Trang chính » Bài lưu trữ theo thể loại

Bài thuộc thể loại: Song ngữ

người anh em, hãy thận trọng / beware, soul brother

15.07.2007

nhưng người anh em, hãy thận trọng

với âm thanh dụ hồn siêu thoát
trên ngọn gió thiên ca

But beware soul brother
of the lure of ascension day
the day of soporific levitation
on high winds of skysong

“!”


♦ Chuyển ngữ:
15.07.2007

As the universal language-for now-English represents to these students the rest of the world. English is the world. These students also know that Vietnam, as it exists, is not of this world. To cling even to a false English is to insist on another reality.

Là một ngôn ngữ toàn cầu, trong thời điểm hiện tại, đối với các học sinh này, tiếng Anh đại diện cho thế giới. Họ cũng biết Việt Nam, trong thời điểm này, không nằm trong thế giới. Bám víu vào thứ tiếng Anh giả mạo cũng là cách khẳng quyết một thực tại khác.

Chùm thơ đợi chờ/Poems of Waiting

15.07.2007

Vào ngày sinh nhật thứ 100 của mình,
Bà lão ao ước có được một cái va li
Nhưng đàn cháu lại biếu bà một cái chăn ấm

Where would an old woman like her travel?

Đi tới cuối đường, rồi … (kỳ 14)


♦ Chuyển ngữ:
15.07.2007

Tôi hỏi lại: “Cô nghĩ tôi đã giết người thật sao”? Cô nói: “Biết đâu tôi sẽ chẳng là nạn nhân của ông”. Tôi bảo: “Cô đánh giá tôi hơi cao. Tôi luôn luôn là kẻ bị giết”. Chờ cho cô thấm hết điều tôi muốn nói, tôi tiếp: “Nhan sắc phụ nữ là điều tối thượng, cô còn có sự thông minh của một nghệ sĩ. Đấy lại là một tối thượng khác. Cô có quan tâm đến những vấn đề nữ quyền không?”

Kền Kền/ Vultures


♦ Chuyển ngữ:
15.07.2007

Hãy hào phóng ca tụng
Thượng Đế
xin ban cho yêu tinh ăn thịt người
một chút mềm mỏng
bé xíu như ấu trùng

Praise bounteous
providence if you will
that grants even an ogre
a tiny glow-worm
tenderness encapsulated

Cơ Thể Linh Thiêng


♦ Chuyển ngữ:
15.07.2007

Cơ thể linh thiêng của tôi!
Những con thú cúng thần gầm sâu trong tôi
Và thịt bò thăn làm nồng những ngày thứ bảy

After A War / Sau Một Cuộc Chiến


♦ Chuyển ngữ:
15.07.2007

After a war life catches / desperately at passing / hints of normalcy like / vines entwining a hollow
twig; its famished roots / close on rubble and every /piece of broken glass.

Sau một cuộc chiến đời sống vồ chộp / liều lĩnh những dấu vết / thoáng qua của trạng thái bình thường như
những cây leo quấn quanh một nhánh / cành rỗng; những gốc rễ chết đói / mọc trên gạch đá vụn và từng
miếng thủy tinh vỡ.

Đi tới cuối đường, rồi … (kỳ 13)


♦ Chuyển ngữ:
30.06.2007

Cụ tổ nhìn thấy cả cái hay và cái dở của ông Lục trong việc cứu người, ông phát tâm đại nguyện học nghề thuốc đến nơi đến chốn. Cha của Phụng được thừa hưởng những tinh hoa của tổ tiên, vừa có cốt cách ôn nhu của một thày thuốc vừa có chất lãng tử của một hào kiệt.

The Landscape of Forgetting/Miền Lãng Quên

30.06.2007

Once upon the time, I was here / the land of many legends and myths / piercing through history like a raging arrow.

Đâu đó dưới mặt trời rát bỏng / đứng lặng ngây hệt một gã khờ, kẻ bị bỏ rơi / kiếm tìm sự trở về hoàn hảo nơi đô thị đầy bụi bặm.

Cựu chiến binh, nhà thơ/ War Veteran, Poet


♦ Chuyển ngữ:
30.06.2007

Anh nhắc thực nhiều đến cái mảnh đất xa xôi có tên gọi là Việt Nam sau khi hút cần sa, sau khi uống rượu, và trong những bài thơ của anh.

