Trang chính » Sáng Tác, Tiểu thuyết Email bài này

Núi Đoạn Sông Lìa – phần 24

 

NuiDoan-18

 

Dưng không núi đoạn sông lìa
Đêm ôm gối lạnh, ngày chia ngắn dài.

 

(tiếp theo)

… Sau bữa ăn chiều, bà Bông than nhức đầu, không dùng món tráng miệng và rượu nho đỏ như thông lệ, mà kêu bà Bảy nấu cho một ấm trà xanh dặm húng bạc hà. Bà Bảy dọn dẹp đâu đó tạm xong, thủng thẳng múc cơm nguội bữa trưa còn dư ăn với cá vụn kho tiêu. Từ bữa dứt bệnh sốt rét, dưng không bà hảo ăn mấy thứ mặn mòi, ưa uống nước trà ấm ủ trong vỏ dừa điếc. Ngoài hàng hiên trước nhà vẳng lại lè rè bài hát tây quen tai. Ông Bông có thói quen, trong những ngày khô ráo, sau khi ăn tối, quay máy hát ngồi nghe ngoài hàng ba, ly rượu đỏ trên tay. Nhiều khi ông ngoặt đầu ngủ gật bên lưng ghế. Máy hát dĩa thản nhiên sột soạt những vòng âm thanh sau cùng. Cho tới lúc cạn sức, mới bặt tiếng.

Ðêm phủ bóng nhá nhem. Bà Bảy bưng khay chén dĩa dơ ra sàn nước, máng cây đèn dầu đầu sà ngang, chẩm rải xát xà-bông ra xơ dừa, ngồi rửa. Tán đèn soi bóng bà một chiếc nghiêng lệch lên mặt sàn ván mỏng. Một đợt gió thốc ngang. Có tiếng chim oác lên bên kia lùm bụi, nghe như hoảng hốt. Bà Bảy ngửng mặt, chỉ kịp nhận ra bóng mình bất thần mọc thêm nhiều cái đầu ngúc ngắt. Bà há miệng toan la làng, tức thì một cánh tay chận ngang cổ họng, bà chỉ kịp hức lên một tiếng đục ngầu, đứt đoạn. Một xoè tay u nần bịt ngang miệng bà, lẹ làng nhét vô nhúm giẻ, bịt ngang mảnh vải thắt gút sau gáy. Cái chén sành rớt xoạch xuống thau nước, tung toé. Hai tròng mắt già nua trợn trừng, nhớn nhác một thoáng nhiều dáng người lô nhô sát rạt, rồi tối sầm dải khăn đen bịt kín. Hai cánh tay bà bị quật ngược ra sau, trói lại. Thân thể bà mềm nhũn như nhúm bột bánh, bị lôi đi xềnh xệch, bỏ nằm đâu đó bên vách nhà.

Kể từ giây phút ấy, bà Bảy chỉ còn nhận thức những gì xảy ra qua thính giác. Tiếng bà Bông hãi hùng rú lên chằm chặp, rồi đứt ngang. Tiếp theo là giọng đàn ông quát tháo, nạt nộ. Nhiều âm thanh đổ bề, đập phá rổn rảng. Và giọng người rên rỉ, đứt nghẹn. Bà Bảy quắp lưng rúm ró trên nền gạch lạnh tanh, mường tượng ra những chuyện bất nhơn đang xảy tới cho ông bà Bông. Tuyệt nhiên bà không nghe tiếng chó Su sủa người lạ như mọi khi.

Thời khắc chừng như khựng lại. Tràng thanh âm bạo động khả nghi cứ vậy trỗi lên từng hồi to nhỏ. Đôi lúc xen kẽ giọng tra khảo, tiếng được tiếng mất. Gió đêm toa rập sàn sạt tàu chuối, xô xát liếp dừa rậm rật ven sông. Nền đất bồn chồn tiếng chân người dày xéo man rợ. Cho tới lúc, nhiều tiếng chân dừng lại khít rịt bên tai bà Bảy.

– Mình tính sao với bà già nầy?

– Chặt mẹ mấy ngón tay cho tởn, hết dám ở đợ tay sai cho chó Tây.

Thân thể bà Bảy bần bật run rẩy. Một giọng lừng khừng:

– Thôi, tha cho bả. Dù gì cũng là má của thằng Ba.

"Thằng Ba nào vậy? Hổng lẽ tụi nầy lại là … là … đám Việt Minh đồng đảng với thằng con vô bưng, theo kháng chiến hồi nẳm?" Bà Bảy giựt mình tự hỏi. Rồi, không nghe ai nói thêm gì. Một đứa nhanh nhẹn cột chân bà lại. Đoạn, tiếng chân rầm rập xa dần, mất hút. Lát sau cảnh thổ trở lại tĩnh lặng. Gió đêm dường như hoàn hồn, không còn vật vã náo động thinh không. Côn trùng, cóc nhái bình thản tấu khúc hoang dã thường đêm. Như thể chẳng có gì xảy ra. Tất cả vận sự kinh hoàng mới nãy chỉ là một cơn mộng dữ. Mở mắt ra, mọi chuyện vẫn y như cũ.

