Những nhà văn và nhà báo này
phấn đấu hầu như vô vọng.
Sự kháng cự của họ bị bỏ quên ngoài quê hương,
số phận của họ được ngụy trang bởi chính phủ đương thời
nhằm đánh lừa dư luận thế giới.
Những gì đang diễn ra ở Việt Nam
là một chương mới đáng xấu hổ trong lịch sử nhân loại,
là một thách thức đối với các lực lượng tiến bộ trên thế giới
và đối với hàng ngũ trí thức tại mọi quốc gia …
Ngày 2 tháng 10, 1980-Paris
Nhà báo/Trung Tá Không quân Trần Tam Tiệp
Trưởng Ủy ban Nhà văn-bị Cầm Tù 1979-1995
&
Người ra đi người đến phương nào
như mây bay lang bạt trời sầu
từ núi từ sông từ biển lớn
nhìn người đi hay nhìn mai sau…
1991 – Sài gòn
Nhà thơ/cựu quân nhân Khoa Hữu, Tiễn bạn diện HO đi Mỹ.
Sen tàn cúc lại nở hoa
Sầu dài ngày ngắn đông đà sang xuân
Tìm đâu cho thấy cố nhân
Lấy câu vận mệnh khuây dần nhớ thương…
[Nguyễn Du, Truyện Kiều]
50 năm 1975-2025. Vận mệnh nào dành cho người lính, cho một quân đội đã chiến đấu để bảo vệ quốc gia Việt Nam Cộng Hòa? Họ đã bỏ mạng tại chiến trường? Bị giam giữ? Bị đẩy sang rìa xã hội? Lìa tan người tình, người vợ? Tàn phế? Chấp nhận lưu xứ vì không thể trú thân trên quê hương? Không nhận được chân dung chính mình tái hiện trên các trang giấy nhân danh nghệ thuật và sự thật của từ kẻ cựu thù trên trận mạc đến vài người từng cùng chiến tuyến vì đầy những điều man trá? Những viên đạn bắn đi có thể kết liễu đời họ trong tích tắc, nhưng những viên đạn mệnh danh những điều man trá ấy sẽ lưu lại mãi mãi trên hệ thống thông tin, trước đây giới hạn vào một quốc gia, nay đã toàn cầu.
Quốc gia Việt Nam Cộng Hòa cũng từng có một nền văn học với nhiều nhà văn thuộc Văn học Miền Nam phục vụ trong quân đội. Sau 1975, họ bị bắt giam cũng vì không chỉ là người cầm bút mà còn là người lính. Tác phẩm bị cấm phổ biến. Giới quân nhân, kể cả vô số văn nghệ sĩ, bị giam giữ. Huyền thoại thời lập quốc của 50 con lên rừng và 50 con xuôi biển tái diễn. Ngàn ngàn người bị giam trong các trại Tù Cải Tạo dựng tại Miền Nam và vùng rừng núi tại Miền Bắc. Ngàn ngàn người vượt biển vượt biên. Một số–cả dân cả lính– bỏ nước sang Hoa Kỳ (Mỹ quốc) hay các quốc gia khác theo vài chương trình nhập cư khác nhau mà chương trình nổi tiếng nhất vẫn được biết đến thông thường là “Diện H.O.”. Diện này, bao gồm người tù chính trị và người lính (chiếm đa số) cùng gia đình, là một chương trình nhân đạo do chính phủ Hoa Kỳ thành lập, thực hiện vào đầu thập niên 90. Từ đây, họ hòa vào cộng đồng tỵ nạn và di dân người Việt. Dấu vết về lý lịch của chương trình H.O. vẫn để lại, không chỉ trong sự đóng góp chung mà còn trong văn chương. Nhà thơ Khoa Hữu, cựu quân nhân VNCH, từ giã các bạn bằng bài thơ Tiễn bạn diện HO đi Mỹ:
Người ra đi người đến phương nào
như mây bay lang bạt trời sầu
từ núi từ sông từ biển lớn
nhìn người đi hay nhìn mai sau
Cả không gian coi hẹp dưới chân
nhưng thời gian là sợi máu hồng
buộc tương lai vào ngày bất tử
buộc con người vào đất quê hương.Người ra đi sao người ra đi
bốn nghìn năm lịch sử nằm nghe
tám mươi năm bước chân xiềng xích
những đau thương theo gió gọi về.Ta tiễn người hay tiễn đời ta
những ngày những tháng cắt thịt da
ôi trái tim của thời nô lệ
như vết thương đau mãi không già.Người ra đi và người ra đi
ba mươi năm huyết nhục còn nghe
dù nước Cửu long mài gươm bén
dù đá Trường sơn dựng lời thề.
Viên đạn nào trong trí nhớ tôi
hay dấu bom xâm trên hình hài
là vết thương của nghìn sự thật
là lương tâm Việt Nam, một mai…[Khoa Hữu, “Tiễn bạn diện HO đi Mỹ”, tạp chí Văn Học số 68, trang 7, tháng 10. 1991, California, Hoa Kỳ]
Khoa Hữu (Ngô Đình Khoa, tháng 8. 1938-tháng 4.2012), Sài gòn, gửi sáng tác ra ngoại quốc. Tôi nhận được tờ Văn Học có bài thơ này trong một bao thư gửi qua địa chỉ Khởi Hành vào năm 2005. Nhiều tiếp xúc tương tự xác nhận ba vị thế của người lính VNCH: cầm súng, cầm bút và hoạt động sau khi không còn cầm súng. Giới cầm bút hai miền đã phán xét ra sao về giới nhà văn Miền Nam cùng tác phẩm của họ trước và sau ngày bị phần thư? Và về quân lực ấy sau ngày bị ra lệnh buông súng?
Lần này, tôi sẽ chọn các phát biểu về người lính VNCH và người dân Miền Nam của 3 cựu quân nhân cầm bút Miền Nam làm tiêu đề theo 3 tiêu chuẩn: hoặc là nhân chứng qua hồi ký hay nghiên cứu, hoặc về một vấn đề chưa được chú ý đúng mức; hoặc phát biểu về đồng đội của họ mà đủ quan trọng để đáng được khai triển. Trước hết, trong phần thứ nhất, tôi sẽ đề cập đến sử gia/Đại úy biệt phái Tạ Chí Đại Trường. Kế đó, là nhà văn/nhà tiểu luận/thương phế binh Phùng Nguyễn rồi nhà văn/họa sĩ/sĩ quan biệt phái Trương Vũ. Cả hai đều bắt đầu hoạt động văn nghệ tại Hoa Kỳ và không bị giam say 1975. Không kém phần quan trọng, tôi cũng sẽ trích dẫn phát biểu của nhân chứng trong đó có vài nhà văn thành danh Miền Nam, kiêm tù binh Cộng sản, liên quan đến các vấn đề thượng dẫn. Phần I này rất cần thiết để dẫn vào Phần II, phần hoạt động của Trung tá Không Quân/nhà báo Trần Tam Tiệp, Trưởng Ủy ban Nhà văn-bị Cầm tù (1979-1995) và Trung Tâm Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại.
Cuộc nghiên cứu này chỉ có một mục đích: Góp phần vào việc tái tạo chân dung Người Lính Việt Nam Cộng Hòa qua nhân chứng và tài liệu thu thập khoảng hơn 30 năm nay từ đồng đội tới đối thủ của họ. Thế nên, tôi thỉnh cầu những người được nhắc đến, độc giả và các bậc thức giả xa gần chỉ giáo cho những sai lầm và thiếu sót hầu chân dung ấy được đậm nét hơn. Bài này cũng là bài đầu trong hành trình ngoái nhìn 50 năm lìa xứ.
I-Người lính Việt Nam Cộng Hòa Khi thất thế tên rơi đạn lạc/Bãi sa trường thịt nát máu rơi/Bơ vơ góc bể chân trời/Nắm xương vô chủ biết vùi nơi nao? [Nguyễn Du, Văn tế thập loại chúng sinh]
1-Sử gia/Sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa/Tù binh Trại Tù Cải Tạo Tạ Chí Đại Trường
1.1 Từ Sinh viên Tiến sĩ Môn Sử học, Đại học Văn khoa-Sài gòn tới người tù đào giếng trong các trại giam Cộng sản
Ø Trung úy Thủy Quân Lục Chiến/Đại úy biệt phái ngoại ngành/Giáo sư Trung học
Tôi không ngạc nhiên khi tiểu sử một số người cầm bút thuộc Miền Nam không thấy ghi rõ ràng thời gian phục vụ cũng như cấp bực trong Quân lực VNCH một cách chi tiết. Thí dụ như Khoa Hữu hoặc Tạ Chí Đại Trường. Tôi không cách nào tìm được tin tức tại ngũ với binh chủng phục vụ của nhà thơ Khoa Hữu, trong khi nhiều bài thơ của ông nhắc đến những địa danh từng nổi tiếng là nơi ác chiến một thời. Thật hết sức đáng tiếc. Tôi may mắn hơn với Tạ Chí Đại Trường. Bức ảnh ông nhìn nghiêng, mặc quân phục Bộ binh—có bảng tên, gắn 3 bông mai đen tượng trưng cho cấp bực Đại úy, ló một chút áo trắng bên trong quân phục như vẫn thấy nơi các quân nhân khác1— vẫn luôn luôn là một phần đời lưu lại của ông.
Ta Chi Dai Truong, soldat et historien © Thong Luan
Tạ Chí Đại Trường, quân nhân và sử gia
https://indomemoires.hypotheses.org/14212
Ông tốt nghiệp Khóa 18, Trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức vào năm 1964 khi trình luận án Cao Học tại Đại học Văn Khoa, Viện Đại học Sài gòn. Thoạt đầu, ông phục vụ tại binh chủng Thủy quân Lục chiến, giữ chức Trưởng phòng Tiếp liệu của Quân y viện Đoàn Mạnh Hoạch tại Phan Thiết, rồi chuyển về Khối Quân Sử, Bộ Tổng Tham Mưu, Sài gòn. Nhiệm sở cuối là giáo sư biệt phái ngoại ngạch tại Trường Trung học Tân An, Long An, nơi ông tiếp tục chứng kiến những ngày cuối của Việt Nam Cộng Hòa. Nhà thơ Lữ Quỳnh cho biết giai đoạn đầu khi Tạ Chí Đại Trường mới nhập ngũ:
– Năm 1964, lần đầu tiên tôi gặp anh Tạ Chí Đại Trường, sau khi chúng tôi rời trường Bộ binh Thủ Đức để về trường Quân Y học giai đoạn 2, ngành Hành chánh Quân y. Cùng thời gian này anh học cao học, chuẩn bị lấy bằng Thạc sĩ và đang sưu tập, nghiên cứu về tiền cổ. Anh từng cho tôi xem những đồng xu mà anh sưu tập được. Trường là người kín đáo, có lẽ do bản tính của anh. Ngày chọn đơn vị phục vụ, anh và tôi có tên sát nhau và đều cùng muốn chọn Đại đội Quân y Thủy quân lục chiến ở Thị Nghè. Với tôi chỉ vì muốn ở Sài Gòn, trong khi anh cần ở đây để học và viết cho xong luận văn Lịch sử nội chiến Việt Nam từ 1771 đến 1802, mà bấy giờ tôi hoàn toàn không biết… [Lữ Quỳnh, “Tạ Chí Đại Trường-Đời thường”, ngày 4 tháng 4.2016, https://hopluu.net/a2807/ta-chi-dai-truong-doi-thuong ]
Tiếp đó, Phan Chính cho biết về giai đoạn thứ hai cho đến tháng 4.1975:
– (…) Tôi có cơ may sống bên anh tại Quân y viện Đoàn Mạnh Hoạch từ khoảng đầu năm 1969 đến năm 1972. Đơn vị này đóng bên cạnh phi trường quân sự Phan Thiết (Bình Thuận) có tên Camp ESEPIC, xung quanh là bãi tha ma nối dài đến Bia đài- Cổng Chữ Y, cách trung tâm thị xã Phan Thiết khoảng 3 cây số. Khi Tạ Chí Đại Trường từ một đơn vị quân y của Thủy quân lục chiến về với cấp bậc Trung úy, là sĩ quan hành chánh quân y. Anh được giao chức vụ Trưởng phòng Tiếp liệu của Quân y viện. Dáng người anh cao lêu nghêu, lại đeo kính cận không có gì mang vẻ một người lính của binh chủng dữ dằn với bộ quân phục rằn ri như lúc mới trình diện (…) Thực ra công việc hành chánh cũng khá nhàn nhã, trừ khi nghe tiếng trực thăng Shinook đáp xuống khoảnh đất cạnh Quân y viện với hàng chục chiếc băng ca chuyển lính trận bị thương về mới thấy chuyện bận rộn, kinh hoàng. Khi nghe Hồ Tà Dôn, một nhà thơ trẻ trong nhóm văn nghệ ở Phan Thiết, ở Phú Hài vừa san ủi đất công trình đã lộ ra một số chum sành có nhiều đồng tiền cổ,Tạ Chí Đại Trường vội đến ngay, không biết bằng cách nào anh xin được vài chục đồng tiền điếu, có xu đã mòn hết chữ nhưng cẩn thận xếp vào valy sưu tập cất ở đầu giường. Sau này, không hiểu sao valy tiền cổ bị mất cắp, anh như người mất cả hồn phách, rồi cạo trọc đầu và trông anh thất thểu. Trong quân đội cấm lính để râu, cạo trọc nhưng là đơn vị chuyên môn cho nên cấp trên cũng lờ đi (…) Đến năm 1970, Tạ Chí Đại Trường nhận được giải thưởng văn chương toàn quốc với tác phẩm “Lịch sử nội chiến ở Việt Nam từ 1771 đến 1802”, đây là luận văn cao học của anh từ năm 1964 nói về cuộc nội chiến giữa nhà Tây Sơn và Nguyễn Ánh. Đến năm 1971 với tên tuổi về tác phẩm này mà anh được điều về Ban Quân sử của Bộ TTM ở Sài Gòn. Đời lính từ nơi đối mặt với chiến trường, rồi về một bệnh viện quân y tưởng yên ổn nhưng lại phải thường xuyên ám ảnh cảnh chết chóc, những chiếc quan tài vội vàng bọc lớp tôle kẽm mỏng giao cho thân nhân hoặc đưa chôn ở nghĩa địa. Đêm đêm nghe tiếng rên rú của lính trận bị thương … mà nay được về Sài Gòn, ai cũng mong được vì đó là chỗ nương thân không gì bằng, nhất là đối với những người luôn sợ hãi chiến tranh. Có người nói do nội dung tác phẩm được giải này mang nội dung đề cao vai trò lịch sử của Gia Long, hạ thấp Quang Trung mà anh gặp nhiều rắc rối sau ngày giải phóng. Theo tôi, với cái lý lịch sĩ quan ngành quân y thì cũng được nhìn nhẹ nhàng thôi, nhưng đúng hơn có một phần chịu tiếng là một “sử quan” ngụy quân càng thêm nhiều nỗi thăng trầm, là thế! [Phan Chính, “Khó Quên Những Ngày Tạ Chí Đại Trường Ở Phan Thiết!”, Tạp chí Hợp Lưu, ngày 4.4.2016 – https://hopluu.net/a2803/kho-quen-nhung-ngay-ta-chi-dai-truong-o-phan-thiet-]
Quân Y viện Đoàn Mạch Hoạch được đặt theo tên của Y sĩ Trung úy Quân Y Đoàn Mạch Hoạch, bị trúng đạn tử thương tại một tỉnh Miền Trung vào năm 1964, khi tiếp cứu một thương binh ngay tại trận chiến. Phần đời trong quân ngũ đó sẽ thấp thoáng trong vài cuốn sử của ông sau 1975 và giải thích lý do ông thương tiếc một sĩ quan sử gia, có thời cùng hợp tác với tạp chí Bách Khoa, tuẫn tiết. Phần đời ấy cũng kết thúc khi ông bị bắt giam cùng với khoảng trống của Khối Quân Sử, Bộ Tổng Tham Mưu Quân lực Việt Nam Cộng Hòa do Đại tá Phạm Văn Sơn — (1915-1979, Trại Tù Cải tạo Tân Lập, tỉnh Vĩnh Phú), Trưởng Khối Quân Sử, Phòng Nghiên Cứu — đứng đầu. Khoảng trống này sẽ giúp người Cộng Sản trở thành bá chủ trong Bộ Môn Quân sử sau 1975, một thực tế mà các sĩ quan sử gia/ Khối Quân sử VNCH sống sót như Tạ Chí Đại Trường phải đối đầu. Khối Quân sử VNCH đã xuất bản nhiều tác phẩm về cuộc chiến tranh 1954-1975. Tôi may mắn giữ được 1 bản về cuộc Tổng Công kích Mậu Thân thất bại của Miền Bắc vào Miền Nam. Cho tới nay, Một khoảnh Việt Nam Cộng Hòa nối dài, cuốn sử ký lưu lại khoảng đời tù ngục hình như vẫn chưa xuất bản tại Việt Nam (?). Nếu đời tù của ông chấm dứt vào năm 1981, thái độ chống lại Chủ nghĩa Cộng sản cũng bắt đầu kết tinh bằng thời điểm ấy. Không chỉ bằng tác phẩm hậu-1975, ông đã bầy tỏ công khai căn cước quân nhân bằng lá thư ngỏ “Đề nghị Quốc hội Việt Nam công nhận Nghĩa trang Quân đội Việt Nam Cộng Hoà là Chứng tích Lịch sử Quốc gia” khi tự nhận “Cựu sĩ quan Quân lực Việt Nam Cộng hoà” trước tư cách “sử gia” trong trường hợp này:
-Westminster ngày 4 tháng 5 năm 2010
Đề nghị Quốc hội Việt Nam công nhận Nghĩa trang Quân đội Việt Nam Cộng hoà là Chứng tích Lịch sử Quốc gia.
