Trang chính » Biên Khảo, Các Số Da Màu định kỳ, Da Màu số 20, Tiểu luận Email bài này

‘Tiểu Thuyết Hương’ Sastra Wangi: Văn Chương Khích Động Nữ Quyền

Nguyễn Đức Nguyên chuyển ngữ


Lời giới thiệu

Trong bài viết này, tôi dự định phân tích những vấn đề liên quan đến giới tính và đạo Hồi, việc chúng được định hướng trong ‘tiểu thuyết Hương’ – sastra wangi, một thể loại văn chương khởi đầu từ cuốn tiểu thuyết Saman của Ayu Utami phát hành vào năm 1998. Cuốn tiểu thuyết trên, ngoài việc dẫn đường cho sự xuất hiện của nhiều nhà văn nữ trên văn đàn, cũng là một dấu mốc quan trọng, đánh dấu sự thám hiểm khai phá những đề tài cấm kỵ trước nay như bản chất dục tính, đặc biệt là dục tính phái nữ, cũng như những lời chỉ trích mạnh bạo về sự bạo động chính trị, sự áp bức và những bất công xã hội.

Trong nền văn học Nam Dương, trước ngày tàn của chế độ Suharto, văn nghệ sĩ nam giới phần lớn dành ưu thế. Qua ý thức hệ Giai Cấp Mới (New Order) của Suharto, quan niệm chính thường là người phụ nữ phải ở nhà, lo lắng cho chồng cho con. Họ không được tham gia vào những sinh hoạt cộng đồng; vì vậy nghề viết văn đa số là của nam giới. Kể từ năm 1998, những nhà văn nữ trẻ tuổi, với lớp tuổi từ 20 đến 35, bắt đầu phát triển trào lưu khai thác những đề tài táo bạo như dục tình của người nữ, bản tính đồng giới luyến ái, tình dục đồng giới nữ, cũng như sự bạo dâm ác dâm. Những nhà văn nữ trẻ này, nhân cơ hội, công khai trình bày những vấn đề tư tưởng phái nữ, tìm cách huy động quần chúng để họ hiểu biết hơn về những khó khăn mà người phụ nữ Nam Dương phải đối diện. Nhất là trong bối cảnh đặc biệt này, những nữ văn sĩ Hồi lại cần phải lên tiếng về những vấn đề liên quan giữa giới tính và ngành tôn giáo của họ. Tôi đặc biệt lựa chọn ở đây ba nhà văn nữ Hồi giáo (a) tiêu biểu để trình bày những công thức viết khác nhau của họ với mục đích gây chú ý đến vấn đề tôn giáo và giới tính.

Nguồn gốc và đặc điểm của nền ‘tiểu thuyết Hương’ sastra wangi

Hai từ sastra wangi có lẽ phát nguồn từ một ký giả người nam giới tên là Bre Renada. Ông ta nghĩ rằng thể loại văn chương này có giới hạn về chất lượng; vì vậy ông ta viết một truyện ngắn mang tựa đề Banjar Tampak Gangsul, trong đó mô tả người cháu của bà Hoàng Thái Hậu Dewi Sastrawangi là một thần nữ đầy quyến rũ, rối trí một nhóm tín đồ nam giới, làm họ mất cảnh giác bên một giòng sông. Qua cuốn tiểu thuyết, ông ta đã dùng nhân vật Dewi Sastrawangi để truyền đạt ý tưởng là những văn sĩ nữ không có đủ tài năng để cống hiến cho các độc giả; chỉ làm phân trí người đọc. Có thể nói rằng, người ký giả này có lẽ chỉ ganh tị với những cây viết phụ nữ trẻ thành công, vì họ đang bước chân vào một thị trường văn hoá mới đầy triển vọng. Từ đó hai từ sastra wangi được dùng và phổ biến rộng rãi qua các cơ quan truyền thông, càng trở nên thông dụng hơn qua những cuộc đề xướng, mặc dù ta không biết rõ là cảm nghĩ của người ký giả thật sự ra sao. Vì vậy, ta có thể khẳng định rằng những chủ ý không tốt mới đầu về sastra wangi lại chính là yếu tố tăng cường sự phổ biến của nền ‘tiểu thuyết Hương’.

