi trang lộn xộn, tả pín lù mang tính cách của dân-mới-ra-trường trên tờ Sử Địa 1964. Chỉ có quyển sách “Lịch sử nội chiến ở Việt Nam” ấy mang dấu vết truân chuyên của đời mình tạo được một tiếng vang nhỏ với một giải thưởng mà “bên trong (cũng) có lắm điều hay…” Sách ra đời không nghe được một lời phê bình nghiêm túc, có lẽ vì sự cả nể của một giới quá thu hẹp, vì tình hình thời sự không phải của chuyện quá khứ chững chạc. Chỉ có những lời tán dương vuốt đuôi, ở những bài báo giới thiệu lạng quạng vì tình thân hữu, vì cần người tiêu thụ…Cho nên nghe có một chiều hướng phê bình khác, thấy thật háo hức kể như một đáp ứng. Nhưng hoàn cảnh gặp gỡ quả không thuận tiện cho sự trao đổi quan điểm– và sau này lại thấy rằng nếu có trao đổi cũng thật là vô ích. Một ít lâu sau khi nhóm Kà Tum về, một người bạn trẻ nghe nhắc đến tên, chợt nhớ đến một số báo Xuân Đại Đoàn Kết được nhà gởi cho: “À, tôi thấy có ông Phạm Huy Thông nói qua về anh một vài câu nặng nề.” Chẳng biết câu ấy ra sao. Chuyến về phép cha chết, nghe nói có bài phê bình trong hai số Nghiên Cứu Lịch Sử lại bị anh bạn cũ tận Mĩ Tho hỏi mượn hẹn đến hè sẽ đem lên trả — Đường sá xa xôi, lưu thông đâu có thuận tiện nữa. Trên đường đi rông ở Sài Gòn tình cờ gặp Nguyễn Mộng Giác nhắc đến bài phê bình. Hỏi về nội dung thì Giác cũng chỉ nói được: “À cái kiểu cả vú lấp miệng em, nói anh viết với tư cách người bán nước, phục vụ chế độ thực dân kiểu mới…” Lời nói ậm ừ mơ hồ cũng cho thấy đó là cốt cán của bài phê bình, được thấy ngay, nổi bật và quán xuyến trong toàn bộ các trang viết. Kì thăm nuôi khoảng tháng 5 gì đó (1977), ở nhà bảo rằng đã đem vào nhưng bị quản giáo chặn lại để “đọc cho biết”. Trong một buổi giao ban, quản giáo hỏi quan điểm, ý kiến tôi về bài phê bình. Chẳng biết trả lời sao với người có quyền, với người không có thẩm quyền chuyên môn, đành tìm cớ tránh né: “Tôi chưa được đọc nên không thể bày tỏ ý kiến…” Người quản giáo cũng bỏ qua nhưng không giấu chút thán phục: “Không ngờ anh cũng là một nhà tư tưởng (!) nhưng tôi cũng tiếc và không đồng ý về việc anh ca tụng Gia Long…” Làm sao giải thích được bây giờ? Khi anh ta nghe hai nhà phê bình nhấn mạnh những đoạn tôi trích dẫn lời ca tụng “tên bán nước, rước voi về giày mả tổ…”, điều đó va chạm đến tinh thần yêu nước có hướng dẫn, có tính Đảng của anh ta! Nhưng một câu chuyện khác, mãi về sau này mới cho tôi một cảm giác ấm lòng để thấy, ngoài sự tự ái được vuốt ve, thoả mãn còn thấy có những người đặt trong ranh giới bạn thù rõ rệt, trong quan điểm thù nhìn thù phân minh, mà vẫn có suy nghĩ riêng tư, không bị thống nhất hoá, không trở thành con robot trong hệ thống (…) Tập báo phải chờ đến tháng 11, có một anh bạn về phép, được dặn dò mãi, không mang giùm gì vào hết, ráng đưa các thứ ấy cho tôi (có thêm ít tờ Khảo Cổ Học nữa mới oai!) Ngoài cái tự ái riêng tư bị động chạm, quả thật tôi đã thấy thất vọng với các học giả Miền Bắc. Trước kia, trong khung cảnh giấu giấu giếm giếm của các người có sách, cộng với sự háo hức được thấy loáng thoáng một vài tác phẩm nghiên cứu của ngoài ấy, có khi chỉ được thấy nhan đề mà không thể nào biết nội dung, tôi cứ nghĩ rằng “dù sao người ta cũng đã làm việc”. Bây giờ thì phải thêm “Làm như thế, thà đừng làm còn hơn.” Cách làm như thế là một bằng cớ để mấy ông theo Lão Tử chối bỏ ngôn từ, văn tự… bởi vì quả là làm loạn đời, phủ thêm đám mây mù lên quá khứ để cho một khoa học có nền tảng bấp bênh như sử học tụ tập thêm nhiều thành phần chống đối nhau, hoài nghi hay tán thưởng với chỉ một mục đích là có lợi cho mình, phe mình. Tờ Nghiên Cứu Lịch Sử có những bài không hơn một lời hô hào trong một cuộc mít tinh, muốn chứng minh cho lời nói của một lãnh tụ hơn là một sắp xếp giải thích sự kiện một cách thông minh, chứng tỏ khả năng, trình độ của người viết. Tạp chí Khảo Cổ Học mang tính chiến đấu cũng không rời được mục đích hiện đại hoá: Có câu chuyện cãi nhau về cái sọ thuộc giống người nào mà ông Phạm Huy Thông gán buộc cho người bác sĩ nghiên cứu là “vẽ đường cho nguỵ chạy”! Và sau này tôi được biết vì nhu cầu chống Trung Quốc mà ông Viện trưởng lớn Nguyễn Khánh Toàn đã viện dẫn đến cả tiểu thuyết kiếm hiệp! Cái dáng sâu sắc của chuyên môn không lấp được cái sơ hở, cẩu thả không ngờ được (…) Không biết cái “cơn” nào đã khiến cho tôi viết bài trả lời. Có lẽ tại thói quen hay-cãi không có được ở những người dĩ hoà vi quý (quý cái sinh mạng). Có người bĩu môi chê cái thói hay cãi ấy: “Lí của kẻ mạnh, đó là chuyện thường tình, việc gì phải đi tranh hơn thua?” Có người tưởng tìm ra một ý khôn ngoan để cản tôi bỏ ý định: “Hiện giờ anh ở trong tay họ, làm việc dại dột chỉ tổ thiệt thân. Sao không đợi họ thả ra ngoài kia rồi hãy tìm cách tranh luận?” Cứ kể ra cái thói hay cãi của tôi cũng chẳng hay ho gì nhưng các lí lẽ đưa ra chưa đủ thuyết phục. Chuyện ngụ ngôn chỉ dạy được một sự khôn ngoan bình thường mà cuộc sống có giá trị đòi hỏi phải vượt lên. Trong thư tôi có viện dẫn đến lí do thúc đẩy: Dù biết bài trả lời không được phổ biến, tôi vẫn phải viết vì trước hết đó là “làm tròn bổn phận đối với chính mình”. Lời công kích chỉ đích danh một cá nhân thì sao cá nhân ấy không có phản ứng nếu thấy mình cũng còn có chút phẩm giá – đã bị vùi giập? Cái ta không phải chỉ là riêng tư, mà dù không phải là của một chế độ, cũng còn là của một tập họp, một thành phần thế hệ, một tập thể biết tự trọng. Không phải gàn bướng, không phải là làm theo kích động nhất thời, anh hùng rơm, quân tử Tàu, làm vì thấy có bổn phận phải làm… Mà cũng không nên chờ đợi, lần lữa. Hiện tại đã không dám làm thì mai mốt sao lại không có cớ khác để chần chừ? Ngưới khuyên có ý tốt tìm giúp cho tôi một thứ “hoãn binh chi kế”, nhưng có lẽ vẫn tưởng như ở chế độ cũ, bước ra khỏi nhà tù là có phương tiện rộng rãi để tranh đấu cho ý tưởng của mình mà không biết rằng ở cái nhà tù lớn ngoài kia cũng như ở cái nhà tù nhỏ trong này không bao giờ có thể có kiểu cách tranh luận như anh thường thấy trước kia. Đành phải làm cái hành động cô đơn vậy. Thực tình lúc đầu tôi vẫn coi bài phê bình như là phản ứng riêng lẻ của một vài cá nhân “say men chiến thắng” thôi. Trong hoàn cảnh bưng bít của trại tập trung, tôi không ngờ mình đã được đề cao quá mức – dưới khía cạnh xấu, cố nhiên. Khi lên Gia Trung tôi được đọc tập Kỉ yếu của hội nghị Tây Sơn tổ chức tại Quy Nhơn, cũng thấy có bài công kích nhưng chỉ là rút gọn từ tờ Nghiên Cứu Lịch Sử và chỉ một trong hai tác giả trước kí tên. Lời văn, nội dung cẩu thả hơn nhiều, dường như sự kiêu ngạo của một trí thức thủ đô đối với địa phương không thể kềm giữ được (…) Thư trả lời được viết trên trang giấy học trò, giữa hàng gạch nhỏ. Từ lâu lắm, kể có mấy mươi năm rồi tôi mới lại viết chữ chen vào hàng giữa của khuôn dành cho cậu học trò. Nhưng lúc ở Bồng Sơn năm 1950 viết như vậy vì tiếc rẻ giấy, tưng tiu cái phần thưởng cuối năm chỉ được mỗi cái tập vở trăm trang giấy trắng có gạch hàng, quá sang trọng so với các trang giấy đen dùng hàng ngày, làm bằng xơ bẹ chuối, bông (cây) gòn còn mắc vào đầu ngọn bút lá tre làm nhoè mực văng tứ tung. Bây giờ viết vào hàng nhỏ là để thu gọn các trang giấy, tiện giấu giếm gởi đi. Nhưng cũng thật là muôn vàn khó khăn. Không phải ở những người quản lí mới là đáng tiếc. Sự phóng thích ồ ạt càng làm tăng thói quen ơ hờ của những người quản lí ở đây khiến việc kiểm soát người về hầu như chỉ làm lấy lệ. Thế mà đi tìm một người chịu việc “vác ngà voi” cũng thật như người xưa cầm đèn ban ngày. “Xắc tôi không có chỗ giấu… Tôi cho anh em hết cả đồ dùng, chỉ về tay không…” Những người có lúc tự nguyện làm giùm cho tôi! Cũng không nên trách họ. Việc tôi nhờ bao hàm một đe doạ lớn lao cho họ. Chứ mỗi một người về bao giờ cũng được người quen, người không quen gởi hàng tá thư mà họ vẫn chịu giấu mang đi. Có bị phác giác thì lí do viện dẫn cũng có vẻ vô tội. Đằng này…Tôi tưởng đã không còn hi vọng thực hiện ý định của mình nữa. Cho đến lúc bất chợt hỏi nhờ một anh bạn “giặc lái” không quen gì lắm, tôi biết mình chỉ có thái độ ơ hờ cầu may thôi. Nhưng anh ta lại nhận lời. Trong cả nửa năm trời tôi không biết rõ được kết quả bức thư giấu vào chỗ kín ấy đã đi về đâu. Cũng ngại anh ta vứt vào cầu tiêu hay muộn lắm là ngoài sân khám xét – như khi ở Long Khánh nhờ gia đình một anh bạn đem mảnh giấy nhỏ về nhà xin món tiền nhỏ trả cho nhu cầu bất khả kháng thuộc loại nhà nước và nhân dân (tù) cùng làm, vợ anh ta nhận lời rồi gởi lại hàng rào nhờ gió đưa về Sài Gòn! Tên giặc lái vẫn còn chút hào hùng liều lĩnh! Lại sợ gia đình ngại tôi sẽ gặp khó khăn nên không gởi đi – dù rằng tôi đã dặn anh ta nhắn rất cương quyết. Tôi có nghe nhắn rằng việc đã xong, và kiểm chứng lúc về nghe anh bạn nói Lê Văn Sáu đã gầm gừ trong một buổi hội: “Có những người như Tạ Chí Đại Trường đến giờ này mà vẫn còn cho mình đúng!” Giờ này hay giờ nào thì chẳng cần quan tâm lắm. Mục đích tôi đã đạt. Và lại còn có một bất ngờ hơi “bậy bạ”: Tôi cứ tưởng tượng những con người chiến thắng vững tin ở chân lí của mình đó – vì nói một mình – đang chuyền tay xấp giấy mỏng, nhoè mồ hôi, dán mắt vào đọc những dòng chữ li ti, không phải chỉ đoán nghĩa chữ mà còn phải đoán mùi!…[Tạ Chí Đại Trường, Đi, Về, Vào, Ra, sđd, trang 181-188]