Lí do:
Đây là một tồn tại lịch sử từ một vùng đất (nửa nước), một thời gian (20 năm) có công nhận quốc tế. (Bằng lòng hay không thì cũng đã có một “quốc tế” bao gồm những nước công nhận Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam hiện tại.)
Là một dấu tích lịch sử như những dấu tích khác đang được Nhà nước CHXHCN Việt Nam sử dụng: Dinh Norodom / Dinh Độc lập / Dinh Thống nhất… đã được sắp vào hạng 10 trong 10 di tích, chưa kể Toà Đô chánh Sài Gòn / Trụ sở Uỷ ban Hành chính Tp. Hồ Chí Minh, hay các xây cất mang chức năng hiện đại ở các vùng, thành phố thuộc Việt Nam Cộng hòa cũ…
Đây cũng là tưởng niệm duy nhất còn lại của một phía về những người lính, người Việt Nam, đã chết trong chiến tranh – tuy nhỏ nhoi, ít ỏi hơn những nghĩa trang liệt sĩ của phe thắng trận đang đứng chân hàng hàng lớp lớp trên đất nước Việt Nam.
Sự công nhận này là một hành động văn minh học được của thế giới ngày nay như khi công nhận, bảo trì Mĩ Sơn của người Chàm, khu phố Hội An gốc của người Hoa và người Nhật, cũng như trở lại giữ gìn thành trì lăng tẩm họ Nguyễn có lần đã bị bỏ luống, tàn phá, trở lại tiếp nối hành động văn minh của triều Nguyễn khi cho người coi sóc lăng tẩm các vua Lê…
Lời đề nghị có ngày tháng nên trước tiên là với Quốc hội CHXHCN Việt Nam hiện nay. Vì quan niệm chế độ nào rồi cũng qua, chỉ có đất nước là tồn tại nên lời ghi “Quốc hội Việt Nam” là để dành cho những lần mai sau liên tiếp một khi yêu cầu chưa được thỏa mãn.
Tạ Chí Đại Trường
Cựu sĩ quan Quân lực Việt Nam Cộng hòa
Sử gia[Đăng ngày 8. 5. 2010 – Talawas Blog- Nhà văn Phạm Thị Hoài chủ trương, https://www.talawas.org/20049/]
Ông kèm thêm tin tức cập nhật về Nghĩa trang Biên Hòa và một viễn tượng bi quan nếu nhà cầm quyền không bảo vệ di tích này:
–Lời bên lề
Nghĩa trang Biên Hoà nay gọi là Nghĩa trang Bình An, thuộc quyền quản lí của Uỷ ban Hành chính huyện Dĩ An, tỉnh Bình Dương. Từ việc Chính phủ CHXHCN Việt Nam chuyển quyền quản lí từ quân đội sang bộ phận hành chính, có người, cả trong nước, đã coi như một cử chỉ hoà giải để địa điểm khỏi bị xoá vết tích như trường hợp Nghĩa trang Gò Vấp. Tuy nhiên vấn đề vẫn dẫn tới những nguy cơ tuyệt tích khác. Những người có liên hệ đến Nghĩa trang mà ít phải dè dặt thường là ở ngoại quốc, nay cũng đã già rơi rụng, lớp người nối tiếp hẳn rồi cũng phải chật vật bon chen trong cuộc sống với căn cước mới, không thể quan tâm lâu dài đến những mồ mả hoang vắng ở một nơi nào đã trở thành xa lạ với họ. Mặt khác, sự phát triển kinh tế sẽ khiến cho dân chúng xâm phạm mồ mả, cất nhà, kinh doanh trên ấy để rồi gặp một chính quyền địa phương có “sai lầm về nhận thức” sẽ ra lệnh tịch thu, tiếp tục sự phát triển dành cho Nhà / nước mình. Phải là người tại chỗ, một quyền bính tại chỗ có cam kết ở bậc cao nhất mới may ra còn hi vọng níu kéo sự tồn tại của nó. Vì thế mới nảy sinh lời đề nghị trên. Và vì đề nghị – có thể mang sơ sót về văn từ, ý tưởng, nhưng là có đối tượng cụ thể (Nghĩa trang Biên Hoà và Quốc hội Việt Nam), nhắm vào một mục tiêu chưa thấy khả năng thực hiện nên chúng tôi sẽ không quan tâm đến những bàn tán, theo hay chống, đến từ bên ngoài. Xin cáo lỗi trước. [Tạ Chí Đại Trường, sđd]
Ông rời Miền Nam ngày 2 tháng 8. 1994, sang tiểu bang Oklahoma, Hoa Kỳ. Lời Đề nghị này ký vào tháng 5, năm 2010. Như thế, hơn 15 năm sau, ông vẫn đồng hành với những đồng đội bị truy diệt tới cả nơi an nghỉ. Lúc ấy, tôi còn nhớ đã đọc bản đề nghị này trên một tờ báo chợ trong một quán ăn đông đảo người qua người lại. Buổi chiều không nóng nhưng hơi oi bức. Mấy chữ “Cựu sĩ quan Quân lực Việt Nam Cộng hòa” nhẩy khỏi trang báo, khiến tôi phải đọc lại vài lần. Người bạn mang cho cả nhóm xem, trầm ngâm: “Viết thế này không biết họ có đọc không? Họ có làm gì không. Chắc là không.” Ai cũng hiểu “họ” ở đây là những người nắm quyền tại Việt Nam.
Ø Tác giả và tác phẩm: một khoảnh tự do nối dài bằng một khoảnh tù ngục
Tạ Chí Đại Trường, Một khoảnh Việt nam Cộng hòa nối dài
Bìa Đinh Cường-Thanh Văn xuất bản, 1993, California
Tạ Chí Đại Trường cao dong dỏng, vẻ khắc khổ vì nụ cười âm thầm dù rất tươi, lông mày lưỡi mác, miệng rộng, có sôi nổi đến đâu cũng chờ đến phiên mình, không cướp lời bạn hữu. Ông viết cay, cái cay của một lối châm biếm hơi lộ, mà nói cũng cay không kém. Ông từng tặng tôi mấy chữ “Đồ Bắc kì răng đen mã tấu” sau khi tôi có loạt bài phản đối một số phát biểu của ông về sinh hoạt chính trị, văn nghệ của người tỵ nạn tại California. Chưa hết, không những phạm húy ông, tôi còn một loạt bài phạm húy vài người trong nhóm bạn thân ông. Tôi gửi lời nhắn, Cảm ơn lời khen, nhưng “Mã tấu thì có. Răng đen thì không”. Tại sao lại là “lời khen”? Nói cho công bằng, ông không tin nhà thơ (chủ nhiệm Viên Linh), hay bất kỳ ông nào, viết thay hay đưa ý cho tôi khi những lời bàn tán của người khác đến tai liên quan đến các bài này. Ông đã biết Viên Linh từ Sài Gòn, sang đây lại đọc Khởi Hành thường xuyên (có lần đã trích dẫn một bài viết từ Khởi Hành) nên chẳng bao giờ nghi hoặc về trách nhiệm của tôi. Từng sinh hoạt trong sinh hoạt báo chí Miền Nam– mà ngày nay Trần Phong Giao (Thư ký Tòa soạn tạp chí Văn) và Viên Linh (Thư ký Tòa soạn tạp chí Nghệ Thuật và Khởi Hành-Sài Gòn) thường được nhắc đến– ông đủ tinh tế để phán đoán và thừa kinh nghiệm để tránh lỗi của một người chưa bao giờ lai vãng đến nền văn học ấy hoặc/và vẫn bó mình vào ngõ cụt của những nhóm đoàn văn nghệ.
Ông còn biết đến tôi qua 1 việc không tình cờ: Cùng có bài trên Xưa Nay, tạp chí “Chuyên đề về Lịch sử Việt Nam của Hội Khoa Học Lịch sử Việt Nam”. Bài “Phan Khôi dịch Kinh Thánh Tin lành như thế nào” của tôi được chọn đăng thành 2 kỳ trên các số 429 và 430 vào tháng 6. 2013. Tên của bài còn được là 1 trong 2 bài ra bìa số 429, một hân hạnh khác 1. Ngay sau đó, bài “Y Khoa và Sử Việt: một gói viện trợ bội thực” của Tạ Chí Đại Trường xuất hiện trên Xưa Nay số 431 vào tháng 7.2013 2. Trước đó, 2 bài về “Tự Lực Văn Đoàn và thái độ với vấn đề Nữ quyền” của tôi được chọn đăng trên Xưa Nay số 411 và 412, tháng 9. 2012. Họ cũng đã đăng bài của ông ít nhất từ năm 2005. Theo tin tức của ông, sử gia/Tổng Biên tập Dương Trung Quốc đã có bài “Thần, người và đất Việt, một quyển sách cần được tái bản” trên Xưa Nay số 238 (6. 2005). Ông đặt mua nhiều tạp chí văn học và nghiên cứu từ Việt Nam và còn từng chỉ trích nhiều sử gia trong và ngoài nước, trước và sau 1975, nên phải nhận ra việc cho đăng các nghiên cứu, nhất là nghiên cứu từ hải ngoại, không là một sự hên xui may rủi nếu từ một Tổng Biên tập và ban chủ trương có chân tài và viễn kiến 3.
