2.2 Chiến dịch nội công ngoại kích đối với Hoa Kỳ
Tuy cuộc chiến xẩy ra tại Miền Nam, nhưng người Cộng sản nhắm ngay vào Hoa Kỳ, nguồn hỗ trợ từ vũ khí, giáo dục đến kinh tế của Việt Nam Cộng Hòa, hầu biến cuộc chiến này cũng thành giữa họ và Hoa Kỳ thay vì chỉ là một cuộc chiến giữa 2 chính thể Cộng Sản (Miền Bắc) hay Tự Do (Miền Nam). Họ tấn công các căn cứ quân sự tại Miền Nam, đồng thời đưa chiến dịch tuyên truyền vượt đại dương, giăng chiếc mạng của một con nhện độc khổng lổ chờ đợi văn nghệ sĩ bản xứ Hoa Kỳ và Tây phương. Họ chờ đợi một cách hết sức kiên nhẫn như Đại Tướng Võ Nguyên Giáp đã tuyên bố trong cuộc phỏng vấn của ký giả kiêm luật sư John F. Kennedy Jr. (thứ nam của Tổng Thống John F. Kennedy) tại Hà Nội:
[…]Chúng tôi sẽ sử dụng thời gian cần thiết cho dẫu lâu dài tới đâu, dù 10, 15, 20, 50 năm cho đến khi đạt được thắng lợi hoàn toàn. Chúng tôi chẳng phải gấp rút và chúng tôi cũng chẳng e sợ gì…” [John F. Kennedy Jr., “Vietnam’s Ruthless Warrior: General Vo Nguyen Giap/Người chiến binh tàn nhẫn của Việt Nam: Tướng Võ Nguyên Giáp”, nguyệt san George, trang 92, Tháng 11.1998] (8)
“Đàm thoại với Võ Nguyên Giáp tại tư gia, Hà Nội, Việt Nam, tháng 8.1998“
“Ghi chép từ Ban Chủ Biên”, trang 4, tạp chí George
Chữ ruthless/tàn nhẫn trong tên của cuộc phỏng vấn được John F. Kennedy Jr. diễn tả trần trụi trong đoạn sau đây:
[…]The rap against Giap has always been careless with the lives of his soldiers (…) Indeed, Giap once offered to an observer: ‘Every minute, hundreds of thousands of people die all over the world…So the deaths of tens of thousands of human beings, even if they are our own compatriots, represent really very little.’ It was hard for me to reconcile that reputation with the avuncular man with the piercing eyes and easy smile whom I met on the eve of his eighty-seven birthday.../ Giáp bị chỉ trích vì luôn có tiếng coi thường sinh mạng quân lính của ông (…) Thật vậy, Giáp từng tỏ với một người quan sát: ”Cứ mỗi phút lại có hàng trăm ngàn người chết trên khắp thế giới… Vậy thì cái chết của hàng chục ngàn người, ngay cả khi họ là đồng bào của chúng tôi, đại diện quá ít cho (một ý nghĩa gì).” Thật khó để tôi có thể dung hòa thứ danh tiếng đó với người đàn ông thân thiện có đôi mắt sắc và nụ cười dễ dãi mà tôi gặp vào đêm trước sinh nhật tám mươi bảy của ông…” [John F. Kennedy Jr., sđd, trang 92]
Kiểu đánh thí hàng ngàn quân của Tướng Võ Nguyên Giáp đã có thể qua mắt được những binh lính tử trận có “ý nghĩa quá ít” với ông, nhưng nhiều tin tức từ chính giới truyền thông Hoa Kỳ, như ký giả/sử gia danh tiếng Stanley Karnow, khiến ít nhất một độc giả như tôi khó thể nghi ngờ nữa:
[…] How long was he prepared to fight? ”Another twenty years, even a hundred years, as long as it took to win, regardless of cost,” Giap replied instantly. What, in fact, had been the cost? ”We still don’t know,” he said, refusing, despite my persistence, to hazard a guess. But one of his aides confided to me that at least a million of their troops perished, the majority of them in the American war. As for the civilian toll, he said, ”We haven’t the faintest idea.”/ Ông đã chuẩn bị chiến đấu trong bao lâu? “Hai mươi năm nữa, thậm chí cả trăm năm, thời gian cần thiết phải thắng, bất kể giá nào”, Giáp trả lời ngay lập tức. Trên thực tế, cái giá đã phải trả là bao nhiêu? “Chúng tôi vẫn chưa biết”, ông nói, từ chối một sự phỏng đoán, bất chấp lối hỏi dai dẳng của tôi. Nhưng một trong những phụ tá của ông tâm sự với tôi rằng ít nhất một triệu quân của họ đã táng mạng, phần lớn trong số đó thuộc vào cuộc chiến tranh với Hoa Kỳ. Về tổn thất phía dân sự, ông nói: ”Chúng tôi không hề có được chút ý tưởng như thế nào…” [Stanley Karnow, “Giap Remembers”, tuần báo The New York Times Magazine, trang 22, ngày 24.6.1990]
Một danh tướng mà không biết mất bao nhiêu quân, kể cả những quân bị xiềng vào xe tăng và đại pháo tử trận tại Miền Nam? Không biết mất bao nhiêu dân, kể cả tại Miền Bắc và các miền…tạm chiếm?! Sở dĩ John F. Kennedy Jr. không thể “dung hòa” được giữa một ông tướng khát máu, kể cả máu của chính quân mình, và một ông …lão hiền hòa thân mật, vì bị ảnh hưởng từ cuộc vận động nội công (lịch sự rất mực) ngoại kích (ruthless) từ Miền Bắc ngay trên đất Hoa Kỳ. Nhưng ít nhất có mấy lần anh ký giả không đến nỗi ngây thơ này đã có nhận xét bất ngờ vượt khỏi sự chuẩn bị về “bài học lịch sử” có quá ít sự thật do Võ Nguyên Giáp & Company dành cho tại tư dinh. Buổi đó, ngoài hoa tươi lẫn hoa nhài khô ướp trà, còn có một tủ kính đầy sách … không bị đốt phía sau lưng Tướng Giáp theo một bức ảnh khác của sử gia/đại biểu Quốc Hội Dương Trung Quốc:
[…] [John Kennedy Jr.] còn nhắc đến một nhận xét rất trực quan và không kém phân sắc sảo rằng: Trên đường từ Cao Bằng về Hà Nội, anh quan sát thấy một hiện tượng mà một người Mỹ như anh chưa giải thích được: Rất nhiều đàn ông ngồi trong quán nước, còn rất nhiều phụ nữ thì đang tham gia vào việc tu sửa đường — một công việc rất nặng nhọc (… ) Sở dĩ ở đầu bài viết này tôi nhắc đến khung cảnh của vịnh Hạ Long vì chính trong chuyến đến Việt Nam cách đây 15 năm, một trong những mối quan tâm của anh là vấn đề bảo vệ môi trường của một đất nước đã từng bị tàn phá bởi cuộc chiến tranh của nước Mỹ lại sở hữu những di sản tuyệt vời như vịnh nước vừa được UNESCO công nhận là di sản này. John Junior khen di sản bao nhiêu thì chê dự án xây dựng cảng Cái Lân lúc đó đang rầm rộ triển khai bấy nhiêu. John có nói với tôi rằng sau chuyến thăm Việt Nam, khi về Mỹ sẽ mở một chiến dịch bảo vệ vịnh Hạ Long .…” [https://vtc.vn/cuoc-gap-giua-tuong-giap-va-con-trai-john-kennedy-ar126860.html]
Mỗi lần nhớ tới bài phỏng vấn thượng dẫn, tôi lại không thể không nhớ đến 2 câu: Chẳng thơm cũng thể hoa nhài/Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An. Hoa nhài ngày ấy đãi khách phương xa hẳn thượng hảo hạng, còn lịch sử sẽ xét đoán người Tràng An Võ Nguyên Giáp. Chúng tôi sẵn sàng đợi. Dù thậm chí cả trăm năm hay nhiều trăm năm. Ngoài giới báo chí, minh tinh Jane Fonda được chọn làm đại diện cho thí dụ thuộc giới nghệ sĩ. Hẳn mọi người còn nhớ bức ảnh Jane Fonda tươi cười mặc áo bà ba trắng, xuất hiện bên cạnh bộ đội, ngồi trên bệ cỗ súng phòng không giương nòng lên trời tại Hà Nội?
Mãi sau này, thú thật trong hồi ký (2005), cô nghĩ có thể đã bị Hà Nội cho vào xiếc, nhưng nhận ngay lập tức được hậu quả tai hại của những bức hình ấy. Cô liền xin người hướng dẫn đừng cho lên nhựt trình, nhưng Ai đưa cô đến chốn này, cô có thêm biệt danh “Hanoi Jane” từ hồi đó. Cô đành hối tiếc, cũng muộn màng không kém rằng, nếu biết thế, cô đã mang theo một người có kinh nghiệm về loại thăm dân cho biết sự tình nhưng ẩn chứa tính cách chính trị như cuộc viếng thăm Hà Nội và các vùng phụ cận. Họ sẽ đủ cảnh giác để ngăn không cho cô ngồi xuống cái chỗ khủng khiếp khiến ân hận đến mãn đời (9). Mỗi lần nhìn thấy những tấm hình này, tôi lại liên tưởng đến Jane Fonda như một con nai tội nghiệp tự dẫn thân đến nộp mạng cho đàn sói. Không chỉ tại Hà Nội, tại Hoa Kỳ, những chuyến đi và phát biểu của Jane Fonda lan tràn trên báo chí. Tôi đã cất công mua nhiều tờ báo Rolling Stone có liên quan để khỏi oan cho cô, như Số 109, ngày 25.5.1972. Đây là một số báo điển hình nhắm kết án và kêu gọi không ủng hộ chính phủ Nixon vì đã gia tăng quân sự và leo thang chiến tranh tại Việt Nam. Tuy vậy, họ không nhắc đến quân đội Miền Bắc và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam đã “gia tăng quân sự” trước trong cuộc tiến quân tổng công kích và bị thua xiểng liểng ngay năm đó. Cuộc chiến tại An Lộc cũng vào tháng 4. 1972, là thí dụ toàn hảo cho sự gia tăng rồi thất bại của Cộng Sản.
“Một cuộc leo thang quân sự bí mật tại Việt Nam”
Rolling Stone, bìa trước, Số 109, ngày 25.5.1972
Rolling Stone, ảnh Jane Fonda trên bìa sau
Danh sách ủng hộ ứng cử viên George McGovern–đúng hơn, chống Tổng thống đương nhiệm Richard Nixon–rất đông đảo, tuyền tai to mặt lớn/cream of the crop/the best and the brightest/highbrow của Hoa Kỳ. Về nghệ sĩ có Paul Newman (thần tượng của tôi), Jack Nicholson, Burt Lancaster, Dustin Hoffman, Raquel Welch vv. Về ca nhạc sĩ có Paul Simon, Neil Diamond, Toni Mitchell vv. Về giới nhà văn có Arthur Miller, Geoge Plimton, Saul Bellow vv. Chỉ tới khi trở lại học tại Penn State University, tôi mới thực sự ước lượng được tầm ảnh hưởng của giới ngôi sao thượng thặng trong làng giải trí Hoa Kỳ như nhạc sĩ/ca sĩ Neil (Leslie) Diamond. Bài Sweet Caroline được Ban Hợp Xướng Thủy Quân Lục Chiến Hoàng Gia Anh biểu diễn (10). Bài ca này cũng là bài ca quen thuộc được hàng ngàn khán giả, đa số là sinh viên đại học và người ủng hộ Penn State University, cất lên trong các cuộc đấu football tại vận động trường Beaver, Pennsylvania (11). Phần Neil Diamond, ông biểu diễn tại chương trình truyền hình Ed Sullivan vào ngày 30 tháng 11. 1969, gần một năm sau cuộc thảm sát Mậu Thân tại Huế trong cuộc Tổng công kích & Tổng khởi nghĩa của Miền Bắc. Lúc đó ông 28 tuổi, cùng cỡ tuổi với rất nhiều người lính VNCH đang “tử thủ” hay đang dẫn quân chiến đấu trên khắp bốn vùng chiến thuật.