Sau khi đề cập tới “phẩm giá” của Tạ Chí Đại Trường và của tập thể, tôi sẽ dẫn tới “phẩm giá” của người lính tù, người tù và người vợ cùng gia đình của họ.

1.3.10 A Thăm nuôi Tù Cải Tạo: dấu hiệu một thảm trạng về sự bất lực của chính bản thân mình, của tập đoàn bại vong của mình, của cả chính những người chủ mới…

Sau khi người tù tình nguyện “đăng ký” vào tù, đến phiên người vợ và thân nhân lũ lượt kéo nhau đi tình nguyện “động viên” người tù. Ngay trước và trong khi đó, gia đình người tù đã bị xiểng liểng, kiệt quệ về mấy vụ đổi tiền, vụ đuổi đi Kinh tế Mới vv. nên bao nhiêu thảm cảnh xẩy ra là chuyện đương nhiên. Nhất là khi người duy nhất làm ra tiền trong gia đình bị vào tù. Nhiều bài viết hoặc hồi ký của người Tù Cải Tạo đã ghi lại những cuộc tự tử của người tù quen biết hay không, từ dân đến quân. Đời tù không ngày về, không rõ số phận người thân, có khi bị lìa khỏi nỗi an ủy duy nhất còn lại khi người vợ bỏ đi vv. đã đẩy người tù vào cõi miên viễn. Tạ Chí Đại Trường viết về một cuộc tự tử trong tù rất thê thảm. Ông cực tả nỗi tuyệt vọng của người tự tử mà khi chết, nỗi kinh sợ chính phủ hà khắc vẫn còn bám theo, căn cứ vào lời xin tha tôi cho vợ con vì đã tìm đến cái chết! Sự kinh sợ này có lý do khi chúng ta được biết phản ứng phi lý một cách máy móc theo giáo điều của người quản tù; một thứ phản ứng chỉ có trong một thế giới không nhân tính:

– … Một vụ tự tử đầu tiên xảy ra. Đêm của những ngày trước Noel càng ảm đạm hơn khi có hiện tượng sao chổi xuất hiện. Đêm về sáng đứng ở sân cát trong ánh mờ sao vây phủ, nhướng mắt nhìn về một hướng để từ trong khoảng không bắt gặp một chùm bụi sáng lung linh, sao mà không lúc nào cảm thấy sự hư ảo, mong manh của kiếp người hơn những ngày cuối năm ấy. Chính cái cảm giác ngợp hư vô ấy chứ không phải sự sợ hãi mê tín đã khiến tôi bước vội vào nhà. Trong mơ màng tôi nghe tiếng xì xào bàn tán về một người chết nào đó. Bước ra sân, còn cảm giác ngây ngây, tôi thấy từng nhóm tụ tập rầm rì giữa ánh chân trời rựng sáng. Người chết là một dược sĩ khủng hoảng tinh thần đã hơn nửa tháng và không giấu diếm ý định của mình. Anh em xúm lại khuyên can và có người nói dỗi: “Mày cứ chết đi, thiệt thân mày, khổ vợ con mày thôi chứ những thằng khác vẫn sống nhăn răng ra, chúng còn cười mày dại nữa, ngu lắm con ạ!” Tổ trưởng, đội trưởng báo cáo lên trên, hi vọng quàng xiên về một sự can ngăn nào có hiệu quả của quyền hành. Vô ích, sao lại cứ tưởng mình còn có một giá trị nào đó? Rồi cả tổ dặn nhau canh chừng. Đêm về sáng một người thức dậy, ngồi trong bóng tối gật gù, thoáng thấy một bóng đen lướt qua, tưởng mình hoa mắt lại tiếp tục gật gù, đầu óc lửng lơ. Một lúc sau anh mò xuống bếp, trong bóng tối đụng phải một vật gì đu đưa. Cái gì thế này? Chết cha! Thằng G.! Chuyện bàn quanh cũng nhiều, nào là hoạ sĩ TC. trong bức họa đương sự đã thấy cái dáng sầu muộn tử khí phảng phất, nào là những dấu hiệu hiển linh ngay sau đó trong nỗi sợ hãi vẩn vơ của tôi: ‘Đến vô thần như thằng T. mà cũng rùng mình kia mà!” Những khám xét tử thi, cái hòm gỗ chôn thì cũng là thường thôi. Nhưng quả thật tử khí đã tràn ngập cả trại. Không có tiếng cười đùa như thường ngày. Tôi đã đến đấy, liếc qua: Từ trong gian bếp vẫn còn cái xác thòng nhưng cặp chân co lên cho khỏi chạm đất hàm một ý quyết định. Nghe nói bức thư để lại có câu: “Xin đừng bắt tội vợ con tôi…” Chúng tôi được tập họp lên lớp. Bầu khí nặng nề ảm đạm vây phủ. Chẳng có tiếng rì rầm nào mặc cho người trưởng quản giáo giải thích về cái chết, kể tội người chết, kết tội chúng tôi là bi quan, không tin tưởng ở chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước… Nhưng khung cảnh im lìm bỗng vỡ tan, người quản giáo vừa nói: “Anh H. (?) chết tức là trốn học tập…” Chúng tôi cười ồ lên. Người quản giáo ngơ ngác lặp lại. Vẫn cười ồ. Sau này có người xầm xì: “Trốn sao được mà trốn, còn gặp Bác kia mà…” Nhưng sự kiện ấy là một trong những lúc hiếm hoi gây xúc động ở tôi trong những ngày cùng khốn đó. Phải đặt mình vào cái buổi sáng âm u, người trĩu buồn, tuyệt vọng, không ai muốn hé môi của ngày hôm ấy. Phải nhớ lại cái xác còn treo tòn teng như hình ảnh có thể có của mỗi người trong chúng tôi. Thế mà có những tràng tiếng cười, tràng cười ồ không vươn dài ra biểu lộ một nỗi vui mà cắt đứt cụt ngủn, đột ngột, đã ngưng lại mà người cười còn ngơ ngác. Đó là tiếng cười của một lũ điên, tiếng cười không còn dấu vết của lương tri. Nhưng ai đã đánh mất lương tri? Lễ chôn cất làm vào lúc sập tối. Hình như người ta cố ý trùng trình để chờ lúc thuận tiện tránh xáo động hơn. Chỉ có một số người khiêng quan tài qua bên kia suối. Chúng tôi bị đuổi hết vào nhà nhưng từ trên các chái chúng tôi vẫn theo dõi được con đường của ánh đuốc, ánh nến bập bùng trồi lên trụt xuống của chiếc quan tài trên đường thung lũng vắng lặng. Đêm đổ xuống ôm lấy con người yếu đuối kia nhưng cũng ôm choàng tất cả chúng tôi, bất lực… [Tạ Chí Đại Trường, Đường về Long Khánh, sđd, trang 122-123, Thanh Văn xuất bản, Los Angeles, Hoa Kỳ, 1993]

Ông quan sát, ghi nhận và tổng hợp bao nhiêu cảnh éo le, oan khốc của người tù và thân nhân một cách chi tiết với lòng cảm thương dành cho nạn nhân phụ nữ và phẫn nộ dành cho một chế độ đã mắt nhắm tai ngơ trước cảnh lầm than nhục nhã của họ:

  … Ở địa điểm này chúng tôi được hai lần gia đình gởi “quà” bằng đường bưu điện cách nhau ba tháng và hai lần gia đình đến “thăm viếng” cách nhau sáu tháng. Ngay đến cách dùng từ cũng làm ngạc nhiên chúng tôi, kể cả các tay Bắc Kì tàu há mồm. Sự lựa chọn từ ngữ thể hiện được cả tính chất Bắc Kì phong kiến được nâng lên mức độ thể chế hiện đại hóa. Chẳng phải ở tù –có người bị kiểm điểm vì đã thốt lên ý nghĩ này — cho nên không có chuyện “thăm nuôi”. Đấy chỉ là sự vắng mặt dài lâu được nhà nước tính toán chu toàn đủ, nên không có sự thiếu thốn, không có chuyện đi nuôi tù. Thấm nhuần tinh thần nhân đạo truyền thống, nhà nước mới tổ chức cho thân nhân đi thăm viếng những người đang học tập cải tạo, mang “quà” đi động viên, khích lệ chồng con học tập tốt để sớm trở về với gia đình, sớm trở thành người công dân tốt phục vụ đất nước. Cái ngọt ngào sao mà đầy vị đắng cay! Và đắng cay nhân đôi với những người nghèo trong trại. Ở nơi khác đã có người mang cả con heo quay đến trại, có người lãnh “quà” lôi luôn cả tổ trên 10 người đi khuân vác. Lại có người lủi thủi đi thăm chồng với ổ bánh mì kèm theo như lời trối trăn: “Lần này ráng chạy tiền đi thăm anh, không biết lần sau có vay được không.” Ở T. này cũng có người từ nhà thăm nuôi vào vừa khiêng vừa vác, vừa réo gọi anh em tiếp tay, và cũng có người lặng lẽ xách một bọc nhỏ về phòng mà trí óc vẫn băn khoăn không biết làm sao con vợ nuôi nổi mấy đứa con mà còn chạy được tiền đi thăm mình nữa? Cái dấu hỏi to tướng này không mấy người đặt ra. Có người thản nhiên không nghĩ tới vì tưởng có đủ tiền để được thăm nuôi suốt đời. Có người không nghĩ tới vì thói quen đòi hỏi hưởng thụ đã che lấp tất cả. Một thảm cảnh gia đình từ đấy mà ra: Người vợ phải đi bán thân và phân trần với người mẹ cải tạo cùng phố: “Dì tính, nhà còn gì nữa đâu, còn phải nuôi mấy đứa con mà anh ấy cứ viết thư về giục gởi thứ này thứ nọ, cứ tưởng như là hồi trước kia!” Chúng tôi cũng từng ghé mắt nhìn qua các bản danh sách yêu cầu này và đặt tên cho chúng là những “tờ sớ”… [Tạ Chí Đại Trường, Đường về Long Khánh, sđd, trang 182-183]