Thật ra, các cao thủ đều nhận ngay được loại vũ khí (mã tấu hay ám khí) và đường quyền (có dẫn chứng và dẫn chứng ra sao) của lẫn nhau. Sau khi có lời đính chính về việc “mã tấu răng đen”, tôi được nhận Một khoảnh Việt Nam Cộng Hòa nối dài từ một người bạn ông, tuy bên trong không có chữ ký lưu bút của tác giả. Bìa sách có thêm 4 chữ TẠ CHÍ ĐẠI TRƯỜNG đóng bằng dấu đỏ lên bìa rồi lên cả trang 1 và bìa 4 (bìa sau). Theo tôi, đây là một trong những tác phẩm đặc biệt vì đó là cuốn sử mà ông viết khi đang tham dự, khác những tác phẩm có nguồn từ quá khứ. Ông không phải là người cầm bút Miền Nam duy nhất ngưng cầm viết chỉ vì tù đầy. Bởi thế, nhận xét sau đây của nhà phê bình Trần Doãn Nho làm tôi hơi ngạc nhiên:
… Chẳng thế mà, trong lúc hầu hết những anh em đi ở tù về, thường tránh chuyện viết lách, anh vẫn tiếp tục nghiên cứu, vẫn viết và gửi ra hải ngoại để xuất bản… [Trần Doãn Nho, “Tạ Chí Đại Trường: Miên man chữ nghĩa”, Da Màu, ngày 12.4.2016- https://damau.org/41963/ta-chi-dai-truong-mien-man-chu-nghia]
Lời nhận xét trên trở thành một thứ khen Phò mã tốt áo một cách vô tình. Thời đó, Phò mã Miền Nam nào mà không tốt áo nếu chỉ căn cứ trên mấy tiêu chuẩn “vẫn viết và gửi ra hải ngoại…”? Hoàng Hải Thủy không những “viết” mà còn bị bắt giam vì tội gửi ra ngoại quốc. Doãn Quốc Sỹ, dưới bút hiệu Hồ Khanh, bị bắt vì cùng tội danh. Trần Tam Tiệp bị xử khiếm diện dù đang ở …Pháp. Thanh Tâm Tuyền cũng xuất hiện dưới 1 bút danh khác (Trần Kha), nhưng Văn Quang đáng được phong là Chưởng môn. Sau mươi năm tù, được thả ra, vẫn tiếp tục viết lách ròng rã, viết lách công khai, viết lách chính thức, rồi đem phân phát tứ phương đến nỗi bị quý Công An vào nhà lục soát, tịch thu đồ nghề và tịch thu luôn tiền nhuận bút kiếm được. Sau nữa, Tạ Chí Đại Trường không hề có chủ ý “gửi ra hải ngoại để xuất bản” trừ một quyển (hình như là Việt Nam, nhìn từ bên trong) ngoài nỗi khao khát được chia sẻ khám phá mới, nhu cầu tự nhiên của khoa nghiên cứu. Ông đã khẳng định “Lại cũng không nghĩ rằng có thể xuất bản, cần xuất bản…” hoặc trình bày về hoàn cảnh sáng tác của chính ông, của thân hữu đoạn giải thích lý do tác phẩm có mặt tại ngoại quốc trong phần “Đôi lời phân trần” khi cuốn Thần, người và đất Việt được tái bản tại Hoa Kỳ:
… Những năm vào trại cải tạo giúp chúng tôi có thực tế để suy ngẫm về những gì vừa xảy ra, đang xảy ra trước mắt mà không bị tràn ngập bởi sách vở trùng trùng lẫn tiếng la hét đe doạ của những tay thư lại mới, bởi sức nặng kiến thức của các học giả Tây Phương thừa phương tiện và đầy uy tín quốc tế (…) Vậy là bắt tay vào việc, bắt đầu “làm việc” sau những giờ làm việc mệt nhọc hay thời gian trống rỗng ngồi cà-phê-ghế dựa lưng vào tường nhìn người, xe qua lại hỗn độn sát mặt. Bây giờ ngồi nghĩ lại, chẳng hiểu tại sao đã có những ý nghĩ như đã được viết ra. Đúng là có sự tích tụ của kiến thức cũ từ nhà trường, trong sách vở, ngoài hiện trường. Nhưng trong sâu thẳm hẳn là có sự phản kháng với thân phận mình trong cơn lốc lịch sử, với đám học giả núp bóng quyền uy chính trị, ngang ngược trước mắt (…) Tại sao lại là “bản mới” trong lúc chẳng có gì mới hơn? Đã nói, không phải là một lời phân trần nhưng tập sách viết vào lúc ấy, ngoài cái hoàn cảnh chung ai cũng biết, còn có những điều riêng mà nay mới có dịp chấn chỉnh lại. Viết sau những giờ lăn gỗ, xúc bột giấy, theo xe áp tải ngơ ngơ không biết hối lộ để anh chàng công an đuổi: “Đi cho được việc!” Viết trong thời gian chưa có điện Trị An, ngọn đèn 60w trở thành đèn ngủ đành đánh một giấc, đổi giờ làm việc thành nửa khuya về sáng. Viết vào lúc không mong gì xuất bản, chỉ để tuôn ra ý tưởng thấy là mới mẻ, đánh máy trên giấy rơm đen điu, rồi chuyền cho bạn bè người quen đọc, chưa kịp thấy nỗi nguy hiểm của cách phát biểu “chui” như thế. Một bản liều lĩnh đi ra nước ngoài – cũng chỉ mong người quen đọc – được hỏi: “Đăng không? Muốn kí biệt hiệu gì?” –“Chữ nghĩa chính quy, ai lại phải cần giấu giếm!” Trả lời thí-mạng-cùi trong lúc chưa biết đến cái án mươi năm của Doãn Quốc Sỹ – Hồ Khanh… [Tạ Chí Đại Trường, “Đôi lời phân trần”, Thần, người và đất Việt–Bản mới, Văn Học tái bản-1999; Kệ Sách eBook Publishing Center, 2011, Hoa Kỳ]
Trần Doãn Nho còn có thêm nhận xét:
… Về viết lách, TCĐT có một giọng văn riêng, phải nói là rất riêng, khó lẫn với những nhà viết sử khác. Dùng lại một chữ của anh, văn sử. Viết sử như văn. Đúng hơn, phải nói là anh viết sử trong tâm thế của một nhà văn. Và viết văn trong tinh thần của một người nghiên cứu sử (…) Sử trong văn, văn trong sử, một vận dụng đặc thù của TCĐT. Không biết có phải do vậy không mà nói chung, đọc TCĐT tưởng dễ, nhưng lại không dễ. Sách và các bài viết của anh không thể đọc ngay, đọc hết một lần. Thích lắm mới đọc được. Mà có đọc thì đọc nhẩn nha, không thể vội. Với tôi, vì thích, tôi ráng đọc, nhưng phần nào chuyên môn quá, tôi đành bỏ qua. Đọc TCĐT vừa như đọc một câu chuyện kể, lại vừa như đọc một bài nghiên cứu… [Trần Doãn Nho, sđd.]
Về cách dụng văn của ông, thì mượn lời Tạ Chí Đại Trường: “bá nhân bá bao tử” hay mượn lời bà-mẹ-quê-của tôi: “nhân tâm tùy mạng mỡ”, nhưng về “tưởng dễ nhưng lại không dễ…”, thì là một độc giả, tôi muốn nới rộng hơn một chút, ra khỏi lời bàn-Trần Doãn Nho. Tạ Chí Đại Trường, như các sử gia khác, đang viết sử chứ có phải chuyện diễm tình đâu mà ước “đọc ngay, đọc hết một lần” như mì-ăn-liền được. Trong số tác phẩm của ông, có 2 tác phẩm hoàn chỉnh từ luận án Cao học và Tiến sĩ trước 1975. Tuy thế, cho rằng đọc ông “khó” vì …hàn lâm hay “không dễ” vì “Sử trong văn, văn trong sử, một vận dụng đặc thù của TCĐT” (Trần Doãn Nho, sđd) cũng chưa hẳn chính xác. Hãy đọc đoạn rất dễ hiểu sau đây từ bài “Gresham trong Sử học” để trước hết, xem ông tường thuật về đồng hương chuyên đọc báo chợ đặng kiếm thợ sửa xe, thợ may, thợ uốn tóc, thợ sửa ống nước vv.; đoạn xem ông đánh giá đồng bào lãnh trợ cấp oen-phe/welfare mà dám tập tễnh đòi làm sử gia ra sao. Sau nữa, để xem ông viết như-thế-nào:
… Hãy nghĩ nếu trước kia một nhà in nhỏ với khoảng ba phòng lớn chứa mươi lăm thợ sắp chữ, anh thầy cò, thợ in report, phơi bảng kẽm in ốpxét với máy móc so với thời di tản có sẵn một bộ phận sắp chữ trong computer, cái hộp in với mấy dây điện làng nhàng, tất cả để vừa trên bàn giấy mà đủ in khoảng 500 bản cho một đầu sách – số bản in sách khoa học xã hội cho 70 triệu dân trong nước – thì hẳn có tuyệt đối số người Việt lưu vong đi làm rồi chờ weekend, thấy tháng ngày đều đặn nhàm chán đến nỗi hai bà công nhân cùng line nhìn nhau riết đâm đổ khùng làm náo loạn cả sở: “Nó nhếch mép chọc giận tui!” “Nó chửi thầm tui!” Vậy là có sách báo để ông bạn ham đọc ôm vào sở nghe các đồng sự ngoại quốc nhăn mặt: “Sao mày chịu khó đọc các quảng cáo vậy?”. Ngày xưa ông học giả văn-học-sử-Hai-Bà-Trưng chỉ đủ xuất hiện ở một phần trang tư báo Chính Luận, còn bản thảo vẫn nằm trong cặp và hình như gần đây ông lại la cà nơi các bàn đánh máy mướn bày ra thời đổi mới. Trên đất Mỹ nhờ sự thuận tiện in ấn đã nói và tiền oen-phe, các loại sử viết bằng cái tâm – nồng nhiệt tin tưởng có, ôn ào hung hăng cũng không thiếu – đã phô bày trên kệ sách. Tâm tình lưu vong vốn nhạy cảm vì tác động của những biến cố kinh hoàng hay thê thảm mới xảy ra ngay trong đời đương sự. Bởi vậy khi nghe nói “viết bằng cái tâm” thì không ai dám cãi. Phiền một nỗi cái tâm đáng khen của cá nhân ấy lại muốn trở thành chân lí và tích tụ lại thành chân lí thật… [Tạ Chí Đại Trường, “Gresham trong sử học”, Văn Học số 125, trang 16, Tháng 9.1996]
Riêng vấn đề in ấn, không phải cứ có tiền oen-phe là in và bán được sách như chính Tạ Chí Đại Trường sẽ kinh nghiệm hoàn cảnh in ấn mà ông có dịp nhận xét. Văn học hải ngoại là một nền văn học tự do đúng nghĩa: có cầu mới có cung. Ngay từ đầu, tại hải ngoại, tác phẩm của ông ra mắt độc giả Hoa Kỳ hầu hết là nhờ tri kỷ (Nhà Xuất bản Văn Nghệ hay Thanh Văn), sách không bán được nhiều; sau này, ông nhờ mối quen biết với tay nghề Phùng Nguyễn đặng cho hết lên mạng Kệ Sách:
… Tại sao lại là “Bản mới”? Bản cũ in ra năm 1989 từ lúc chúng tôi còn ở trong nước, theo lời Nhà xuất bản Văn Nghệ, vẫn còn chất đầy kho, trong garage của ông chủ và bạn bè… [Tạ Chí Đại Trường, Thần, người và đất Việt, sđd]
Sau nữa, tôi vẫn nghĩ chuyện khó hay dễ (đọc) là tùy độc giả có lưu tâm về chủ đề hay tác giả nào đó hay không. Người ta đã muốn đọc thì… Đọc nhau tam tứ núi cũng trèo/Thất bát sông cũng lội/Cửu thập đèo cũng qua. Mà đã không muốn đọc thì thiếu gì cách đóng cửa từ quan? Việc đọc sách khác gì việc nghe nhạc? Với tôi, một người mù nhạc, không có nhạc nào quý phái không có nhạc nào nhạc sến; không sách nào khó đọc không sách nào dễ đọc. Tôi chỉ tránh không đọc những bài đầy-chữ-Hán Nôm không cần thiết (sở trường của các ông đồ nho tân thời) hoặc lũ lượt lê thê bóng bẩy (sở trường của Trường phái “Cao đơn hườn tán”) hoặc có những tin tức động trời mà không kèm dẫn chứng (sở trường của Trường phái Vô tội vạ) mà rút cuộc, vẫn không học được điều gì. Có phải Trần Doãn Nho cố đọc Tạ Chí Đại Trường? Có phải chính Tạ Chí Đại Trường đã nói ông chưa đọc Mémoires d’outre-tombe của François-René de Chateaubriand? Rõ ràng hơn, ông không ngại chỉ vào chính mình:
… Còn đã có đối tượng, ở đây là lịch sử, thì nếu có ai không thích thú lại phải tìm khuyết điểm ngay từ đối tượng ấy, từ những bài viết có gợi được sự tò mò của người đọc không, hay chỉ là sự lặp lại dửng dưng vô cảm?… [“Tạ Chí Đại Trường trả lời phỏng vấn của Nhã Nam”, Dương Thanh Hoài, Nhà Xuất bản Nhã Nam thực hiện, Ngày 30. 5. 2007- Sử Việt, Đọc vài quyển, Văn Mới tái bản, 2004- VietMessenger https://vietmessenger.com/books/?title=su%20viet%20doc%20vai%20quyen&page=13
Talawas Blog- https://www.talawas.org/26278/ ]
Xin báo động trước, rằng Một khoảnh Việt nam Cộng hòa nối dài cũng không dễ đọc vì sách dài 434 trang mà trang nào cũng kín những chữ là chữ, lại viết theo kiểu lan man, liên miên, nhớ đâu viết đó, biến cố này kéo sang biến cố kia, bao nhiêu thứ biến cố nêm chặt 6 năm tù. Tác giả cũng đôi khi không văn vẻ chi lắm như từng chỉ đích danh một anh họa sĩ Trẻ giờ đã “sồn sồn”, một cậu thi sĩ “cà lăm”.
Ông trải qua 6 năm bị giam cầm, từ đầu tháng 6. 1975 tới ngày 10.6.1981. Ông nhập cư Hoa Kỳ vào năm 1994, trở về Việt Nam dưỡng bệnh vào tháng 10. 2015 rồi qua đời vào tháng 3.2016.
