Trang chính » Biên Khảo, Các Số Da Màu định kỳ, Da Màu số 21, Tiểu luận Email bài này

‘Tiểu Thuyết Hương’ Sastra Wangi: Văn Chương Khích Động Nữ Quyền (2)

 

Nguyễn Đức Nguyên chuyển ngữ


‘Bài thơ vịnh Leopold von Sacher-Masoch’

Cuốn tiểu thuyết này, tác phẩm đầu tay của Dinar Rahayu, viết vào năm 2002, phần lớn diễn tả những kinh nghiệm đời sống tình dục của một số người có khuynh hướng bạo dâm ác dâm, sùng bái tình dục, có hành động loạn luân hoặc vướng tình trạng chuyển giới tính. Trong những nhân vật được mô hình trong cuốn sách, có hai nhân vật chính là Jonggi, một người bạo động khi làm tình để đạt đến khoái cảm cực đỉnh, và Dinar, một người-chuyển-giới-tính. Cuốn tiểu thuyết đề cập thẳng đến những đề tài thần thoại từ Hy Lạp và các xứ Bắc Âu, chúng được dùng để giải thích những hành động hiện tại của các nhân vật, nhất là những hành động liên quan đến bản năng giới tính của họ. Jonggi nghĩ rằng hắn ta chính là hậu thân của thần Apollo, còn Dinar thì lại nghĩ rằng cô/hắn ta là hậu thân của một valkyrie(f). Tác giả chú ý giải thích đến việc thần Apollo bị giáng xuống trần gian để làm nô lệ cho một số người, và rồi đến với Dinar để phục vụ Odin(f), hợp với những quân binh đáng được khao thưởng bước đến bờ Walhalla(f). Và Dinar tự động dâng hiến tiết trinh cho Apollo để được thoát khỏi cái thế giới của thần của thánh. Chỉ khi đi sâu vào cuốn tiểu thuyết một khoảng sau đó, sự khác biệt giữa những nhân vật hư cấu và những nhân vật thần thoại mới được vạch rõ. Dinar được mô tả là một người nam, quyết định chuyển giới vì theo thần thoại Bắc Âu, người ta tin rằng hiện thân chính là một người nữ; vì vậy hắn quyết định giải phẫu chuyển giới tính. Tác giả tạo nên một mối dây liên hệ giữa Jonggi và Apollo bằng cách thuật rằng cả hai từng trải qua những kinh nghiệm sống giống nhau, qua đời sống nô lệ, mặc dù Jonggi tự ý làm việc này, còn Apollo thì không. Tiêu đề cai-trị/nô-lệ được dùng để thuật chuyện của cả hai Apollo và Jonggi, đã được khai thác trong cuốn tiểu thuyết Venus in Furs (1870) – Thần Vệ Nữ Trong Chiếc Áo Lông, của tác giả người Áo Leopold von Sacher-Masoch. Ông ta đã sống thực với của một xã hội không tưởng (utopia) do chính ông tạo dựng; bằng cách ký một giao kèo 6 tháng với bà Fanny Pistor Bogdanoff, cho phép bà này đối xử với ông như một người chủ dùng một tên nô lệ. Ngược lại bà ta phải mặc những chiếc áo lông, càng thường lệ bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu, nhất là những khi bà ta nổi cơn bạo ác. Khi giao kèo lạ kỳ này chấm dứt, Sacher-Masoch đã ghi lại những kinh nghiệm sống trong khoảng thời gian đó trong cuốn tiểu thuyết Thần Vệ Nữ Trong Những Chiếc Áo Lông. Và giống hệt trong đời sống thực, trong cuốn tiểu thuyết ấy, nhân vật Severin von Kusiemski soạn thảo một giao kèo với Vanda von Dunajew, một người góa phụ xinh đẹp, cho phép bà này làm chủ hắn. Với mục đích làm cho Severin nổi cơn ghen, Wanda liên hệ tình dục với một người đàn ông khác, và còn ra lệnh cho người tình mới của bà dùng roi quất đánh Severin. Cái kinh nghiệm không-lấy-gì-làm-lý-thú đó làm Severin thức tỉnh và ông ta không còn muốn giữ cái quan hệ dục tình với Wanda. Khác hẳn với Thần Vệ Nữ Trong Những Chiếc Áo Lông, trong cuốn Bài Thơ Cho Leopold von Sacher-Masoch, Jonggi không có chủ tâm hay cố ý khi quan hệ tình dục với một số người. Hắn từng là nạn nhân khi còn nhỏ tuổi dưới tay người anh trai qua những vụ kê dâm (sodomy) trong nhiều năm. Rồi người mẹ cô đơn của hắn cũng hành dâm hắn khi hắn còn thơ và ngay cả khi hắn đã lớn. Tuy nhiên, khi hắn trưởng thành, Jonggi bắt đầu cảm nhận sự khoái lạc qua những cuộc hành dâm với bà mẹ. Hắn tự dâng hiến cơ thể cho bà mẹ vì nghĩ rằng đó là một việc làm trả công thích ứng của một người con yêu thương mẹ, và để rồi sau đó bị cô thầy giáo Kartika và một số phụ nữ khác tra tấn.