– … Thư viết chỉ một trang giấy học trò mà thôi. “Quản giáo còn bận nhiều việc”, không thú nhận rằng mình ít chữ, đọc nhanh không được mà tính đa nghi lại khiến anh ta nhìn thư dài ngoằng không biết bọn nguỵ cầu kì rắc rối nói chuyện sinh hoạt phức tạp có chen vào ẩn giấu âm mưu gì không. Nội dung thư cứ nói “học tập tốt, lao động tốt”, “động viên gia đình lao động tốt” để “xây dựng chủ nghĩa xã hội” là đủ rồi. Thế mà có những đứa viết thông báo cho gia đình biết chỗ ở của mình với các câu đại khái “Lúc này vườn anh Long chị Khánh chắc cỏ mọc um tùm”… Phần lớn khác nói chuyện mùi mẫn anh anh em em đầy tính cách tiểu tư sản uỷ mị, kéo dài hàng lô món ăn xin gởi liệt kê cả một dọc! Thế thì làm sao gọn trong một trang giấy cho được! Không vuốt ve vợ thì tình cảm không chỗ phát tiết đã đành, nhưng nếu không mùi với con vợ thì làm sao nó chấp nhận cái “toa” kê ra? Cho nên vẫn có kẻ kéo dài hai tờ giấy học trò, chữ viết nhỏ đi, theo hàng gạch hẹp, tái bút lên tái bút xuống, lại xoay ngang tờ giấy viết vào cái lề còn chừa trắng trước kia, mất cả ý định dành cho thư có tính cách trang trọng. Thư các ông có mục đích “đồ ăn” rõ rệt thì thư các bà lại nặng về tình cảm kể lể, thương mến lẫn giận dỗi ghen tương– có cả chuyện phòng the ẩn giấu nhưng khá trắng trợn, có nhắc cả chuyện vợ lẽ con riêng đâu tận đời kiếp nào trong năm bảy tờ giấy làm dày cộm bức thư. Chắc tức vì đọc mệt, Ban Chỉ Huy bèn tổ chức một hai cuộc lên lớp, bắt đương sự lên bục đọc thư vợ, kéo dài cả buổi tối. Tất nhiên chẳng phải vì ác ý nhưng mọi người đều cười ngả nghiêng tán thưởng cái dâm của người vợ trẻ xa chồng. Nhưng sau đó là những điều phải suy nghĩ liên hệ đến gia đình từng người: Cô giáo nọ vốn đã trải qua một thời làm tình nhân, làm vợ đầy hạnh phúc, nay mang từng cái bánh ra bến xe bán, lạc lõng bơ vơ ngoài đường, cô đơn khi về nhà, nhắc đến chuyện ái ân cũ với chồng có phải dùng kỉ niệm để làm bức thành ngăn chận những quyến rũ của cuộc đời lôi cuốn từng giây, từng phút trước mắt không?

Những bức thư viết đi cũng được cho lên lớp vì có những lời lẽ tuyệt vọng động chạm đến lòng tự cao tự đại phình to của người chiến thắng. “Thôi, đời anh như vậy là hết rồi, em nên đi tìm hạnh phúc mới, coi có người bộ đội nào…” Lời gầm phản đối thật đầy vẻ kiêu hùng: “Nhà nước giam giữ các anh không phải nhằm mục đích chia rẽ gia đình, và chúng tôi chiến đấu không phải là để cướp đoạt vợ con của các anh!” Thật đầy lí tưởng nhưng chẳng thực tế chút nào… [Tạ Chí Đại Trường, Đường về Long Khánh, sđd, trang 186-187]

-… Một thảm kịch cũng diễn ra với một nhân vật ý thức thật đúng hành động của mình. Người vợ trẻ dắt theo cả mẹ chồng, thuật với anh chồng phi công về chuyện mình bị công an hãm hiếp bao nhiêu lần, những lúc bị đòi lên lấy khẩu cung chuyện nguỵ. Một vài lần riêng lẻ, một lần bề hội đồng và kết quả là cái thai mấy tháng. “Mẹ nói để một mình mẹ lên nói với anh cũng được, để tránh cho em điều khó nói. Nhưng em nghĩ em chẳng có điều gì phải ngượng vì không hề có ý nghĩ phản bội anh. Em muốn tự tử nhưng cũng muốn gặp thẳng anh, bởi vì nghĩ rằng trước sau gì anh cũng biết chuyện – biết một mình chắc có nhiều điều vương vấn thắc mắc hơn là biết với em để ít ra em còn sống mà chia xẻ, chịu đựng với anh…” Đêm kéo dài với những lời kể lể và anh phi công nọ về trại ngẩn ngơ mấy ngày rồi vượt biên giới trong một buổi đẵn cây rừng. Bây giờ anh ở nơi nào? Chuyện có thể được bào chữa là do sai trái của một vài cá nhân lẻ tẻ, như thói quen biện hộ thông thường. Nhưng “con dại cái mang”, một quyền bính chối bỏ trách nhiệm của mình thật chẳng bình thường tí nào, huống chi đối với một chính quyền cứ tự cho mình không chỉ bênh vực lẽ phải mà chính là hiện thân của lẽ phải, văn minh. Đây chính là điều đáng nói. Thường nhân sai lầm có thể bị mắng mỏ, đánh đập nhưng cũng được tha thứ. Còn những người tự xưng là thánh thiện có thể được kính trọng tôn sùng nhưng khi đổ vỡ thì thật là tai hại, tan tành không phương cứu vãn. Sống mà cái gì phải, cái gì thành công thì vơ về mình, cái gì trái, cái gì thất bại thì đẩy cho người khác, sống như thế, cai trị như thế cũng “dễ” thôi. Tất nhiên đây chỉ là bàn tới trên lí lẽ mà thôi. Nếu sức mạnh khiến cho lí lẽ không giành được ưu thắng thì đối lại chỉ còn sự khinh miệt- tuy rằng khinh miệt chẳng nhằm nhò gì đối với quyền thế. Về Sài Gòn ít lâu tôi thấy thái độ trên chất chứa thật sâu xa, thật lan tràn trong dân chúng. Và cả người cán bộ cũng ngượng ngùng, lẩn tránh…Không thể không nhìn nhận sự hấp dẫn của Sài Gòn đối với người chiến thắng hấp dẫn về mức sống cao, từ đó là hấp dẫn bởi con người, đầu tiên bao giờ cũng là đàn bà! Lúc mới giải phóng, con gái ngõ hẻm đã chê bộ đội “không láng”. Có nghĩa ngược lại là con gái đàn bà Sài Gòn “láng” lắm. Văn chương Giải phóng có vào khuôn phép cho mấy cũng lộ ra một sự vùng vẫy chống cự sự hấp dẫn đó. Với uy thế chiến thắng sao họ không biết lợi dụng tình thế? Kẻ đạo đức trong vụ này là những tên chậm lụt, ì à ì ạch. Những người ở địa vị lãnh đạo tiếp thu cơ sở có đủ quyền uy, tiền bạc để che cái “không láng” của họ, mà có còn thì cũng dễ dàng nhanh chóng khắc phục… [Tạ Chí Đại Trường, Đường về Long Khánh, sđd, trang 188-190]

– … Huỳnh Tấn Phát quy định thời gian cải tạo là ba năm. Tuy cũng đã trải qua một năm rồi nhưng khoảng thời gian còn lại vẫn thấy là ngút ngàn! Quy định có nói đến trường hợp được về sớm nếu có cơ quan bảo lãnh, có người thân là Cách mạng. Thế là tự nhiên nảy nòi những tay bà con Cách mạng, từ những bà con thực sự, tuy xa lắc xa lơ mà honda, tivi rút ngắn con đường thân thuộc đến những tay bà con chẳng biết từ đâu, bằng cách nào lại trở nên cùng họ hàng! Trong đó yếu tố can thiệp mạnh vẫn là đàn bà. Nhiều anh nôn nóng viết thư trách mắng vợ không giỏi giang như người khác để lo chạy cho mình về. Và một anh nhận được bức thư nhẹ nhàng, cay đắng nhưng có hiệu quả như một lời nhiếc mắng nặng nề ngoài ý muốn của người viết: “Anh trách em không lo cho anh, nhưng nếu bắt chước như chị A, chị B thì sợ khi anh về rồi, chúng mình không dám nhìn mặt nhau…” Nhưng có vẻ như không chỉ có sự lợi dụng xấu xa. Một bức thư với mục đích phân trần về hành động rẽ bước nhưng có chi tiết tình cảm không đơn giản: “Nhà ta đã không thong thả gì mà bây giờ em phải gánh lấy 7 đứa con dại với một tương lai mờ mịt. Nhớ ngày nào ở nhà anh vẫn thường ước muốn sao cho em được hạnh phúc, sao cho các con được sung sướng. Phần em bây giờ không đáng kể gì rồi nhưng các con vẫn là điều quan trọng. Thời thế đã đổi thay, các con sống chật vật đã đành mà quá khứ ngụy của anh còn là một trở ngại lớn cho chúng nó nữa. Nay có người chịu nhận nuôi nấng con anh, hi vọng dây liên kết với người của chế độ mới sẽ bảo đảm một chừng mực nào đó cho chúng sống dễ thở hơn, em tưởng tuy không dùng đến chữ hi sinh, nhưng dù mọi người chung quanh có nhìn em bằng cặp mắt khinh bỉ, dù anh có bực tức thế nào đi nữa, em cũng nghĩ là em đã làm theo ý nguyện của anh…”. Bức thư được những người đọc lên tỏ vẻ hoài nghi, khen chê rối mù, nhưng không ai không cảm động với lời tâm tình mà vì hoàn cảnh lúc bấy giờ không ai biết đến sự bao vây khắt khe của chế độ, không ai thấy được sự tính toán sai lầm của người vợ kia. Xã hội không có quy mô công nghệ nữa mà lại suy sụp trở về với thời làm ăn tủn mủn, vụn vặt, một thứ “chạy chợ” tuy ở khung cảnh đô thị nhưng vẫn mang dáng dấp của sinh hoạt “con cò lặn lội bờ ao”. Người “làm ăn” được là đàn bà, con gái, trẻ em đi làm để nuôi đàn ông vào tù hay co rút lại. Những người này không được chuẩn bị sẵn để chống đỡ với những cạm bẫy do chính bởi cái ưu thế đàn bà đã giúp họ làm ăn dễ dàng: Qua mặt công an, luồn lọt công quyền, ứng biến khi sơ thất ngay cả trên đường xa… [Tạ Chí Đại Trường, Đường về Long Khánh, sđd, trang 190 -191]