Trước nhất, tôi cần nhấn mạnh ở đây là sastra wangi không phải là một thể loại sáng tác thuần nhất. ‘Tiểu thuyết Hương’ được sáng tác bởi những cây viết đủ loại, thuộc mọi thành phần, họ đến từ nhiều địa bàn sáng tác khác nhau, từ học thuật lý thuyết, cho đến tôn giáo, và có rõ những động cơ thúc đẩy riêng tư trong nỗ lực viết – tiểu- thuyết (b). Ngay cả hai chữ sastra wangi, chính chúng cũng gây sôi nổi vì ngay cả một số người cầm bút nữ không chấp nhận việc dùng chúng để phân loại các tác phẩm văn chương của họ. Họ biện minh rằng hai từ này rất giả tạo và không khai mở rõ những ý tưởng chuyển đạt qua các cuốn sách họ viết. Hơn nữa, sastra wangi vẫn chưa có được một định nghĩa rõ ràng chính thức. Watson dẫn ý rằng sastra wangi là “một hiện tượng văn chương độc đáo dành cho giới độc giả thuộc lớp thượng trung lưu đô thị (upper urban middle class)” (Watson, 2005:69). Những đặc điểm khác của sastra wangi là cách viết, cách nói thẳng, nói trực diện, không vòng vo về những chủ đề đầy cấm kị trước nay, và lớp tuổi rất trẻ của các cây viết nữ. Ngoài ra, thể loại văn chương này cũng rất phổ biến, rất nổi bật và được đọc giả hâm mộ: rất nhiều tiểu thuyết sastra wangi đã trở thành những cuốn tiểu thuyết bán chạy nhất; được hâm mộ nhất là hai cuốn Saman Supernova, của hai cây viết Christian Ayu Utami và Dewi Lestari, với số lượng bán gần 100,000 ấn bản (Garcia 2004) (c)

Sastra wangi cũng nêu lên những câu hỏi quan trọng như: cái thèm muốn sinh lý của người nữ đóng chức năng gì trong việc hiểu biết vai trò của người đàn bà trong một quốc gia Nam Dương tân tiến? Tôn giáo Hồi và hai-giới-tính-nam-nữ đóng vai trò gì trong xã hội Nam Dương? Trong bài viết này, tôi sẽ tìm hiểu khai phá những câu hỏi trên với những thí dụ qua tiểu thuyết của ba nữ tác giả Hồi: Herlinatiens, Dinar Rahayu và Dewi Sartika.

Sơ lược tiểu sử các tác giả

Herlinatiens (Herlina Tien Suhesti) sinh năm 1983 tại Ngawi (Đông Java). Gia đình cô vốn có gốc pesantren (d). Cô học sinh ngữ học và văn chương Nam Dương tại Yogyakarta. Qua cuốn tiểu thuyết đầy khích động ‘Người Đàn Bà Đồng Tính Bên Lề – A Lesbian on the Margins (2003)’, cô không sợ bị những tổ chức tôn giáo Hồi kết án, cũng như không tin rằng cuốn tiểu thuyết này sẽ là một trong những cuốn sách bị những người Hồi cấp tiến khai trừ.

Dinar Rahayu sinh năm 1971 tại Bandung. Cô tốt nghiệp trường Kỹ Thuật Bandung (ITB – Technical Institute Bandung) với một văn bằng về hóa học. Kể từ năm 1998, cô là một giáo sư hóa tại trường SMU Plus Muthahhari, Bandung và có dạy tư thêm môn hóa. Cô ta rất thích nghiên cứu thần thoại Hy Lạp, thích nghệ thuật họa hình người; những sở thích này hiện rõ trong tác phẩm của cô sẽ được bàn đến trong bài viết ‘Bài Thơ Ca Ngợi Leopold von Sacher-Masoch – Ode to Leopold von Sacher-Masoch (2002)’.

Dewi Sartika sinh năm 1980 tại Cilegon (Tây Java) nhưng gia đình cô thuộc giòng Minang. Dewi hiện đang theo ngành ngữ học Nam Dương, văn chương và nhân chủng học tại Đại Học Sư Phạm Nam Dương (UPI Indonesian University of Education). Cô viết văn từ hồi còn nhỏ, phần lớn với thể truyện ngắn. Cuốn tiểu thuyết Dadaisme của cô chiếm được giải nhất Giải Thi Viết Tiểu Thuyết của Hội Văn Hóa Nghệ Thuật Jakarta năm 2003. Chiếm được giải này là một điều rất bất ngờ vì những mẩu chuyện về tuổi thơ tuổi ngọc của cô chưa bao giờ được đăng báo. Ta có thể nói là cuốn tiểu thuyết đầu tay của cô là một thành công chớp mắt.