Không chỉ minh tinh mới bị sa lầy trong chiến tranh Việt Nam. Sự thiếu kiến thức của một số trí thức Hoa Kỳ khiến người ta thương hại nhiều hơn giận dữ. Bức ảnh dưới đây, bìa một cuốn sách về Việt Nam, lại là của một em bé Đại Hàn. Bác sĩ Benjamin Spock, đồng tác giả, là người tìm hiểu thuật Phân tâm học hầu áp dụng vào Nhi Khoa nhắm giúp đỡ cả nhi đồng lẫn phụ huynh. Ông nổi tiếng không chỉ tại Hoa Kỳ mà trên toàn thế giới.
THE FAMOUS DOCTOR SPEAKS OUT! Dr. Spock on Vietnam/
Viên bác sĩ danh tiếng lên tiếng: Bác sĩ Spock phát biểu về Việt Nam
Chúng ta có thể đoán ngay được nội dung cuốn sách, mỏng dính chưa đầy 100 trang, khổ nhỏ (7.5 cm x 10.5 cm), nhưng đầy những thứ lý luận rập khuôn Cộng Sản. Cũng như đã xẩy ra tại Tây Phương với Nga Xô, trí thức Tây Phương hâm mộ chủ nghĩa Cộng Sản đã du hành sang Việt Nam như Đường Tam Tạng du Tây Tạng thỉnh kinh. Nếu chỉ cần đọc một cuốn sách phản bác các người tình si này, độc giả nên đọc cuốn The Fellow Travellers: Intellectual Friends of Communism/Người bạn đồng hành: Những thân hữu trí thức thuộc Chủ nghĩa Cộng sản mà tác giả là David Caute, một nhà văn/kịch tác gia/sử gia người Anh. Ông liệt kê rất nhiều trí thức danh tiếng đã lọt vào mạng nhện đó. Cũng như Jane Fonda, họ đã không mang theo một người đồng hành am hiểu về chính trị/a politically travelling company (mượn lời Jane Fonda) như Đường Tam Tạng có Tôn Ngộ Không nên đa số phán đoán hợm hĩnh một cách rất khôi hài. Đại diện cho giới nhà văn kiêm giới nữ quyền thân Cộng là Mary McCarthy. Bà so sánh trang phục giữa hai miền Nam Bắc khi viếng thăm một ấp gần Hà Nội:
[…]Người ta không sở hữu nhiều lắm[…] một bộ quần áo để thay đổi, quần áo của trẻ nhỏ thường được vá và bạc màu. Quần áo tại Miền Nam nói chung thì khá hơn, phần lớn được quân đội thải ra hay đồ tặng từ thiện .… [Mary McCarthy, Ha Noi, trang 50-51, Nhà xuất bản Hartcourt, Brace & World Inc. xuất bản lần thứ nhất, 1968] (12)
Làm gì có chuyện đó?! Cứ dở báo Life ngay tại Hoa Kỳ cũng đủ thấy.
Nhưng thê thảm nhất lại không phải là chuyện quần áo của người dân Miền Nam. Thê thảm cho Mary McCarthy chứ không phải cho Bác sĩ và bà Horst-Günther Krainick. Tác phẩm này kết thúc bằng cái chết của họ. Tác giả thuật lại rằng phu nhân của Đại sứ Tây Đức tại Cam Bốt (tức Kampuchea) nhờ Mary McCarthy liên lạc với Mặt Trận Giải phóng Miền Nam (NFL), MT Giải Phóng MN trả lời có lẽ họ đã tử vong vì máy bay dội bom (!) Chúng ta đều biết rằng họ đã bị Mặt Trận hay quân Miền Bắc sát hại cùng 2 giáo sư ngoại quốc khác cùng hàng ngàn dân Huế. Hãy lấy thêm một thí dụ khác: sử gia/giáo sư đại học/kịch tác gia/người tranh đấu Howard Zinn (1922-2010), tác giả cuốn A People History of the United States. Chống sự tham dự của Hoa Kỳ vào Chiến Tranh Việt Nam, ông có cuốn Vietnam, The Logic of Withdrawal. Tôi sẽ không cần trích dẫn nhiều vì tên của tác phẩm đã nói quá đủ và không còn gì để đáng ngạc nhiên, nhưng vẫn có một câu làm tôi kinh ngạc:
[.…]Hành động theo chủ nghĩa khủng bố của Việt Cộng sẽ cần một số lý do mạnh mẽ hầu biện bạch được. Nhưng cuộc thảo luận sẽ phải bắt đầu bằng cách lưu ý rằng — khi so sánh với sự hung tợn của chúng ta dành cho những người mà chúng ta bắt phải chịu trách nhiệm — sự hung tợn của họ tập trung một cách chính xác hơn vào những kẻ mà họ quy tội cho tình trạng tệ hại của đất nước ….” (Howard Zinn, Vietnam-The Logic of Withdrawal, trang 64, Nhà Xuất bản Haymaker Books, 1967] (13)
Thế nào là “sự hung tợn được tập trung một cách chính xác hơn”? Ai quyết định sự chính xác ấy? Ngày nay, (lại ngày nay), chúng ta có thể kết luận rằng, loại trí thức như Howard Zinn chỉ là sản phẩm của một thứ thành kiến không thể giải thích được sau khi quá nhiều tài liệu đã cho thấy thường dân, giáo sư, mục sư người ngoại quốc vv bị Việt Cộng thảm sát, có khi hàng loạt. Thứ thành kiến này cho phép họ phát biểu những thứ đi ngược lại hoàn toàn địa vị và sự huấn luyện đã trải qua, nhưng vẫn giúp họ làm bá chủ một thời. Ngôi bá chủ ấy chỉ lung lay sau khi đã có thời gian đãi lọc, tranh luận và kiểm chứng, nhất là sau khi nhiều tài liệu quân sự đã được giải mật. Một kho tài liệu khác về mọi phe tham chiến cũng được số hóa hầu lưu giữ một cách chắc chắn và tham khảo một cách dễ dàng hơn, điển hình tại The Vietnam Center & Sam Johnson Vietnam Archive thuộc Texas Tech University. Đây là một nguồn tài liệu phong phú từ mọi phía, khác với loại tài liệu bị hạn chế hơn từ đại học.
Trước đây, lý thuyết Hoa Kỳ tham chiến rồi thua trận vì có tham vọng đế quốc, chống lại sự tự chủ của một quốc gia khác và lý thuyết Tổng Thống Ngô Đình Diệm không tôn trọng Hiệp định Genève vv. đã giúp Phái Chính Thống/Orthodox School lên ngôi bá chủ trong ngành nghiên cứu, nhất là Sử học. Tuy vậy, người Hoa Kỳ từ viên chức chính phủ, khoa bảng tới thường dân, đã, đang và sẽ xét lại lý do và trách nhiệm của họ qua cuộc tái-thẩm định Chiến tranh Việt Nam. Những người này nhận ra không chỉ có họ mới mất danh dự khi thua trận mà đồng minh VNCH đã trở thành một thứ scapegoat/con dê tế thần sau nhiều tài liệu quân sự được công bố như tin tức về kho vũ khí không bao giờ cạn và nhân sự từ Miền Bắc xâm nhập ròng rã qua đường mòn Hồ Chí Minh vào Miền Nam. Khối Cộng sản không hề có một thứ Military-Industrial Complex để bị trói tay mà tài thí quân (hàng chục hay hàng trăm ngàn quân?) của Tướng Võ Nguyên Giáp tưởng ai cũng đã bắt đầu nghĩ đến.
3. Hoa kỳ Tái-Thẩm định cuộc tham chiến tại Miền Nam
3.1 Giới Đại học và Sử Học
Bằng chứng về lãnh vực này có quá nhiều nên tôi chỉ xin trưng ra vài thí dụ quan trọng liên quan đến công việc của riêng tôi vì, thứ nhất, chúng góp phần vào sự thay đổi trong quan điểm về Chiến Tranh Việt Nam bằng những tác phẩm như A Better War: The Unexamined Victories and Final Tragedy of America’s Last Year in Vietnam, xuất bản vào năm 1999, tác phẩm thứ 4 của cựu chiến binh từng phục vụ tại Miền Nam/sử gia Tiến sĩ Lewis Sorley. Ông tốt nghiệp Đại học Johns Hopkins University, thuộc thế hệ thứ 3 trong gia đình đã tốt nghiệp từ Trường Võ Bị Quốc Gia Hoa Kỳ West Point, từng phục vụ tại Ngũ Giác Đài và Cơ quan Tình báo Hoa Kỳ (Central Intelligence Agency). Thứ hai, các quan điểm xem ra trái ngược có khi xuất phát tại cùng một nơi nhưng khác thời điểm như thí dụ của sử gia Gareth Porter và học giả Keith Weller Taylor tại Đại Học Cornell. Thứ ba, tôi đặc biệt chú ý đến hồi ký hay tác phẩm của các quân nhân/tác giả đã phục vụ tại Miền Nam. Đó là một lý do cá nhân nhưng không kém quan trọng vì tôi rất cẩn trọng với các tác giả ngồi “ghế bành” mà viết về một cuộc chiến tranh tranh đấu cho Tự Do với hàng triệu người dân và gia đình họ đã hy sinh trong thầm lặng.