– … Nhà nước mới cũng nên biết ơn những gia đình có con em cải tạo đã giúp cho chính sách có bằng cớ khoan hồng hơn bằng cách moi vàng ra, bán đổ bán tháo rađio, tivi, tủ lạnh cho cán bộ đem về Bắc, để lấy tiền nuôi nấng người thân trong rừng sâu núi thẳm, cho cuộc sống họ đỡ cực nhọc hơn. cho họ đủ sức chịu đựng hơn: “Này, đi học tập về béo tốt như thế đó…” Chút tiền của bòn mót từ cái đuôi của tư bản, chút cặn thừa của thời kì thực dân kiểu mới “phồn vinh giả tạo” đã gợi nên câu nói khôi hài đen: “Mai sau có con, tôi nhất định khuyên nó đi lính cho phe xã hội chủ nghĩa. Chẳng phải vì muốn nó ‘yêu nước, yêu nhân dân, yêu đồng bào, vì nhân loại tiến bộ’ đâu! Mà vì lỡ nó có bị làm tù binh thì tư bản nuôi nó sướng như tù Phú Quốc hồi đó, chớ đi lính cho tư bản mà bị phe xã hội chủ nghĩa bắt thì ôi thôi, chém-tre-đẵn-gỗ-trên-ngàn!” Đi thăm nuôi cũng không dễ dàng gì. Đã nói hơn 30km đường xe bò đi, có thể đếm bao nhiên hang ổ gập ghềnh là bấy nhiêu cay đắng cực nhọc cho người chinh phụ thời hậu chiến của một phe này. Sầu hận họ lắng sâu, sâu mãi để có thể đối xứng với tiếng reo hò tở mở của tiếng người trực tiếp, tiếng người nhắn qua phương tiện truyền thông của nhà nước tập trung, qua những trang giấy in triệu triệu tờ tung ra khắp đất nước, vòng quanh trái đất để hoan hô chiến thắng, reo mừng ngày thống nhất của một phe họp mặt, sum vầy (…) Có người giữa đường rừng đã bị chặn lại, cướp đồ đạc, bị chọn lựa để dẫn sâu vào bên trong. Người thân còn kể rằng đã đọc thấy trong đôi mắt của chị mình một lời trăn trối – không phải chỉ sự tuyệt vọng không bảo vệ nổi tiết trinh mà còn là dấu hiệu một thảm trạng về sự bất lực của chính bản thân mình, của tập đoàn bại vong của mình, của cả chính những người chủ mới, của đất nước với trống với kèn, với tiếng súng đạn nổ mừng hội hoa đăng, trùm lấp những lời than vãn – còn nói chi đến một cử chỉ thầm lặng buông xuôi! Lượng tiền tích trữ của Sài Gòn cũng còn là lớn. Anh thiếu uý bên nhà tôi được gia đình mang cả con heo quay ra đãi bạn. Nhưng một bà mẹ đã nói nhỏ với con về thảm trạng của người bạn gái nhỏ cùng khu phố. Bà già thuật chuyện ấy đâu phải để làm quà thóc mách nhưng để gợi về giá trị những gói mì, cái bánh… trên đường xa lặn lội… [Tạ Chí Đại Trường, Đi, Về, Vào, Ra”, sđd, trang 250 -251]

Liệu có ai còn nhớ để so sánh quang cảnh náo nhiệt rợp màu đỏ tại Việt Nam mới đây khi kỷ niệm 50 năm “Giải phóng Miền Nam” và “Thống nhất đất nước” với đoạn bình luận cách đây hơn 30 năm của một sử gia về những người vợ, người chị, người em gái Miền Nam bị hãm hiếp trên đường thăm nuôi thân nhân bị giam tại các trại Tù Cải Tạo Miền Bắc?

1.3.10 B Vài suy nghĩ về Phụ nữ Việt Nam và Phụ nữ Miền Nam sau 1975

Tuy bị Tạ Chí Đại Trường rủa là “đồ răng đen mã tấu”, tôi vẫn có mỹ cảm với ông về một khía cạnh mà hình như chưa ai bàn đến khi viết về ông: quan tâm và chia sẻ với phụ nữ về những vấn đề ảnh hưởng trực tiếp đến họ, nhất là sau năm 1975. Ngoài những đoạn thượng dẫn về chuyện Thăm Nuôi người Tù Cải tạo, tôi còn được đọc những lời bàn sau đây trong tác phẩm khác. Ông bàn về vị trí của người phụ nữ qua tên họ và gia phả:

-… Nhưng ngay cả ở cội gốc, ở quan niệm tông phả của Trung Hoa cũng đã có sự thiếu sót trong sự kết nạp các thành phần làm nên một dòng tộc. Không phải người nào cũng được ghi chép như nhau. Ðược chú ý nhất là các nhân vật thuộc ngành Trưởng, và là người nam. Gia phả mang tính phụ hệ, chỉ giữ lại cái “họ” của thành phần nam. Ngưởi nữ được ghi theo chồng, cả theo con, với những chi tiết tối đa gán ghép theo ý nghĩa phục vụ kia, nghĩa là ngoài những điều khoản căn bản phải theo thì những thuộc tính của người nữ được thêm là từ sự liên hệ với người nam gần gũi: công dung ngôn hạnh không có, không cần thiết cũng được nêu ra, chức tước ân thưởng về mặt xã hội được nhận lãnh từ người cha, người chồng, người con (…) Tính chất bất toàn của gia phả theo quan niệm phụ hệ dẫn đến sự bất công đối với người nữ, đã được ông Phan Khôi nêu ra theo bằng chứng gia đình: bà cố của ông tái giá, dựa vào sinh kế nhà chồng mới, nuôi con chồng cũ học hành đỗ đạt, với chức tước hưng vượng cả nhiều đời sau đó cho những người họ Phan của ông mà vẫn bị nhà chồng cũ bỏ bài vị, không cho cúng giỗ! Bây giờ, thoát khỏi ảnh hưởng của quan niệm Tây phương đã gây nên sự bất mãn kia của ông Phan Khôi, xã hội Việt Nam trở về với “truyền thống” cũng cho thấy bóng dáng người phụ nữ năng động xưa. Tuy các nhân vật nữ trong chính quyền chỉ làm việc tô điểm cho một chính quyền Ðực đến mức thô bạo nhưng nấp sau các công cuộc “làm ăn”, “chạy mánh”, kể cả ở các tập đoàn kinh doanh đều có bàn tay những người phụ nữ tháo vát. Rồi như minh chứng cho sự chèn ép của xã hội, những người nữ chống đối hiện nay cũng nổi bật lên, chịu đựng nặng nề quyền uy sấm sét của những người cầm đầu đất nước đang lúng túng níu kéo quyền lực. Ðã có sự dọ hỏi về số người nữ bị tù đày về chính trị ở Việt Nam hiện nay, cho thấy là họ có số lượng vượt lên mọi nước trên thế giới… [Tạ Chí Đại Trường, Sử Việt thời thổ tả (IV): Chuyện Gia Phả, Tông Phả Họ Hàng Nhà Ta, Da Màu, ngày 8. Tháng giêng. 2014

https://damau.org/30531/su-viet-thoi-tho-ta-iv-chuyen-gia-pha-tong-pha-ho-hang-nha-ta

Rồi ông bàn đến đến những cái họa ngày nay. Chiếc áo dài cũng lợt phai trên sân trường trên dưới 10 năm cho đến khi cô Đàm Thị Ngọc Thơ, Hiệu Trưởng một trường trung học tại Cà Mau cổ võ thành công cho việc tái xuất loại đồng phục này vào khoảng 1984:

-… Thiếu Gia miếu là dấu hiệu hiện diện của thần Bạch Mã Thái Giám cũng từng cứu vớt người đi biển tận trong tít mù thời gian. Tính nữ đã nổi bật với người đi biển xưa, người nữ vượt biển của thời nay, trong ý thức xông xáo cố hữu mạnh hơn người nam với toan tính bứt ra khỏi sự nghèo đói bình thường mà bức xúc, khỏi sự chèn ép của hệ thống phụ hệ còn đó hàng ngày, người nữ đi tìm sự giải thoát cho chồng cho con, tìm sự giải phóng cho mình hẳn cũng một lần kêu gọi đến vị nữ thần bảo trợ (“Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát”) khi thấy sóng gió, gặp hải tặc? (…) Cô đã thật có sự an bình – an phận – bên trong chiếc áo dài kia? Chiếc áo dài cũng tội nghiệp vì tuy được ca ngợi liên miên nhưng lại chỉ là khuôn mẫu độc nhất của trang phục dân tộc trên thân người phụ nữ Việt ngày nay. Vậy mà có một thời nó đã phải biến mất như một dấu vết đáng xấu hổ của tầng lớp trưởng giả, tiểu tư sản. Nó chỉ xuất hiện lại trong khuôn khổ nhỏ hẹp, trong nhà trường với màu trắng đơn sơ, ở tận xứ Cà Mau hóc-bà-tó của đất nước. Và cô hiệu trưởng hồi kết ấy phải chịu bao điều mắng mỏ, đe dọa của cấp ủy địa phương. Họ không chịu thấy rằng chính bộ đồng phục ấy mới là dấu hiệu bình đẳng ít ra là ở trong nhà trường, nơi dù sao cũng là khởi điểm của những người điều hành đất nước, công cũng như tư. Học sinh có gì mặc nấy, có cô cậu te tua rách rưới, có cô cậu như ông hoàng bà chúa, thế mà cấp ủy Đảng không thấy ra điều ấy chỉ nhìn việc theo thói quen định kiến và quyền uy, thói quen tuân phục của thuộc lại thời mới. May mắn cho cô Hiệu là đàn bà trong một chế độ tuy thường tuyên truyền về vai trò bình đẳng của phụ nữ nhưng ưu thế đó không phải là từ trong lý tưởng thực hiện được mà từ trong thực tế có sự nể nang lẫn coi thường kiểu cách luồn lọt xông xáo của đàn bà… [Tạ Chí Đại Trường, “Từ nơi sóng vỗ bềnh bềnh”, Văn Học số 123, trang 99, Tháng 7. 1996]

Là một nữ sinh mặc áo dài trắng suốt 7 năm Trung Học, nhiều lúc còn cột 2 tà áo vào nhau cho dễ đá banh, trèo cây (hái trộm hoa quả), nhưng sau đó ít mặc hơn mà khi ra đi, không biết tại sao lại quơ đúng 1 chiếc áo dài mang theo, tôi rất ngậm ngùi khi đọc đoạn này. Đọc đến đây thì đã quá đủ mà không cần lời bàn thêm. Đến đây, cũng đã đủ để chúng ta sang phần người lính VNCH trong các trại giam Tù Cải tạo.

