Khai trương vào tháng 6 năm 2019, The Plinth là không gian nghệ thuật đầu tiên trong khu vực đường cao tuyến High Line, giao giữa Đường 30 và Đại lộ 10, với tầm …
Ở góc quán, chỗ gần bụi trúc La Ngà trơ trụi già nua, chỉ có hai người khách. Người mang kính đen từ lâu ít nói, mỗi lần nói lại quá nhỏ; nên từ xa, có cảm tưởng người gầy ốm tóc muối tiêu đang phân trần với một pho tượng. Pho tượng ngồi thu cả hai chân lên nệm ghế nhung, hai tay ôm lấy gối, nhìn mãi về phía chiếc xe đạp thồ dựng ở gốc trúc cỗi.
Nếp nhà khiêm tốn nép mình bên một con đường nhỏ yên tĩnh, cạnh một trong những đại lộ náo nhiệt nhất của thị trấn Westminster, mệnh danh là thủ đô của nguời Việt tị nạn. Tôi muốn nói đến nhà của anh Nguyễn Mộng Giác.
Dẫu vậy, ở đây, khác hẳn với khái niệm về một anh hùng nông dân, Nguyễn Huệ xuất hiện trong nhân dáng và nhân cách của một nhà trí thức bình dân, sống một đời sống tương đối đầy đủ, vì có một người anh có tiền, lại cũng có quyền. Nguyễn Huệ không hề có những nỗi cay đắng, phẫn uất của một nông dân bị áp bức.
Chúng tôi thấy vui khi thấy có một nhà văn đã dám bỏ nhiều công phu, tâm huyết và tài năng để dựng một bộ tiểu thuyết trường thiên về một người anh hùng dân tộc, về một thời đại lịch sử mà chúng ta mãi yêu mến, tự hào và luôn luôn muốn hiểu biết sâu thêm. Và có thể nói rằng tác giả đã thành công.
“Tôi đã nói là tôi không muốn ‘làm thầy đời.’ Tôi viết SCML trong giai đoạn gần như tuyệt lộ, viết để tạo ra một thế giới riêng và sống tung tăng trong thế giới đó hằng ngày, để quên chuyện trước mắt. May mà nó còn chút giá trị, qua được thử thách của thời sự và thời gian.”
Chờ cho vệ binh đi tìm bóng mát, vài người lén lượm những viên đá căm thù đó lên, tâm trạng cay đắng như tử tội muốn được nằm ngửa để nhìn lần cuối lưỡi máy chém. Không phải đá! Chỉ là những bức thư chữ viết chi chít, nhiều lá còn nguyên các ngấn lệ, gói bên trong một hòn cuội nhỏ tròn trĩnh.
Anh sống đời thường, ăn, ngủ như tất cả những người khác, nhưng đã là nhà văn chắc chắn anh có thế giới riêng của anh, thế giới của nhà văn không ai giống ai cả, mỗi người suy tưởng khác nhau. Nhưng những nhà văn lưu vong hầu như có một mẫu số chung: thế giới văn chương của họ cũng chính là quê hương họ. Với nhà văn lưu vong, viết tức là đang sống trong quê hương.
Tôi gọi Giác và hỏi một câu trực diện:
“Giác ơi, nếu phải (hay được) viết lại tác phẩm mình, Giác có viết khác đi không?”
Tôi thoáng nghĩ rất nhanh là nếu Giác cường điệu thì cũng khỏe vì khỏi phải viết phần phê bình … Nhưng không, bên kia điện thoại tiếng Giác mang tôi về hiện tại:
‘Tất nhiên là sẽ viết khác chứ…’
“Con khùng xóm Chài hay con khùng ngoài chợ?”
“Cả hai đứa là một. Nó là con gái ông câu gõ. Cha nó chết cách đây mấy năm. Nó xin ăn ngoài chợ, và hễ cứ đến mùa trăng là nổi cơn.”
Tân nghe được câu chuyện, lịm người không dám nhìn về phía trước.
Với tâm trạng một người vừa thoát khỏi cuộc sống đè nén của chế độ cộng sản, các vết thương từ cuộc sống ấy hãy còn mới mẻ, với cảm giác được tự do, tôi bắt tay ngay vào việc viết lách. Bây giờ nhìn lại, tôi thấy thời gian hai tháng trên đảo Kuku này là thời kỳ hoàng kim trong đời viết văn của mình.
Vượt biển tị nạn năm 1981 qua ngả Nam Dương, đến định cư tại Hoa Kỳ cuối năm 1982.
Chủ bút tạp chí Văn Học, California, Hoa Kỳ, từ 1986 đến tháng Tám /2004.
Hiện định cư tại thành phố Westminster thuộc quận Orange, California, cùng với gia đình.
Giberson and Miller là những con người chín chắn có thiện chí. Ðọc tác phẩm của họ, ta thấy thiếu vắng sự thuyết phục và chân thành thường có từ các bài viết của những nhà sáng tạo luận khác, vốn thường bây bẩy chối bỏ hầu hết những thực tại hiển nhiên về thực chất cho những nguyên nhân đức tin của mình.