1.2 Một khoảnh Việt Nam Cộng Hòa nối dài: Sử ký của sáu năm “chẳng giống con giáp nào hết” …
Tôi chọn Một khoảnh Việt Nam Cộng Hòa nối dài hầu cho thấy, qua các đoạn trích dẫn, tác già cho độc giả thấy nhiều khía cạnh của đời sống “chẳng giống con giáp nào hết” của dân Miền Nam qua 6 năm tù của chính ông. Tác phẩm này do Thanh Văn xuất bản (có lẽ là bản giấy in duy nhất?), 434 trang, vào năm 1993. Tôi sẽ gọi bản này là Bản Thanh Văn 1993 khi cần. Mới đây, khoảng cuối năm 2023, bản mà tôi tìm được, trình bày trong dạng một cuốn sách, là bản trên mạng vào năm 2012 do Kệ sách ebook Publishing Center và Smashwords phát hành, với thêm hai chữ “Sử ký”, 261 trang, xuất hiện ngay dưới tên tác giả và tác phẩm. Tổ chức này do Phùng Nguyễn lập:
– Sáng lập và xây dựng Thư viện Kệ Sách eBook (kesach.org). Đưa kesach.org vào sinh hoạt từ tháng 5, 2008. Cho đến nay đã xuất bản và ấn hành miễn phí hơn 150 tác phẩm văn chương tiếng Việt trong dạng ebooks trên các hệ thống ấn hành ebook Scribd.com và Smashwords.com. [https://damau.org/author/phungnguyen]
Như vậy, tôi có thể tin rằng đây là bản chính thức được tác giả xếp loại, hiệu đính và giữ bản quyền. So với Bản Thanh Văn 1993 (do Thanh Văn giữ bản quyền), Bản Kệ Sách 2012 (do tác giả giữ bản quyền) mở đầu bằng lời chính tác giả giải thích về hành trình soạn thảo gồm đầy đủ ngày tháng, hầu hiệu đính bản 1993. Cũng theo tác giả, Bản Thanh Văn 1993 đã được ấn hành tại hải ngoại mà không có sự hay biết của ông dù không e ngại hậu quả. Lời giải thích này được ông đặt tên “Kể lại chuyện trước năm 2000” khi hiệu đính vào năm 2012. Tôi xin mạn phép được dẫn toàn bản sơ lược hành trình 20 năm của cuốn Sử ký này từ lần phổ biến lần thứ nhất đến lần phổ biến thứ hai (một thứ phép lạ trong hoàn cảnh ngặt nghèo của tác giả):
-Viết như trên không phải để lân la làm quen với một tác giả nổi tiếng trong ngoài nước về quyển sách ghi lại kinh nghiệm tù đày của ông ta ở các trại Miền Bắc (Chuyện kể năm 2000, Bùi Ngọc Tấn, Hà Nội.) Tác giả nổi tiếng vì là con dân của chế độ hiện hành nên sách dù sao cũng đã được in ra cho 80 triệu người với chuyện lạ dễ gợi tò mò, lại vì hành động “phản động” đó đã gây ra phản ứng với cơ quan công quyền trong nước và sự hưởng ứng nồng nhiệt bốc cao của những người chống Cộng thường dễ dàng ca tụng những xuất hiện như thế. Tuy nhiên dù sao thì mượn một chuyện kể tương tự để nói chuyện mình, chuyện của những chuẩn công dân hạng nhì trong giai đoạn đổi thay quyền lực, nghĩ cũng là một cơ hội làm sáng tỏ thêm một thời đại từ nhiều phía, có hại gì đâu! Nguyên, cũng giống như người viết bài bạt đăng trên bìa 4 quyển sách in năm 1993, chúng tôi đã có ý nghĩ dùng những kinh nghiệm tù đày như một tài liệu lịch sử, thói quen của những người muốn viết sử mà không muốn chép lại lời người khác khi có dịp, như dịp này: biến động sụp đổ của Việt Nam Cộng Hòa và tác động đến một thành phần của nó, trong đó có chúng tôi. Trong thư viết cho Giáo sư Nguyễn Thế Anh khi ra tù, nói về việc đang làm, có câu ‘Biến động lớn quá, không ghi cũng uổng.’ Trong trại, không thể ghi chép và lưu giữ được chút gì, chỉ còn lại ý định ngay từ đầu làm khởi điểm nên trí nhớ là chỗ cất chứa duy nhất. Và vì thể không xa khi về nhà, chúng tôi bắt đầu làm việc ngay, cứ sợ để lâu ngày quên mất! Chính vì thế mà không cần câu cái, văn từ, cứ viết theo những gì mình cho là còn nhớ. Lại cũng không nghĩ rằng có thể xuất bản, cần xuất bản. Trong cuộc sống co rút của mình, chúng tôi không hề biết có những hồi kí cải tạo làm xôn xao bên kia bờ đại dương. Chưa kể những điều viết ra, vì mục đích ghi sự kiện, có thể đụng chạm đến những người còn sống, bạn bè quen thuộc đã đành mà còn có những người có danh vọng trong thời đại cũ, nổi bật so với đời sống ẩn khuất của chúng tôi. Lại còn về phía chính quyền đương đại, cách thức nhận xét của chúng tôi hẳn không thể làm họ bằng lòng nhất là khi họ đang được tung hô, những lời tung hô chưa bị những biến động tiếp sau 1975 làm họ nhụt ý thức kiêu căng mà chiến thắng, mà quyền bính thì còn thừa đủ để trút lên đầu những cá nhân “tội phạm” lẻ tẻ vừa tạm thoát khỏi vòng tay của nhà tù. Một đời người thì ngắn so với biến chuyển lịch sử cho nên đã có ý nghĩ để những điều ghi lại là một Mémoires d’Outre-tombe, mượn ý của ông văn sĩ Tây, chưa đọc! Xin những người cùng “phe” theo với sự tình cờ của lịch sử chớ coi đó là một biểu hiện bi quan. Kravchenko, người đầu tiên tố cáo chế độ Xô-viết Nga trong những ghi chép, kiện tụng lẫy lừng trước Thế chiến II vẫn không ngăn được phong trào cộng sản thế giới hàng hàng lớp lớp, cuối cùng phải tự tử (1946) khi Liên Xô mang sức mạnh chiến thắng quân sự phù trợ cho chính nghĩa diệt trừ phát xít nổi bật lên như một chứng minh hùng hồn ngược lại. Ông không thể đợi sống đến nửa thế kỉ sau. Trong tình hình suy nghĩ và hiểu biết cá nhân như thế thì tập hồi kí tuy có được đánh máy cho thoát khỏi tình trạng giấy rơm đen điu cũng không được chú tâm nhiều. Gởi qua Mĩ trong lúc biết mình sắp ra đi cũng không ngờ người quen biết đem ra phổ biến. Không có gì phải trách để phụ các tấm lòng ưu ái đó. Không có gì hối hận vì sợ hãi khi nó được in. Chuyện kí tên thật trên các chữ nghĩa viết ra đã được xác định từ lâu. Có điều vì sự lạo thảo đã kể mà bản in có quá nhiều điều không được ưng ý. Bây giờ ngồi chép lại, chắc vẫn không khỏi thiếu sót, nhưng hãy cứ coi như thêm một giai đoạn sửa chữa. Sửa chữa không đánh mất những suy nghĩ cũ, dù đến bây giờ thấy có sai sót, thấy vụng về. Chuyện của một tập thể nhìn từ một cá nhân, tính chất của một hồi kí đã đủ phân trần về sự thiếu sót kia trong khi vẫn giữ được tính cách nhân chứng lịch sử dành cho người khác, cho người sau nhận xét. Chúng tôi chỉ sửa chữ, kể cả những chữ sai sót vì người in không hiểu ý, nhưng như đã nói, không để sai lạc ý tưởng ban đầu. Lúc viết vì ngại ngùng đã ghi tắt các tên người, nay được chỉ thẳng ra, trừ một vài tên thấy không cần thiết, không nhớ được. Các cá nhân được đề cập nay có người vẫn còn sống, lại thêm danh vọng ở hải ngoại nữa, hẳn có chút ngứa mắt không bằng lòng tuy người viết rõ ràng đã ráng chỉ làm việc ghi chép, không thiên lệch. Nên, xin thưa: Lịch sử nay đã định hình, ân oán giang hồ tuy vẫn còn đấy nhưng ba mươi năm trôi qua rồi, tập sách dự định làm một tài liệu lịch sử nay đã có vị trí đúng của nó, ít ra là trong tính cách một vật nằm ở góc tủ nào đó chờ người đến phủi bụi đi tìm thời gian đã mất. Nên, xin chớ giận hờn làm chi. Chép lại sách cũ, có hứng cũng ghi thêm vài dòng nhỏ mới, đã cẩn thận không bỏ qua thời điểm “2004” để khỏi lẫn lộn. Việc làm, nhìn kĩ lại thì cũng chỉ vì mình, vì chút ý thích cá nhân, thấy cũng hơi ích kỉ. Nên, để đỡ ân hận, trong lời đề tặng có thêm một chứng tích về tình trạng nghĩ là post-traumatic syndrome của người đồng cảnh cùng chia xẻ với mình trong những cơn mơ nơi xứ cho đến bây giờ vẫn còn không biết là lạ hay quen mà vẫn phải chấp nhận nó.
Hãy cứ coi là xong lúc 8:06 ngày 8-1-2005 ở Westminster, California, USA.
Ngày 21-9-2004, bắt đầu chép lại trên bản in 1993 của Thanh văn xuất bản.
Ngày 8 tháng Mười hai 2004: dự định làm đề từ cho bản chép lại này.
Ngày 14-3-2005, về SàiGòn tìm lại bản thảo cũ, không thấy bản đánh máy, chỉ có bản viết tay, nửa phần trên giấy rơm đen, nửa phần trên mặt trái giấy pelure đã đánh máy bản Luận án Tiến sĩ dở dang (thiếu giấy quá mà!), định so sánh xem có gì thiếu sót để chấn chỉnh lại, cũng vẫn giữ ý định không làm sai ý nghĩ ban đầu. Chắc cũng không làm việc so sánh đầy đủ vì hơi làm biếng, vả lại cũng không cần thiết phải chi li đến như thế. Thấy tiêu đề sách, ghi tháng 8-81 là “Mémoires d’outre-tombe… nối dài”, Prélude – chắc cho chương đầu. Lúc đánh máy đã khác với lúc viết tay vì thấy bản viết tay dư nhiều đoạn không chắc người biên tập ở Mĩ có thì giờ sửa gọn như đã xuất hiện. Dòng chữ Một khoảnh VNCH nối dài có mặt bên trong bản thảo, không biết đã nghĩ ra để dùng làm tên sách từ lúc ấy không. Nhan đề có lẽ gợi từ tên lạ lùng của những con đường Sài Gòn lúc mới đến năm 1955 như: Rue Richau Prolongée (Phan Đình Phùng / Nguyễn Đình Chiểu). Đùa bỡn cũng có cái hay là khiến người ta nhớ dai nên thấy trên một tờ báo ở Úc có một tên khác: “Một khoảnh Liên Xô nối dài”, hay “Một khoảnh VNCH nối dài” dùng cho loại văn nghệ hải ngoại, cả những thứ “nối dài” mơ hồ nào đó chắc có bà con thân thuộc. [Tạ Chí Đại Trường, Một khoảnh Việt Nam Cộng Hòa nối dài -Sử ký, “Kể lại chuyện trước năm 2000”, trang 3-4, Thư viện Kệ Sách eBook phát hành trên Mạng, 2012. Tác giả giữ bản quyền * Những chữ in đậm, có gạch dưới hay in ngả là theo nguyên bản]
Mở đầu là “Lời đề tặng” gợi lại kỷ niệm trong tù ngoài tù:
-Tặng anh bạn xích lô trên đường phố Sài Gòn một hôm nào đó, đạp xe chồm tới: “Ê, Trường, mạnh giỏi?” Không lúc nào nhớ tên anh nhưng biết vì sao anh quen tôi, nhớ đến tôi. Và tôi cũng đã quen anh, nhớ đến anh. Lại anh bạn cùng nghiệp “cu li” nằm đêm ở Mĩ (năm 2000), kêu khóc: “Sao tới bây giờ mà cũng vẫn chưa về?” để bà vợ thúc cùi chỏ đánh thức dậy! [Tạ Chí Đại Trường, sđd]
Bản sử ký này còn chứng thực một điều mà khi viết đến đây, tôi mới nhận thấy một cách sâu sắc: Sở dĩ Phùng Nguyễn được Tạ Chí Đại Trường tin cậy giao cho bản thảo Để ở đâu rồi biến thành di cảo vì mối giao tình mà quyển sử ký Một khoảnh Việt Nam Cộng Hòa nối dài chứng minh ngay từ năm 2012. Đôi bạn vong niên này đã gặp nhau ở chỗ chống Cộng kịch liệt. Phùng Nguyễn đã giúp Tạ Chí Đại Trường lấy lại vị trí xứng đáng cho một cuốn sử ký vì, trước hết, Một khoảnh Việt Nam Cộng Hòa nối dài rất chi tiết kèm suy luận hay lý luận của một người đã từng kết thúc luận án Tiến sĩ về Sử học tại Miền Nam. Kiến thức học hỏi ấy khiến ông đẩy một thứ hồi ký cá nhân sang được hồi ký lịch sử “giữ được tính cách nhân chứng lịch sử dành cho người khác, cho người sau nhận xét” như suy tính. Ông nói rất đúng: hơn 30 năm sau khi cuốn sử ký này xuất hiện, một người sau—là tôi –sẽ có dịp nhận xét. Không chỉ nhận xét, tôi sẽ thừa tin tức để kiểm chứng người khác, nếu muốn. Bởi thế, theo tôi, một người có dịp quen hay biết Ngô Thế Vinh, Phùng Nguyễn rồi Tạ Chí Đại Trường, thì việc nhà văn Ngô Thế Vinh cho phổ biến di cảo của Tạ Chí Đại Trường trước Da Màu –một tạp chí trên mạng mà Phùng Nguyễn dự phần sáng lập, nhất là phần kỹ thuật, rồi khổ công góp sức gây dựng cho đến khi qua đời– là điều đáng tiếc, hết sức đáng tiếc. Trong thế giới văn nghệ, những mối giao tình riêng ngoài liên lạc chung, hoặc là một thứ tài liệu ngầm hầu góp phần suy luận phán đoán trong khi nghiên cứu hoặc một thứ kim chỉ nam hướng dẫn hầu khỏi thất thố khi xử sự với một/nhiều nhân vật nào đó.
