Trang chính » Sáng Tác, Tiểu thuyết Email bài này

Núi Đoạn Sông Lìa – phần 34

 

NuiDoan-34

Dưng không núi đoạn sông lìa
Đêm ôm gối lạnh, ngày chia ngắn dài.

 

 

(tiếp theo)

 

14

 

Con đê dài như vết sẹo khô quắm vắt ngang làng quê nghèo khó. Đêm nhả lưỡi trăng sừng trâu, phun lấm tấm những giọt sao vằng vặc đỉnh trời. Tôi nằm đấy, trong lún đất ven đường sắt mấp mô đá vụn. Chờ. Chỉ với túi vải con cuộn mớ tư trang ít ỏi. Bộ quần áo lành lặn nhất. Mảnh bằng Thành Chung gấp tư. Vài tấm giấy tuỳ thân. Bức thư ghi địa chỉ của người thân trong Nam. Bình nhôm móp méo đựng nước giếng. Và sản nghiệp lớn lao: tờ giấy bạc Đông dương lận kỹ trong cạp quần.

Tôi nằm đấy, từ khi đêm tháng chạp úp lòng tay, dập tắt ánh ngày. Chờ. Khuya nay, không giờ giấc nhất định, sẽ có chuyến tàu băng ngang đây. Đã từ lâu, ai trong làng này đều rõ, đấy là chuyến hoả xa xuyên Việt chở hàng hoá của thực dân. Mỗi đầu tháng một lần, ra vào sáng sớm, về vào khoảng đầu khuya. Con tàu đêm không toa khách với những ô kính rực đèn như tôi vẫn thường thấy, mà lê thê dài ngoẵng những toa kín bưng, và sau rốt là dăm ba toa trần chất gỗ hoặc những đồ vật kềnh càng phủ vải dù lục sẫm. Dân làng rỉ tai nhau, cà-nông đại pháo của quân đội Pháp chở ra trang bị cho vài cứ điểm quan trọng. Chuyến tàu rầm rập, rầm rập băng ngang. Tháng này qua tháng nọ. Năm này nối năm kia. Cứ vậy, không một lần thiếu vắng. Chúng đâu biết rằng, chúng đã gieo rắc vào tâm tư tôi từ tấm bé những mơ tưởng lang bạt. Tiếng còi tàu loang loang trong sương sớm, trong những khuya khoắt tịch mịch quê Bắc, gợi thức biết bao viễn ảnh phóng đãng trong tôi. Như tôi đã nhiều lần, với ánh mắt khát vọng trẻ thơ trông ra vách cửa hé. Ðầu tàu, độc nhất một vệt đèn tù mù, lê thê. Những đêm tiết trời trở rét cuối năm, luồng sáng di động nhoè nhoẹt như ánh ma trơi. Tháng ba trời trong, trăng sao văng vắt không cùng, thấy rõ luồng khói thốc tháo ứa ra, ràn rạt nghiêng theo tốc độ già nua của con tàu, như mệt lả, như soát lại xem có quên thứ gì. Có, nó đã bao phen bỏ quên tôi, một cậu bé với nhiều ước vọng nơi đất Bắc trầm mặc sử tích, phong phanh tờ lý lịch quan liêu, nhăn nhúm.

Bố tôi lều chõng ra Phú xuân ba lần đều trượt. Mộng quan văn tan tành. Suốt đời ông bị cái dấu phất cỏn con quên bỏ trên một chữ Nôm tránh phạm huý ám ảnh. Về làng, ông mở lớp dạy trẻ ê a "thiên trời, địa đất, …" Cụ đồ nho nghiêm túc ôm khư khư chặt chịa mấy pho Tứ thư, Ngũ kinh, mù điếc không nhận ra quốc ngữ đã thay đổi. Tới tuổi đi học, tôi đến trường ngơ ngác với bảng chữ cái abc. Tôi bất lực chứng kiến những biến dạng tâm lý của bố tôi. Lớp học tư gia đóng cửa. Bố tôi xoay qua kẻ chữ Nho, viết liễn đối ngoài chợ làng. Những tinh sương chủ nhật, tôi loắt choắt bước ngắn theo chân bố ra chợ. Con đường làng xa tắp. Sáng rét líu lưỡi. Trưa nóng xém da. Tôi hớn hở quấn quýt theo chân bố, mơ tưởng tới nắm cốm Vòng lá sen làm quà điểm tâm hay viên kẹo vừng thơm lừng, bố mua cho lúc tan chợ. Cô hàng chè xanh nước vối tên Bích chuyên bán dăm ba món gia truyền: kẹo vừng, kẹo lạc, bánh đậu xanh, bánh lá gai. Cô xinh xắn, nói chuyện đáo để có duyên, nên nhiều khách phái nam ghé ngang. Cách phục sức của cô Bích không giống gái làng. Tóc cô cắt ngắn, uốn ba đào. Cô mặc áo dài màu nhu nhã, không thấy đeo nữ trang chi. Đặc biệt nhất, răng cô không nhuộm. Bố tôi có lần buột miệng vu vơ, cái ngữ phụ nữ tóc quăn răng trắng ấy chỉ giỏi dạng chân! Tôi không hiểu ý bố tôi, nhưng ngại ngần không hỏi, vì nhận thấy vầng mặt bố lúc ấy lãng đãng kỳ quặc. Tia mắt ông nhuốm sắc vàng bỏi, như tia nắng chiều rực lên trước khi tắt ngúm.