Những thúc đẩy cá nhân trong nỗ lực sáng tạo và các tác giả thần tượng

Trước khi phân tích ba cuốn tiểu thuyết tiêu biểu của ba nhà văn nữ Hồi nói trên, tôi muốn sơ lược những lý do thúc đẩy cá nhân của họ trong vấn đề sáng tác. Trong một cuộc phỏng vấn, Herlinatiens giải thích là cô ta muốn “báo cáo về đời sống những người sống cách ly bên lề (marginalised people)”. Văn sĩ thần tượng của cô là Mochtar Lubis (Graham 2003). Trong tác phẩm “Hoàng Hôn ở Jakarta – Twilight in Jakarta (1963)” Lubis đào sâu vào những vấn đề bất công xã hội, mô tả những khó khăn phải đối đầu của những công nhân nghèo đói hay làm việc dưới giao kèo. Dinar Rahayu thì khẳng định rằng chủ đích của cô trong việc viết tiểu thuyết là để phản ảnh kinh nghiệm sống của những nhân vật do chính cô ta cấu tạo. Cô không có chủ ý chỉ trích những hoạt động chính trị hay “trách móc người khác“ (Laksmini 2004:187). Cô nói cô ưa thích những tác phẩm của Ayu Utami nhưng có lẽ bị ảnh hưởng lối viết “vũ bão” của Danato và Budi Darma hơn (Lakmisi 2004:187). Về các văn sĩ quốc tế thì cô thích văn của Junichiro Tanazaki và Guy De Maupassant. Trái lại, tuy cũng bị ảnh hưởng của Ayu Utami, sự thúc đẩy ngòi bút của Dewi Sartika là việc lôi cuốn đọc giả vào những sáng tác của cô, để họ “dàn xếp những khúc mắc theo phương cách trật tự của họ“ (Khazanah 2004).

“Người Đàn Bà Đồng Tính Bên Lề”

Herlitantiens viết cuốn tiểu thuyết này vào năm 2003, chú trọng đến những khó khăn mà những người đàn bà yêu-người-cùng-giới-tính phải đối diện trong xã hội Nam Dương. Ashmora Paria(e), nhân vật nữ chính, yêu một người phụ nữ mang tên Rie, tuy Rie theo lời ước muốn của người mẹ đi lấy chồng, vì cô ta không muốn làm người mẹ thất vọng trong cơn bệnh. Ashmora Paria ở lại, chờ đợi một cách tuyệt vọng, mong ước rằng Rie sẽ trở về. Nỗi cô đơn của cô đã đưa đẩy cô đến những ý nghĩ tự hủy thân. Sau một số liên hệ tình dục với vài người đàn bà khác, vì áp lực gia đình, nhân vật nữ chính ấy cũng đồng ý đi lấy chồng, lấy một người đàn ông tên Mahendra. Nhưng ở phần cuối cuốn tiểu thuyết, cô nhận được một lá thư của Rie gửi; một lá thư đến từ Paris, nơi sinh sống của Rie hiện giờ; một lá thư mang đến nỗi hy vọng tái hợp với người tình cũ. Trong cuốn sách, Herlinatiens tả tỉ mỉ rằng tuy Ashmora Paria đang sửa soạn lập gia đình với Mahendra dù không yêu anh ta, cô đã hăng hái quyết định lấy máy bay đi Paris, bỏ lại đằng sau tất cả, kể cả người chồng chưa cưới.