Fred would smoke marijuana, drink wine, and write poems, in that order. After smoking marijuana and drinking alcohol, he frequently mentioned that distant piece of land called Vietnam in his poetry.

Phòng Bốn Giường – Four-Bed Room

15.06.2007

Tôi chẳng bao giờ đến những trường học, những thư viện, như bao người khác. Ở đấy, tôi tin, không có gì để học nữa hết. Tôi chẳng thà nghiền ngẫm tất cả những món bị thiên hạ hôm nay phế thải . . . .

I never come to any schools or libraries like people do. There, I believe, there is nothing left to learn. I’d rather brood over all the things people today throw away . . . .

Reunion – Gặp Lại

15.06.2007

Cotton candy skies and lined asphalt / Kiss / In impressionistic passion about your form / It is the vague gray halo of rains apart

chừng như quanh tôi / chấp choáng, khi bắt gặp / dưới đôi mày hằn sâu những nếp nhăn / hàng mi quen thuộc

Tai Ương – A Disaster

31.05.2007

Thảng hoặc có người nhìn lướt qua tôi, đôi mắt xanh lè của họ chỉ gây cho tôi một cảm giác kinh tởm, khó chịu bởi vẻ vô cảm vô hồn của chúng. Tôi tưởng chừng như đang ở một nơi không phải là đất nước mình. Cảm giác khó chịu dâng lên mãi, cuối cùng không kham nổi, tôi gập mình xuống, ôm bụng mửa ra một đống nước dãi lẫn mật đắng.

It was a beautiful morning. The warm sunshine coming through the window made her room brighter. Youth helped her recover quickly. She heard a baby cry from a nearby cradle, the cry of a baby she had given birth in pain. She felt a deep love for the baby whose face was still strange to her.

Tiếng Việt là Ngôn Ngữ của Cảm Xúc

31.05.2007

cho quá khứ thôi phản hồi Việt Ngữ
ngôn ngữ của bản năng, của thân tình, của người con
cho hiện tại thêm trao dồi Anh Ngữ
ngôn ngữ của nghề nghiệp, của thuận lợi, của sống còn

so the past would stop reflecting Vietnamese
a language of instinct, of relations, of family
so the present can keep sharpening English
a language of career, of convenience, of survival

Đi tới cuối đường, rồi … (kỳ 11)


♦ Chuyển ngữ:
31.05.2007

Cô còn nói có một thứ y học tâm linh cũng như có một thứ y học tình dục. Tôi bảo bé con đừng có xạo sự. Cô cười nói: “Phụng cũng từng là người bán thuốc đó nhe.” Tôi bảo tôi nhớ điều ấy, nhưng đừng nói như một con mẹ nạ dòng. Cô giận bỏ cơm.

Nhãn Hiệu Mỹ (Viên Đạn Bắn Vào Nhà Thục)/Made in USA

31.05.2007

– Chú có thích nghe nhạc không ? Ba tôi thích cải lương như mẹ tôi. Tôi thì ghét. Tôi thích nghe hát tân nhạc. Hôm đánh nhau ở khu này, hai người bộ đội vào nhà tôi đòi ăn cơm, tôi nhờ họ moi hộ cái đầu đạn, họ quát bắt tôi ngồi yên nơi xó nhà. Tôi có mở nhạc nghe. Nhưng một ông bắt tôi tắt máy còn một người bảo tôi cho ông ấy nghe một bài vọng cổ.

Tiệm cho thuê sách của gia đình

31.05.2007

Khi người ta đem xe ba gác đến dẹp,
bố tôi mở cửa mời mấy người hàng xóm
vào xem và lấy tùy thích.

A Shadow in the Sky/ Bóng Mây Trên Trời

31.05.2007

I love the shadows of clouds traversing
over a calm sea, spinnakers silhouetted
in the blazing horizon.

Tôi yêu những bóng mây vắt ngang bầu trời
trên mặt biển lặng, những cánh buồm tam giác in bóng
nơi chân trời rực sáng.

Đi tới cuối đường, rồi … (kỳ 10)


♦ Chuyển ngữ:
15.05.2007

Làm tình và vẽ. Tôi cởi truồng cầm cọ. Màu sắc trong tranh tôi rừng rực. Ðôi khi tôi quẹt sơn lên cả người Phụng. Tôi vẽ những giấc mơ của con người. Tôi để Phụng tùy thích lăn người trên sơn ướt. Tôi hòa trộn Phụng, tôi, mồ hôi và nước nhờn vào tranh. Da bụng của Phụng mỗi ngày một căng phồng lên, láng bóng.