So với Bản Thanh Văn 1993, Bản Kệ Sách 2012 (và các bản trên mạng) có thêm 1 chương vì tác giả tách Chương “Đi, về, Vào, Ra” thành 2 chương khác nhau. Như vậy bản hiệu đính 2012 có tổng cộng 10 Chương:
-Chương 1: Những ngày đầu và những ngày cuối
-Chương 2: Đi vào quyền sở hữu mới
-Chương 3: Những ngày đầu tiên của các chàng Từ thức ngụy
-Chương 4: Đường về Long Khánh
-Chương 5: “Sài Gòn gần biết là bao”
-Chương 6: Đi, Về, Vào, Ra
-Chương 7: Trong vòng tay “công cụ vô sản chuyên chính”.
[Tác giả cho biết “Bản thảo không có mục này. Ý định cắt là từ 1994 ở Oklahoma City khi nhận được bản in. Để bớt lệch quân bình của quyển sách, đúng với hai giai đoạn ở tù khác nhau. Lúc viết bản thảo, theo đà, quên mất điều này. * Chú thích của Nguyễn Tà Cúc: “Bản in” tức là Bản Thanh Văn 1993]
-Chương 8: K. 3.
-Chương 9: Cánh cửa trại hé mở.
-Chương 10: Đường trở về trần.
Tạ Chí Đại Trường là một quân nhân khoảng hơn 11 năm nên không xa lạ với thế giới quân nhân; mặt khác, khoác áo sinh viên khoảng trên dưới 10 năm nên quen thuộc với sinh hoạt và nhân sự tại đại học. Ông lại có bài hướng về thời sự văn hóa chính trị trên tạp chí Bách Khoa nên có dịp tái kiến nhiều tác giả của Sài Gòn như nhà văn/nhà xã luận Võ Phiến hoặc qua bài đăng như giáo sư Y khoa/nhà nghiên cứu/học giả Trần Ngọc Ninh. Từ vốn đọc nhiều, biết nhiều, nhất là về sử, ông đã hoàn thành một cuốn sử ký chứa hầu hết các sự kiện điển hình trong trại giam Tù Cải Tạo như sẽ dẫn chứng tiếp đây. Một số sự kiện hay chi tiết này sẽ tái xuất hiện trong các tác phẩm sau đó. Hơn thế nữa, điều tôi đặc biệt chú ý là nhiều đoạn ông tường thuật rất chi tiết rồi dẫn giải, bày tỏ cảm tưởng về bao cảnh thăm nuôi khốn khổ của phụ nữ, về những tan vỡ chia lìa giữa vợ và chồng, về người vợ bị hãm hiếp trên đường thăm nuôi chồng hay ngay tại địa phương . Sau này, ông còn sẽ viết về sự tái hiện của chiếc áo dài sau 1975, về những cô gái lấy chồng xa. Tôi không ngạc nhiên khi ông vô tình bầy tỏ về chính mình:
… Những buổi dọn cỏ – trong đó có buổi quá chân bị nạt – tôi đã ôm về các bụi huệ và những loại hoa gì không biết tên. Tôi đã đùa với các bạn: Có một nhân vật hình như của A. Dumas-père nhắn bạn trồng một chậu lan đặt bên cửa sổ để từ cachot anh ta có thể nhìn ngắm như một dấu hiệu níu kéo với cuộc đời bên ngoài. Chẳng biết hình ảnh bi quan tôi đưa ra có gây chút xáo động nào không… [Tạ Chí Đại Trường, Những ngày đầu tiên của các chàng Từ Thức ngụy, sđd, trang 70]
1.3 Sài gòn gần biết là bao- Về đây nắng suốt cả ngày/Trưa không buồn ngủ ngồi say thuốc lào/Sài Gòn gần biết là bao/Mà xa như cả vì sao trên trời/Ngoài sân chiếc lá vàng rơi/Khoanh tay ngồi để sự đời trôi qua… [nhà thơ/sĩ quan biệt phái Tạ Ký (1928-1979), Thơ làm trong trại Tù Cải tạo, Long Khánh]
Với tôi, Một khoảnh Việt Nam Cộng Hòa nối dài vẫn là tác phẩm quan trọng nhất của người lính VNCH Tạ Chí Đại Trường khi ông bị giam và được thả theo cấp bực Đại Úy biệt phái mà, đồng thời, cũng của sử gia Tạ Chí Đại Trường khi ông ghi nhận một phần lịch sử của VNCH qua những năm tù này. Tôi sẽ trích dẫn theo các tiêu đề đã chọn hầu phản ảnh nội dung Một khoảnh Việt Nam Cộng Hòa nối dài nên sẽ không theo thứ tự số trang. Tôi trích dẫn theo Bản Thanh Văn 1993, cộng thêm số trang, hầu độc giả nào có sách tiện theo dõi. Tôi xin thâm tạ VietMessenger đặng mạn phép xin bản số hóa, chỉ xin điều chỉnh cho đúng với Bản Thanh Văn 1993 mà tôi có nên sẽ ghi cả 2 nguồn. Tôi dẫn bản này vì độc giả sẽ đọc được một cách dễ dàng hơn. Đây là một website mà tôi rất tin cậy vì sự chính xác của các bản do họ post lên dù là bản số hóa hay nguyên bản.
https://vietmessenger.com/books/?title=mot%20khoanh%20viet%20nam%20cong%20hoa%20noi%20dai.
1.3.1 Những ngày cuối và những ngày đầu– Nên bắt đầu vào lúc nào? – Cái bắt đầu của một lúc nào mà sau này trong trại người ta gọi bằng những từ ngữ “lúc đứt phim”, “hồi trời sụp”, “khi sập tiệm” …?
Tạ Chí Đại Trường thuật lại một trong những quang cảnh xẩy ra vào “lúc đứt phim” của chính ông, tại Sài gòn:
… Vậy mà lúc radio loan tin Tổng thống Dương Văn Minh loan báo “chờ bàn giao chính quyền”, tôi vẫn bật dậy: “Đầu hàng rồi!” Cả hẻm ồ lên: “Hết chiến tranh!” Giản dị quá. Tôi quay ra chỗ quán cà phê. Độ mươi người lính cảnh sát còn lẩn quẩn ở đấy, hình như cũng chưa biết phải làm thế nào (…) Người ta nói chuyền vào trong hẻm: “Quân giải phóng tới!” Lại lấp ló rồi đứng hẳn giữa trời. Những chiếc xe Jeep còn bảng số vàng trắng cũ từ hai đầu đường dồn ứ trước cổng Tổng nha. Người trên xe nón tai bèo, áo quần đen mặc chẽn, giày bata thể thao hay dép râu. Cờ. Biểu ngữ. Hình ảnh mới: Những người phụ nữ áo ngắn, khô cằn hay sồ sề, lăng xăng nhưng đầy tự tín. Xe vẫn nhích từng bước. Một thanh niên rắn gọn có vẻ chỉ huy, đang ngồi buông thõng chân trên đầu xe, nóng ruột nhảy xuống, bước vài bước nghiêng ngó vào trong. Xe vẫn nhích từng bước. Nhưng hai bên đường dân chúng đã đông hơn. Hai đầu đường đã thông nhưng có người gác. Một thanh niên chạy mobylette ngang qua, áo thun trắng, quần dài da beo biệt kích, bị chận lại nhưng rồi cũng được đi. Lảng vảng đã có vài người đi sâu vào trong xóm, nghiêng ngó dò la. Mọi người đứng nhìn dè dặt. Buổi tối tivi mở ra, một vài người bộ đội lân la đứng ngoài song gỗ, ghé mắt dòm vào rồi được mời ngồi ghế xem “chiếu bóng trong tủ”, không phải lật đật như hồi Tết Mậu thân. Sáng 1-5. Tôi nhập vào đoàn xe, đoàn người, thoạt tiên chẳng định hướng, cứ đến chỗ nào có người ùn lại là quay sang lối khác. Đi ngang qua khu bộ Nội vụ cũ, trong đám người chồm lên tường ngắm kẻ qua đường có một thiếu uý còn mang nguyên bộ quân phục với cặp hoa mai trên cổ áo và huy hiệu hình như là Hành chánh Tài chánh. Nếu không vì một nguyên cớ tự tin nào khác thì anh chàng hoặc là bướng hoặc là ngu ngốc nên cứ dửng dưng bình thản như thế trong lúc người ta cuống cuồng đốt quần áo treillis, đốt giấy tờ cá nhân liên quan đến quân đội, chính quyền vừa qua và lùa huy hiệu, huy chương vào thùng rác. Trên đường Gia Long, trong một thùng rác dưới gốc cây, tôi thấy cả một bộ mạc chược ngà óng ánh. Những nghề kiếm ăn mới xuất hiện. Từng chặng đường có những đứa bé, những người phụ nữ đứng cầm bó cờ Mặt trận chặn xe nài mua và dễ dàng có khách. Cờ đỏ sao vàng ít hơn: Buôn bán với ý thức tự phát thì cần gì đến suy luận chính trị. Sao lấy từ màu vàng nền cờ ba sọc cũ, sọc đỏ cũ làm nền mới cho cờ nhỏ cầm tay, hay cờ treo nhà cho những người hà tiện. Cờ 5 sao vàng nhiều hơn; cờ búa liềm rời rạc. Chợ Lớn như rừng cờ 5 sao, có nhà cắm đủ thứ cờ Trung Quốc, cờ sao vàng, cờ Mặt trận – cho chắc ăn mà! Ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thấy bán ngoài đường Lê Lợi. Các chú nhạy cảm về việc làm ăn thật. Chỉ tội nghiệp cho một hình ảnh thần thánh bị đem ra buôn bán, dầm mưa dãi nắng, hứng chịu bụi đường lem luốc. Từ xưa người ta ghét cay ghét đắng thương buôn kể cũng phải. Và ngoài lề đường đã thấy bày bán tivi, chén bát…[Tạ Chí Đại Trường, Những ngày cuối và những ngày đầu, Một khoảnh Việt Nam Cộng Hòa nối dài, trang 22-23, Thanh Văn xuất bản, Los Angeles, California, 1993]
Cờ đã đổi. Người đã thay. Tiếng nói cũng khác.