Cuốn tiểu thuyết này mô tả giới phụ nữ là những con quái vật độc ác, chỉ muốn thống trị, hãm hiếp và tra tấn những người đàn ông để thỏa mãn những ý tưởng, những xúc cảm tình dục bạo lực lạ lùng và hoang dại của họ. Khác hẳn với Severin trong Thần Vệ Nữ Trong Những Chiếc Áo Lông, Jonggi không chữa khỏi được cái bệnh cần phải bị hành hạ ở đoạn cuối cuốn sách. Tuy nhiên, những thái độ, những cư xử trên vấn đề tình dục “bất thường” này của các nhân vật trong chuyện được giải thích rằng: không những Jonggi đã bị bạo hành khi còn nhỏ mà chính Kartika cũng vậy, vì bà ta đã bị cha bà đánh nhiều trận thừa sống thiếu chết. Rahayu muốn chứng tỏ ở đây là cái quá khứ của một người là nguồn gốc gây nên những hậu quả tức thời qua những hành động hiện tại của người ấy. Và cách diễn tả mối dây liên hệ giữa cái quá khứ thật sự và thần thoại của các nhân vật, Rahayu muốn giúp người đọc thấu hiểu thêm về những thái độ, những hành động dục tính của chính họ.

‘Dadaisme’

Dewi Sartika viết Dadaisme vào năm 2004, diễn tả cái thế giới nội trí của những người bị mắc tính tự kỷ, cùng sự suy tưởng về nhiều đề tài khác nhau phát nguồn từ bản tính tự kỷ (autism) như cái ngẫu nhiên tình cờ, sự chết cho đến sự đồng giới luyến ái và cả vấn đề đa thê. Cuốn tiểu thuyết không chỉ thuật một cốt chuyện, mà có rất nhiều tình tiết; những tình tiết ấy tương đối khó để người đọc có thể “giải mở những khúc mắc”; ở đây tôi sẽ chỉ đề cập đến cốt chuyện quan trọng nhất có dính líu đến đạo Hồi và giới tính. Cuốn tiểu thuyết đặt trọng tâm vào cuộc đời của người y sĩ Dr. Aleda, một nữ tâm lý gia, và sự chú tâm của bà trong việc chữa trị một bé gái mang bản tính tự kỷ khỏi ảnh hưởng của một kinh nghiệm sống đầy đau thương. Khi Nedena chỉ mới vài tuổi đầu, cô nghịch lửa que diêm, mặc dù người mẹ đã cấm. Tai họa thay, một cơn hỏa hoạn bất thần đốt cháy căn nhà, và mẹ cô ta chết cháy trong ấy. Từ đó cô ta trở nên câm, mất đi tiếng nói. Trong nhiều cuộc chữa chạy, Dr. Aleda gắng sức khơi động tiềm thức của Nedena, và cuối cùng bà đã thành công. Nhưng tội nghiệp thay, Nedena không chịu đựng nổi cái ký ức được khôi phục đó, và tự vẫn. Cái hy vọng của người y sĩ tâm lý học này là dùng những trí năng sắc bén của bà để giúp đỡ các bệnh nhân, cũng đã thất bại. Và bà phải chấp nhận là tất cả những nỗ lực của bà hoàn toàn vô ích, bà không thể nào ngăn chặn được cái chết của Nedena.