1.3.11 Có điều cũng nên minh oan chút cho “lính ngụy”

Tạ Chí Đại Trường là một người lính. Ông có những quan sát, suy nghĩ của một người lính. Trong đoạn sau đây, ông đặt sự tương phản giữa những phương tiện truyền thông ngoại quốc không thấu nổi lúc thập tử nhất sinh của nền tự do chìm theo đáy vực của một quân đội chưa đánh hết mà phải bỏ súng. Tạ Chí Đại Trường đứng trong đoàn quân ấy để ca than:

– … Có điều cũng nên minh oan chút cho “lính nguỵ”. Những ngày di tản, chuyện bạo tàn của lính kể không hết từ những người quen thuộc cuộc sống ấm êm sát bên lửa đạn bao nhiêu năm, từ phương tiện truyền thông quá thừa chỗ trống. Sau khi Đà Nẵng thất thủ, một người lính Biệt động quân vào chi nhánh tiết kiệm Việt Nam Thương Tín Ga Sài Gòn gởi một số tiền tròn giản dị: một triệu đồng. Nhưng có ai thấy họ đói khát thất thểu lê bước, có ai thấy nỗi tủi nhục của họ khi đội ngũ còn mà phải bỏ chạy một cuộc phục kích của du kích địa phương? Sức căng chiến đấu đẩy mũi súng trở về phía trước mà quay đầu lại thì cò súng ấn vào viên đạn tất chĩa về hậu phương. Nhưng khi đã quăng súng, lột áo quần giày mũ, rời rã về với cá nhân thì chỉ còn mong trốn chạy cho yên thân, núp vào đám đông mà trốn, chui vào sinh hoạt bình thường mà trốn, ở nơi người phổ ki bưng tô hủ tiếu cho khách, người chủ cà phê ghế, cả cái anh đang mơn mơn anh bộ đội gạ bán cái đồng hồ không người lái gốc Chợ Lớn kia nữa… [Tạ Chí Đại Trường, Những ngày cuối và những ngày đầu, sđd, trang 27]

Từ đó, ông giải thích lý do người dân Miền Nam phản ứng với chế độ Cộng sản bằng sự ưu ái công khai với tù nhân Trại Cải Tạo vì chính họ–không chỉ có thân nhân trong tù—cũng thuộc về quá khứ chung với đoàn tù:

– … Câu chuyện về cảnh đồng bào ùa ném quà bánh cho tù binh có thật nhiều, nhiều pha thật cảm động và cũng thật không ngoài tiên liệu của những người quản lí chúng tôi cứ phải di chuyển chúng tôi trong xe bít bùng vào đêm tối. “Trời sụp”, tai nạn tràn đầy, trên 25 triệu dân Miền Nam có ai là không có thân nhân phải vào trại tù? Đứa bé bán thuốc lá ném cả gói lên xe, có chút hi vọng nào là trong những người hút có cha của nó? Người vợ thầy giáo bộc lộ tâm tình son trẻ trong thư nghe đọc ở hội trường mà chúng tôi đã cười nhạo cợt, khi bán bánh kẹo ở bến xe, thấy một xe tù, dám tung cả rổ lên mà không tiếc chút nào! Lí thuyết giai cấp không đủ phủ nhận sự nghèo đói thời hậu-giải-phóng, thời đại đầy ước mơ của thời tiền-giải- phóng. Chạm trán với thực tế, người ta à một tiếng: “Cũng thế thôi!” Và bây giờ thì chỉ có chuyện biện minh – biện minh có sự phù trợ của sức mạnh. Sách vở, chữ nghĩa đâu có phủ lấp được đời sống! Bà già từng nuôi giấu cán bộ, chờ chực đến bao nhiêu ngày để xin cái giấy gì đó không được, chửi bới lung tung không kể gì bọn nguỵ dân cười thầm với nhau. Người trí-thức-một-chút ngơ ngẩn trước sự lệ thuộc tư tưởng đến trắng trợn, loại lệ thuộc không giấu diếm đã đành mà còn được hãnh diện khoe khoang. Chưa kể đến sự bàng hoàng cuống quýt vì thất nghiệp trước quan niệm “lao động là vinh quang” được hiểu với tính chất cầm cày, cầm cuốc, chọc lỗ, bới tay chứng tỏ một trình độ kĩ thuật kém cỏi đến mức họ không thể nào thích nghi được. Trong một hai tờ báo lọt đến tay chúng tôi, thỉnh thoảng có các câu chuyện xa gần đến sự quay đầu (về đâu?) của đám thanh niên tả phái cũ từng làm nổ tung thành phố một thời. Lí lẽ chê bai họ của chính quyền mới thật nhiều nhưng không đủ phủ nhận đuợc sự kiện. Còn chính sách bao tử kềm cho người dân ở mức độ bận tâm đến sinh sống hàng ngày khỏi gây nguy hiểm cho chính quyền, đem lại vững chắc cho điều theo lí thuyết gọi là chuyên chính vô sản, thì lại dẫn họ đến sự so sánh thực tế mà thốt nên lời mỉa mai: Gạo được trị giá ba phần khoai lang được gọi là gạo Ba lan(g), xe đóng hộp cá người xộc xệch trên đường đi gọi là xe Liên Xô – xô liên liên, liền liền… Người con gái gốc Sài Gòn mót lúa trên vùng kinh tế mới, trả lời tên cải tạo: “ Đúng là nhân dân làm chủ tập thể (tiền của, lúa gạo) nhưng mà nhà nước quản lí, anh ơi!” Đã bất mãn với hiện tại mà không mơ ước nổi tương lai thì người ta hay tẩn mẩn quay về quá khứ. “Luyến tiếc quá khứ” bị buộc là cái tội nhưng quyền lực nào xua đuổi được quá khứ? Quá khứ còn trước mắt họ không chỉ là căn nhà đổ nát, tàn tạ, con đường thưa vắng mà còn là nhúm người được tách ra như vi trùng nguy hiểm thành một cuộc sống “Việt Nam Cộng hòa nối dài” riêng biệt bên trong hàng rào dây kẽm gai, vọng gác… Với phần lớn thì chẳng ai có hành động gì tích cực mà chỉ có luyến tiếc thôi! Nhưng trên sự luyến tiếc ấy một tình cảm đẹp đẽ được trỗi dậy: người ta dễ tha thứ, khoan dung với những lỗi lầm đã qua và cảm thương cho sự thất thế, cùng khốn thấy trước mắt. Họ quên chuyện những “tên” cảnh sát đậu xe bít bùng bên hàng xóm, thân mình mang súng, lựu đạn cay, khiên mộc rầm rộ ngoài đường phố rượt đuổi đám thanh niên tay không chơi trò cút bắt với đại diện chính quyền, như một phần thể hiện sức trai trẻ thừa mứa cho lí tưởng. Họ quên đám lính lùng sục trong làng khi chạm trận thì cũng có thể quơ con gà, con vịt, xẻo vội cái đùi để con heo ba chân chạy trốn… Họ quên đám quan lính nhậu nhẹt nổ súng tưng bừng. Họ quên… Họ quên… Trước mắt họ bây giờ chỉ có sự tồi tàn sa đoạ, chỉ những gương mặt lầm lì, những bộ đồ rách tả tơi mà dù người bộ đội có thúc giục “Vui lên… Vui lên… Áo quần lành lặn vào” cũng không làm thay đổi được. Và từ đó quà bánh ném lên xe, không phải của những nhà giàu, nhà tư sản — họ đang trốn tránh, trong nhà riêng hay ở ngoại quốc — mà là từ những người buôn gánh bán bưng, những bà già lụ khụ với cái mẹt kẹo ruồi bu, những người mà lí thuyết không phủ nhận được tính cách tầng lớp thì lại chuyển lí luận trừu tượng về sự “tàn dư của chế độ”… [Tạ Chí Đại Trường, Đường về Long Khánh, sđd, trang 198-200]

Không chỉ dân Miền Nam, dân Miền Bắc có dịp tiếp xúc với Tù Cải tạo cũng dần thay đổi cách đối xử với “bọn ngụy”:

… Giáo dục tinh ranh trong độc quyền phải mang lại hiệu quả. Chỉ đến khi có sự kiện lạ ngoài đường lối chung, sự thực khác đến mới làm lung lay hệ thống. Không có ý thức tích cực nhưng đám nguỵ thu nanh, cùn vuốt — dù là nanh vuốt cá nhân — cũng trở thành yếu tố tiêu cực làm rạn nứt hệ thống. Ừ, đám người mà sách báo, đài của Đảng, bài nói của cán bộ đều chỉ rõ ràng đó là những tên ác quỷ ăn gan uống máu người không tanh, hiếp dâm từ trẻ lên ba, cắt vú đàn bà, quăng ông già vào lửa rồi rú lên cười man rợ, đám ngưởi ấy sao cũng áo rách tả tơi, sao lù đù mà sao cũng có kẻ xốc vác, vui đùa, sao cũng biết thưa gởi, sao cũng biết nói tiếng cám ơn, tiếng nói mà dưới chế độ mới người ta đã quên? Hoàn cảnh cũng giúp họ một ít. Dân Miền Nam tiếp xúc với thần tượng mới, gặp những sự kiện bết bát không có một hệ thống truyền thông vĩ đại nào đủ sức cải chính, bèn quên ngay rằng bọn binh lính, viên chức cũ đã làm phiền họ nhiều, từng hoạnh hoẹ, nhậu nhẹt phá phách họ, cũng từng vác khẩu súng ra giải quyết chuyện kình cãi lặt vặt trong xóm làng, từng mặc bộ rằn ri bắt con gà đá ưa thích… Cái biến đổi của dân Miền Nam xảy ra mau hơn vì còn mối liên hệ ruột thịt với những tên bị làm dê tế thần cho chế độ sụp đổ. Nhưng tình cảm vốn là chung của con người. Cho nên bọn tù nguỵ cũng lần lần biến cải thành kiến của nhóm dân Miền Bắc tiếp cận với họ, chưa vướng víu sâu đậm vào “lí thuyết” của Đảng ta. Những người đi làm gần các vùng Mường, Thái… vẫn thường được cho ăn, tuy chỉ là khoai củ – họ còn có gì hơn để cho? … [Tạ Chí Đại Trường, K3, sđd, trang 416-417]

Người lính thất trận VNCH bị đẩy vào lịch sử với tội “ăn thịt người” và nhiều thứ tội tưởng tượng khác bởi những người Miền Bắc không biết chút gì về sinh hoạt hay cả tiếng nói của họ.