Bố tôi ra chợ kẻ chữ thường mặc áo quần bông vải kiểu ta, đi giày mõm bít. Chỉ những dịp trước Tết, ông mới xênh xang áo dài the đen chữ hỷ. Có điều lạ, ông cạo nhẵn râu cằm, để râu mép thẳng băng một vạch chữ nhất đen nhánh, tương phản đậm nét với búi tóc củ hành cổ điển. Có lẽ nhờ vậy, trông bố không thật sự nghiêm chỉnh như một cụ đồ Nho chính tông.

Gần gũi bố trong những ngày họp chợ, tôi nhận rõ con người thứ hai trong ông. Nếu với những người trong gia đình, đặc biệt với mẹ tôi, bố hành xử khắc nghiệt, nói năng bẳn gắt bao nhiêu, thì với kẻ ngoài đường trong chợ ông đối đãi hào phóng, chuyện trò hoạt kê bấy nhiêu. Lẽ nào chỉ vì mẹ tôi là một người quê mùa, răng đen, mù chữ? Mẹ tôi kém nhan sắc. Cặp mắt mi cặm nhổ trụi, khiến tia nhìn của bà nhơn nhơn, trợn tráo. Hai gò má lờ nhờ mấy đốm sẹo đậu mùa. Sống mũi thấp, chỉ nhờ nụ cười cắn chỉ lúm hạt đậu và nước da trắng hồng làm duyên. Kiểu cười của bố tôi ở nhà cũng khác hẳn ngoài chợ. Một đằng dè xẻn, nghiệt ngạng; một đằng thống khoái, bông lung. Vì thế, tôi bỡ ngỡ không ít khi thấy ông cải lốt gần như toàn diện những khi tiếp xúc với đám đông người lạ. Như diễn viên chỉ mon mỏn đóng được hai tuồng chèo trong nhà và ngoài chợ. Với hai vai nữ chính là mẹ tôi và cô Bích.

Chợ làng Thồi chùm nhúm ven con nước rộng vài sải tay, một nhánh từ sông Hồng nứt ra, lềnh bềnh rác rưởi. Dòng nước đục lờ, không phải phù sa, mà như từ cây lá mục, rác ủng, xác thú thối rữa, phân người và những thứ phế thải không thể định nghĩa ối ra. Cả cái tên, sông Thồi, cũng không hiểu từ đâu mà có. Chỉ nghe kể, sông tuy nhỏ nhưng dài, dài ngút, và mất hút đâu đó dưới chân Hoàng liên sơn. Đứa con vô thừa nhận của sông Hồng, tật nguyền và bẩn thỉu, đã cưu mang tưới tẩm vô số làng quê rải rác ven bờ. Những sáng nhóm chợ ngày chủ nhật, bến sông tấp nập thuyền đò từ làng quê lân cận đỗ về. Quang đất trống thường ngày, bất chợt, mọc lên một buổi chợ phiên ra rả tiếng động, ngập ngụa mùi hương. Của thú và người. Của rau trái và bùn đất. Của hương liệu và thức ăn. Của gió mùa trở hướng thổi phần phật từ cánh đồng lúa chín sang con nước xám ngoét, lở lói.

Chợ được chia ô minh bạch. Ô bán thịt cá, khô mắm vung vít ruồi trâu. Ô hàng quà, bún riêu bún ốc bún chả thơm khói mỡ hành. Ô bán rau quả chất bó xanh mướt rau muống đầm Chuồi, rau đay chùa Láng, cà pháo mụ Phái, và cải cúc, kinh giới, tía tô còn mọng nước trong rổ mẹt. Hàng hương nến và gia vị kề cận nhau trông như miễu thờ thổ thần dựng sát vách bếp nhà phú hộ đang sửa soạn mâm cỗ thịnh soạn. Ô kẹo bánh, xôi chè ngầy ngật hương đường cháy kẹo vừng kẹo lạc, bánh cốm thơm lừng nước hoa bưởi, bánh khúc, xôi gấc xôi vò, chè kho chè đậu đen đậu ván, và gánh chè mè đen của bá Lìu còn thắt bím, đội mũ mu rùa. Độc nhất một hàng giò chả bánh dầy bánh giò bà cả Bạch Tạng trắng nhỡn một nửa mặt như vôi tạt. Ô hàng xén tươm tất kim chỉ, vải vóc, khăn thêu khăn choàng, nhiễu đà nhiễu đen, phất phơ áo quần trẻ con còn nồng phẩm nhuộm. Mỗi năm, bắt đầu từ tháng chạp, có thêm hàng hoa làng Khánh góp hương thêm sắc.