Một trong những tác phẩm đánh dấu sự chuyển biến về cách thẩm định Chiến Tranh Việt Nam là Triumph Forsaken: The Vietnam War, 1954–1965 của sử gia Mark Moyar do Cambridge University Press xuất bản, 2006. Căn cứ trên bằng chứng mới được khám phá từ các phía tham dự cuộc chiến tại Việt Nam, ông gây nên một cuộc tranh luận về trách nhiệm và hậu quả của cuộc chiến tranh ấy. Cuốn này được tái bản 5 lần nghĩa là được ấn hành tổng cộng 6 lần chỉ trong 2 năm (2006-2008). Bốn năm sau, nhiều phản ứng bên bênh bên chống cùng lời giải đáp của Mark Moyar được ấn hành trong tuyển tập Triumph Revisited: Historians Battle for the Vietnam War, 2010. Tôi chú ý đến một trong những lời bàn của giáo sư Sử học Dennis Showalter (cựu chủ tịch Hiệp hội Nghiên cứu Lịch sử Quân đội) trong Triumph Revisited: Historians Battle for the Vietnam War mà tôi nghĩ cần trích lại để giải thích hiện tượng “bè đảng” ngay trong giới nghiên cứu bản xứ:
[.…] Lính chiến, học giả và các nhà văn nổi tiếng đều có thể trình bày nghiên cứu cùng kết luận trong một bối cảnh bị hạn chế, phần lớn vào sự tự tham khảo, vào lãnh vực riêng biệt (trong đó) mỗi người nhìn chăm chăm vào ngọn lửa riêng, mỗi người thừa nhận thày pháp của chính mình. Và như tất cả các bộ lạc khác, theo thời gian, họ tiến hóa thành bè đảng và giáo phái […]Tuy vẻ ngoài khá khiêm tốn, tập lập luận (của Moyar) đã tác động đến các học giả chính thống về Việt Nam với sức mạnh tương tự như tập lập luận trước đó đã khiến chấn động Công giáo La Mã. Moyar thực sự đối diện với sự trừng phạt dành cho Martin Luther: nguyền rủa và rút phép thông công. Một số nhà phê bình và nhà bình luận hình như còn ít nhất sẵn sàng cân nhắc đến việc trói (tác phẩm của Moyar) vào cột rồi thiêu đốt theo nghĩa bóng nếu không muốn nói theo nghĩa đen.… [Dennis Showalter, “Foreword/Tựa”, trang x-xi, Triumph Revisited: Historians Battle for the Vietnam War-Andrew Wiest & Micheal J. Doidge biên tập, Nhà Xuất bản Routledge, 2010] (14)
Phản ứng của vài người trong một giới có tiếng hội đủ trí thức và kiến thức đối với một cuốn sách cũng hội đủ 2 điều kiện ấy nhưng khác kết luận, qua lời bàn của Dennis Showalter, không làm ai ngạc nhiên. Một nước nhược tiểu lại thua trận như Việt Nam Cộng Hòa đáng bị bỏ rơi và không những thế, đáng bị kết tội — rất nhiều thứ tội từ đàn ông hèn nhát đến đàn bà làm điếm — hầu “biện hộ” cho sự bỏ rơi ấy. Nhưng chính vì tạo được sự tranh luận, Triumph Forsaken: The Vietnam War, 1954–1965 đánh dấu sự bắt đầu đổi ngôi từ Phái Chính Thống sang Phái Tái-Thẩm định. Mark Moyar quả quyết Hoa Kỳ cần chống đỡ cho Miền Nam:
[.…] Sự thất bại của Tổng thống Johnson trong việc tấn công Bắc Việt cũng tạo nên lợi thế cho kẻ thù bằng cách gây thuận lợi cho một số lượng khổng lồ quân lính Trung Quốc dự chiến tới trú đóng tại Miền Bắc; nhân đó, giúp nhiều sư đoàn quân đội Miền Bắc rảnh tay tham chiến tại Miền Nam, khiến cuộc xâm lược Bắc Việt sau này của Hoa Kỳ (nếu có) sẽ trở nên nguy hiểm hơn. Một cơ hội khác không được thực hiện–một cơ hội sẽ không bao giờ có nguy cơ gây nên một cuộc chiến tranh nghiêm trọng với Trung Quốc — là việc chặt đứt Đường mòn Hồ Chí Minh bằng sức mạnh của quân lực Hoa Kỳ. Johnson bác bỏ nhiều khuyến nghị từ Bộ Tham mưu Liên quân về việc đưa lực lượng bộ binh vào Lào nhắm thực hiện nhiệm vụ đó; và về điểm này cũng thế, các sử gia đã ủng hộ vị tổng thống hơn các tướng lãnh của ông. Chính phủ Johnson và một số sử gia đã lập luận rằng Đường mòn Hồ Chí Minh không cần thiết cho nỗ lực chiến tranh của Cộng sản, nhưng bằng chứng mới về Đường mòn Hồ Chí Minh và (tình hình) các trận đánh cụ thể đã cho thấy rõ sự biện luận ấy không chính xác. Cuộc nổi dậy của Việt Cộng luôn luôn lệ thuộc rất nhiều vào công cuộc xâm nhập của cả binh lính lẫn quân trang vũ khí từ Miền Bắc vào Miền Nam qua ngả Lào. Nếu Việt Cộng không nhận được cả hai, họ sẽ không thể làm cho chính quyền Sài Gòn hầu như sụp đổ vào năm 1965 hoặc đánh bại nổi Sài gòn vào năm 1975. Một số sử gia khác thuộc phái Chính Thống đã lập luận rằng sự hiện diện của bộ binh Hoa Kỳ tại Lào sẽ không ngăn trở được hầu hết các cuộc xâm nhập, nhưng nhiều bằng chứng mới cũng mâu thuẫn với lập luận đó. Hơn thế nữa, Hoa Kỳ bỏ lỡ một số cơ hội quý báu hầu cắt đứt các tuyến đường giao thông hàng hải của Hà Nội, mặc dù Hoa Kỳ đã cắt đứt được một số tuyến đường giao thông hàng hải quan trọng nhất vào đầu năm 1965. Tóm lại, Miền Nam là một mối hữu ích sống còn cho Hoa Kỳ trong giai đoạn từ 1954 đến 1965. Chủ nghĩa bành trướng một cách hiếu chiến của cả Miền Bắc lẫn Trung Quốc đã đe dọa sự tồn tại của Miền Nam, và cho tới năm 1965, chỉ có hành động mạnh mẽ của Hoa Kỳ mới có thể giữ Miền Nam thoát khỏi tay Cộng sản. Do đó, chính sách chống đỡ cho Miền Nam của Hoa Kỳ là hợp lý. Sự can thiệp của Hoa Kỳ vào Việt Nam không phải loại hành động thuộc thứ trò hề chiến lược, cũng không phải loại âm mưu thâm độc, hiếu chiến để rồi chúng muôn đời biến thành vết nhơ khủng khiếp trong linh hồn Mỹ quốc…” [Mark Moyar, Triumph Forsaken: The Vietnam War, 1954–1965/Cuộc chiến thắng bị ruồng bỏ: Chiến tranh Việt Nam 1954-1965, “Preface/Tựa”, trang xxii, Nhà xuất bản Cambridge University Press, Hoa Kỳ, tái bản năm 2008] (15)
Ông vừa cho xuất bản Triumph Regained: The Vietnam War, 1965-1968 vào tháng giêng năm nay, tiếp tục cuộc nghiên cứu với nhiều hứa hẹn cho độc giả của Chiến Tranh Việt Nam.
Một đoạn khác nhắm cho thấy việc đổi ngôi từ phái Chính Thống được trích từ The Vietnam War from the Rear Echelon: An Intelligence Officer’s Memoir/ Chiến tranh Việt Nam (nhìn) từ hậu phương: Hồi ký của một sĩ quan tình báo. Tác giả Timothy J. Lomperis, cựu quân nhân thuộc ngành Tình báo, đã bầy tỏ ý kiến về việc chính phủ, Quốc hội và người dân Hoa Kỳ phó mặc Việt Nam Cộng Hòa vào số phận bi thương của nó trong tác phẩm này:
[.…] Vào ngày 3 tháng 4, lực lượng hùng hậu của Miền Bắc tiến vào Quân khu III, chọc thủng phòng tuyến không tồn tại của tướng Weyand. Nằm giữa các lực lượng này và phần thưởng Sài Gòn là thị trấn nhỏ bé Xuân Lộc, cách Sài Gòn khoảng 60 dặm về phía đông bắc. 25.000 quân nhân thuôc Sư đoàn 18 Quân lực Việt Nam Cộng Hòa trấn giữ thị trấn đó. Khi chiến tranh khởi đầu, (Tổng thống) L(yndon) B. J(ohnson) đã tuyên bố rằng Miền Nam ‘giống như đồn Alamo.’ Bây giờ, Xuân Lộc nhỏ bé ấy đã hành động như (một Alamo) thật. 25.000 quân nhân đã cầm chân bốn sư đoàn Miền Bắc trong mười một ngày[…]Sự phòng thủ anh dũng của Sư đoàn 18 Bộ binh là một bằng chứng buồn vui lẫn lộn về tiềm năng của chiến lược ‘Việt Nam hóa Chiến tranh Việt Nam’, nhưng lần này đã không có một “Sam Houston” nào hầu giải cứu ‘Texas’. Tổng thống Thiệu từ chức vào ngày đồn Alamo địa phương (tại Miền Nam) thất thủ. Chính Sài Gòn cũng xụp xuống vào ngày 30 tháng 4. 1975.
Điều khoản chính của ‘Hiệp định Hòa bình Paris về Việt Nam’ ký ngày 27 tháng giêng năm 1973 là Chương 5 ‘Cuộc Tái-Thống nhất Việt Nam và Mối quan hệ giữa Bắc và Nam Việt Nam.’ Điều 15 thuộc chương này mở đầu bằng lời dẫn: ‘Việc thống nhất Việt Nam sẽ được thực hiện từng bước một bằng biện pháp hòa bình đặt cơ sở trên các cuộc thảo luận và đồng thuận giữa miền Bắc và miền Nam Việt Nam, không bên nào ép buộc hay thôn tính bên nào và cũng không có sự can thiệp của ngoại quốc. Thời gian thống nhất sẽ do hai miền Nam Bắc Việt Nam thỏa thuận.’ Chỉ mỗi một câu trong đoạn tuyên bố long trọng thượng dẫn được chứng minh sau này là đúng: ‘Không có sự can thiệp của ngoại quốc’ từ Hoa Thịnh Đốn. Tôi cho rằng việc Hoa Kỳ (chọn) không can thiệp vào sự sụp đổ của Sài Gòn không phải là một ‘khoảng thời gian thích hợp’, mà một sự phản bội. Đó là sự phản bội của Nixon qua nỗi suy đồi đạo đức từ vụ Watergate, và sự phản bội ấy càng trở thành kỳ quái hơn với nỗ lực nhắm che đậy Watergate một cách vụng về. Mấy sự kiện có tính cách chính trị đó đã cản trở Nixon thi hành lời cam kết thường xuyên bằng văn bản với Miền Nam, là sẽ hỗ trợ bằng quân sự nếu họ phải đối mặt với hàng loạt vi phạm Hiệp định Hòa bình của Cộng sản. Đã đành là không còn thắc mắc gì nữa về sự vi phạm cùng căn bản của sự gian xảo từ Cộng sản đối với hiệp định này. Đó là sự phản bội của Quốc hội Hoa Kỳ vì đã không tôn trọng các yêu cầu hành chính đối với sự hỗ trợ dành cho Miền Nam ở các giai đoạn thích hợp, đặc biệt là đã không cho người Việt và chiến lược ‘Việt Nam hóa Chiến tranh Việt Nam’ một cơ hội cuối cùng với ‘Kế hoạch Weyand’. Rốt cuộc, đó là sự phản bội của dân chúng Hoa Kỳ khi họ không bận tâm đến nữa. Chính sự phản bội sau cùng ấy đã bảo đảm cái kết không thể tránh khỏi cho bi kịch này.” [Timothy J. Lomperis, The Vietnam War from the Rear Echelon: An Intelligence Officer’s Memoir, “Conclusion: Going Native and Going Home/Kết luận: Hồi hương”, trang 204-205, Nhà Xuất Bản Kansas University Press, 2011] (16)
“Toàn thể nội dung các cuộc đàm thoại bằng văn bản thuộc vụ Watergate của Tổng Thống“
Nhật báo Los Angeles Times, ngày 5.5.1974
Không ai có thể kết án Hoa Kỳ nặng nề hơn Timothy J. Lomperis, nhưng sự kết án ấy không xuất phát từ luận điệu của phái Chính Thống hầu dễ bề bỏ mặc VNCH. Do đó, tôi trích dẫn thêm từ một tác phẩm xuất hiện chỉ 3 năm sau ngày thủ đô Sài gòn mất tên và Việt Nam Cộng hòa chỉ còn tên trong lịch sử. Đó là cuốn America in Vietnam/Mỹ quốc tại Việt Nam của Guenter Lewy do Oxford University Press xuất bản vào năm 1978. Lý do Hoa Kỳ cần tham dự vào cuộc chiến này được tác giả thu gọn vào mấy câu khi cuốn sách gần kết thúc:
[…]Mỹ quốc không thể và không nên làm cảnh sát viên cho cả thế giới, nhưng có thể tranh luận rằng, (người) Hoa Kỳ có bổn phận đạo đức khi yểm trợ những quốc gia trong nỗ lực gìn giữ nền tự lập của họ khi chúng ta, và chỉ có chúng ta, làm chủ được những phương tiện hầu thực hiện nỗ lực đó.… [Guenter Lewy, “Epilogue: The Legacy of Vietnam/Đoạn kết: Di sản từ Việt Nam”, America in Vietnam/Mỹ quốc tại Việt Nam, trang 428-429] (17)
Nói một cách khác, một thế hệ tác giả hay/kiêm giáo sư đại học đã hướng cuộc nghiên cứu sang một ngả mới, lần này về Việt Nam Cộng Hòa một cách công bằng hơn trong khi vẫn trước tác, giới thiệu và hướng dẫn các thế hệ sinh viên về Văn học Việt Nam và những vấn đề liên hệ thí dụ như giáo sư Peter B. Zinoman thuộc hệ thống Đại học University of California tại Berkeley. Tôi còn muốn nhắc đặc biệt tới Giáo sư/Sử gia Keith Weller Taylor, thuộc Đại học Cornell, New York. “Đặc biệt” là vì từ nhiều năm, khi bắt đầu nghiên cứu về những vấn đề Việt Nam, ông đã kính trọng những vấn đề của chúng ta đủ để thông thạo Việt ngữ trước khi phát biểu. Tôi đã được đọc vài cuốn sách do tác giả Hoa Kỳ viết về Văn Học Miền Nam, về Chiến Tranh Việt Nam mà họ không hề thông thạo Việt Ngữ. Ông giải thích rất minh bạch về kinh nghiệm giảng dậy và lý do trở thành một trong vài học giả tiên phong của Hoa Kỳ về Văn chương và Lịch sử Việt Nam:
[…]Trong những năm đầu của thập niên 90, khi sinh sống tại Việt Nam, tôi gặp rất nhiều người Việt — khi phải đối diện với một người Hoa Kỳ từng là một chiến binh trên đất nước họ và có thể nói tiếng của họ — đã bày tỏ sự giận dữ và nỗi thống hận mà tôi cảm thông một cách dễ dàng. Ở Miền Bắc, đó là từ nhiều năm bị dội bom. Ở Miền Nam, đó là từ nỗi (đau) bị phản bội. Dù bằng cách nào chăng nữa, di sản Hoa Kỳ tại Việt Nam là một ký ức nhức buốt đối với họ và với tôi. Nhưng có một điều tôi học được sau vài năm sinh sống và làm việc tại Việt Nam, là đất nước này đang cam chịu nỗi khổ ải từ một kiểu chính phủ độc tài, tham nhũng và yếu kém; thế nên tôi bắt đầu tri ân những gì mà nhiều người Việt tỵ nạn đã ngỏ với tôi: nếu người Hoa Kỳ giữ lời hứa, miền Nam Việt Nam bây giờ hẳn có thể được hưởng tình trạng thịnh vượng và dân chủ như đang phát triển tương tự tại Đài Loan, Hàn Quốc và Thái Lan.