Dadaisme
mang trong đó một âm vang tôn giáo mạnh. Cái chết và những sự trùng hợp ngẫu nhiên là những chủ đề quán xuyến được đề cập nhiều lần trong cuốn sách. Trước mỗi cái chết, luôn luôn là sự xuất hiện của một tiểu thiên thần một-cánh da-ngăm Michail, như một tử thần. Tiểu thiên thần này xuất hiện để làm giảm bớt cái bứt rứt của người sắp chết, an ủi họ những khi họ buồn khổ. Michail dường như chỉ đến với đời sống những người này một cách rất tình cờ, nhưng rồi diễn tiến cuốn tiểu thuyết cho thấy rằng sự xuất hiện của Michail không thể được coi là ngẫu nhiên: tất cả những người gặp tiểu thiên thần Michail đều đã chết, hay sắp chết ở cuối cuốn sách, vì đó là định mệnh. Sự tương quan giữa cái ngẫu nhiên và đạo Hồi cũng được thảo luận, qua quan niệm qadar(g), lòng tin vào định mệnh; và cái ưu điểm và nhược điểm của lòng tin này được đề cập đến. Magnos, người đồng nghiệp và cũng là bạn của Aleida, cũng có một con bệnh cần chữa chạy tương tự; anh ta đề cập đến lý thuyết qadar. Magnos không tin vào sự trùng hợp hoàn toàn ngẫu nhiên; khác hẳn với Aleida, người tin rằng sự trùng hợp tình cờ của những căn bệnh tương tự sẽ giúp bà ta có thêm cơ hội để chữa lành Nedena. Bà hy vọng là đó chính là bàn tay dẫn đường của Đấng Tối Cao. Tuy nhiên, những sự trùng hợp ngẫu nhiên của các con bệnh, qua sự xuất hiện của một thiên thần, lại không phải là một thiên thần cứu rỗi mà chỉ là một thiên sứ báo hiệu cái chết gần kề, sắp bước qua ngưỡng cửa.