Theo diễn tiến của cuốn tiểu thuyết thì đầu óc của nhân vật nữ chính luôn luôn chú tâm, không nghĩ được cái gì khác, ngoài việc nghĩ đến người tình xa cách. Để làm nổi bật những suy nghĩ này, hầu như toàn cuốn tiểu thuyết được viết theo một thể văn tư tưởng độc thoại (inner monologues). Người Đàn Bà Đồng Tính Bên Lề cũng còn một đặc điểm nữa là khi thì đầy chất vị thơ, lúc thì đầy giọng thô tục. Thỉnh thoảng lồng vào những hàng chữ viết là những câu thơ; nhưng ngược lại những tiếng lóng thô bỉ như bangsar (tên điếm, con đĩ) hay dancuk (đéo, đụ) cũng xuất hiện nhiều lần trong cuốn sách. Cách cấu tạo hành văn như vậy được dùng để khơi rõ những xúc cảm hay tính khí thay đổi đột ngột nhanh chóng của người nữ vai chính. Những cảm xúc đối lập có thể được giải thích vì tâm trạng thiếu tình yêu, không toại nguyện, cũng như những phản ứng có thể nói là không thuận ý của gia đình bè bạn, chỉ vì tình trạng tình-dục-đồng-giới-tính của cô. Cái sự dằng co trong tâm tưởng đôi bên đã làm cô mất quân bình. Cô cảm thấy bị gia đình hất hủi chỉ vì họ không dung thứ được mối tình dành cho một người đàn bà của cô, vì một mối tình đồng giới giữa hai người nữ chỉ đem lại một mối nhục gia phong. Và mặc dầu Ashmora Paria chỉ muốn được chấp nhận như một người “bình thường”, để được hưởng những quyền lợi dành cho một người “thường”, những ước muốn thông thường ấy của cô đã không được thoả mãn. Ngay sau khi họ biết được cô là một người đồng-giới-luyến-ái, gia đình cô cố gắng thuyết phục cô lập gia đình với một người đàn ông càng sớm càng tốt; bạn bè cô không tỏ vẻ thông cảm mối tình; và tại sở làm, những dự án làm phim của cô đột nhiên không còn được hỗ trợ như xưa. Lời thuật của nhân vật chính trong chuyện, chỉ là một công cụ để dùng diễn đạt ý kiến của tác giả, là cái tình-yêu-cùng-giới-tính dẫn đến sự cô lập của người đó là một điều đáng quan tâm: “Đương nhiên, tôi là một người nữ yêu người nữ. Nhưng nếu dùng điều ấy để cô lập tôi thì đó là một điều bất công (p.45) ”. Herlinatiens chỉ trích rằng những tổ chức Hồi cấp tiến càng gây khó khăn cho giới phụ nữ đồng giới luyến ái, và làm cho họ cảm thấy cô lập hơn. Người nữ vai chính phàn nàn với một người bạn là với những dự định sản xuất phim của cô, những nhóm người cấp tiến đó đã phản ứng bằng cách hăm dọa chính công ty nơi cô đang làm việc: “… công ty tôi làm việc đã hoảng sợ không muốn duy trì kế hoạch làm phim của tôi. Họ bị những tín đồ sùng đạo khủng bố” (p.45). Và như vậy Herlinatiens luận chứng rằng những người Hồi cực đoan là những hiểm họa cho xã hội. Họ, vì quá khích, sẽ chú trọng đến việc tấn công những nhóm người bên lề, không chủ lưu, như những người đồng-giới-luyến-ái-phái-nữ, để buộc những người này tuân theo lối sống tình dục thường tình với người khác giới. Tác giả dụng tâm truyền bá một nền tôn giáo Hồi ôn hòa, để làm căn bản cho những nhóm người bên lề ấy dựa dẫm, vì đạo Hồi vẫn là một phần cá tính của họ. Chẳng hạn, qua lời thuật những cảnh cầu nguyện trong cuốn sách, Herlinatiens nhấn mạnh lòng tín ngưỡng, sự mộ đạo của người nữ vai chính trong cuốn tiểu thuyết. Rõ ràng là tác giả muốn giải thích rằng tình yêu là một tặng phẩm của đấng Allah tối cao, dành chung cho hai nhóm người yêu-người-khác-giới-tính và yêu-người-cùng-giới-tính, cả hai nhóm đều ngang hàng với nhau trên phương diện này: “Cái khoảng khắc mà tôi phải lòng yêu Rie, tôi cảm thấy lại càng gần gũi đấng Allah hơn, mặc dù cô là một người nữ và tôi cũng là một người nữ” (p.45). Theo ý Herlinatiens thì cái gọi là đồng-giới-luyến-ái không nên bị coi là xung khắc với đạo Hồi. Ngược lại, với một bên là những người cấp tiến Hồi giáo, và với phía bên kia là sự thiếu thông cảm về những điều kiện thiết yếu cùng những thành kiến cố định đối với cương vị của những-người-hơi-khác-với -mình, chính chúng là nguồn gốc chịu trách nhiệm tạo nên một thế giới lạnh lẽo vô tình.

(xin đọc tiếp phần hai trên damau số tới)


_____________________________________________________________________
Chú thích:
(a) Cần đề cập ở đây là các tác giả viết thể loại sastra wangi theo nhiều tôn giáo khác nhau như đạo Thiên Chúa, đạo Hồi, đạo Ấn, v.v.
(b) Ngoài những cây viết đề cập đến trong bài này, những văn sĩ viết sastra wangi gồm có Ayu Utami, Dewi Lestari, Djenar Maesa Ayu, Nukila Amal, Fira Basuki, Nova Rianti Yusuf, Linda Christanty, Sirikit Syah, và Oka Rusmini.
(c) Số sách bán này là một số lượng lớn tại Nam Dương vì xứ họ không có một thị trường đọc sách như tại các nước Âu Tây
(d) Những trường dạy kinh Koran cho trẻ em và thanh thiếu niên.
(e) Cái tên của nhân vật chính cũng có dụng ý vì paria là một chữ dùng để chỉ giai cấp thấp nhất trong đạo Ấn, lớp người bị xã hội ruồng bỏ

bài đã đăng của Dr. Monica Arnez

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)