1.3.12 “Bớ lính”…

Tính chất lính VNCH của Tạ Chí Đại Trường lại được ông cho thấy trong bốn chữ “Hàng ngũ chúng tôi”:

Trong lúc ấy thì chúng tôi cũng có vài tờ báo Tết bên ngoài gởi vào theo các gói quà, theo một vài cách mua đặc biệt mà những kẻ có tiền lanh tay lẹ mắt nào cũng kiếm được. Báo tất cả đều xuất xứ từ Sài Gòn. Dù là của chế độ mới, báo chí Sài Gòn vẫn có một cái gì quen thuộc. Hẳn không phải chỉ vì là của những người cũ chuyển hướng – dù là dưới quyền lãnh đạo của Đảng. Báo chí, sách vở Giải phóng ở một mức độ nào đó có những người tiếp xúc với thực tế ở Miền Nam không thể viết một cách trắng trợn như của Miền Bắc. Cái lối viết “không có ai cãi lại”, bất kể đến lí luận sơ đẳng nhất, do một lẽ giản dị là người viết không cần biết đến những thực tế tầm thường nhất. Đường lối Đảng hướng dẫn ngòi bút họ chứ không phải là sự thực. Trong các trang feuilleton ở báo Nhân Dân, Quân Đội Nhân Dân, chúng tôi đọc vừa tức cười vừa bực mình với các đoạn tác giả cho lính, dân Miền Nam thưa với sĩ quan – có khi chỉ với thượng sĩ, là “Bẩm quan, bẩm ngài”, xưng là “con” ngon ơ!… [Tạ Chí Đại Trường, Đường về Long Khánh, sđd, trang 130-131]

… Hàng ngũ chúng tôi, lính cũng kêu “trung uý, đại uý” chẳng bẩm lạy gì cả, và chúng tôi không như một vai kịch của đoàn Kịch nói Trung ương gọi “Bớ lính” như trong tuồng hát bội, chúng tôi đã thành thị hoá đến mức trở thành thô lỗ, du côn, chỉ sai lính trống không “Ê, mày đi lại đàng kia…” … [Tạ Chí Đại Trường, Đường về Long Khánh, sđd, trang 140]

Ông nói quả không ngoa: cứ đọc một đoạn đối đáp trong Thân phận của tình yêu (Bảo Ninh) là thấy hiện ra mấy “hiện tượng” quái gở thượng dẫn. Ông tác giả này là… “Bắc kì giải phóng” chứ không phải “Bắc kì ‘tàu há mồm’ di cư 1954-1955” (mượn chữ Tạ Chí Đại Trường), nên đã có những câu nói gán cho một anh lính thám báo (lại thám báo!) Miền Nam gốc di cư lẽ ra phải dành cho chính ông (!) Đây là vài câu đối đáp của anh lính VNCH gốc Bắc di cư bị Kiên (và nhóm lính Miền Bắc) bắt được, theo Bảo Ninh:

-… Đột nhiên tên giọng Bắc rống to và vùng dứt khỏi đồng bọn, nhào xô tới quỳ xụp, ghé mặt xuống chân Kiên ư ử rên lên, và ằng ặc nấc lên, hắn quằn quại không thốt ra lời.

– Mày tình nguyện đi tiên phong à? – Kiên chọc móc súng vào trán hắn.

– Ối giời ơi? Con van ông, con van các ông. . . cho con sống! Cắn rơm cắn cỏ con lạy. Lạy các ông. . . ông ơi . . .

Tiếng tru tréo như xóc vào óc Kiên. Anh thúc một báng súng tống ngược tên ngụy ngã ngửa ra. Cú đánh như làm hắn bừng tỉnh, ngừng bặt kêu la. Hắn nhổm dậy, vẫn quỳ, lờ đờ nhìn Kiên, tay hướng tới anh. Từ vết thương ở trán một dòng máu nhóng nhánh chạy dọc xuống sống mũi.

– Em xin tình nguyện lấp huyệt. Các anh khỏi nhọc sức. Và em xin được tình nguyện được khai nhiều tin với cấp chỉ huy của các anh. Chính sách của Đảng ta, đánh kẻ chạy đi, tha người chạy lại. Các anh không có quyền giết em… Không có quyền! Ối giời ơi, em lạy các anh rồi mà!..” [Bảo Ninh, Thân phận của tình yêu, trang 42-43, Nhà Xuất bản Hội Nhà Văn tái bản, 2005-In 1.000 cuốn]

“Cắn rơm cắn cỏ con lạy”?!!! “Chính sách của Đảng ta, đánh kẻ chạy đi, tha người chạy lại…”?! Ối giời ơi/Trời ơi là trời! Bảo Ninh nhầm rồi: Cái “Đảng ta” này là của quý ông, xin tha cho chúng tôi thứ “ngư tiều vấn đáp” ấy, nhất là trong một tiểu thuyết có 2 chữ “tình yêu” ngay trong tên.

Sau cùng, Tạ Chí Đại Trường cũng được phóng thích khỏi trại giam do “Đảng ta” lập ra đặng bắt giam tất cả những kẻ chưa kịp…chạy đi và luôn nhiều kẻ dại dột chạy lại mà không khôn hồn chạy luôn. Ông theo “Đường trở về trần” vào “buổi trưa ngày 10-6-1981”. Cuốn sử ký có ghi lại tất cả những điều trên được bắt đầu vào tháng 9. 1981 và kết thúc vào ngày 5, tháng 6. 1982. Hơn mười năm sau, Một khoảnh Việt Nam Cộng Hòa nối dài được Thanh Văn xuất bản tại Hoa Kỳ lần thứ nhất vào năm 1993. Việt Nam Cộng Hòa nối dài trở thành một thuật ngữ để chỉ sự tái xuất hiện tại hải ngoại của một số sản phẩm tinh thần thuộc Miền Nam trước đây. Trên phần đất Hoa Kỳ tự do, ông nghiên cứu, viết sách trở lại, tái gia nhập cộng đồng văn nghệ gồm giới di tản- vượt biển-vượt biên-H.O. – đoàn tụ tại Nam California. Không những thế, với thời gian, nhiều tác phẩm mới và cũ của ông vượt biên vượt biển trở ngược ra mắt bạn đọc trong nước, lần này được chính thức công nhận ngay từ giới sử gia trong nước. Có điều chắc chắn: ông không bao giờ ngừng bàn luận trong loạt sử mới về hậu quả điêu đứng mà chính phủ mới đã áp đặt lên dân Miền Nam, không bao giờ ngừng cảnh báo về nỗi điêu đứng ấy sẽ có thể xẩy ra trong tương lai.

Hình ảnh cuối tôi giữ về ông là một người cô lẻ, nhậy cảm nhưng giữ kín tâm sự (không hiểu vì sao lại có cảm tưởng đó). Một buổi chiều cuối năm, nhà văn Bùi Bích Hà và tôi đi sắm Tết tại một khu chợ tại Little Sài gòn. Đúng là chị ấy lôi đi vì tôi không thể đậu xe trong những ngày đông đảo có hội hè đình đám. Hai chị em mua bán đã xong, vừa định băng qua một con hẻm nhỏ thì chị Bùi Bích Hà kêu lên: “Ai như anh Tạ Chí Đại Trường?” Rồi gọi. Ông quay lại, tiến về phía chúng tôi, tay mang túi vải. Lập tức, chị Bùi Bích Hà xếp nào chả lụa, nào kẹo mè xửng, nào lạp- xưởng, nào trái cây vào túi chia cho ông. Còn tôi thì trông chẳng giống con giáp nào. Số là tôi đến thẳng chị Hà từ sở làm nên vẫn mang giầy cao gót. Mới qua vài cửa hàng thì gót giầy sụp xuống một kẽ hở giữa mấy viên gạch. Tôi phải mua vội một đôi dép– khổ lớn cho vừa nhưng, vì thế, quai lại quá rộng khiến giống Minnie Mouse– lê đi khắp nơi với đôi giầy trọng thương buộc vào lủng lẳng một bên tay, tay kia vòng ôm mấy bó hoa khổng lồ. Ông tiến lại gần hơn, đưa cho một túi giấy nhỏ (sau này mới biết là bánh đậu xanh) rồi cứ đứng đấy, không lùi lại. “Vâng, ông cho tôi xin”. Chợt nhớ ông đã cảm khái về hoa trong tù, tôi rút vài cành hoa cúc, hoa huệ, cành đào và cành mai đưa biếu: “Ông cầm lấy cho chị em tôi vui. Cung kính không bằng tuân lệnh.” Ông đỡ lấy hoa, tay kia nhận túi thức ăn từ chị Hà, ngần ngừ một lúc nhưng không nói gì hơn ngoài gật đầu, cảm ơn rồi quay đi. Chắc chắn ông biết tôi có ý khi tặng hoa (không ai lại tặng hoa cho một người đàn ông bao giờ) mà lại có cả hoa huệ lẫn cúc đại đóa.

Vừa lên xe, chưa an vị, chị Bùi Bích Hà đã lườm xiêu đình đổ quán:

-Đồ Điêu Thuyền! Vào trong mã tấu, ra ngoài tặng hoa!