Làng Khánh cách chợ phiên khoảng nửa ngày chèo, thoai thoải dựa sườn núi Vạn chít mây mù, một bướu đất lạc lõng của Hoàng liên sơn. Thuỷ thổ nơi đó mát dịu trổ ra hướng đông hứng nắng sáng, là đất lành trồng hoa. Nghe kể, tên làng là tục danh của một nhà sư còn nặng lòng trần mà ra. Núi Vạn còn được gọi Vạn Đào sơn. Lúc tiết trời cuối năm trở rét hanh hanh, cỏ cây se sắt tinh tuý càn khôn. Rồi như một hỷ tín trời ban, chỉ sau vài hôm nắng xổi, núi Vạn thay áo hoa đào. Sáng sương tan, thấy vách núi ửng hồng đẫm nắng vàng tằm. Sắc hoa sẩm theo tuổi ngày. Rực lên, phóng đãng phơi phới. Trách sao nhà sư tên Khánh, mỗi mùa rừng đào thắm nụ, tâm cảm không khỏi dấy động hoang mang. Khẽ thôi. Chỉ đủ khuấy lên dăm hạt bụi trần. Những hạt bụi từ bấy lâu nay, nhà sư dày công tu tập, nén chúng nơi đáy tiềm thức tận cùng. Ngắm hoa lơi lả cùng nắng gió, thốt nhiên những tờ kinh bay hết chữ. Giấy trắng không đủ sức nhốt bụi, hoá nhẹ tênh, thốc lên. Ngũ quan của nhà sư cũng rộn ràng xôn xao. Ông nuối tiếc những tháng năm kiên trì tịnh độ, muốn chọc thủng mắt mình để khỏi thấy sắc, muốn đâm rách màng nhĩ để tránh vọng âm, muốn cắt bỏ dương vật để không động tà tâm, … Nhưng làm sao ông xoá tan được hương vị màu sắc của trời đất, cũng như không thể lóc da xẻ thịt để khỏi cảm nhận những dục vọng ngất ngây thường tình ấy? Sau nhiều ngày toan tính, ông hoàn lại kinh y cho chùa, xuống núi cất nhà, tiếp tục sống đời dân giả.

Ông vẫn đinh ninh rằng, người con gái tên Đào tình cờ hạnh ngộ trong một buổi ông vào rừng nhặt củi chính là tinh chất của vạn mùa hoa tích tụ. Nàng đến và ở lại như một cơ duyên định sẵn. Như tên gọi, Đào có nước da hồng non mịn màng, dòng tóc óng ả đen nhánh, chuôi mắt tre trúc đông phương có sức hút của tâm lốc xoáy. Đào ngỏ ý xin được ở lại giúp việc trong ngoài. Ông Khánh chấp thuận ngay, chỉ vì lý do độc nhất: cô đơn. Lần đầu tiên ông nhận rõ bản chất của quạnh quẽ sau khi giũ sạch mọi thiền pháp. Có khi nó là móng sắc của ngạ quỷ chực chờ xoi móc ruột gan ông, nhai tươi nuốt sống. Lúc khác nó là hai con ngươi bừng lửa si muội, rình rập chui lòn những khe hở thể xác ông, thiêu rụi. Nhưng ghê rợn hơn cả, nó là riềng mối của trống rỗng tuyệt đối. Hẳn đó không phải là tính không, ông đã nhiều năm tĩnh tâm tìm kiếm, mà là thứ rỗng rang cần được lấp đầy bằng những mê ám dung tục. Rõ rệt nhất, vào những khuya trăng no ứ một mảnh vàng cháy, hương hoa bừng lên ngập ngụa khứu giác ông. Cảm quan ông mọc gai dục vọng. Ông ngỡ ngàng thấy ra căn tính giống đực còn khắc khoải, ray rứt tâm khảm. Nó bắt ông thèm thuồng một hơi ấm, một ve vuốt mềm mại, một chấn động tới tấp, một buông thả xối xả, một rã rượi buông xuôi.

Ông cần một giống cái.
 

(còn tiếp)

bài đã đăng của Ngô Nguyên Dũng


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006*2018 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)