(Từ đó,) một điều trở nên rất rõ ràng: tôi không nằm trong số những người Hoa Kỳ căm ghét chính mình khi không nhìn thấy gì ngoài chủ nghĩa thực dân mới và chủ nghĩa đế quốc cho người dân thuộc các quốc gia khác đang tìm đến sự lãnh đạo của Hoa Kỳ; tôi chấp nhận tiền đề rằng Hoa Kỳ có một vai trò chính đáng, thậm chí không thể đào thoát được, trong thế giới ngày nay. Nếu chấp nhận một cách hiển nhiên rằng các chính phủ ở Sài Gòn từ 1954 đến 1975 bất hợp pháp hoặc không có cơ tồn tại thì người ta (buộc) phải đồng thời tin rằng, kể từ năm 1945, chỉ có mỗi một chính phủ duy nhất được Hồ Chí Minh tuyên dương mới hợp pháp và có cơ tồn tại. Đó là thứ giáo điều làm nền tảng cho lối giải thích của người Cộng sản về lịch sử dân tộc. Thật đáng kinh ngạc khi thứ tư tưởng bồng bột của Cộng sản Việt Nam đã và đang tiếp tục được các chuyên gia kinh điển tại Hoa Kỳ nuốt trọng không thắc mắc…” [K. W. Taylor, “How I Began to Teach About the Vietnam War/Tôi bắt đầu giảng dậy về Chiến tranh Việt Nam như thế nào”, Michigan Quarterly Review, Volume XLIII, Số 4-“Vietnam: Beyond the Frame/Việt Nam” Mùa Thu, 2004] (18)
Tôi còn chú ý tới ông vì một lý do nữa. Trong bài thượng dẫn, ông bầy tỏ về 5 phương cách hầu tránh bị trưng binh vào năm 1968, chỉ 2 tuần sau khi tốt nghiệp cử nhân, nghĩa là mới có khoảng 22 tuổi. Một trong những phương cách đó là từ chối nhập ngũ vì “lý do lương tâm” dựa trên tôn giáo. Ông bác bỏ vì quan niệm về tôn giáo của ông “không phải là loại tôn giáo đó.” Sở dĩ cho tới ngày nay tôi vẫn còn thỉnh thoảng thắc mắc vì đã bàn tới mối tình si của một số tín đồ như Lady Borton với chủ thuyết Cộng sản. Họ vô tình hỗ trợ cho một chính thể độc tài giết hại không biết bao người. Sự tham dự của một số giáo phái và một số tín đồ thiên tả vào Chiến tranh Việt Nam là một lãnh vực cần nghiên cứu nhiều hơn.
3.2 Dân chúng Hoa Kỳ
Tôi sẽ trưng tấm biếm họa của biếm họa gia Paul Conrad, từng đoạt giải Pulitzer, nhắm cho thấy người tỵ nạn Việt Nam đã được “chào đón” như thế nào. Tôi cắt bức họa này trên một tờ báo phát hành tại Đảo Guam, khoảng đầu tháng 5, năm 1975, khi cùng gia đình rời Sài gòn một cách rất tình cờ và được 1 vận tải hạm đưa sang Guam rồi Hoa Kỳ.
![]()
Paul Conrad, “DADDY!”/ “VIETNAMESE REFUGEES-GO HOME!”
Sưu tầm của Nguyễn Tà Cúc, Đảo Guam, khoảng cuối tháng 4-đầu tháng 5, 1975
Bức biếm họa đó tổng kết mọi điều xấu xa nhất về người tỵ nạn nghĩa là về Chiến tranh Việt Nam và Việt Nam Cộng Hòa [Phuong-Cac Nguyen, “Say My Name”, Red Canary, Ngày 15.4.2021, https://redcanarycollective.org/magazine/say-my-name/- Phạm Huy Lam chuyển ngữ “Gọi tên tôi”, Da Màu, Ngày 16.8.2023, https://damau.org/97450/goi-tn-ti].
Một người nhìn thấy bức biếm họa sẽ tưởng người Việt tỵ nạn bị đối xử tệ hại lắm lúc đó. Thật ra không phải hoàn toàn như vậy vì bức biếm họa này phản ảnh thái độ chính trị mà không phải nhân bản của dân chúng Hoa Kỳ nói chung. “Nói chung” vì sự kỳ thị chủng tộc đã và sẽ xẩy ra; nhưng, như một dân tộc, người Hoa Kỳ đã không quay lưng bỏ chạy như trong biếm họa mà còn tiếp nhận đợt di tản người Việt đầu tiên vào mái nhà của họ. Đúng thế, thật khó tưởng tượng họ dám mang một hay nhiều người vào sinh sống ngay trong gia đình, hầu hướng dẫn trực tiếp mọi thứ từ kiếm nghề, học tiếng Anh cho tới học lái xe. Sự hào hiệp đó bắt đầu từ truyền thống bác ái với tha nhân từ kinh nghiệm của chính tổ tiên hay gia đình họ. Những gia đình tỵ nạn đông đảo thường được một Hội Thánh nhận lo chung. Hóa ra bây giờ Mary McCarthy mới đúng: chúng tôi được tặng quần áo từ thiện và các thứ cần dùng, kể cả nồi niêu soong chảo, mùng mền (nhưng không có chiếu). Lâu dần, người Việt kiếm cách quy tụ, nhất là tại các tiểu bang nắng ấm hơn. California trở thành quê hương thứ hai cho đông đảo người Việt tỵ nạn.
Tôi có một kinh nghiệm riêng, nhưng thổ lộ hầu điểm thêm một chi tiết tưởng đâu rất tầm thường, lại có thể đại diện cho dân tộc Hoa Kỳ vốn đa số xuất thân từ nền văn hóa tôn giáo cổ võ cho tình bác ái. Khi trở lại Penn State University học nốt bằng Cử nhân vào năm 2007, tôi đã lớn tuổi hơn vài giáo sư thuộc Phân khoa Hoa Kỳ Học. Tôi để lại gia đình, bạn hữu, độc giả và xe hơi xe đạp tại California. Bỏ thuyền bỏ lái bỏ giòng sông/Cô lái đò kia đi lấy… bằng. Một năm sau, vì đi bộ vác quá nhiều sách, vai phải tôi bị đau buốt khiến phần xương sống, cơn bệnh muôn đời, cũng bị họa lây. Viên bác sĩ chẩn bệnh xem ra rất lạnh lùng, hệt như những mùa đông khắc nghiệt tại đây, tuy thăm hỏi rất cặn kẽ về thân thế dù chưa có sự nghiệp gì vẻ vang của tôi. Ông còn cho tôi cảm tưởng là kỳ thị chủng tộc hay ghét bỏ một người đến từ cuộc chiến tranh đã làm hao tổn xương máu, tiền bạc của họ. Sau khi phát toa thuốc, ông xếp mọi thứ lại và khiến tôi kinh ngạc khi nói một hơi dài:
-Bây giờ hỏi ngoài hồ sơ nhé. Tại sao cô trở lại campus này? Không hề có bất cứ thân nhân bằng hữu quanh đây. Điều làm tôi tò mò là, xem ra, cô biết rất rõ tình trạng sức khỏe của cô đến nỗi cô thận trọng trong việc tránh dùng thuốc. Thiếu cân quá sức, quá sức. Bị bệnh Mệt mỏi Kinh niên/Chronic Fatigue Syndrome, kinh niên. Máu có vấn đề, hơi nặng. Mắt trái bẩm sinh gần như mù. Xương sống hơi vẹo. Mùa đông mà phải đi bộ nửa giờ đồng hồ mới tới supermarket thì nguy hiểm quá. Rồi còn trở về nữa chớ với mọi thứ thức ăn lỉnh kỉnh. Cô đã sống sót sau chiến tranh thêm vô số khó khăn, liệu leo bậc thang đại học/climbing the academic ladder có đáng nguy hiểm đến tính mạng không?
Tôi buộc phải cho ông biết lý do. Rời trường vào năm 1980, chỉ thiếu năm cuối Ban Cử nhân, các đại học tại California biến tôi thành kẻ bạch đinh, nhất định đuổi xuống năm thứ nhất khi xin học tiếp vào năm 2007. Học bạ từ Penn State University (PSU), lời giới thiệu và bao nhiêu bằng khen trước đó đều vô giá trị. Ngay chính đại học PSU cũng thay đổi ý kiến chỉ 2 tuần trước khóa học khiến người thày đỡ đầu phải dự hội nghị …liên hợp 2 bên dàn xếp cả tuần mới xong. Vì một lý do cá nhân nhưng thập phần quan trọng–chắc chắn không phải vì một mảnh bằng hay những thứ hư danh sẽ mang lại–tôi chọn trở lại PSU nhắm đốt giai đoạn dù đó là một quyết định không hề an toàn.
-Cô có đủ ăn không/Do you have enough to eat?