Không thấy trả lời, chị hỏi lại: “Em đang nghĩ gì thế?” Tôi nói đang liên tưởng về thế hệ đàn ông trong đó có nhiều người bạn. Vào năm 1975, họ chỉ khoảng dưới 40. Như Tạ Chí Đại Trường. Như Tô Thùy Yên. Thế rồi họ bị bắt vào tù, mất một thời thanh xuân không bao giờ quay lại. Tôi đọc ông không đủ, ngoài cuốn sử ký tù ngục, nhưng ấn tượng sau cùng vẫn là loạt tiểu luận về chính sách không lịch sự của chế độ mới với dân Miền Nam, trong đó có phụ nữ, mà ông cập nhật với đầy đủ tin tức, như bài này:

– Người hải ngoại– ít ra là ở Mĩ –thì biết ai nói câu này. Người trong nước chắc là không, vì nếu có chú ý đến thời sự, đọc tin tức chỉ thấy các phái đoàn ta đi công cán ở nước ngoài đều gây được thành tích rực rỡ, đến đâu cũng được kiều bào – những người tốt – đón tiếp niềm nở, thân thương. Chỉ có người chứng kiến tại chỗ, không ghi lại trong báo cáo, mới nhận ra có bọn người xấu phất cờ la ó, xua đuổi, để ngạc nhiên thấy mình không được quỳ luỵ như ở trong nước, nên nhẹ nhàng vì không thể giận dữ quát mắng – trách: “Sao các anh thù dai thế?” Đó là lời của ông Thứ trưởng Nguyễn Đình Bin nói ở Washington D.C. năm 2003. Lời nói chỉ nhắc đến “anh” mà không có “chị”, lộ ra một ý thức quyền đàn ông truyền thống bao trùm, nhưng thôi, chớ nên bắt bẻ thái quá.

Nhưng có thù có hận thì cũng phải sống trong thực tế, có lúc cũng quên đi, hay tưởng người ta quên đi. Và người người đi về Việt Nam (đi hay về?) Trong đó có tôi. Nhân cơn bệnh hoạn, hết xí quách, không làm việc nổi nữa, ráng đủ sức cầm tấm vé máy bay on sale, tiền nào của nấy, ê ẩm mình mẩy với với chuyến du hành vòng lên Alaska, trở xuống Kamichatka (hèn chỉ có lúc bị Liên Xô anh hùng vô địch bắn tan xác!) ghé Inchon (Nhân Xuyên) với mấy chú Củ sâm đánh lộn trong phi cơ trên bãi đậu, trễ đến 6 tiếng đồng hồ mới tới Tân Sơn Nhứt. Phi trường khuya về sáng, lưa thưa người, như một sân bay tỉnh lė. Những ngày lang thang trên đất quen mà lạ. Bởi vì đã là khách, lạ mà quen. Tờ mờ sáng, bận quần xà lỏn, bắc cái ghế ngồi nhâm nhi cà phê, đọc hết mấy tờ báo hàng ngày thì đường đã đông. Ngay trước mặt, chỉ cách vài thước, chắc là tám thước như của ông Tố Hữu, là cổng Bộ Công An, có lúc tự hỏi không biết vào lúc nào thì mình phải bước qua. Không. Tuy chẳng phải ăn cắp ăn trộm bẻ bí bắt gà nhưng thói quen áy náy vẫn cứ buộc mình thanh thản ở thế trông chờ. Không. Làm người dân của thời đại văn minh, không phạm luật – cả đến luật của nước người, khỏi vào Công an không phải là chịu một ơn huệ, tuy nhiên vì phép lịch sự vẫn thấy nên nói lời cảm ơn.

Nhưng vẫn phải hỏi “Sao các anh thù dai thế?”

Một buổi sáng mở tờ Thanh niên, thấy có chuyện về cái DVD hải ngoại “Tuyển lựa…” gì đấy mang hình các cô ca sĩ, mô-đờ trong nước bị công kích dữ dội nhiều kì báo, với thời mới có cả thư độc giả bốn phương imeo, imiếc nữa. À thì ra bọn xấu hải ngoại lúc nào cũng tìm cách bôi đen chế độ ta! Bọn xấu đó không nằm trong các thùng hàng gởi về tiếp sức lúc chế độ điêu đứng không phải vì bọn đế quốc thả bom. Chúng không in hình trên gần ba tỉ đôla trong năm vừa qua, như của trên trời rơi xuống mà thực ra có ý nghĩa như tiền chuộc tội cho hàng chục triệu con tin ngụy không kịp thoát chạy, bị nhà nước mới cầm giữ. Chúng không cố bám trong các tỉa dầu vọt lên từ biển Đông, tỉa dầu không có ở miền Bắc, nơi chỉ có nước lũ sông Hồng đi theo nền thống nhất tràn ngập miền Nam vì người ta phá rừng bừa bãi, lúc đầu là theo chủ trương khai hoang vỡ hóa của ý thức nông dân thời vua Hùng dựng nước, tiếp theo và dài dài đến nay là chủ trương di dân chiếm đất củng cố chế độ, theo sức mạnh công phá của những người “ăn theo” chiến thắng, những người quen sống bất hợp pháp trong một chế độ kềm thúc gắt gao (chui lọt thỏm giữa rừng sâu phá ra!), phải sống như thế mới tồn tại được. “Vào miền Nam, đẻ sướng!”, không quen với capote/condom để khỏi lo sợ có con, không sợ bị người khác dòm ngó phê bình, chuyện trên giường còn như thế kia mà! Mà hãy nhìn lại hình các cô được trưng dẫn. Tuy có nghèo, có thiếu vải, vì nhởn nhơ trên bãi tắm, nhưng không phải là không vải như chắc chắn là ở hình của hai cô cậu 21, 22 tuổi đóng phim X 16 phút cho người trong nước thưởng thức. Chắc chắn không nhiều vải hơn cô giáo đi thi thạc sĩ hở rún, hi vọng giám khảo nhìn nơi khác mà không chú ý đến bàn tay quay phim của cô. Thế thì căn cớ gì cứ chỉ vào mặt bọn hải ngoại? (…) Ngày trước, văn công của các ngài đặt ra câu vè muốn mang tính chất khêu gợi tình yêu nước, yêu dân tộc mà rẽ ra tinh thần kì thị chủng tộc và ngầm ý miệt thị người phụ nữ Việt: “Rớt Tú tài anh đi trung sĩ. Em ở nhà lấy Mĩ nuôi con. Đến khi yên nước yên non, Anh về anh có Mĩ con anh bổng.” (…) Như chuyện người Đài Loan đi “con mắt” con gái Việt. Mà ngày trước Mĩ có lột truồng đàn bà con gái Việt thì chỉ trong bóng tối, tiền trao cháo múc chứ có đâu săm soi giữa thanh thiên bạch nhật dưới con mắt của bàng dân thiên hạ, để cân nhắc trinh tiết, cò kè bớt một thêm hai như mấy ông già Đài Loan bây giờ? Hay đó không phải là phụ nữ Việt? Chỉ là Việt của nguy? (…) Chưa nghe ai giải thích XHCN là Xấu Hơn Cả Nguy ư? Sao phải cần là ngụy mới xấu? Vậy thì “thù dai” chỉ là cái cớ che đỡ, một mặc cảm của sự chiến thắng không toàn vẹn, càng lúc qua sàng lọc của thời gian càng bộc lộ những che giấu xưa, vì sơ hở hay vì đầy tự tín nghênh ngang, để xem “ai làm gì ai nào!” Kỉ niệm Điện Biên Phủ oai hùng “chấn động toàn cầu” ghi dấu cho tương lai bằng việc tách ra lập tỉnh Điện Biên, với khí thế hào hùng ngút trời, văn chương tuyệt đỉnh, chỉ có ông già gần chết Trần Văn Giàu là nhắc tới ngoại viện (hay một chữ gì tương tự, quên mất) chung chung, chứ sử gia tò mò quen thói phản động mới thấy thung lũng Điện Biên trở thành hẩm sụp chiến tranh chỉ vì Việt Minh có súng lớn từ Trung Quốc đưa sang, và nay lại biết thêm rằng có cả cố vấn điều khiển bắn nữa — nghĩa là suy thêm, còn là chuyện cố vấn “hò kéo pháo” tuy thân chèn pháo là của người khác! Và sau này có “chuyên gia nước bạn” vào tận chiến trường Miền Nam tính toán, điều hành tiếp liệu… Đến lúc nào thì ta biết thêm được điều gì khác nữa? (…)

Không thể hối hận vì đã ra đi khi nhìn những người ở lại. Đành rằng sự kế tục thế hệ có thể làm cho một lớp người phải lùi vào bóng tối nhưng ở đây không chỉ là sự hủy hoại của thời gian. Người trở về còn thấy quá khứ của mình nơi người ở lại, đã rủi ro ở lại với một sự nhẫn nhục cam chịu trong cuộc sống lầm lũi, trong những nỗi bực dọc không lời. Và có cả nỗi ân hận xót xa vì sự hiện diện của mình đã gợi lại sự thất thế tủi nhục mà người ở lại dằn nén từ lâu, đã tưởng quên đi trong tê diếng của cuộc đời lỡ bước với những thăng trầm không tùy thuộc bản thân. Ân hận với cả những lớp người mới mà hiện thực không đủ sức ghìm giữ ước mơ. Có thể coi đây là chuyện cá nhân, nhưng đời sống không phải chỉ là lí tưởng cao vời tự đặt để để rồi ép buộc người theo. Giữa cảnh rộn ràng tiễn đưa, tôi chỉ loáng thoáng nghe cô cháu gái ngày thường nhí nhảnh, nói giọng trầm trầm: “Con muốn ông mang cái vali thật lớn bỏ con vô, qua Mĩ…” Sau này mới nhớ là đã hai lần lặp lại. Và giật mình. Trong những ngày rộn ràng gặp gỡ, huyên thuyên kể chuyện xứ người, không ngờ đã làm khuấy động một cuộc sống đang bình yên. Chắc thời điểm chia tay đã làm cảm xúc thành lời. Nhưng ước mơ vừa thốt ra là đã thấy ngay tuyệt vọng. Sao tôi lại phải là người gây nên nông nỗi ấy? Với tuổi trẻ, và với thực tế, cô cháu rồi sẽ trở về với cuộc sống thường nhật nhưng tôi có nên lại gây nên xáo trộn lần nữa không? Đi/Về đâu có phải là giản dị như những đầu óc khô cứng tưởng nhìn ra cái cớ cho sự kiêu căng không dời đổi về sự chiến thắng của mình, để trút trên đầu lũ người thất thế rồi cứ nghênh ngang dửng dưng lên tiếng giả vờ ngạc nhiên “Sao các anh thù dai thế?”