1.3.2 Đi vào quyền sở hữu mới: Đăng kí vào xưởng đẻ một cách khẩn trương
Tạ Chí Đại Trường phân tích một loại ngôn ngữ từ Miền Bắc theo chiến thắng đưa xuống Miền Nam. Tôi trích đoạn này cũng vì có 2 chữ “đăng ký” được sử dụng rất phổ thông sau 1975:
-… Không hiểu tôi đã được nghe chữ đăng kí lần đầu tiên vào lúc nào trong các ngày 1, 2-5. Có lẽ vì nhiệm sở tôi ở tận Tân An, không dính tới những cơ cấu ở Sài Gòn nên không có những tin tức kịp thời bắt buộc (…) Các từ ngữ cũng gây nên những bỡ ngỡ lúc ban đầu. Có người ngẩn ngơ trước danh từ mới, và qua cơn khiếp sợ ban đầu, lại nhạo báng, ghép cùng loại với các tiếng lóng cái đổng, cái đài… Thật nhiều những từ ngữ mới đem ra sử dụng khiến dân Miền Nam bỡ ngỡ rất nhiều. Có những từ không phải là mới lạ nhưng chính vì những nét gần gần giống ấy mà có khi dẫn đến những lầm lẫn tai hại. Tai hại đáng kể tác động nhiều nhất đến với bọn người vô phúc, nên chúng tôi có lần đùa với nhau không phải là không có chút cay chua: “Có lẽ nên có một quyển Từ điển Bắc – Nam…” Có những chữ khác xuất phát từ ý thức dân tộc hoá quá đà mà người ta hùa theo lãnh tụ đề xướng “giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt”. “Lính thủy đánh bộ”, “máy bay lên thẳng”… là những giao tiếp buổi đầu, sau đó là những từ ngô nghê thuộc loại Xưởng đẻ (nhà hộ sinh). Nhưng có sợ tính chất hán hoá làm tiếng Việt mất trong sáng thì chiều hướng tiến hoá mới dựa vào một tỉ dân tiếp tế cả rau muống để cái tiền đồn anh hùng chống đế quốc cũng bắt buộc người ta phải sử dụng ngôn ngữ của nước bạn vĩ đại. Sửa lại đảm bảo, giản đơn, điều chỉnh phản ánh cho sát với hán tự, đi ngược lại con đường phản ảnh sai, nhưng là dấu vết của một thời gian dài đổi thay bởi người Việt (…) Cứ giở một quyển sách mang tính cách chuyên môn thì thấy tha hồ mà nhức đầu với cú pháp, từ ngữ Hán Việt mới cũ, cái nhức đầu được biện hộ rằng ta đã đem lại trình độ cao cho tiếng Việt, trái với trình độ thấp kém của Miền Nam còn nằm trong nô lệ, không có chỗ cho ý thức dân tộc vùng lên – có nói rõ ràng trình độ thấp ấy tỏ lộ trên ngôn ngữ, báo chí Sài Gòn! Cái tinh thần nô lệ sâu kín đã đổi lốt thực thi trong một chính sách thực dân văn hoá gốc gác từ quan niệm vương hoá ngày xưa! Cái nguy hiểm của sự hẹp hòi là khi nó được khoác áo lí tưởng. Có điều thực tội nghiệp là loại tiếng “lính thủy đánh bộ”, “máy bay lên thẳng” sinh ra vào thời kì phe-ta chưa có cơ sở vật chất để xuất hiện thể chế, vật dụng đó, thành thử chỉ dùng nhắm vào đối phương – có thật nhiều điều xấu xa, chữ dùng hàm ý khinh bỉ, miệt thị, đến lúc cần để chỉ của mình thì lại thấy ngượng ngùng phải ráng xài thật tỉnh: thủy quân lục chiến, trực thăng… Vô tuyến truyền hình / tivi rõ ràng trên chân máy phát hình, rồi những tên ngoại quốc dịch âm ngớ ngẩn được thay bằng tên nguyên gốc một cách rụt rè (rồi lại quay về mốt cũ theo phản ứng co rút)… Chuyện như thế nhưng có ai dám vặn vẹo người chiến thắng? (…) Nhưng chắc không có chữ nào khi diễn giải ra khiến cho dân Miền Nam phải giật mình cho thân phận hơn là chữ “đăng kí”. Cũng may là thường thường người ta chỉ hiểu được lần lần để khi gặp trường hợp vấp váp cụ thể thì không giật mình tuyệt vọng. Có người quả quyết rằng mình chỉ mới nghe chữ đăng kí lần đầu sau ngày 1-5. Họ chỉ nghe đến “ghi danh”, “ghi tên”, “khai báo” (…) Chữ đăng kí là từ pháp lí, ngày trước chỉ liên quan đến một vài giới, bên ngoài các dáng người phây phây như cây như cỏ. Thế mà nhà nước Xã hội Chủ nghĩa thì lại có bổn phận phải quản lí, quản lí con người, quản lí tài sản. Hai tầng lí do quản lí: quản lí thêm về tài sản, con người trên phần đất chiến thắng – gọi là “giải phóng” cho hợp thời trang. Nhưng người chiến bại cầm tờ giấy chấp nhận một chủ quyền sở hữu trên thân xác, tài sản của mình chỉ thấy được một mối lo sợ vẩn vơ, chắc chưa có ý thức hãi hùng. Bởi vì có ý thức trước được thì người ta đã tự giải quyết rồi. Những người lính dù chĩa súng vào nhau bấm cò. Các viên tướng tự tử mặc lễ phục, mang đủ huy chương. Một viên trung tá cảnh sát cho các con uống thuốc độc rồi hai vợ chồng tự giải quyết, xác sình thúi lối xóm mới hay vì cứ tưởng ông ta đã di tản. Một tay nhà binh có máu văn nghệ, nặng tình bạn, lỡ chuyến bay, để lại cho đời câu nói tự an ủi mà nhuốm mùi vị thiền đạo một thời: “Đại sự thành tiểu sự, tiểu sự hoá vô sự.” Có khỏa lấp gọi đó là “những kẻ tội phạm” trốn chạy sự phân xử của “quần chúng nhân dân”, “những kẻ tránh phải trả lời về tội ác của mình trước toà án của nhân dân”, thì cũng chỉ chứng tỏ là những người chết kia đã đúng, thứ chân lí mà những người vì lẽ này hay lẽ khác còn sống đã dần dần hiểu ra, và thế nào cũng có một lần thấy những người kia quả đã tìm được lẽ “vô sự”…[Tạ Chí Đại Trường, “Đi vào quyền sở hữu mới”, Một khoảnh Việt nam Cộng hòa nối dài, trang 31-33, Thanh Văn xuất bản, Los Angeles, California, 1993 * Chữ in ngả là từ nguyên bản **Trong bản hoàn chỉnh như trên VietMessenger, tác giả ghi chú: “(2004: Trung tá Nguyễn Văn Nhỏ / Phạm Việt Châu)”, nhưng tên thật của sử gia Phạm Việt Châu là Phạm Đức Lợi. https://vietmessenger.com/books/?title=mot%20khoanh%20viet%20nam%2 0cong%20hoa%20noi%20dai&page=2 ]
Chiến thắng của Miền Bắc-Cộng sản mở đầu bằng 2 chữ “đăng ký” kéo theo chính sách lường gạt đã sửa soạn, đưa hàng trăm ngàn quân cán chính Miền Nam-Tự do tình nguyện “đăng ký” dẫn thân vào tù và vào thế giới của một nơi hoàn toàn thụ động, từ người giam tù đến người tù.
1.3.3 Những ngày đầu tiên của các chàng Từ Thức ngụy: Nhìn lại, có ai ngạc nhiên về cái thua ngày 30-4 vừa qua không?
Từ Thức Tạ Chí Đại Trường—số tù Ngụy 7886–bắt đầu cuộc đời bị giam giữ vào ngày 23.6.1975 và một bài thơ:
… Một buổi sáng có lệnh báo tập trung để chụp hình. Mỗi người có một con số viết trên tấm bảng kê trước ngực, ngồi ngay ngắn trên chiếc ghế dài đặt ngoài trời. Thế là từ đây ngoài cái họ chung là Nguỵ, mỗi một người chúng tôi đã có tên là một hàng số. Hình như tên mới của tôi là Nguỵ 7886… [Tạ Chí Đại Trường, Đường về Long Khánh, sđd, trang 207]
… Câu chuyện thần tiên thơ mộng xưa không vẽ lại hình ảnh hãi hùng của cảnh Từ Thức về trần biết được mình đã đi bao lâu, khiến phút chốc từng sợi, từng sợi trắng dần phủ lên lớp da mặt nhăn nheo, co rúm, đè còng tấm thân vừa mới còn thanh xuân, cường tráng kia (…) Chẳng ai có tờ thông báo trong tay lúc ấy để kẽ vạch phản bác. Nhưng nội một sự đinh ninh “đi học 10 ngày” của toàn thể sĩ quan cấp uý cũng đủ chứng tỏ sự thực nếu không nằm trên văn bản thì cũng nằm trong mưu mô tính toán có ý thức lường gạt của người chiến thắng. Này nhé! Mở đầu cho hạ sĩ quan và binh sĩ học 3 ngày cấp giấy cho về làm ăn, không còn nghi ngờ gì cả. Việc gọi các chức quyền cấp cao và tướng tá đi học “mang tiền ăn một tháng”, chưa hết thời gian ấy để nghi ngờ thì có lệnh “mười ngày” tiếp theo lập lờ giữa cái thực và cái giả, cái giả nấp sau cái thực để giả toàn vẹn. Người cộng sản đã dạy cho người Việt Miền Nam bài học thấm thía bàng hoàng về cách làm chính trị (…) Người chiến thắng nói họ quá thừa kiêu hãnh để không cần lừa gạt kẻ chiến bại họ nắm trong tay. Nhận như thế thì làm sao có thể nói về chính sách “khoan hồng đại độ, trước sau như một” được? Trăm điều chỉ tại mi u tối! Ờ hé! “Có ai bắt bớ gì các anh đâu? Các anh tự động mang giỏ xách đi trình diện đấy thôi!” Trong lời nói ấy có chút đểu cáng hả hê của con mèo vờn con chuột. Một chút sai lầm trong chi tiết là có người bị bộ đội lùng sục cả trước khi hết hạn trình diện. Nhưng cũng thật đúng là hầu hết đều bình thản đến cổng, xin vào (…) Nhìn lại, có ai ngạc nhiên về cái thua ngày 30-4 vừa qua không? (…) Sáng 23-6, tôi đi vòng vòng giã từ phố phường rồi cầm khúc bánh mì đến cổng trường Taberd. 10 giờ 30. Hai viên sĩ quan cầm súng lặng lẽ chỉ lối vào. Ngoài đường vắng, cổng trường kín chỉ chừa chỗ lách, không thể biết bên trong có gì (…) Chung quanh tôi mọi người đã ngủ. Bầu trời tối đen. Mưa còn nặng hạt rơi qua vùng sáng đèn, tủa xuống đám người nhích dần, nhích dần vào phía trong, mình ướt đầm. Có cái gì nghẹn ngào dâng trong tôi, tôi cúi nhìn đồng hồ. Đúng 12 giờ. Tôi vào làm bài thơ đầu tiên trong đời của tuổi lớn, tuổi tưởng chừng không còn xúc động để làm thơ (…) Những người như chúng tôi hoặc do kiến thức mà có, hoặc bởi cuộc sống coi thì giờ là tiền bạc của xã hội kĩ nghệ, thành phố xô đẩy nhau nên thắc mắc, chán ghét lối làm việc này, nhưng về sau thấy những người bộ đội ngồi kiểu nước lụt, buồn thiu hay tán gẫu với nước trà, thuốc lào, có xông xáo hoạt động thì với ý niệm nông dân là thời gian được tính bằng tháng, bằng năm không phải bằng ngày, giờ, phút, giây, chúng tôi mới không lấy làm lạ. Thì giờ không cần, công sức không kể, cái họa da vàng hồi còn tản mạn đối với người Tây Phương còn làm cho họ hoảng sợ đến thế huống hồ là khi được những người lãnh đạo lái cho hướng vào một mục đích. Mục đích đó họ đã đạt, đến 30 năm. Không tính rằng trong 30 năm đó ta sẽ đi đến đâu! Và bây giờ họ đem sức lăn ỳ ạch đó đem huấn luyện trên cả nước (…) Hoạ sĩ tài tử lẫn hoạ sĩ chuyên nghiệp tha hồ vung vẩy trổ tài… Có cả một panneau to tướng trưng ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh do một giáo sư trường Mĩ thuật Gia Định vẽ. Nhưng sau đó có lệnh không được vẽ ảnh chủ tịch và tấm panneau được khiêng về trung đoàn. Phải biết phận mình. Lãnh tụ là của riêng không thể để cho bọn nguỵ lập lờ thoát xác làm con cháu được. Hình ảnh lãnh tụ là một cái gì thiêng liêng, được tiêu chuẩn hoá ngay từ lúc xuất hiện trước ống kính. Mỗi một thế đứng, dáng đi, nụ cười… của lãnh tụ là cả một sự cân nhắc góp phần vào việc huyền thoại hoá một nhân vật lịch sử: Bác với chòm râu bạc phất phơ tiên phong đạo cốt – chòm râu khi vẽ lại phải lệch đúng một phần bao nhiêu; Bác đứng tưới cây vú sữa để nhớ Miền Nam… Cho nên từ đầu tháng năm ở Sài Gòn đã có lệnh cấm bán hình lãnh tụ ngoài đường. Một nhân viên đồn điền Michelin thấy hương án, bàn thờ khói hương nghi ngút quanh hình lãnh tụ đã thốt ra: “Ils le considèrent comme un Bouddha.” Đồng hoá lãnh tụ với Phật, đó là cách nhìn “lạc hậu”, người ta không chịu đâu! Tuy nhiên nếu bởi dân chúng còn có lòng tin, còn cảm theo một dạng như thế thì có thể dễ chấp nhận để phục vụ Cách mạng. Cũng như tính chất thần quyền, vương quyền ấy đã từng có ích trong thời tranh chiến khi người nông dân Nam Bộ bảo nhau: “Đảng xuống lịnh phá ấp chiến lược, phá bình định ác ôn…” (…) Văn chương phục vụ ở Việt Nam đã được dọn đường từ những năm trước Thế chiến theo khuôn mẫu – cũng từ chương, đầy tính chất tôn giáo từ nước Nga đến, thứ lí thuyết đó chỉ cần đợi thêm có khẩu súng hỗ trợ là trở thành thống soái, khó bài bác. Khoan nói đến những toan tính ích kỉ, cuộc sống hướng về quá khứ khiến cho người ta khó chấp nhận rằng một vĩ nhân – dù là vĩ nhân thực, chết đi cũng là điều đáng mừng cho những người còn lại, cho đám hậu sinh, cho dân tộc, một cách thế thoát khỏi sự kềm kẹp họ không làm được hay không muốn làm mà tự nhiên đã ra tay thay (…) Chiến thắng 1975 làm ngợp mặt người Cộng sản, những người vừa có sự trì níu của quá khứ và sự lôi cuốn của tương lai, sức nào cũng thật là mạnh đến nỗi không chấp nhận ai khác mình vào lúc quyết định tới hay lui. Sự biến chất nằm ở hai cực đó tạo ra hai mẫu người chậm lụt và xông xáo mà sự cách biệt nổi bật lên sau chiến thắng. Người nào chậm lụt, ở vị thế không thuận lợi thì rụt rè mặc cảm – và bất mãn, đó là số đông. Người nào biết chớp thời cơ, ở vị thế mà mối lợi từ sự liều lĩnh đủ lấn át sự sợ hãi thì tha hồ buông tuồng, quên hết kinh kệ, và sử dụng sự thần bí của quyền bính làm bức màn che cho hành động tư lợi của mình, bù lúc thiếu thốn… [Tạ Chí Đại Trường, Những ngày đầu tiên của các chàng Từ Thức ngụy, sđd, trang 47-64, 83]
Các Từ Thức-ngụy, tuy thế, vẫn không đau bằng Từ Thức bù nhìn, một tên khác cho các nhóm “trí thức”, sinh viên, văn nghệ sĩ thiên tả hoặc nằm vùng đã hoang tưởng đến một Miền Nam tự trị trong vòng tay của cuộc thống nhất huy hoàng.