Câu này là một câu rất bình thường, nhưng tôi hiểu ngay ý ông. Ông muốn biết tôi có túng thiếu đến nỗi không mua nổi thực phẩm hay chăng. Tôi trả lời:- Tôi thường quên ăn mỗi khi bận rộn. Thình lình câu hỏi kế làm tôi khựng lại: –Cô có chăm vặn sưởi cho đủ ấm không? Những người bạn và người thân trong ngành Y và ngành Luật đã khuyên tôi có thể nói dối, kể cả nói dối hai vị thân sinh, nhưng chớ bao giờ dại dột nói dối các ngài bác sĩ, nhất là các ngài luật sư. Tôi thú thật:- Thưa bác sĩ, Không. Ông nhìn sững: –Không là sao? Chưa bao giờ tôi ngượng đến thế trong hơn 50 năm tồn tại đến lúc đó trong cõi đời này. Tôi hoàn hồn: –Hoàn toàn không. Thật ra không tệ lắm. Tôi chỉ cần về nhà khoảng 8 giờ một ngày để nghỉ ngơi và chuẩn bị các cách giữ ấm. Bác sĩ an tâm, tôi đã quá may mắn và đủ tháo vát để sống được đến giờ.
Một nụ cười ánh qua khuôn mặt khắc khổ, ông xé một mảnh giấy, ghi vài con số:
-Đây là 2 số điện thoại. Cô có thể gọi số thứ nhất nếu cần giúp đỡ. Trong trường hợp khẩn cấp, ngày hay đêm, cô cứ dùng ngay số thứ hai. Coi chừng trượt ngã trên black ice. Chúc cô may mắn làm được điều đã vượt mấy ngàn dặm để làm. Xin Chúa phò trợ cô. À, khi nào bàn tay phải của cô run hơn, phải trở lại khám ngay lập tức. Không phải vì rét đâu.
Tôi bất giác nhìn xuống bàn tay phải đang nắm cứng mỗi khi bị run nhiều, một thói quen vô thức hầu tránh những con mắt tò mò. Ông rời phòng khám, theo tôi đến cửa ngoài. Tôi bước vào con đường dài, quay lại, thấy ông vẫn đứng đó, tay khoanh trước ngực. Tôi không vẫy tay chào từ giã vì biết trước sẽ không bao giờ từ giã được hình ảnh ấy, hình ảnh của một trong nhiều người Hoa Kỳ không quen nhưng sẽ đọng lại trong trí nhớ ngày nào còn sống.
Một người khác là vị giáo sư viết thư giới thiệu cho tôi xin học bổng khi sang năm thứ tư, vào năm 1980. Thời đó, tôi phải cố gắng hết sức về Anh ngữ (bây giờ vẫn vậy!) vì, lẽ ra, tôi đã phải theo Phân khoa Engineering căn cứ theo giấy tờ mang theo được từ Đại Học Sài Gòn. Tôi luôn nghĩ tới tấm lòng bác ái và sự nghiêm khắc nhưng đầy bao dung của ông khi giảng dậy. Với tôi, ông là đại diện cho mối quan tâm và hào phóng của Hoa Kỳ, là một trong những người thày với toàn vẹn ý nghĩa đẹp nhất.
Khi trở lại Pennsylvania năm 2007, vị giáo sư cố vấn (tình cờ có thân phụ là một bác sĩ giải phẫu từng phục vụ tại Miền Nam) hết sức lo lắng rồi tạo điều kiện để tôi học cao hơn. Người thày trẻ tuổi ấy–hình ảnh sống động của câu hát cuối trong Quốc Ca Hoa Kỳ the land of the free and the home of the brave/Đất của người tự do và nhà của người gan dạ– đã củng cố lòng tin vào Tự Do và Bác ái của tôi với nhân loại. Càng về sau, tôi mới càng ngộ được những năm học cao hơn đó cần thiết như thế nào dù không toan tính leo bậc thang đại học. Ngoài kiến thức cần thiết, tôi đã thu thập được không biết bao nhiêu tài liệu của Văn học Miền Nam lưu trữ tại những đại học như Yale, Harvard, Cornell… thậm chí từ Úc hay các thư viện tư khiến cho, ngày nay, tiếp tục được lời nguyền từ những mùa giá tuyết ấy.
Chưa hết, một vị giáo sư khác– “một người không quen đến ngày lạ mặt” (thơ Hà Huyền Chi)– gửi một email khuyến khích sau khi đọc luận án Cao học của tôi. Là một giáo sư hết sức danh tiếng tại một đại học danh tiếng, chắc chắn ông không có lý do hầu phí thì giờ cho một sinh viên vô danh, ngoại trừ sự rộng lượng từ lòng trắc ẩn, một khía cạnh đã góp phần vào sự công bằng và tiến bộ chung biểu hiệu cho Tinh thần Đại Học.
Những kinh nghiệm thượng dẫn cho thấy sự bác ái của người dân Hoa Kỳ với nạn nhân Cộng sản hầu như tương phản với cảm tưởng của một số khác về một cuộc chiến vẫn bị coi là “cuộc thất trận duy nhất” trong lịch sử Hoa Kỳ. Mối ác cảm với cuộc thất trận ấy, khỏi phải nói, tràn lan trên sách báo, từ “hàn lâm” cho tới đại chúng gần nửa thế kỷ nay, đến nỗi tạo thành một thứ mặc cảm Fear and Loathing in America-Sợ hãi và chán ngán tại Hoa Kỳ, mượn tên Fear and Loathing in Las Vegas của ký giả Hunter S. Thompson của tờ Rolling Stone. Ông đã tới Sài gòn, đã viết thư yêu cầu được phỏng vấn Đại tá Cộng Sản Võ Đông Giang, Trưởng Phái Đoàn Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, vào những ngày cuối tháng 4, 1975. Dù nổi tiếng, ông bị từ chối không kèn không trống vì lúc đó Cộng sản đã tiến vào Sài gòn, họ còn cần gì những anh ký giả (Hoa Kỳ) vô tích sự nữa?! 30 năm sau 1975, sử gia Robert Buzzanco (thuộc phái Chính Thống) khơi mào một cuộc tranh luận quan trọng khi phản bác phần phát biểu của sử gia/học giả Keith Weller Taylor (thuộc phái Tái-Thẩm Định) tại cuộc hội thảo trước đó đã được tổ chức tại Lubbock, Texas vào tháng 3.2005. Mượn Hunter S. Thompson, Robert Buzzanco mỉa mai Keith Weller Taylor bằng bài “Fear and (Self) Loathing in Lubbock: How I Learned to Quit Worrying and Love Vietnam and Iraq” (tháng 4.2005). Dĩ nhiên, Keith Weller Taylor đã phản bác bài …phản bác này bằng một bài khác có tên “Robert Buzzanco’s “Fear and (Self) Loathing in Lubbock” trên tờ Journal of Vietnamese Studies, Bộ 1, Số 1-2 (Tháng 2/Tháng 8 2006).
Thế nên, tài liệu tiếp tục được giải mật từ giới quân sự Hoa Kỳ, Bắc Việt và cả Việt Nam Cộng Hòa sẽ giúp mọi trường phái có bằng chứng xác đáng hơn nhắm thay đổi ý kiến, hoặc tiếp tục sát phạt, hoặc tiếp tục… sai lầm, có lẽ không bao giờ chấm dứt trong cuộc hậu chiến mà vũ khí là ngòi bút.
3.3 Hồi ký hoặc tài liệu quân sự bằng Anh ngữ của Sĩ quan thuộc Quân Lực VNCH và Hoa Kỳ được giải mật và phát hành
Thời gian đủ dài sau khi cuộc chiến kết thúc cho phép chính phủ Hoa Kỳ công bố không những tài liệu của họ mà còn của một số quân nhân thuộc Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa tuy hiếm hơn.
Từ trên xuống dưới và từ trái qua phải: Đồng tác giả Hải quân Đại tá Đỗ Kiểm & nhà thơ Julie Kane, Counterpart: A South Vietnamese Naval Officer’s War, Naval Institute Press xuất bản, 1998; Đại Úy Nhẩy Dù Phan Nhật Nam, Peace and Prisoners of War: A South Vietnamese Memoir of the Vietnam War, Naval Institute Press xuất bản, 2020-Bản Việt ngữ do Hiện Đại xuất bản lần đầu tại Sài gòn, 1974; Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, The Easter Offensive of 1972, viết xong ngày 31.8.1977, U.S. Army Center of Military History ấn hành, 1980, Thủ Đô Hoa Thịnh Đốn-Được in lại từ Thư viện của University of Michigan; Stuart L. Rochester và Frederick Kiley, Honor Bound: American Prisoners of War in Southeast Asia 1961-1973, Naval Institute Press tái bản, 1999.
Honor Bound được Cơ quan Sử Liệu-Văn Phòng Tổng Trưởng Quốc Phòng/Historical Office-Office of the Secretary of Defense tại Thủ đô Hoa Thịnh Đốn (Washington D.C.) in lần thứ nhất vào năm 1998 và được Ngũ Giác Đài/The Pentagon cho phép phát hành. Đây là một mẩu báo cung cấp tin tức về nội dung cuốn sách phát hành lần thứ nhất và cách đặt mua:
“Vào thứ sáu, Ngũ Giác Đài cho phép phát hành cuốn sách 700 trang về lịch sử của quân nhân Hoa Kỳ bị giam giữ trong Chiến Tranh Việt Nam. Sự phát hành của “Honor Bound” đánh dấu năm thứ 25 của Cuộc Vận động cho Ngày Hồi hương, cuộc phóng thích một số rất lớn tù binh Hoa Kỳ sau cuộc Chiến Tranh Việt Nam[…] Cuốn sách này giá 46 mỹ kim và có thể đặt mua tại…”[Trích lại từ mảnh báo kẹp vào cuốn sách cũ mà tôi mua lại vào năm 2000]
Sử gia Stuart Rochester và Frederic Kiley (chuyên viên về vấn đề Tù Nhân Chiến Tranh) đã hợp tác trong hơn một thập kỷ hầu soạn thảo bản tường trình một cách đầy đủ về tên tuổi, hoàn cảnh tù nhân Hoa Kỳ bị bắt giữ tại Bắc Việt, Miền Nam, Lào và Cambodia từ 1961 đến 1973. Nhân thể, tôi cũng muốn giới thiệu cuốn Prisoners of War: Six Years in Hanoi, một cuốn gồm những bản minh họa cảnh tù nhân bị ngược đãi, bị trói đủ kiểu vv. của Hải Quân Trung Úy John M. McGrath cũng do Naval Institute Press ấn hành vào năm 1975.
Trung Tướng Ngô Quang Trưởng còn có một cuốn nữa: Territorial Forces/ Lực Lượng (Quân đội) Địa phương như Địa Phương quân, Nghĩa quân và Nhân Dân Tự vệ do Trung Tâm Quân sử thuộc Bộ Binh Hoa kỳ/U.S. Army Center of Military History ấn hành. Nhờ cuốn này, người ta sẽ biết hơn 50 % nhân số của Quân Lực VNCH gồm lực lượng quân nhân địa phương. Bởi thế, họ không thể chống trả khi được võ trang bằng võ khí từ …Thế chiến Thứ Nhất rồi thăng cấp lên súng Garand, súng M-1 từ thời Thế Chiến Thứ Hai (trang 96-97, sđd)! Kết quả là, cũng theo Tướng Trưởng, có lúc đã có 477 đồn tại các nơi hẻo lánh thất thủ, buộc họ rút lui. Chỉ sau đợt trận Mậu Thân, sau khi bị tấn công bằng AK-47, súng phóng lựu B-40 và B-41 vv. Địa phương Quân và Nghĩa Quân mới được cung cấp súng M-16 và súng phóng lựu M-79 vv. khiến họ lên tinh thần nên chống trả hiệu quả và, bởi thế, mãnh liệt hơn.