Phản ứng về những cuốn tiểu thuyết Hương
Có rất nhiều sự phản ứng khác nhau đối với những cuốn tiểu thuyết Hương, nhưng đặc biệt là những tổ chức Hồi đã để yên không đụng chạm đến các tác giả viết sastra wangi. Họ không ra ban hành án lệnh fatwa(h) đến các tác giả, một điều gây ngạc nhiên cho quần chúng. Chỉ có một số biến cố nhỏ nhoi đáng được đề cập ở đây. Trong buổi ra mắt trình bày cuốn tiểu thuyết của bà tại Surabaya trước công chúng vào năm 2003, Herlatiens bị một nhóm thanh thiếu niên nam nữ hỗn tạp làm dữ chỉ vì bà mang jilbab trong buổi ra mắt. Cũng trong năm đó, khi bà trình bày cuốn sách tại Viện Khảo Cứu Hồi Giáo Quốc Gia IAIN (Governmental Institute for Islamic Studies) trước trên 500 cử tọa, không có một nhóm Hồi cấp khích nào biểu tình chống đối (Graham 2003).
Vào năm 2004, tại một buổi ra mắt sách, cuốn Bài Thơ Cho Leopold von Sacher-Masoch của Dinar Rahaya bị phê phán là có tích cách đánh đổ đạo đức, tục tĩu khiêu dâm. Tuy vậy cuốn sách chỉ được bàn luận một cách sơ lược vì những người có mặt hôm đó lại quan tâm đến đời sống thầm kín cá nhân của cô hơn là về nội dung cuốn sách. Chỉ một khoảng thời gian ngắn sau khi Bài Thơ Cho Leopold von Sacher-Masoch được xuất bản, Dinar Rahayu bị cách chức vì ngôi trường cô giảng dạy cho rằng tác phẩm này hơi quá khích(Kurnia 2004). Mặc dù sự kiện này đã làm trệch đường một số dự định tương lai của cô, cái phản ứng trên có lẽ chỉ phản ảnh sự lo sợ mang tiếng xấu của ngôi trường cô đang cộng tác là có (thuê) người trong ban giảng dạy xuất bản sách dùng lời lẽ thô tục. Còn cuốn Dadaisime của Dewi Sartika thì chỉ bị chỉ trích là vì bố cục lỏng cỏng, không chặt chẽ, hơn là vì những ý kiến nội dung về đạo Hồi. Một số nhà phê bình nhận định rằng cuốn tiểu thuyết này còn non, kém cấu trúc, đáng lẽ đã cần phải được biên tập trước khi xuất bản.

Lời kết luận
Trong những quyển tiểu thuyết được phân tích ở trên, sự xúc cảm về tình dục phái nữ đã được công khai diễn tả, có thể nói là khác hẳn với những cuốn tiểu thuyết xuất bản trước thời kỳ này. Tuy vậy, Dinar Rahayu chứng tỏ trong tác phẩm của cô là giới phụ nữ vẫn không thể diễn đạt đủ những xúc cảm thèm muốn dục tình. Thí dụ là trong cuốn Bài Thơ Cho Leopold von Sacher-Masoch, với những nhân vật nữ giới biểu lộ sự mê đắm dục tình, Dinar Rahayu dẫn ý rằng họ vẫn không thể kềm hãm được những đam mê bẩm sinh để thấy nam giới là những người tình ngang hàng. Họ, nữ giới, chỉ được thỏa mãn khi có ưu thế tình dục đối với phái nam. Như vậy, cái quan điểm rằng giới nữ có khả năng kềm chế đam mê dục tính, hay có kỷ luật tự chủ hơn giới nam, đã không được tác giả công nhận hay bênh vực. Qua phương cách mô tả giới phụ nữ là những con quái vật đầy kích thích dục tính quái lạ, độc ác, bất thường, Rahayu đã dùng hình ảnh của một giới-nữ-thống-trị (domina) để thay thế những hình ảnh người vợ, người mẹ; một hình ảnh không thích đáng để định nghĩa vai trò của người nữ trong một nước Indonesia hiện đại. Vì vậy, theo lời tác giả, cái câu hỏi làm thế nào để định nghĩa vai trò của người phụ nữ Indonesia cho thích hợp vẫn chưa có được lời giải đáp.
Trong hai cuốn tiểu thuyết còn lại, sự thèm muốn tình dục của phái nữ và vai trò của người phụ nữ, nói chung, đã được mô tả một cách thuận lợi hơn. Những nhân vật nữ ở đây tuy đã không còn bị cảm quan là lệ thuộc vào người đàn ông, họ không hoàn toàn cố gắng đổi ngược cái vị thế vai trò hiện tại thường tình cũ là những người vợ, người mẹ đảm đang phục tòng. Nữ giới đã đóng góp tích cực qua các nhân vật Dr. Aleda và Ashmora Paria. Bà y sĩ Aleda, chính bà, còn đứng ra chọn người vợ thứ cho chồng chỉ vì bà không thể nào sinh con được nữa, và qua hành động đó thể hiện rõ ràng lối sống tương lai vợ chồng của bà. Bà chủ trương tán thành sự đa thê vì bà nghĩ đó là một cơ hội, một phương tiện để chồng bà có thêm con, điều mà ông ta hằng mong ước, và đó cũng là điều kiện để vợ chồng bà sống êm ấm với nhau. Ở đoạn cuối cuốn sách Người Đàn Bà Đồng Tính Bên Lề, Ashmore Paria cũng đã toại nguyện khi đạt được giấc mơ. Trong hai cuốn tiểu thuyết này, đạo Hồi đã cung ứng cho người phụ nữ cơ hội để họ đối đầu những thử thách khó khăn xã hội. Những khó khăn của bà y sĩ Aleda bắt nguồn cội rễ từ những liên hệ gia đình và cái nghề y sĩ tâm lý của bà; còn đối với Ashmora Paria thì cô ta phải vật lộn với những thiên kiến xấu từ xã hội cũng như phản ứng của những người chung quanh vì mối tình đồng giới của cô. Cả hai tác giả này đã không gán cho đạo Hồi là nguyên do đưa đến những vấn đề xã hội này. Mặc dù Herlinatiens đề cập đến cái hiểm họa của những tổ chức Hồi quá khích đối với xã hội, và như vậy lôi kéo sự chú ý của người đọc đến cái nguy hiểm của một mô hình đạo Hồi cấp khích, những nhân vật chính vẫn cảm thấy thoải mái, không sợ hãi đạo Hồi. Nhất là trong cuốn Người Đàn Bà Đồng Tính Bên Lề, nhân vật nữ chính thường xuất hiện trong những cảnh cầu nguyện để tìm cách đến gần Allah hơn. Vì vậy ta có thể nói rằng những bất công, những hủ tục, lề thói cũ của xã hội, như sự xếp đặt người phụ nữ ở bìa lề xã hội, không phải do đạo Hồi đem đến, mà những nguyên do tạo ra chúng chính là những thành kiến đã ăn sâu bắt rễ và cái đạo đức giả của con người.