1.3.4 Từ Thức bù nhìn không được giữ cả dưa
Từ Thức bù nhìn đã đánh giá ý định của chính phủ Miền Bắc quá thấp và tự tôn quá mức về tài năng của họ. Đúng như Tạ Chí Đại Trường nhắc đến, Đại tướng Văn Tiến Dũng đã cho biết toàn cuộc “chủ động tấn công từ Hà Nội” trong Đại thắng mùa xuân, một cuốn quân sử in ấn rất công phu, dầy 324 trang, gồm 4 trang bản đồ màu khổ to, mỗi trang gập làm 4, kèm vào sách. Cuốn này, khổ nhỏ 12 cm1/2 x 18cm1/2, do Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân tái bản 130.000 cuốn lần thứ 2 vào tháng 4, 1977 tại Thành phố Hồ Chí Minh (tên mới của Sài gòn). Tạ Chí Đại Trường cũng hết sức chính xác khi đối chiếu sự bùng nổ của thành phần thiên tả trong một xã hội dung thứ mọi thứ nhân quyền. Họ lợi dụng sự tự do ấy để len lách, tựa trăm loại hoa vươn lên từ nhiều kẽ hở của xã hội; thành thử họ sẽ bại liệt trong một chế độ đòi hỏi sự tuân phục hoàn toàn—toàn những cúc vạn thọ– như đã thấy sau 1975:
… Gọi là không có gì mới lạ bởi vì bài học, lí luận vẫn chỉ là cách giải thích cho lí thuyết, biện minh cho chính sách trên các sự kiện ai cũng thấy. Gọi Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, Chính Phủ Cộng Hoà Miền Nam Việt Nam là bù nhìn cũng đúng với cái nghĩa một cơ cấu được xếp đặt sẵn tuy thật là khôn ngoan – nhưng cũng không nên phủ nhận sự nồng nhiệt ở nơi những người lãnh đạo, tham gia phong trào. Chính quyền Quốc gia, Cộng hoà trong hoàn cảnh riêng biệt của nước nhà, và các chính quyền tư sản Tây Phương với quan niệm xây dựng chính quyền của họ, đã để trống thật nhiều những cơ hội tung hoành ở cơ cấu hạ tầng xã hội mà những người chống đối tưởng có thể tìm ở đấy ước mơ muốn thoả mãn. Xã hội thành thị giúp họ lòng tăng tiến can đảm. Thế rồi đường dây bí mật dẫn họ ra bưng, bảo vệ họ hoạt động ở đấy đủ là một sự đe doạ vô hình cho sự hèn nhát không kịp thành hình trong khi sự tính toán khôn ngoan đẩy họ tiếp tục theo phong trào. và những người lãnh đạo thực của phong trào đã tìm cách đặt họ đúng chỗ – có xộc xệch chút ít thì những người kém may mắn ráng chịu, gắng phấn đấu để tương lai sẽ đền bù. Họ không là bù nhìn nhưng người ta đã dùng họ như bù nhìn với lời dẫn dụ tự nguyện: “Bù nhìn giữ dưa cũng có ích cho người lắm chứ!”. Khả năng “sinh hoạt” lãnh đạo của họ chỉ vừa đủ trong nhóm, trong vòng thân thuộc quen biết nên ở chính phủ này, mặt trận nọ cũng đủ cho họ thi thố tài năng, công kích đế quốc tay sai, phát biểu ý kiến về đường lối chính sách (tất cả đều dễ vì có sẵn rồi). Còn sự chỉ đạo, tuyên truyền trong ngoài nước, chỉ đạo chiến tranh, kết hợp quần chúng, họ không với tới được cũng chẳng sao. Họ bồng bềnh trong một môi trường có sẵn nâng đỡ, nuôi sống họ, nên đủ thấy gắn với “đất nước” để tự phô trương mà không thấy thắc mắc. Cho nên hết dưa, bù nhìn mất tác dụng, hay đúng hơn mất tác dụng dần dần trong mùa hái dưa. Sau 30-4 còn thấy dáng chính phủ đây đấy với một ít bộ trưởng, thứ trưởng nhưng chỉ có những người ngờ nghệch mới chờ ông Nguyễn Hữu Thọ, Huỳnh Tấn Phát về đóng ở dinh Độc lập. Cả một bộ máy tiếp quản không để ai nghi ngờ về thực chất quyền bính nằm ở đâu. Chỉ sau này, như một phản ứng – kín đáo – của kẻ bị cướp công, người ta mới thấy bày tỏ công tác chiến đấu ở địa phương trong hồi kí của tướng Trần Văn Trà, chứ ở quyển Đại thắng mùa xuân, người chỉ huy từ Miền Bắc đưa xuống đã công khai nói đến sự chủ động tấn công từ Hà Nội. Nếu có cần giải thích cho một biểu tượng thì người ta cũng sẵn một lời giải đáp: “Cờ đỏ sao vàng là cờ Tổ quốc, cờ xanh đỏ sao vàng là cờ Mặt trận.” Hay nói như một kẻ nào đấy không biết mình là ngụy khi tìm ra lời giải thích: “Cứ kéo màu đỏ đè xuống màu xanh là ra cờ thiệt chớ còn gì phải hỏi!” Vở kịch cổ điển quá nên hồi kết cục chẳng ai ngạc nhiên. Chỉ người khó tính mới thắc mắc với chữ “hiệp thương thống nhất”, còn thì: “Như mẹ bảo con đưa tiền hai mẹ con ta tiêu chung.”… [Tạ Chí Đại Trường, Đường về Long Khánh, sđd, trang 153-154]
Từ Thức-ngụy chợt nhận ra đã đi quá nhanh. Từ Thức-Mặt trận lẽo đẽo nối đuôi. Cùng một đường, nhưng sau lưng là Từ Thức-Miền Bắc đang gắng sức bắt kịp.
1.3.5 Từ Thức-Miền Bắc về trần Miền Nam Người Bắc trở nên rất già. Như chàng Từ Thức mở cái hộp thần kỉ niệm, tóc lượn làn sóng bạc, da uốn nếp nhăn nheo, lưng còng gối mỏi…
Từ Thức-ngụy già vì bị tước hết một đời xuân trong lúc Từ Thức-Miền Bắc còn lâm vào thế bí hơn. Họ bỗng nhiên bị đẩy vào một thế giới khác với tiện nghi đầy cám dỗ mà một đời hy sinh cho “đánh Mỹ cứu nước”, “đánh cho Mỹ cút Ngụy nhào” hay “còn cái lai quần cũng đánh” chưa hề được thấy hay được hưởng. Còn được… “quần” đã là may, nói chi tới đồng hồ, xe gắn máy:
… Người ta có nhận xét rằng trong mấy mươi năm qua người dân Miền Bắc sống rất trẻ. Bao nhiêu năm chiến tranh họ có vẻ không phải đói. Không phải chỉ vì chế độ ưu việt đã mang lại no ấm cho tất cả mọi người, mà vì có viện trợ các nơi cùng phe dồn lại – không thừa mứa vì bà con cũng còn nghèo, nhưng vừa đủ để người dân đứng khỏi run đầu gối mà chiến đấu. Quá khứ khốn khổ hàng thiên niên kỉ không đòi hỏi nhiều quá sự mong ước ấm no nên chỉ cần một sự tiếp sức nhỏ giọt cũng giúp người ta chịu đựng. Cuộc sống ấy, dân Tây Phương trong sự xa hoa của mình, không tưởng tượng ra nổi. Khi người ta đã quen với điện năng với thành quả thiết thân của nó, người ta không thể nào hiểu tại sao kẻ khác có thể sống với ánh trăng sao, với đèn dầu tù mù. Một cái building bị cúp điện, gây rối loạn thần kinh, gây tai nạn chết người trong khi ở những ngôi nhà tre lá, nhà ngói cũng được, ở thôn quê dân chúng vẫn ung dung hoạt động. Cái bi thống trầm hùng ở đây mà một số người Tây Phương tô vẽ trong quan điểm nhân bản của mình, thật cũng là bình thường để người dân có thề chịu đựng được mà chờ sắp hàng lãnh tiêu chuẩn. Không có thịt cá thì cà mắm tương rau, không có xe cộ thì lết bộ cũng tới – nhà nước lại chẳng cần họ đi xa, đi nhanh vì muốn thấy bóng họ để dễ bề kiểm soát. Họ chẳng cần lo nghĩ nhiều vì cái không với tới được thì nghĩ cũng vô ích, còn chuyện bình thường thì đã có nhà nước lo sẵn rồi. Sự cô lập tạo thêm yếu tố khách quan để khỏi thấy sự phiền tạp của cuộc sống – vô tri bất mộ mà! Quyền bính hờm sẵn về mặt tích cực, và mối lo cơm áo về mặt tiêu cực giúp chận những ý nghĩ rắc rối riêng tư. Quả thật người ta đã sống rất trẻ. Ấy thế rồi chiến thắng mở ra thế giới – không phải thế giới “của chúng ta”. Sài Gòn như là ngoại quốc đối với Hà Nội, một thứ ngoại quốc có cách biệt hàng trăm năm về phía trước dù bộ máy tuyền truyền ra sức phủ nhận. Người Bắc trở nên rất già. Như chàng Từ Thức mở cái hộp thần kỉ niệm, tóc lượn làn sóng bạc, da uốn nếp nhăn nheo, lưng còng gối mỏi... ý thức được không gian vô cùng, ý thức thời gian biền biệt, ý thức cuộc sống quay cuồng. À, thì ra thế giới là thế đó. Cái huênh hoang chiến thắng không đủ che lấp nỗi dằn vặt, chưa kể dằn vặt không xuất hiện kịp vì khối chiến lợi phẩm lù lù đè xuống. Thói quen phục tùng khiến không đủ sức khơi dậy những biến động có ý thức. Nhưng như mối mọt đục ruỗng bên trong, nền tảng chính trị phải sụp đổ: Cái trong sạch của thời Kháng chiến, cái lí tưởng nhiệt thành chung tan biến, người ta lo xây dựng chủ nghĩa xã hội cho riêng mình mặc dù nhà nước, lãnh đạo cố gào thét, kìm cương, cái dây cương không còn hiệu quả vì phải buộc vào hàng trăm hàng nghìn con ngựa tuột mất cái tích che mắt. Chỉ còn lại những quyền lợi ráng chia nhau mà hưởng, còn lại lòng tự ái về quá khứ oanh liệt cố trì níu thời kì lù lù trước mắt! Người trong đã vậy mà người ngoài thì cũng chẳng khác. Giấc mơ nhân bản của họ tan biến sau một chặp thiếp đi ngắn. Có bàng hoàng thì họ kêu khóc về thân phận kiếp người. Thiếp đi nữa thì họ có thể đi vào một giấc mơ nhân bản mới với đối tượng cập thời. Đó là biểu hiện của những người phản chiến cũ, những nhân vật mà còn vì nể nang, hay đúng hơn để khỏi chứng tỏ mình quay quắt, chính quyền “ta” gọi là “những người nhẹ dạ” trước đường lối tuyên truyền của bọn phản động quốc tế… Biện minh là quyền của tất cả, vấn đề là biện minh có tính thuyết phục hay không… [Tạ Chí Đại Trường, “Đi, Về, Vào, Ra”, sđd, trang 272-273]
“Chiến lợi phẩm” không chỉ bằng vào số tiền, vàng khổng lồ trong ngân khố, ngân hàng, trong những thương xá ngập ngụa hàng hóa ngoại quốc và biệt thự, cao ốc cùng xe hơi, máy điều hòa không khí mà chỉ có giới cao cấp mới phân phát cho nhau được, nhưng còn truyền xuống những trại giam Tù Cải tạo một cách bất ngờ với loại sản phẩm thực dụng khác. Người giam tù cũng có thể lợi dụng được số binh khí, quân trang bỏ lại từ sự viện trợ của Hoa Kỳ với sức lao động của người tù:
… “Hòm” của cấp trên làm bằng nhôm, dura. Các bình xăng phụ sáng loáng của phi cơ, vèo cái là hết… [Tạ Chí Đại Trường, Đường về Long Khánh, sđd, trang 170]
Hoặc qua sự trao đổi giữa người giữ tù và người tù tại các trại tù. Người giữ tù (quản giáo, vệ binh) ở Miền Bắc chuyển hộ thư từ cho gia đình người tù ở Miền Nam bằng một giá được hai bên đồng ý. Nhờ đó, thân nhân biết rõ người tù cần gì. Đôi khi, họ nhận đổi hộ tiền cũ của người tù mang theo thành tiền mới. Theo thời gian, giới giữ tù cũng nhìn người tù khác đi khi nhận ra sự phú cường của dân Miền Nam là do sức lao động, không phải do Đế quốc đổ tiền vào hay “ăn bám nhân dân”. Bởi thế, theo tôi, sự hàn gắn giữa dân chúng hai miền đã bắt đầu ngay tại các trại tù này, từ ngay hồi những năm cuối 1970.