Counterpart-A South Vietnamese Naval Officer’s War/Nhân vật đối tác-Cuộc chiến của một sĩ quan Hải quân Miền Nam Việt Nam/ của đồng tác giả Hải Quân Đại Tá Đỗ Kiểm và nhà thơ Julie Kane là một thứ hồi ký sống động, viết từ ngôi thứ ba, của một sĩ quan cao cấp vốn giữ được sự liêm khiết và can trường giữa thử thách cho đời quân ngũ cũng như đời riêng. Khi bắt đầu chiến dịch Việt Nam hóa Chiến tranh Việt Nam, chữ Counterpart/Đối tác được thay cho chữ Advisor/Cố Vấn. Ông giữ chức Tham Mưu Phó hành quân Bộ-Tư-Lệnh Hải-Quân và tham chiến từ lúc bắt đầu cho đến kết thúc khi lá cờ Việt Nam Cộng hòa được hạ xuống tại các chiến hạm tại Subic Bay, Phi Luật Tân. Xếp hàng thứ 3 trong hàng lãnh đạo Hải Quân, ông phối hợp điều hành việc di tản 35 tàu có cả chiến hạm thuộc Hải quân Việt Nam Cộng Hòa và khoảng hơn 30 ngàn quân nhân cùng một số thân nhân rời lãnh hải VNCH di tản vào tháng 4, 1975. Hồi ký của ông là nguồn tài liệu dồi dào giúp người đọc với chi tiết về gia đình trước và sau khi di cư vào Miền Nam, tình trạng võ trang không đầy đủ, tinh thần binh sĩ VNCH và các quân nhân Hoa Kỳ chiến đấu bên cạnh ngay đến phút cuối, nghĩa là ông đã ghi lại một phần tiểu sử Hải Quân. Ông cũng đề cập đến tình trạng tham nhũng và những bất cập trong một nước có chiến tranh khiến gia đình cũng bị ảnh hưởng lây như mọi gia đình khác. Sự liêm khiết của ông làm tôi rất cảm phục. Câu chuyện chiến tranh của ông, bởi thế, không hạn chế chỉ vào vũ khí, vào người đối tác/counterpart Hoa kỳ. Lần này, ngược lại, chính ông trở thành người đối tác/counterpart hầu thuật lại cuộc chiến chống lại người Cộng sàn và Chủ nghĩa Cộng sản từ kinh nghiệm cùng quan điểm của một người dân di cư từ Miền Bắc vào Miền Nam kiêm sĩ quan VNCH. Ông thuật lại vụ Tâm–người vợ trẻ đẹp của Bình, một cán bộ cao cấp nằm vùng–bị bắt giữ vào Tết 1970. Ông mở chiếc túi bị tịch thu của bà. Ngoài mấy cuốn sổ tay ghi chép tài liệu huấn luyện, còn một tập có ghi lại mấy câu thơ:
[…]Mở bật quyền số ghi chú, ông dùng ngón tay dò những chữ chép lại một bài thơ quen thuộc bằng mực xanh:
Nếu bạn là hoa, hãy là hoa hướng dương.
Nếu bạn là đá, hãy là đá kim cương.
Nếu bạn là chim, hãy là bồ câu trắng.
Nếu bạn là người, hãy là một người cộng sản…”[Đỗ Kiểm & Julie Kane, sđd, trang 149] (19)
Không ngờ bị bắt lộ tung tích, người nữ tù nhân nài nỉ ông cho phép trở lại nhà cứu đứa con sơ sinh khát sữa còn nằm chờ. Ông và người Hoa Kỳ counterpart bằng lòng, sửa soạn súng ống tàu bè hết sức cẩn trọng hầu đưa bà về vào đêm tối. Căn nhà nổ tung khi người đàn bà chỉ mới chạm tay vào cánh cửa. Ông có thể ngửi thấy mùi thây người bị thiêu sống. Mảnh vụn của gỗ, lá tranh bắn tung tóe vào tay ông. Đỗ Kiểm tự hỏi: Người chồng Việt Cộng có lẽ đoán lính VNCH sẽ về khám xét căn nhà sau khi bắt được người vợ nên hắn gài mìn giăng bẫy. Nhưng lẽ nào hắn ta đánh cược chính mạng sống của vợ hắn trên phần trăm đó:
[.…] Có đúng là sự tẩy não của địch quân đã phá hủy mối gắn bó giữa một người đàn ông với gia đình, tôn giáo-với tất cả mọi thứ, trừ nhà cầm quyền của hắn? ‘Bồ câu trắng, bọn ngu độn tựa cái bàn tọa!’ Ông nhổ nước bọt. ‘Đá kim cương quý! Hoa hướng dương khoe sắc! Đồ thối tha!’ “[Đỗ Kiểm & Julie Kane, sđd, trang 154-157] (20)
Thiệt tình, Swearing like a sailor!/ Chửi thề như một anh lính thủy! Nhưng chính tôi cũng muốn nguyền rủa như ông. Nếu hồi ký của Đại tá Đỗ Kiểm dàn rộng từ Bắc vào Nam, từ trận chiến trên sông nước Miền Nam tới ngoài biển cả Hoàng Sa, cuốn Peace and Prisoners of War của Phan Nhật Nam hầu như thu gọn vào Lộc Ninh, địa điểm nơi ông tham dự các cuộc họp của Ban Liên Hợp Quân Sự Trung Ương 4 Bên và 2 Bên. Tác phẩm này bị lược mất vài chương quan trọng khi được dịch sang Anh ngữ và, đáng tiếc hơn, không có hình ảnh lúc tù binh hai bên được thả hoặc quang cảnh các buổi họp như trong cuốn Tù binh và Hòa bình do Hiện Đại xuất bản tại Sài gòn vào năm 1974 rồi tái bản nhiều lần sau này tại hải ngoại.
Những tác phẩm thượng dẫn chứng minh một điều chắc chắn: chúng không phải tài liệu đầu tiên và cuối cùng trong ngành nghiên cứu về Chiến Tranh Việt Nam tại Hoa Kỳ. Kế đó, chúng sẽ giúp phần vào việc thẩm định một cuộc chiến mà cho tới nay, tuy mang tiếng thắng trận, người Cộng sản vẫn không ngừng bôi xấu VNCH chứ chưa nói tới Hoa Kỳ, nhưng không thể ngăn cản nổi Văn Học Miền Nam và di sản tinh thần của VNCH trở lại ngay tại Việt Nam.
4. Người Việt tỵ nạn trên thế giới-Chúng ta đi mang theo quê hương và danh dự
Câu hỏi do Nguyễn Viện lập lại sau đây rất phải chăng. Tôi nói “phải chăng” vì người Hoa Kỳ hoàn toàn xa lạ, từ ngôn ngữ, thổ ngơi tới văn hóa của người Việt tỵ nạn khiến bất cứ một người trong nước nào quan tâm và xót xa cho đồng bào xa xứ, không riêng gì Nguyễn Viện, cũng có thể hỏi:
[…] Tôi vẫn băn khoăn, không biết những người Việt tị nạn đã làm gì khả dĩ để lấy lại danh dự cho mình?.… [Nguyễn Viện, “Ngày 30/4. Vết thương hoại tử, sđd]
[…]Những người tị nạn Việt Nam trong điều kiện có thể đã làm gì để lấy lại danh dự của mình trong cái nhìn của đối phương cũng như của đồng minh và thế giới?.… [Nguyễn Viện, “Trả lời phỏng vấn của Diễn đàn Thế Kỷ: Những câu hỏi cho ngày 30 tháng Tư”, sđd]
Đề tài Chiến Tranh Việt Nam kéo theo Quân Lực VNCH và người Việt Miền Nam sẽ không bao giờ chấm dứt. Trường phái Chính thống, Trường Phái Độc lập-Hơi nghiêng về Trường phái Tái-Thẩm định và Trường phái Tái-Thẩm định đòi …tái thẩm định Trường Phái Chính Thống sẽ còn dàn trận dài dài trong đại học và trên báo chí, phim ảnh hay nghệ thuật bản xứ. Vậy mà tôi lại hoàn toàn tin tưởng rằng không hề có chuyện “mất” danh dự để băn khoăn tìm cách “lấy lại”. Với “đồng minh và thế giới”, tôi tin rằng người tỵ nạn, ngoài việc sinh sống và nuôi dậy con cái cho lương thiện hầu góp phần tích cực vào công cuộc xây dựng xã hội thì đã bất chiến tự nhiên thành. Tôi có thể thí dụ bằng cuốn Children of the Boat People-A Study of Educational Success (Nathan Caplan, Marcelle H. Choy và John K. Whitmore, Nhà xuất bản The University of Michigan Press, được tái bản 3 lần từ 1991 tới 1994)
Với đối phương… Việt Cộng, Quân Lực VNCH đã chiến đấu suốt 20 năm, đánh bật địch thủ trang bị bằng vũ khí tối tân và dồi dào, có khi tối tân hơn, đến khi không còn được viện trợ vũ khí. Đúng thế, “có khi tối tân hơn”, tôi có thể bảo đảm chi tiết này như đã dẫn chứng với cuốn sách của Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, của Đại tá Đỗ Kiểm hay của Y sĩ Thiếu Tá Nguyễn Văn Quý. Sau khi bị đồng minh Hoa Kỳ và thế giới tự do quay lưng, quân đội đó có 5 ông Tướng tự sát, nhiều sĩ quan binh sĩ tử trận khi không đầu hàng, không bỏ đồng đội, và khi bị bắt đi tù mà vẫn không bị khuất phục. Khi được nhập cư Hoa Kỳ hay trên thế giới, họ vừa làm ăn sinh sống, vừa hoạt động giúp các đợt thuyền nhân hay tỵ nạn theo sau như thí dụ Hạm Trưởng Phan Lạc Tiếp và Ủy ban Báo nguy Giúp người Vượt Biển. Ông gửi cho nhiều tài liệu khi tôi hỏi xin. Đây là một trong những tài liệu đó:
Tài liệu của Trung Tá/ nhà văn Phan Lạc Tiếp (tỵ nạn tại San Diego, 1975), một trong những người đầu tiên sáng lập & hoạt động trong Ủy ban Báo nguy Giúp người Vượt Biển (Những chữ viết tay là của Phan Lạc Tiếp)
Nhiều quân nhân khác soạn quân sử hay viết hồi ký ghi lại một phần lịch sử có thắng có bại. Tôi hân hạnh được tặng một số sách này. Sau đây là 2 trong số được các tác giả tặng:
Từ trái sang phải: Hải Sử Tuyển Tập và Binh chủng Nhảy Dù-20 Năm Chiến Sự
Hải Sử Tuyển Tập, khổ lớn, bìa cứng, 592 trang do Tổng Hội Hải quân & Hàng Hải ấn hành, xuất bản tại Hoa Kỳ, 2004. Tôi ước rằng mỗi binh chủng của VNCH đều có 1 cuốn như vậy. Đây là cuốn Hải Sử do chính các Đề Đốc, Phó Đề Đốc và nhiểu sĩ quan cùng binh sĩ góp phần biên soạn và trình bầy, bao gồm thời gian từ khi thành lập cho tới lúc “Hạ Kỳ tại Biển Đông” với các bài viết về nhân sự, hải chiến có thêm phỏng vấn. Hình ảnh, bản đồ kèm theo từng giai đoạn, có cả một chiếc thuyền …buồm (sđd, trang 198). Phần cuối “Chú Thích Hải Sử”–một bản liệt kê bằng song ngữ Anh-Việt, có khi Pháp -Việt, giải thích những tên viết tắt hay tên các loại vũ khí và chiến hạm, giang thuyến — là phần hết sức quan trọng cho những người …Việt không đi lính mà phải viết về Chiến Tranh Việt Nam có khi bằng Anh ngữ. Một trong nhiều bài làm tôi cảm động là “Nguyễn Ngọc Thông & Người con gái dấu mặt” của Hải quân Trung Tá Phan Lạc Tiếp.