Viết cho ai, viết cái gì, viết như thế nào… là những câu hỏi dù ông không cố ý phạm tội, tiềm thức ông ngày càng đặt ra nhiều. Như thể, trước khi đưa ra mỗi entry, ông phải trả bài trước mặt thầy giáo tiềm thức – một vị thầy rất khó tính trong môn nghệ thuật thu hút đám đông.
Tôi đã nói trong những ngày hiện diện nơi đây: thời hạn tôi sắp hết rồi. Tôi đã nuốt hết hơi thở cuối cùng và tôi phải khăn gói bước đi để hồi phục lại mọi thứ. Lúc đó tôi mới biết được rằng, tôi có tiếp tục chờ nữa hay không, tôi có tiếp tục đến nhìn họ như thế kia?
Mỗi ngày khi chiều rũ xuống thì lửa bừng lên, như thế. Nó chờ một giờ khắc chập chùng nhất của một đời người để mà hực lên – hay chính vì những giờ khắc ấy mà lửa nghe được lời kêu gọi, hãy đốt đi, đốt hết đi, những mồi lửa này, để chẳng còn sầu muộn nữa.
Ngồi một mình đọc sách
Ngồi một mình làm thơ
Ngồi một mình ngắm ngiá
Hạnh phúc dễ sợ!
Tôi biết đây là thi sĩ Nguyễn Đức Sơn, thấy ông nhiều lần, phục sức xuề xòa, y phục của ông thầy chùa đang ở trong chùa. Ông thầy chùa đội nón lá, đi chiếc xe đạp cọc cạch, vào một ngõ hẻm đường Trần Quang Khải: chùa Vạn Thọ hay một ngôi chùa nào đấy, ở trong ngõ hẻm đó.
nơi đây: im vắng, cafe, hoa sắp chết, rượu, sách, nhạc, giấy, bút, những bức dang dở và màu mè lặng ngắt: cùng với cuộc sống đẹp, mùi hương nơi này không bao giờ quên nổi.
Thơ tôi bỗng mọc
Một quả chuông linh từ
Đời sống là ngôi chùa nhỏ
Tôi thức vang mỗi ngày
Phương cách phổ biến nhất để hòa giải giữa tôn giáo và khoa học là xác định rằng chúng khác nhau nhưng bổ sung lẫn nhau các phương cách để am hiểu thế giới. Nghĩa là, tôn giáo và khoa học mang lại những “chân lý” khác nhau mà, nếu sử dụng chung, sẽ trả lời được mọi câu hỏi về chính chúng ta và vũ trụ.
Tôi nhớ mãi cái khoảng khắc tĩnh mịch đó, khi tôi ngồi trước đền mộ D.H. Lawrence, nghĩ về K., về tương lai chúng tôi, về những đứa con của tôi sau này, và cảm nhận một điều, vừa là khuyến khích, vừa là thử thách, làm sao để sống trung thực với sự xa lạ của chính mình? Làm sao để có hạnh phúc mà không phải thương lượng?
Bao giờ cũng vậy, khệnh khạng ra buồng ăn việc trước tiên tôi rót cho mình ly rượu đỏ, vớ bất cứ đia nhạc nào ngay tầm tay bỏ vô đầu cd ngồi nhịp,
nhịp uống khan.
Lúc bắt đầu ở đôi môi
Tôi đã mơ về xa hơn
Lúc sóng tràn qua đôi mắt
Khởi nguyên giấc mơ triều dâng ngóc ngách tâm hồn.
Vua tiến sâu vào vựa lúa, thấy một vườn hoa tuyệt đẹp…. Giữa vườn hoa có một lán nhỏ, thanh tao. Trong lán, một thanh niên đang cầm bút. Vua rùng mình: phong cách, gương mặt thanh niên ấy y hệt như mình thời niên thiếu. Vua mừng rỡ, dơ tay vẫy, cất tiếng gọi. Thanh niên biến mất.
Lời Huyết Âm này triệt để vận dụng cái thần khí châu chấu chuồn chuồn trong bát quái thần-hôn [sớm-tối], cả tinh lực cuồng phổi trong tro bụi phận người, mà hóa biến, mà phù phép được rằng “Lời” phải trốn chui nhủi, ẩn tàng trong một mớ âm và ngữ, kiểu “biển lớn rót chưa đầy một chén nhỏ”.
Nguyễn Lương Vỵ cảm ứng sâu đậm với những nhà thơ tượng trưng, anh không chừng là nhà thơ duy nhất còn giữ một linh hồn tượng trưng trong số những người làm thơ trong vùng trời ngôn ngữ Việt hôm nay.
Như thế, em đã bước ra từ buổi chiều vàng
Suối róc rách trong chiếc lá
Có sắc tím của tiếng vĩ cầm còn đọng lại
Khúc lam điền dế gáy rân
Như thế, buồn làm chi? Em ngoan!!!
Hãy mở cửa ngực chiều
Sóng vùi trong cát sóng vùi trong nắng
Bình Luận mới