The Long Road Home – Đường Về Diệu Vợi

15.05.2007

Với tâm trạng lừng khừng (existential ambivalence), các tác giả miền Nam còn lại trong nước sau 1975 bị xem là những kẻ bất tuân chỉ (nonconformist) và do đó có khả năng trở thành mối đe dọa cho viễn cảnh mới của chế độ xã hội chủ nghĩa (the new socialist vision), một chế độ vốn xem sự dễ bảo là một trong những dấu ấn đặc thù.

Nhạc Trịnh Công Sơn


♦ Chuyển ngữ:
15.05.2007

Joan Baez đã gọi Trịnh Công Sơn là “Bob Dylan của Việt Nam.” Trong phim Mùa Hè Chiều Thẳng Đứng (Vertical Ray of the Sun) của Trần Anh Hùng, nhạc Trịnh Công Sơn đi cùng dải ghi âm với nhạc của Lou Reed, Arab Strap và The Married Monk. Một nhóm nghệ sĩ xuất sắc, lẽ dĩ nhiên, và cũng là một sự so sánh có nhiều ý nghĩa, nhưng Trịnh Công Sơn lúc nào cũng là người hoàn toàn độc lập.

Du chơi

15.05.2007

bước chân vô tưởng dưới ban công đầy rêu bao phủ
những sao đêm lóng lánh, màu trăng cuối mùa hết rõ
hành lang đầy bóng hồn hoan hỉ, tiếng láy hợp âm
rồi lại thấy mình đứng tại phương đông

Phác họa bài thơ tình cận đại


♦ Chuyển ngữ:
15.05.2007

và rồi sắc đỏ
nên được diễn tả
bằng chất xám tối của mặt trời trong mưa
những bông hoa anh túc tháng mười một
đôi môi về đêm

and yet redness
should be described
by greyness the sun by rain
the poppies in november
the lips at night

Văn Miếu, Hà Nội


♦ Chuyển ngữ:
30.04.2007

I walked down the quiet path,
pebbles worn smooth by Heaven
knows how many sandals.

Tôi bước xuống lối đi yên vắng
những viên sỏi nhẵn mòn bởi
trời mới biết bao nhiêu
đôi dép

Băng qua Nước


♦ Chuyển ngữ:
30.04.2007

Black lake, black boat, two black, cut-paper people.
Where do the black trees go that drink here?
Their shadows must cover canada

Hồ đen, thuyền đen, hai con người giấy-cắt, đen.
Những cây đen đứng uống nước ở đây giờ ở đâu?
Bóng của chúng ắt phải phủ trùm Gia Nã Đại.

Tháng Tư đã đi qua

30.04.2007

Tháng Tư đã đi qua
Phùng Nguyễn
 

The Passing of April…
English version edited by Đinh Từ Bích Thúy
 

Những ngày cuối cùng của tháng Tư đóng lại (tạm thời) chủ đề Chiến tranh của tạp chí damau.org. Bất …

Đi tới cuối đường, rồi … (kỳ 9)


♦ Chuyển ngữ:
30.04.2007

Tôi gọi Phụng. Cũng im lặng. Tôi nói vọng vào: “Nếu anh không mở cửa, tôi kêu công an.” “Chờ chút,” tiếng anh Đức. Vài phút sau, cánh cửa sắt được kéo lên. Tôi xông vào bên trong. Phụng đang nằm trần truồng trên ghế gội đầu, có vẻ như hôn mê. Tôi gào lên: “Anh đã làm gì nó?” cùng lúc tôi cầm cây kéo.

Câu Hỏi Ngày 30 Tháng 4

30.04.2007

trang đầu của mạng tài liệu wikipedia ghi nhận:
ngày 30 tháng 4:
ngày Hoàng Hậu ở Netherlands
đêm Walpurgis ở một vài quốc gia Châu Âu
ngày Chiến Thắng của Việt Nam

the main page of wikipedia.org states:
april 30:
Queen’s Day in the Netherlands
Walpurgis Night in a few European countries
Victory Day in Vietnam

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)