Hải quân Trung úy Nguyễn Ngọc Thông, Chỉ Huy Trưởng Duyên Đoàn 16, tử trận vào ngày 7 tháng 8 năm 1967 tại Quảng Ngãi. Trước đó, trong lần công tác Tâm Lý Chiến theo Bệnh Viện Hạm HQ 400, Phan Lạc Tiếp đưa đoàn nhạc Tâm Lý Chiến, đoàn Quân Y tới giúp vui và khám bệnh cho dân chúng nơi trú đóng của Nguyễn Ngọc Thông. Phan Lạc Tiếp để ý thấy một cô gái choàng khăn kín mặt, vui vẻ giúp việc đãi ăn. Ông muốn tìm cớ thấy mặt nhưng chiếc khăn dài luôn phủ kín hết cả khuôn mặt. Trong đám tang Nguyễn Ngọc Thông, ông đến canh xác người bạn cùng khóa, lại gặp người con gái vẫn trùm hết mặt, chỉ chừa đôi mắt sưng vù “choàng người lên nắp áo quan”. Khi hạ huyệt, ông không có mặt nhưng nghe nói người con gái từ Quảng Ngãi ấy “mặc đại tang, lăn lộn trên miệng huyệt…” (sđd, trang 202). Tại sao cô gái luôn luôn che kín mặt trong khi trận đánh cuối kết liễu cuộc đời của Nguyễn Ngọc Thông “có nhiều dữ kiện đơn vị bị nội tuyến” (sđd, trang 293)? Không ai, kể cả Phan Lạc Tiếp, trả lời được. Riêng tôi, tôi có cảm giác rất bất an khi đọc câu bàn tán của người bàng quan “Cái cô này là gì của Thông mà khóc thương quá vậy. Hay là người của bên kia…” (sđd, trang 203), đoạn sực nhớ lại tên bài viết cùng sự thắc mắc rất nhiều lần của tác giả khi thấy cô gái che kín mặt một cách bất thường. Đó cũng chính là một trong những cái hay của bộ Hải Sử này. Người đọc sẽ không chỉ thấy chiến hạm và các trận đánh, họ sẽ thấy cả tâm tình người lính Hải Quân nữa trong cuộc tranh đấu đầy bất trắc không riêng cho họ mà còn cả bi kịch cho người sống như cô gái đáng thương luôn giấu mặt.
Binh Chủng Nhảy Dù-20 Năm Chiến Sự khổ lớn, bìa cứng, 610 trang do Võ Trung Tín và Nguyễn Hữu Viên đồng biên soạn và ấn hành, xuất bản tại California, 2010 là một cuốn quân sử khác. Đại Úy Võ Trung Tín sinh ngày 30 tháng 4, 1943 tại Trà Vinh. Ông tốt nghiệp Khóa 21 Trường Bộ Binh Thủ Đức. Chức vụ và đơn vị sau cùng: Đại đội trưởng Đại Đội Khai thác Hành quân/Tiểu đoàn Truyền Tin. Ông tỵ nạn tại Hoa Kỳ ngày 27 tháng 10. 1975. Đại Úy Nguyễn Hữu Viên sinh ngày 1 tháng 1. 1934 tại Hà Nội, nguyên quán Hải Phòng, phục vụ tại Đại Đội 3 Công binh Nhẩy Dù. Ông tốt nghiệp Khóa 26 Trường Bộ Binh Thủ Đức. Chức vụ và đơn vị sau cùng: Chỉ huy Hậu cứ kiêm Sĩ quan Tiếp Liệu Binh đoàn và Trưởng Ban 3 Tiểu Đoàn. Sau 1975, ông bị tù 77 tháng, vượt biển sang Mã Lai vào tháng 4. 1986 và nhập cư Hoa Kỳ vào tháng chạp. 1986. Hai ông hoàn thành công trình công phu này trong gần 9 năm. Binh chủng Nhảy Dù-20 Năm Chiến Sự gồm nhiều bản đồ và hình ảnh trên giấy tốt, in ấn rất nghệ thuật.
Tôi đã thuật về cuốn Nhật ký An Lộc: 86 ngày của một bác sĩ giải phẫu tại mặt trận (Văn Nghệ xuất bản, 2002, 455 trang, Hoa Kỳ) của Y sĩ Thiếu tá Quân Y Nguyễn Văn Quý, nhưng muốn đề cập đến lần nữa vì đó là một trong những hồi ký hoặc tác phẩm viết về Chiến Tranh Việt Nam mà tôi quý nhất, bên cạnh hồi ký của Đại tá Hải Quân Đỗ Kiểm. Tôi dùng nó để tham khảo khi đọc hồi ký của các bác sĩ Hoa kỳ tham chiến tại Miền Nam. Ông chứng kiến binh sĩ Cộng sản bị xiềng vào xe tăng và một người lính địa phương dùng súng phóng lựu cá nhân bắn hạ xe tăng T 54 thuộc đoàn quân Miền Bắc tiến chiếm An Lộc. Ông vượt biển sang Hoa Kỳ vào năm 1979 và giải thích lý do xuất bản vào năm 2002:
Cuốn nhật ký này đã được viết ngay tại mặt trận An Lộc, Bình Long, năm 1972 (.…) Vì là một cuốn nhật ký nên tôi đã đề cập tới nhiều kỷ niệm riêng tư mà trong lúc ghi lại những cảm nghĩ của tôi, dòng ý tưởng nảy ra từ những sự việc hiện tại lại lan tới những chuyện đã xảy ra trong quá khứ. Tôi ghi lại tất cả một cách tự nhiên không gò ép. Vì vậy người đọc sẽ thấy hơi lộn xộn. Thực ra, trước đây, tôi không có ý định giới thiệu cuốn sách này với mọi người nhưng sau những dịp nói chuyện với môt số bạn trẻ cỡ 30 – 40 tuổi, tôi thấy họ không biết gì về cuộc chiến đấu chính nghĩa của quân dân miền Nam chống lại sự xâm lăng của Cộng Sản phương Bắc. Do đó tôi thấy rất có lý để nhiều người cùng đọc. Hơn nữa sau biến cố 30 tháng 4, 1975 , nhiều tài liệu của miền Nam đã bị hủy họai, hoặc bị tuyên truyền bóp méo sai sự thật. Do đó tôi hy vọng những hình ảnh cũng như những dữ kiện của cuốn sách này sẽ là một đóng góp nhỏ của một Quân Y Sĩ trong thời điểm lịch sử đó.…
Tôi nghĩ tên tuổi ông cần ghi vào lịch sử Y khoa…thế giới vì đã dùng sợi chỉ nylon của bao cát may đóng bụng bệnh nhân lại sau khi hoàn thành giải phẫu:
[.…] Trong trường hợp của Đại úy Nghi Pháo Binh Dù, tôi thấy nhận xét của tôi khá đúng. Sau khi mổ bụng ra, tôi chỉ thấy một vết thương ruột non và một vết thương ở bàng quang. Không có vết thương ruột già. Xoang bụng tương đối sạch. Tôi đã may các vết thương đó lại bằng Catgut. Cuộc giải phẫu kết thúc rất nhanh, mặc dù chúng tôi thiếu chỉ 1.0 để đóng bụng. Tuy nhiên tôi đã dự trù trước, nên đã có sẵn những sợi chỉ nylon của bao cát, dùng rất tốt, rất dai. Thành ra Đại úy Nghi là người đã được tôi dùng chỉ bao cát may lần đầu tiên tại chiến trường An Lộc. (.…) Tôi đã dùng dây nylon cột bao cát như vậy cho ba trường hợp nữa trước khi tôi nhận được tiếp tế các chỉ may. Chính Y Sĩ Thiếu tá David Risch đã đích thân mang lên cùng với một phái đoàn y sĩ Mỹ thuộc Quân Đoàn III ở Biên Hòa.… [Nguyễn Văn Quý, sđd, trang 287-288]
Y sĩ Thiếu tá Nguyễn Văn Quý, Nhật ký An Lộc: 86 ngày của một bác sĩ giải phẫu tại mặt trận
Diễn đàn Bảo vệ Cờ Vàng
Tôi mạn phép mượn bác sỹ Nguyễn Văn Quý tấm ảnh có màu và cảm ơn Lê Thy (người đánh máy) cũng như ban chủ trương đã cho đăng trên Diễn đàn Bảo vệ Cờ Vàng rất công phu [https://baovecovang2012.wordpress.com/2022/05/11/nhat-ky-an-loc-bac-si-nguyen-van-quy/] vì hình đen trắng trong sách của tôi không rõ lắm. Cả lúc chụp hình lẫn lúc mổ, tất cả đều mặc áo giáp và đội mũ sắt vì bị pháo kích liên miên. Chỉ qua vài thí dụ nêu trên, quân đội VNCH với các người lính như Phan Lạc Tiếp, Võ Trung Tín, Nguyễn Hữu Viên hay như Y sĩ Thiếu Tá Nguyễn Văn Quý còn có quyền làm gương cho quân đội … đối phương và thế giới là đàng khác.
Ngoài giới cầm súng, một nền văn học nghệ thuật có những văn nghệ sĩ không quỵ xuống ca ngợi kẻ bắt mình hoặc/và quay sang đấu tố đồng nghiệp thì nền văn học nghệ thuật đó phải còn danh dự. Cho tới bây giờ tôi chỉ mới thấy ca sĩ/ hoàng tử Nhạc Đỏ Trọng Tấn hát Nhạc Vàng (bài Lệ Đá, nhạc Trần Trịnh, lời của nhà thơ/Thiếu Tá Tâm lý chiến Hà Huyền Chi) chứ chưa thấy quân ta hát Nhạc Đỏ. Khi nào tôi khám phá thần tượng Không Quân Thiếu tá Sĩ Phú hay luật sư kiêm ca sĩ Duy Trác kiêm tù nhân chính trị sau 1975 hát Nhạc Đỏ, lúc đó sẽ xét lại sau.
Bởi thế, vì chúng tôi vẫn tiếp tục sáng tác và hoạt động sau 1975, nên có phải trang mạng Văn Việt đã sử dụng một số bài của chúng tôi khi muốn làm chủ đề về Văn học Miền Nam không? Tôi muốn nói tới bài của chính tôi về Mặc Đỗ đã xuất hiện trên Văn Việt (21) sau khi được đăng trên Diễn Đàn Da Màu, Hoa kỳ. Nói của đáng tội, kể ra quý tập đoàn, có người từng tập kết, cũng đã biết điều, không còn cái thời núp ở… Rừng Xà Nu (mạn phép mượn tên truyện ngắn của nhà văn Nguyên Ngọc tự Nguyễn Trung Thành) làm việc cho nhà xuất bản ma Giải Phóng tiếng là ở Miền Nam nhưng trụ sở đặt ngay tại Hà Nội (theo nhà phê bình Lại Nguyên Ân) và nghe đâu sách thì in bên…Trung Cộng cơ đấy. Tôi xin đề nghị các cựu biên tập viên của nhà xuất bản này, hình như nhà thơ Ý Nhi thuộc Văn Việt có dự phần?, viết hồi ký để khỏi mang tiếng oan cho …Trung Cộng.
Một xã hội 1954-1975 vẫn giữ được lễ nghĩa khi vợ nuôi chồng đi tù, có khi lo cho luôn cả bố mẹ chồng; thanh thiếu niên nam nữ, có khi còn vị thành niên, bươn chải giúp gia đình sống sót, thăm nuôi lo lắng cho bố mẹ bị bắt, bị giam hay bị tạm giam — cứ hỏi người chứng nhà văn Đặng Thơ Thơ sẽ rõ– thì người dân trong xã hội đó không có lý do gì để nghi ngờ rằng họ không bảo toàn được danh dự.