Những người quen với cuộc sống hoà hoãn, văn minh có thể không bằng lòng với cảnh tuột quần, chổng mông, chửi tục… nhưng nếu đừng quên chuyện cũ được nhắc nhở bằng sự chịu đựng những tấn công trước mắt, liên tục của quyền lực ở bên kia, từ thực tế đổi thay dẫn đến gần như là tuyệt vọng, những người đó có thấy cả một thương cảm, với cả chính mình không? Lưu dân nào thì cũng không thể là một khối đồng nhất huống chi là lưu dân tan tác vì chính trị của thời hiện dại. Hãy nhìn xem từ phong trào Thiên An Môn mà Nguy Kinh Sinh và Vương Đan chống đối nhau. Dân Trung Hoa còn có hai thực thể địa vực Lục dịa và Đảo quốc để ai có phe người nấy, chứ còn lưu dân Việt thì chỉ có đất người mà cứ tự an ủi là xứ tạm dung, với cuộc sống mất dần về phía đất khách và sự tấn công từ quê hương cũ. Họ phản đối người gởi tiền về, họ chống đối người trở lại, rốt cục chính họ cũng phải gởi cho người thân và lò mò im lặng về (…) Các chính sách “kiều vận” và vừa qua, Nghị quyết của Bộ Chính trị về sự nâng đỡ người Việt Nam ở nước ngoài với những hiểu biết kém cỏi về tương quan quốc tế, với những rơi rớt của tinh thần tiến công liên tục, trông chúng như một mặt trận đuổi tận giết tuyệt trong hồi chót đến những người đã trốn chạy xa, thật xa nhưng vẫn không có cách nào rời bỏ trái đất, đồng loại. Có cần hỏi vì “sao các anh thù dai thế” không? Ý thức lấn lướt, không nhường bước không chỉ dừng lại ở người sống. Nó cần đến cả các xác chết, cần giết người đã chết nếu đó là dịp để vinh danh chính nghĩa cao vời của phe mình.

Kỉ niệm Điện Biên Phủ, người ta lôi ra người đội trưởng công binh thời ấy, là con của Thủ Tướng / Tổng thống Trần Văn Hương của “chế độ cũ”. Lại có dịp cho người ta nói đến “sự ăn năn muộn màng của người cha” và “sự ưu việt của chế độ ‘dánh kẻ chạy di chứ không đánh người chạy lại””. Tuy nhiên người ta vẫn ghi lại những lời “sám hối” (chữ của báo Công an TP. HCM) của ông, nghe như phát xuất từ các trại cải tạo khoan dung của “Cách mạng” lập ra cho “những người chạy lại”. Không thấy nhắc tới chuyện ông già nghe nói bị ung thư, đã từ chối không nhận quyền công dân của chính quyền mới, cho đến khi người lính cuối cùng của ông trong trại giam trở về nhà. Chỉ nghe nói chính quyền cho phép người con “về ở cùng cha mình để chăm sóc cha lúc tuổi già cho đúng đạo lí làm con của người Việt Nam” mà không thấy nói đến nỗi điêu đứng của người con trên đất Bắc nếu, hình như, Bộ trưởng Ung Văn Khiêm không che giấu giùm ông. Không chỉ ra chuyện con gái Thủ tướng Huỳnh Tấn Phát vẫn học trường Gia Long, ngôi trường nội hoá sang nhất thủ đô Miền Nam. Không nói đến con trai ông ta vẫn đậu tú tài để đi vào Thủ Đức như mọi công dân khác, để so sánh với tình cảnh điêu đứng ở Miền Bắc của vợ con ông Ba Quốc / Đặng Trần Đức, người điệp viên tài ba tuyệt vời làm việc ở Phủ Đặc uỷ tình báo, không cần chút công lao đánh phá Cách mạng mà vẫn được tín nhiệm, xúi người này người nọ đảo chính, nắm được các tài liệu bí mật nhất để sao chép chậm chạp theo lối bán thủ công mà kẻ địch không hay biết! Về mặt nghiệp vụ thì sự đàn áp kia là để che giấu công tác của người bình thường khác. Một nửa sự thật không phải là sự thật nhưng người ta có thể sử dụng nửa sự thật chế tạo để sơn phết mình trước người đương đại, từ “chân lí” đó vinh danh mình trong lịch sử, để vùi dập kẻ thù thất thế đến tận đất đen. Nói làm gì đến kẻ thù, có thể mà không chịu buông tha. Có khi không phải chỉ vì hận thù – thắng thì cũng hả rồi, chỉ còn chút áy náy là không đày đọa tiếp được “chúng nó” nữa, là không bằng “chúng nó”. Không buông tha vì thói quen phải có đối tượng để bày tỏ quyền uy. Ở đây không có chuyện phe phía như một chức quyền đã trả lời anh bạn “Việt kiều” trẻ “Sao thắng đã lâu, quyển bính đã vững mà vẫn cứ ngụy này ngụy nọ mãi”: “Thì họ vẫn gọi chúng tôi là Việt cộng đó sao?” Ông quan mới này vẫn không thấy mình cầm quyền ở một nước mà cứ khăng khăng là chỉ của một phe, phe cộng sản, phe thắng. Người phỏng vấn ông Tô Hoài thì hẳn không coi ông ta là ngụy, mà đích danh là của “phe ta”. Hỏi như thế nào? Đại khái, sao trước 1945 được nổi danh là những người ngang tàng mà sao sau đó lại co đầu rút cổ. Ơ kìa, ai làm cho ông ta trở nên hèn nhát? Chẳng phải là bởi chính chế độ của người phỏng vấn đang phục vụ đấy sao? Không thấy ra cái nhục của mình khi đặt câu hỏi mà cũng không chỉ thấy cái nhục của người bị hỏi. Trong tận cùng chỉ là nỗi hả hê của kẻ cầm quyền được bày tỏ quyền uy, được có dịp làm nhục kẻ dưới quyền mình. Thế thì kẻ ngụy cũng không nên thù dai nữa, để ông Nguyễn Đình Bin được bằng lòng sống với đám dân đang thù mà không được phép, không có dịp nói ra cho ông rõ. Có ai như anh thanh niên ở Bình Định dằn đạp lên “lá cờ Tổ quốc” thì bắt bỏ tù nó là xong!

Này cháu gái bé, nếu để dành được tiền vé máy bay, ông lại sẽ về, không phải để cháu thoả mãn ước mơ mà là để cho cháu quen thuộc với khổ tâm rồi đủ sức đương đầu với cuộc sống chắc chắn sẽ còn nhiều gian truân lâu dài của cháu.- 4-4-2004 [Tạ Chí Đại Trường. “Sao các anh thù dai thế?” Không chỉ là chuyện thời sự hay cá nhân”, Văn Học, số 217, trang 66-75, tháng 5.2004, Hoa Kỳ – https://issuu.com/nvthuvien/docs/tapchivanhoc_217?mode=window&viewMode=doublePage]

Tạ Chí Đại Trường sang đây với nỗi buồn xa xứ. May mắn thay, trong cái điêu tàn có cái phục sinh. Ông được tự do đọc, tự do viết bù lại bao năm mất tự do. Ông gặp gỡ và kết thân với bạn cũ bạn mới. Trong số đó, Phùng Nguyễn, nhà văn kiêm thương phế binh VNCH, sẽ là người bạn trẻ chung lý tưởng đến cuối đời. Phùng Nguyễn đả phá huyền thoại “Lính thám báo/lính ngụy ăn thịt người”, thứ huyền thoại đã xâm nhập vào tiểu thuyết của nhà văn Miền Bắc, song song với tin tức được cấp phát cho người dân Miền Bắc.

bài đã đăng của Nguyễn Tà Cúc

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

2 Bình luận

  • Sẽ còn rất lâu (hoặc chẳng bao giờ) tôi – một người lớn lên sau chiến cuộc – mới có thể hiểu được những điều trong bài viết về sử gia Tạ Chí Đại Trường của nhà biên khảo Tà Cúc! Chiến tranh để lại nhiều hậu quả, một hậu quả ít rõ nhất nhưng không kém tai hại đó là sự mất kết nối giữa các thế hệ: Lý trí có thể đưa ra hình ảnh, nhưng xúc cảm thì mờ lu.
    Có chăng, một hình ảnh thật thơ khi một người nữ chia tặng người nam vài bông hoa huệ, cúc. Cúc huệ sầu ai cúc huệ héo…? Không hiểu sao tôi luôn có một cảm giác mang mác với những chữ: Ngày cuối năm. Quán bên đường. Vùng ngoại ô… Tôi cũng lại chếnh choáng với việc “chia”. Ở cái xứ ai cũng đủ đầy, muốn là mua, người ta vào chợ, mua chậu hoa, rồi đem đi tặng; ít ai “chia vài cành hoa”. Tôi cứ nghĩ vẩn vơ mãi tới “ngày cuối năm” với “vài nhành hoa”, chung quanh người người đông đúc, đứng đây chỉ ta với ta…
    Nếu rằng thời nào cũng có cảnh cùng một lứa bên trời lận đận thì những thế hệ sau chắc khó lòng thấu cảm được những lớp người đi trước. Bởi họ không chỉ đã sống cùng nhau, nhưng là, đã chia nhau những thời khắc lịch sử dữ dội mà thâm trọng.
    Một nét tươi trong gam màu nhạt: Câu “tập Kiều” của nhà văn Bùi Bích Hà : “Vào trong mã tấu. Ra ngoài tặng hoa”- Còn nữa không những con người yêu Kiều tới mức nói Kiều? Điều này, hẳn không nên đổ lỗi hết cho chiến tranh?

    • nguyễn tà cúc says:

      Tôi rất hân hạnh được tái ngộ Trịnh Bình An trên những giòng lữ thứ này. Cảm tưởng của Trịnh Bình An là có thật: Nhờ được quen biết một số nhà văn có khi nhiều năm mà, khi viết về họ, họ không còn là những hình ảnh cứng nhắc bước ra từ quá khứ. Riêng về loạt bài này, một trăm năm sau, liệu ai còn nhớ những người lính VNCH bị giam trong trại tù Cải Tạo, có ai cảm thông cho những phụ nữ lặn lội nuôi chồng hay gào khóc lăn lộn bên ngôi mộ sơ sài vùi nông nơi đèo heo hút gió? Nhưng đó có phải lại là chính lý do khiến chúng ta viết không? Viết để lưu lại những “thời khắc lịch sử dữ dội mà thâm trọng” hầu giữ chúng –chứ không phải giữ chúng ta—lưu lại trong lịch sử, một lịch sử thậm vô tình và sẵn sàng lãng quên. Về việc tặng một cành hoa (hay một chậu hoa), tôi vẫn bị ám ảnh bởi những người đàn ông vì hậu quả của chiến tranh mà quá lứa lỡ thì. Người khác thì ngày Tết có gia đình, có vợ con đoàn tụ mà họ thì một thân một bóng. Còn về Truyện Kiều? Hình như người…già (như chúng tôi) mới hay nhắc đến vì ngày xưa vừa phải học vừa phải đọc nên vừa phải nhớ luôn. Còn bây giờ? Tại ngoại quốc? Kể ra cô Kiều khó có đất dung thân vì “Trải qua một cuộc bể dâu/Mấy lần di tản mà đau đớn lòng”. Kể ra chúng ta may mắn hơn vì vẫn còn chỗ dung thân. Không những thế, năm thì mười họa lại được chia vài cành hoa với một người không quen để cùng tạ ân chỗ dung thân ấy. Cảm ơn đã chia sẻ. -Nguyễn Tà Cúc

@2006-2025 damau.org ♦ Tạp Chí Văn Chương Da Màu
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)