Ông phân tích về một chính sách sử dụng nhu cầu sống còn nhắm triệt tiêu giai cấp tiểu tư sản–giai cấp đông đảo có tiềm năng chống lại họ mạnh mẽ– và giữ mọi giai cấp khác tại mức chỉ có thể tồn tại hầu không còn thừa năng lượng mưu cầu những thứ xa xỉ khác, nhất là thứ xa xỉ làm cách mạng chống lại nhà nước:
… Chính sách “cái bụng” kể cũng hay, và chẳng ai thực hiện có căn bản chừng mực như chính quyền này – tầm mức xã hội lại vừa với khả năng cai trị của họ. Mọi người tuôn ra đường kiếm ăn không kịp suy nghĩ gì khác dù là để than vãn. Người công nhân viên chức chờ chực nhu yếu phẩm, đúng là phần nhu yếu để không dám có ý nghĩ lệch lạc khiến phải mất đi. Đám trí thức cấp cao cũng được tập tành sống trong sự ràng buộc đó từ lúc còn là sinh viên với khoản lương nhỏ sống hàng tháng. Số ít người được ưu thế thì tuy ưu thế thật quá nhỏ so với các nước khác nhưng thật quá, quá to đối với người thường chung quanh nên cũng nơm nớp sợ mất. Ấy thế mà chính sách cũng khôn ngoan không để người dân phải đói – số đó thật quá ít để khỏi phải lưu tâm sợ gây nên biến động, nhất là trong tình trạng có sự ràng buộc kiểm soát chính trị chặt chẽ không để hở cho một lực lượng chống đối nào. Những cuộc chống đối có hệ thống còn để lại trong lịch sử không phải của những người cùng đinh xơ xác mà là của những người sống trong một hoàn cảnh còn đủ ý thức nhận định riêng. Những người này còn đủ ăn nhưng ở mức bấp bênh để lo sợ suy sụp hơn nữa, và đủ ăn để còn mong muốn, hi vọng có khả năng vượt qua tương lai đen tối, có đủ ăn riêng biệt để không bám vào ơn huệ của chính quyền mà còn đặt nhà cầm quyền vào vị thế đối lập để trút căm hờn vào chính quyền như là tác nhân của sự khốn cùng của chính họ. Hãy xem những người Xô viết Nghệ Tĩnh gây biến động năm 1930 vốn là những người đủ ăn, thuộc khu vực giàu có tương đối trong vùng trong khi những vùng khác, cằn cỗi, nghèo nàn thì im lìm thụ động… Sự truy bức những người giàu có lan xuống đến tầng lớp trung nông, được mệnh danh là “cải tạo tư sản”, và những lời nhắc nhở trông chừng tư sản ngóc đầu dậy là phương tiện kiến hiệu áp dụng chủ thuyết để phục vụ chính sách cái bụng, bảo đảm an ninh chính trị, củng cố quyền lực của Đảng…[Tạ Chí Đại Trường. Đường về Long Khánh, sđd, trang 214-216]
Cai trị người dân bằng “bao tử” –ở đây thì không còn bá nhân bá bao tử vì bao tử cũng đồng nhất do chính phủ ban phát—kèm theo một sự thuần hóa cán bộ bằng bàn tay sắt không bọc nhung khiến bộ máy hành chánh và quân lực chạy đều. Ở đây, ông cho rằng sự thuần hóa đến nỗi phi lý này xẩy ra được vì nhiều thế hệ cán bộ lớn nhỏ đều bị giáo dục và tiếp tục bị giáo dục từ chủ đích chính trị kèm bạo lực:
– … Có những cái giả thật trơ tráo nhưng không phải được nghe nói y như thật mà chính là sự thật qua công trình uốn nắn giáo dục lâu dài. Chúng tôi hiểu rõ được điều đó qua một nhân vật trẻ tuổi dược cử làm phụ tá quản giáo đội chúng tôi, anh P. có lúc đã vỗ ngực xưng “từng học Đại học” để chứng minh thêm cho cái dáng nhanh nhẹn, cái lối ăn nói lưu loát của anh. Trong một buổi tham dự thảo luận tổ, anh đã góp ý kiến nhận xét phê bình với chi tiết về tinh thần tham gia học tập của chúng tôi, về những ưu khuyết điểm của cuộc thảo luận, đọc từ quyển sổ anh rút trong túi ra, không biết đã được hí hoáy ghi chép vào lúc nào. Trong buổi chúng tôi cắn bút làm tờ khai, anh cũng bước vào, giật lấy một bản nháp nhìn qua rồi góp ý: “Này, anh nói thế này thì ai tin? Đến ngày đến tháng thì lên thiếu uý, đến ngày đến tháng thì lên trung uý, ai mà tin cho được? Anh giấu làm gì? Anh đã hiếp dâm bao nhiêu lần để lên đại uý?” Tội nghiệp cho anh chàng bác sĩ lai Đức, con một cựu tổng trưởng, thừa tiền ăn chơi, thừa dáng sắc và giáo dục để hấp dẫn người mà cũng đủ nhút nhát để sợ đàn bà con gái la lên! Câu chuyện đó được bàn tán sôi nổi vào buổi chiều, và người ta biết thêm không phải chỉ có một trường hợp bị vạch mặt như thế. Bực tức và khinh miệt. Làm sao giải thích được rằng một xã hội đầy dẫy đĩ điếm như lời tố cáo mà lại không giải toả được những ham muốn nhục thể? Nếu còn có phần không kềm được thì những hành động bạo lực sao không bị trừng trị bởi một xã hội dù sao cũng phải có kỉ cương để sống còn – cũng theo lời tố cáo, là sống còn cho giai cấp nắm quyền? Lí trí bình thường, cái thứ lương tri đó, đã bị đàn áp như thế nào để không gượng nổi trước những lời tuyên truyền tinh vi, một thứ giáo dục quần chúng chỉ cần đạt mục đích chính trị? Mức độ tham gia sự phóng đại của anh chàng bộ đội tốt nghiệp phổ thông này, chắc là bắt nguồn theo đà chiến thắng nâng cao, nhưng giáo dục lâu dài hẳn phải cấu thành căn bản vững chắc cho suy nghĩ của anh… [Tạ Chí Đại Trường, Đường về Long Khánh, sđd, trang 114-115]
Thế nên, không lạ gì khi đoàn xe tăng Miền Bắc tiến vào Sài gòn, họ không cần che giấu chi hết:
– … Một nhà nước muốn mang danh nghĩa chính thống thì phải biết kềm hãm cái đà sắt máu mình đã khuyến khích vì nhu cầu cướp chính quyền – câu chuyện đã xảy ra từ sau tháng 8-1945, chưa phải đợi tới Tây, Mĩ. Phải kềm hãm được một chừng mực nào đó để chứng tỏ mình làm chủ được tình hình, tức là có thực quyền. Lúc này, khi đã có tiếng la hét “tắm máu” thì phải chứng tỏ chúng toàn đồ láo khoét, phải chứng tỏ chúng đã thất bại ngay cả sau chiến tranh. (Có một tên nguỵ nói: “Không có tắm máu chỉ vì có tiếng la tắm máu rồi. Vả lại cứ giết đi thì làm sao sống yên với 24 triệu người còn lại!”) Nói như thế chứ cái đà hăng say chiến thắng đã khiến người ta không thể có một tầm nhìn xa rộng hơn. Mãi sau này, mỗi khi kỉ niệm ngày 30-4, người ta vẫn cứ hãnh diện nhắc chuyện người sĩ quan vào Dinh Độc lập nói với tướng Dương Văn Minh: “Không bàn giao gì hết, các anh thua trận, bây giờ là tù binh!” Chúng ta có thể thấy cái ngớ ngẩn của mấy ông Tối cao Pháp viện thắt cà-la-oách ngồi, cứ tưởng để chứng kiến thi hành một thủ tục pháp lí mà không hiểu tính chất cuộc chiến của những người phủ nhận cái pháp lí được coi là riêng của kẻ thù bị thất bại, và chỉ xử sự như là kẻ chiến thắng mà thôi. Lời nói vớt vát của một lãnh tụ: “Chỉ có đế quốc thất bại, còn dân Việt là người chiến thắng” nồng nàn tình cảm dân tộc đậm đà như thế, lại chỉ có ý nghĩa với tiền đề “phe ta” là cả dân tộc, không tranh cãi. Một nền độc lập ghép với một chính kiến được theo đuổi với nhiệt tình – quá nhiều nhiệt tình, rốt lại đòi hỏi sự nô lệ của người trong nước! Nỗi đau nhục còn dài lâu… [Tạ Chí Đại Trường, Đường về Long Khánh, sđd, trang 138-139]
“Nỗi đau nhục” trước hết là hai lối sống, hai lối suy nghĩ hoàn toàn khác nhau giữa 2 miền khiến người giam tù không chỉ sỉ mạ người tù vô cớ mà còn sử dụng bạo lực cũng vô cớ vì lối giáo dục bất chấp sự thật cần đến bạo lực mới tồn tại được.
(còn tiếp)
Tạ Chí Đại Trường, mạnh chống mạnh chấp
Theo tiểu sử đọc được trên net,
Tạ Chí Đại Trường sĩ quan QLVNCH: làm việc văn phòng. Sĩ quan tiếp liệu Quân Y, sĩ quan biệt phái dạy học, sĩ quan khối quân sử. Nói chung nghề nghiệp chuyên môn của TCĐT là viên quan thư lại. Lính văn phòng. Cũng không có gì, vì thật ra, ngay bộ trưởng quốc phòng cũng không cần mặc quân phục.
Tạ Chí Đại Trường là sử gia: bởi vì ông đã xuất bản sách về lịch sử VN “Lịch sử nội chiến ở Việt Nam từ năm 1771 đến 1802”. Và vài quyển sách khác có vẻ liên quan đến sử, như: Một khoảnh Việt Nam Cộng Hòa nối dài. Những bài dã sử Việt. Thần, Người và Đất Việt.
Tôi là người hâm mộ cố Giáo Sư Lương Kim Định thời VNCH. Tôi không là học trò của GS Kim Định. Nhưng tôi đọc gần hết, hơn 20 quyển, sách của ông đã xuất bản. Sách của ông. Như chính Kim Định viết, là bộ hách triết học Việt Nam. Triết lý An Vi cùng chủ trương Việt Nho. Nghiên cứu và diễn giải nhiều huyền sử và huyền thoại dân Việt. Không phải chính sử hay lịch sử biên niên VN.
Và tôi thấy ông TCĐT hình như là 1 trong những người người chống lại quan điểm của bộ sách KĐ. Thành thật mà nói, luận lý phản bác của TCĐT đối với Kim Định đều rất hời hợt. Không thuyết phục. Ngay 1 người bạn của Tạ Chí Đại Trường cũng thấy như vậy: “Chưa một sử gia nào của Việt Nam đã có một trình độ kiến thức tinh vi về những tư tưởng và lý thuyết hàn lâm trong bối cảnh học thuật quốc tế như Kim Định”(Sử gia, GS. Liam Kelly).
Theo tôi, TCĐT khi viết sách nghiên cứu lịch sử VN, ông viết thuần theo phương pháp duy vật biện chứng sử quan. Và vì thế giữa ông và KĐ có một khoảng cách quan điểm đáng kể. Người nào có phần nấy. Người viết như TCĐT rất khó thông cảm với quan điểm và ý tưởng trong sách An Vi hay Việt Nho của GS gốc linh mục Kim Định.
Ngoài ra, khi sách của TCĐT được “xem xét” và được xuất bản trong nước, TCĐT tỏ ra vui mừng và phát biểu theo kiểu rất “hồ hỡi phấn khởi” ra mặt. Dầu hèn cũng thể, không mặc áo lính, không đeo lon sĩ quan, thì thôi. Đã mặc áo lính (mà viết sử nữa) thì không nên nói câu chìu lòn thời thế quá quắt. Thấy nó kỳ kỳ sao á.
(trích, Đề cương phỏng vấn tác giả Tạ Chí Đại Trường
Thực hiện: Dương Thanh Hoài, Nhã Nam)
1. “Kính thưa nhà sử học Tạ Chí Đại Trường, chúc mừng ông lại có một cuốn sách xuất bản ở trong nước. Mỗi khi có một cuốn sách của mình được xuất bản trong nước, ông thấy thế nào?”
“Tất nhiên là vui rồi. Cái thú viết sách cho riêng mình là của Cao nhân, người thường không ai nghĩ như vậy, huống chi viết sách khảo cứu lại mong có nhiều người đọc để điều chỉnh sai sót chi tiết, luận điểm đưa ra, tiến tới việc đánh giá lại khả năng của mình để mong làm tốt hơn”…
https://damau.org/42437/su-hoc-tot-su-hoc-tao-ton-va-su-hoc-toi-doi-thoai-voi-giao-su-liam-kelley-phan-1
https://damau.org/42461/su-hoc-tot-su-hoc-tao-ton-va-su-hoc-toi-doi-thoai-voi-giao-su-liam-kelley-phan-2
Nhã Nam phỏng vấn TCĐT
https://vietmessenger.com/books/?title=su%20viet%20doc%20vai%20quyen&page=13
Trước hết, tôi xin thâm tạ Long Nguyen đã góp ý. Tôi vẫn hàm ân sự lưu ý của bạn đọc, nhất là từ một bạn đọc vẫn bỏ thì giờ quý báu đọc, rồi sau đó lại bỏ thì giờ quý báu hơn bầy tỏ cảm tưởng. Sau nữa, tôi xin thứ lỗi đã trả lời chậm chỉ vì muốn đợi cho loạt bài về Người lính Việt Nam Cộng Hòa được Da Màu duyệt đăng cho tới kết thúc. Nhờ thế, sự trả lời của tôi sẽ dễ dàng hơn. Vâng, tôi phải thú thật rằng lãnh vực Sử không là lãnh vực chuyên môn của tôi, nhưng đã đọc đủ Tạ Chí Đại Trường để biết ông ưa và không ưa sử gia nào hay cách ông xét đoán họ ra sao, đôi khi quá đáng (theo ý tôi), cũng như ông từng tặng tôi mấy chữ “Răng đen mã tấu”. Dù vậy, tôi đã chọn ông—một người lính—hầu giới hạn vào những vấn đề mà ông phát biểu có liên quan đến Người Lính chính vì chủ đề của loạt nghiên cứu này.
Về phương diện Sử, tôi xem Một khoảnh Việt Nam Cộng Hòa nối dài là một trong những quyển “sử ký” vì lý do đã trình bầy trong bài. Về phương diện tiểu sử, nhân danh một sĩ quan VNCH, ông đã công khai bầy tỏ ý kiến với nhà cầm quyền Cộng sản về di sản Nghĩa Trang Biên Hòa, nơi an nghỉ và/hay lưu lại dấu tích của đồng đội. Về phương diện cá nhân của một sử gia, trong khi đang bị cầm tù, ông vẫn có đủ can đảm để công khai bầy tỏ sự phản đối dù tính mạng có thể bị đe dọa trầm trọng. Vào những năm cuối 70 và đầu 80, sự đe dọa trầm trọng ấy là có thật. Hơn thế nữa, những tường thuật và bình luận của ông về tình cảnh của Phụ nữ Miền Nam sau 1975 (đặc biệt trong Một khoảnh Việt Nam Cộng hòa nối dài) khiến ông càng xứng đáng với nhiệm vụ một sử gia.
Tôi cũng có đọc những câu trả lời của Tạ Chí Đại Trường khi tác phẩm được phép xuất bản tại Việt Nam. Quả thật, tôi không thấy lý do khiến ông vui mừng (như được trích dẫn: “huống chi viết sách khảo cứu lại mong có nhiều người đọc để điều chỉnh sai sót chi tiết, luận điểm đưa ra, tiến tới việc đánh giá lại khả năng của mình để mong làm tốt hơn…”) là dấu hiệu của sự khuất phục, mà phải là tôn chỉ của bất cứ tác giả nào, kể cả sử gia. Một lần nữa, xin trân trọng cảm ơn Long Nguyen. -Nguyễn Tà Cúc