Một cộng đồng vẫn có nhiều người tiếp tục tình nguyện nghiên cứu về VNCH và Văn Học Miền Nam dù đã xa quê hương cũ nửa thế kỷ lại chắc chắn “không ăn cái giải gì”, nhất là giải…quốc tế hay thế giới, thì đã chứng tỏ cộng đồng ấy càng giữ được danh dự mà họ tốn công xây dựng trong 20 năm 1954-1975.
5. Văn Học Miền Nam tại Hoa Kỳ/ Civility is not a sign of weakness, and sincerity is always subject to proof *Sự lễ độ không là một dấu hiệu của nỗi yếu kém và lòng chân thành luôn luôn phải được kiểm chứng (Tổng thống John F. Kennedy, Ngày 20 tháng giêng, 1961)
Tới nay, hầu hết những tác giả của VHMN mà tôi quen hay biết đều đã qua đời: Mặc Đỗ, Cao Tiêu, Nguyễn Sỹ Tế, Duy Thanh, Thái Tuấn, Văn Quang, Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên vv. Tôi đã viết về họ, người ít người nhiều, nhưng đều kèm tính cách nhân chứng. Có thể lúc nào có dịp, tôi sẽ viết về truyện dài dang dở Đào Thoát của Thanh Tâm Tuyền đăng từng kỳ (chưa tới 20 kỳ) trên Khởi Hành-Sài gòn (nhà thơ Viên Linh làm Thư ký tòa soạn và mời Thanh Tâm Tuyền cộng tác). Hình như ít ai biết tới truyện này vì Viên Linh trình bày Khởi Hành khổ lớn như một tờ báo nên khó giữ được khỏi ngọn lửa phần thư. Tôi nhận thấy, cho tới nay, căn phòng văn chương của Thanh Tâm Tuyền chỉ mở một nửa cánh cửa. Phần Thơ được chú ý mà phần Văn chưa được nghiên cứu đầy đủ. Đó là chưa kể tới những bài tạp bút hay tạp ghi trên Tiền Tuyến hay tạp chí Văn. Qua một vài bài trong loại này, Thanh Tâm Tuyền không phải là một người ưu ái lắm với phụ nữ, nhất là giới đào hát. Lý do nào giải thích được sự tiến bộ của một nhà thơ về Thơ nhưng hơi lạc hậu về phụ nữ? Như vậy, làm sao có thể có kết luận nào về Thanh Tâm Tuyền nếu không có trọn vẹn tác phẩm của ông? Tôi muốn dùng Thanh Tâm Tuyền như một thí dụ đại diện cho hiện tượng chỉ chưa tới nửa thế kỷ, nhiều tin tức, nhiều tác phẩm về một tác giả đã hay sẽ có cơ đọng lại như những viên sỏi cô đơn ở một khúc khuất giòng sông, không biết bao giờ mới được đến tay tri kỷ. Văn sử như một chiếc đĩa sứ cũ, càng về lâu càng lăn lóc sứt mẻ nếu không bảo toàn hay chắp kịp các mảnh vỡ lại.
Như đã nói trên, đã có sự xét lại về chiến tranh Việt Nam với các môn phái Sử Học và Lịch sử, Quân Sử. Còn phần nghiên cứu Văn Học? Bao nhiêu tác phẩm liên quan đến tác giả và tác phẩm của Văn Học Miền Nam đã ra mắt độc giả Anh ngữ? Cách đây hơn 10 năm, tôi đã trình bày trường hợp thứ nhất của Hoàng Văn Chí đối đầu với Trần Văn Dĩnh và sử gia Gareth Porter vào năm 1972 về cuộc Cải Cách Ruộng Đất. Tiếp đó, tôi cũng đã phân tích trường hợp thứ hai của nhà nghiên cứu John C. Schafer với một số sai sót trong cuốn Vo Phien and The Sadness of Exile, 2016.
Theo tôi, có lẽ cả Gareth Porter lẫn John C. Schafer đều vấp vào hai vấn đề khiến ảnh hưởng không ít tới thiếu sót của họ: Cả hai đều hoặc/và không thông thạo Việt ngữ lẫn đủ hiểu biết về cộng đồng văn chương tỵ nạn và Văn Học Miền Nam. Cả hai trở ngại này vô tình ngăn cản sự nhận biết rồi tìm tới nhân chứng, chuyên viên và tài liệu trong cộng đồng tỵ nạn về chủ đề mà họ theo đuổi. Lần này, tiếp tục chủ đích “lịch sử như một chiếc đĩa sứ cũ, càng về lâu càng lăn lóc sứt mẻ nếu không bảo toàn hay chắp kịp các mảnh vỡ lại”, tôi sẽ trình bày về trường hợp thứ ba trong một số tác phẩm liên quan đến văn học hay lịch sử Miền Nam đã xuất hiện bằng Anh ngữ. Đó là cuốn Mourning Headband for Hue (tháng chín, 2014) do dịch giả/giáo sư sử học Olga Dror dịch sang Anh ngữ từ Giải khăn sô cho Huế, Nhã Ca.
Cuộc tấn công bất ngờ của Miền Bắc vào Miền Nam trong Tết Mậu Thân lưu lại nhiều cuộc giết chóc và phá hoại tại những nơi quân lính Bắc Việt và Việt Cộng có mặt, nhưng cuộc thảm sát tại Huế có lẽ sẽ còn lại muôn đời hầu đánh dấu tham vọng tàn nhẫn nhưng rất tỉnh táo của giới lãnh đạo Cộng sản Miền Bắc. Cuộc thảm sát này đã hiện diện qua bút ký Địa ngục có thật của nhà văn/ký giả chiến trường Dương Nghiễm Mậu (Văn Xã xuất bản, 1969, Sài gòn) và Giải khăn sô cho Huế của Nhã Ca, xuất bản cùng năm (Nhà xuất bản Thương Yêu). Đây cũng là một thí dụ điển hình cho thấy một tác phẩm liên quan đến cùng một biến cố trong Chiến Tranh Việt Nam đã có thể được “dịch” sang nhiều quan điểm khác nhau từ nhiều vị trí khác nhau. Đầu tiên là từ tác giả/ nhà văn Nhã Ca, người tự nhận “đứng giữa” đã nhận xét rằng mọi người, nghĩa là người Cộng sản và người Việt Nam Cộng hòa, đều có lỗi, khi trả lời ký giả James M. Markham, nhật báo The New York Times vào ngày 19.11.1973:
ĐỨNG GIỮA – “Tôi không thể là thành viên của bất cứ bên nào và hầu hết người Việt Nam cũng đang ở cùng một hoàn cảnh như tôi (…) ở phía này hay phía kia đều hung hiểm như nhau .…” [James M. Markham, “Saigon Writer Finds Everyone Guilty/Một nhà văn Sài gòn thấy mọi phía đều có lỗi”, đăng lại trong Giải khăn sô cho Huế, Việt Báo xuất bản 2008]
Kế đó, sau Nhã Ca là tới dịch giả Olga Dror rồi người đồng thời với tác giả trước 1975 như nhà văn lính chiến Dương Nghiễm Mậu, nhà văn Nguyễn Mạnh Côn; đoạn tới nhà văn Nhật Tiến hay nhà văn Võ Phiến sau 1975, ngoài Việt Nam. Độc giả hoặc người nghiên cứu bây giờ và tương lai sẽ có thêm dữ kiện hầu quyết định cho chính họ qua tác phẩm từ chính nhân chứng và tin tức khả tín kèm theo đã xuất hiện trên sách báo Miền Nam hay Hoa Kỳ.
(Còn tiếp)
Đài Tưởng Niệm Tri Ân
Cám ơn nhà văn Nguyễn Tà Cúc. Người chịu khó đọc, tìm hiểu, phân tích và suy nghĩ các khuynh hướng sử ký trong hàng ngũ thượng lưu trí thức của Hoa Kỳ. Một lĩnh vực rất khó nếu người đọc không đủ điều kiện kiên nhẫn và ý chí. Vâng, tôi tin là kẻ sĩ và công chúng tị nạn CSVN ở Mỹ họ có đủ “danh dự”. Chẳng những có đủ danh dự, mà những ai từng sống từng học hành từng phục vụ thời VNCH còn “tự hào” nữa là khác.
Vào ngày Oct 9, 2023 vừa qua đã diễn ra lễ khánh thành Đài Tưởng Niệm Tri Ân tại công viên ngoại ô thành phố Louisville Tiểu bang Kentucky Hoa Kỳ. Đài Tưởng Niệm Tri Ân chiến Sĩ Việt Mỹ và 6 Đồng Minh đã chiến đấu cho nền tự do VNCH.
Một công trình văn hóa rất có ý nghĩa. Lớn, trang trọng và đẹp. Nó có ý nghĩa ở chổ không những chỉ là một tượng đài, nó còn là một lịch sữ bằng những hình ảnh chọn lọc phóng lớn sắp xếp và ốp vào kính gắn vào tường đá. Bắt đầu từ hình di cư từ Bắc Vào Nam, hình lính VNCH chiến đấu, hình lính Mỹ chiến đấu, những sự kiện lịch sử đáng nhớ như Tết Mậu Thân, Mùa Hè Đỏ Lửa, Boat People, hình lính Mỹ cứu trẻ em VN, lính Mỹ và lính VNCH dìu nhau trong trận đánh, v.v.
Một buổi lễ lớn, thành công rực rỡ, đem lại sự cảm thông và cảm động cho nhiều người Mỹ địa phương và Mỹ gốc Việt tham dự. Phải công nhận những người trong bạn vận động xây dựng ngoài sự kiên trì nhiều năm, họ rất “smart”. Một cộng đồng gốc Việt ít người ở tiểu bang Kentucky, 7 ngàn người, biết cách làm việc thành công và có giá trị vinh danh văn hóa lịch sử lâu dài.
https://youtu.be/HW3hVv7yQlo
https://youtu.be/WsaaeZK557g
https://www.courier-journal.com/story/news/local/2022/12/18/what-planned-louisville-vietnam-war-monument-means-to-local-veterans/69729751007/
Tôi phải cảm ơn nhiều bạn đọc như Long Nguyen mới đúng. Tôi vẫn thích chữ “bạn đọc” hơn là “độc giả” vì có chữ …”bạn” trong đó. Thời này, có quá nhiều chuyện để đọc, có quá nhiều tác giả để theo dõi mà bạn đọc không những đã đọc còn chỉ giáo cho, thì còn gì đáng trân trọng hơn. Người viết luôn luôn cô độc khi viết, nhưng khi phổ biến, được tiếng vọng có khi đồng cảm từ bạn đọc, thì đó còn là một thứ free therapy, có thể giúp phần hàn gắn những vết thương sâu đậm khi viết. Tôi rất mừng và cảm phục khi được đọc bản tin về Đài Tưởng Niệm Tri Ân tại Louisville. Đã từ lâu, tôi tin người Việt tỵ nạn (và những thế hệ sau) đã và sẽ làm được những đài tưởng niệm đó để một phần lịch sử Việt Nam không biến đi mãi mãi cùng các quân nhân cả Việt Nam Cộng Hòa cả Hoa Kỳ đã hy sinh cho Tự Do. Tôi cũng nghĩ, phải mất nhiều năm sau–như cho tới bây giờ–, chúng ta mới làm được vài thứ cần làm chỉ vì còn phải lo “mọc rễ” trên đất mới và cũng phải đợi một đồng minh bất ngờ, là thời gian. Thời gian là những đợt sóng, cuốn rác rưởi ra xa khiến mọi sự càng sáng tỏ hơn.