Nhưng đã mấy lượt đêm cú kêu, gà gáy sáng tới rồi đi, bà Bảy vẫn nằm co quắp đó. Một vùng tối đen chập chùng bủa kín thị giác. Đói khát của thể xác được bà trấn áp bằng cách khấn vái, hết Giê-su-ma tới Phật bà quán thế âm cứu khổ cứu nạn. Đôi khi, trong khoảnh khắc rỗng rang tuyệt đối, bà nhận thực đôi điều, dăm ba hình ảnh mà hồi nào tới giờ bà chỉ được nghe trong những buổi cầu kinh sáng chủ nhật, chỉ được thấy in vẽ đẹp đẽ trên giấy. Thượng đế, thiên thần và những sứ giả trời ban lượn lờ lẩn khuất trong mây mù. Thiên đường lóng lánh hào quang phù phép, chiếu rọi ấm áp hồn phách. Lửa địa ngục hừng hực chói chang thiêu rụi. Quỉ sa-tăng đuôi dài, lưỡi đỏ vật vờ thinh không, gieo rắc những thiên tai. Ruộng lúa trơ trụi gốc rạ khô cằn. Nắng hạn cuồn cuộn khói xám, cháy xém tâm thân người đàn bà bị bỏ quên bên vách nhà hoang lạnh. Hồn phách bà trôi đi, xây xẩm tan vô cõi u minh.

Cứ vậy luân phiên, không biết bao nhiêu ngày đêm liên tiếp. Cho tới một lúc, thính giác bà bắt được giọng ai hớt hải, xa xôi như từ chốn âm ty vọng lại:

– Bà Bảy … quỉ thần ơi, bà Bảy …

Bàn tay ai nâng đầu bà lên, cởi trói tay chân, tháo khăn bịt mắt, bịt miệng, nhỏ vô miệng bà vốc nước. Người đàn bà thoi thóp nhịp thở cạn, hớp lấy nhễu nhão. Mi mắt quện ghèn mấp máy, lệ tuôn nhoè nhoẹt. Ðáy quần tanh tưởi nước tiểu, nồng nặc phân thúi. Vùng tối thị giác bà bất chợt lập loè tia sáng mỏng. Hớp nước cam lồ mát rượi tưới tẩm môi miệng, trôi xuống cổ, toả sức sống rực rỡ chiếc mống trời sau cơn đại hồng thuỷ của bạo lực. Từ đáy tử tăm tối, bà trồi lên, nhấp nhô theo sóng nước, tắp vô bờ cát ẩm hồi sinh.

Bà Bảy hé mắt, lờ mờ thấy ra một rãnh sáng đục, chợn vợn bóng xám, vội vàng nhắm lại. Tối hôm đó, chiếc bóng bà cũng dưng không mọc thêm nhiều cái đầu lắc lư đe doạ y hệt.

Một giọng đàn bà tiếp tục rên rỉ:

– Chúa ôi, thánh thần thiên địa ôi, sao vầy nè hổng biết …

Kể tới đó, bà Bảy không nén được cảm xúc, nức lên. Bờ vai mỏng run lên bần bật. Chú Năm Tự mủi lòng, cầm lấy bàn tay xương xẩu của người đàn bà, khép lại.

– Không nhờ mấy người tới đọc kinh sáng chủ nhựt kiếm ra, chắc tui chết thúi xác từ đời tám quánh nào rồi, chú Năm à!

Rồi bà tự động tiếp lời:

– Từ bữa đó, hai con mắt tui hổng hiểu sao làm độc, đổ ghèn, ngứa ngáy ngày đêm. Tui tới chùa, chỗ thằng con út qui y kêu nó xức thuốc, đắp lá nầy nọ. Có bớt, nhưng không còn sáng như trước.

Chú Năm Tự lắc nhẹ tay bà, bồn chồn:

– Còn ông bà Bông sao rồi?

Bà già ngước mặt về phía nắng chiếu:

– Mười phần chắc chết bảy, tám … Lúc tui tỉnh lại, hỏi mấy đạo hữu thì ai cũng ứa nước mắt, biểu hổng thấy ổng bả đâu. Từ bữa đó tui lựa ngày lành tháng tốt làm đám giỗ cho ổng bả. Rồi chú biết sao hông?

Bà Bảy thấp giọng, nét mặt sắc lại kỳ bí:

– Tui bèo bọt rày đây mai đó, xin cơm ăn nước uống cầm hơi. Rồi hổng biết duyên cớ nào đưa đẩy, xui tui trôi giạt ngang đây, lên bờ hỏi xin chút nước. Áng chừng chủ nhà là người nhơn hậu, tui dợm lời xin thầy cho tá túc qua ngày. Dè đâu thầy đồng ý. Tới ở đậu nhà thầy Ba, mới biết thẩy là người có tài bói số tinh tường chuyện khứ lai. Bữa nọ tui nhờ thẩy bấm quẻ coi giùm số mạng ông bà Bông sống chết ra sao. Thẩy hỏi tui ngày sanh tháng đẻ ổng bả. Tui thuộc nằm lòng, vì năm nào ổng bả lại không sai tui làm tiệc ăn mừng sanh nhựt, chú Năm nó biết mà. Thầy Ba đốt nhang khấn vái một hồi, rồi thẩy hự lên một tiếng, mình mẩy giựt ngược mấy bận liên tiếp … Quỉ thần thiên địa ơi, hổng biết ông đồng bà bóng nào nhập vô mà thẩy mở miệng thốt giọng lúc là bà Bông lúc là ông Bông … Tui nghe mà tóc tai dựng ngược, khóc thiếu điều cha chết!

Chú Năm Tự hấp tấp:

– Ổng bả nói sao?

Bà Bảy mếu máo:

– Chết rồi!

Bấy giờ, hai hàng nước mắt không dưng lăn dài xuống gò má người đàn ông. Chú ngửng mặt. Thinh không ràn rụa nắng chói, vài tiếng ác là rớt tiếng lẻ loi như thể san sẻ. Rồi nhỏ dần, tan biến.

(còn tiếp)

bài đã đăng của Ngô Nguyên Dũng


3 bình luận »

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006*2018 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)