 

Chú thích: [nguồn Wikipedia]

(f) Thần thoại Bắc Âu Norse bao gồm một số thần thoại trước Thiên Chúa giáng sinh của các cư dân sinh sống tại các nước Bắc Âu, và cả cư dân xứ Iceland.

Odin (tiếng cổ Norse viết là Óðinn) là vị thần chính trong thần thoại Norse. Cái tên này mang nhiều nghĩa, như ”khích động” ”thịnh nộ” hay ”thi vị”, và là vị thần tượng trưng cho chiến tranh, sự thông thái, ma lực, tiên tri, chiến thắng và cả cái chết.

Valkyrie: là dísir, những nữ thần phục vụ Odin, với mục đích chính là phụ việc tuyển chọn những anh hùng trận vong và đưa đường những liệt sĩ này đến Valhalla, dọn đường cho họ trở thành einherjar, những chiến sĩ sát cánh với Odin trong trận chiến cuối cùng của thế giới Ragnarok.

Valhalla: đại sảnh nơi Odin tiếp nhận linh hồn những anh hùng liệt sĩ tử trận .

(g) Qadr: một quan niệm Hồi giáo giải thích thuyết ’định mệnh Trời đặt’. Chữ này bắt nguồn từ câu al-qada wa al-qadar, theo tiếng Arabic, có nghĩa là ”trời đã định và đã vẽ đường sẵn”. Câu này nhằm giải thích rằng Đấng Tối Cao đã vạch sẵn đời sống của mỗi người, định sẵn cho họ những điều may mắn và cả những nỗi bất hạnh, và cũng vẽ sẵn cho họ những con đường dù tốt hay xấu mà họ phải đi theo trong cuộc đời.

(h) fatwa: một án lệnh Hồi giáo do một mufti ban hành. Mufti là một người lãnh tụ đạo Hồi được coi là có thẩm quyền phán xét dùng luật Hồi Sharia (Islamic law) làm căn bản.

bài đã đăng của Dr. Monica Arnez


Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)