Trang chính » Sáng Tác, Tiểu thuyết Email bài này

Núi Đoạn Sông Lìa – phần 15

 

clip_image002

 

 

 

Dưng không núi đoạn sông lìa

Đêm ôm gối lạnh, ngày chia ngắn dài.

(tiếp theo)

 

8.

Mỗi bận nhà làm tiệc đãi đằng, Cẩm thích lắm vì không những được ăn uống thoả thuê mà còn có dịp lê la hóng chuyện người lớn. Trên mặt phản chái bếp nhà sau, ngủ trưa dậy, Cẩm đã thấy bày biện ê hề thịt thà, rau trái. Bà nội, má, chị Ba Khởi và chị Châu đang tùm nhúm bên nhau băm vằm, xắt thái. Ở nhà trên, hai anh Chúc, Chung đang giúp ông nội tháo cửa ván bổ kho, lau chùi sắp xếp bàn ghế trong phòng khách.

Đã nhiều tháng chầm chậm trôi qua sau nạn lụt. Bệnh dịch hành theo lời tiên đoán của thầy Ba mù, may thay, không linh ứng. Nhưng hầu như gia cảnh nào trong làng cũng có người lâm nạn. Lúc nước rút, nhà nhà vội vàng mua vôi thuốc về rắc, tẩn mẩn đánh bóng lại tấm kiếng chiếu yêu treo trước cửa. Nhà Cẩm không treo kiếng chiếu yêu, nhưng má cũng dè dặt biểu chú Năm Tự rải vôi quanh nền nhà đất dậm. Có sáng thức dậy, Cẩm thấy xác chuột phơi bụng trắng hếu cạnh lằn vôi rắc. Không phải thứ chuột lúa nhỏ mình, lông vàng lườm mà là giống chuột xám lớn con, răng nhọn tua tủa. “Chuột tinh, chuột tinh …”, chị Ba Khởi xanh mặt kêu lớn. Má sai chú Năm cẩn thận đào hố chôn xác chuột. Theo lời ông Chín đưa thơ, mấy làng lân cận bị chuột kéo đàn về phá phách. Có nơi, chúng còn dạn dĩ tấn công gia súc, thậm chí còn quấy phá cả người. Bẫy bắt không xuể, rắc thuốc cũng không xong, nhà nước ban sắc luật giết chuột chặt đuôi đem nộp nhà làng. Ai nộp không đủ số, bị phạt vạ. Thiên hạ, ai cũng than trời như bộng.

Má là người tin tưởng ở trời Phật, nhưng không mê tín, do ảnh hưởng ở ba. Ông chủ trương không đãi đằng, cúng kiếng những dịp giỗ chạp, nhớ thương thân nhân quá vãng là ở lòng mình. Có lần vui miệng, má hỏi vặn, nói vậy tại sao hồi xưa mình tới quê em học đòi theo nghề ông Đạo thổi? Ối trời, cái ông thầy rêu rao rùm beng, ai mắc bệnh gì, tới cho ổng thổi một cái là bay bệnh cấp kỳ đó hả? Ba cười lểnh lảng, một phần vì tò mò, phần lớn vì anh cần một chỗ trọ tạm, vả lại nghe thiên hạ đồn chỗ đó có người đẹp nổi tiếng xứ lục tỉnh … Còn chuyện má thỉnh thoảng ghé ngang thầy Ba mù, nhờ thầy đoán vận gần xa, thật ra chỉ là cái cớ để bà tự trấn an. Hơn nữa, má cần một người để má trút bỏ những lo lắng mưu sinh. Cả một cơ ngơi rộng lớn của gia đình chồng, vắng mặt người đàn ông, gần như do một tay bà quán xuyến trong ngoài. Ông nội chỉ đỡ đần phần nào theo kinh nhiệm sẵn có. Rồi, vì tuổi tác ông ngày thêm già yếu, kinh nghiệm dần dà lỗi thời theo tiến trình thời gian, tất cả chỉ một tay má chống chỏi để sống còn. Tuy vậy, ngoài mặt má luôn ra vẻ điềm nhiên, dẫu tâm can bà dằn vặt nhiều chuyện lo nghĩ, ví như câu ca dao: “Lan huệ sầu ai lan huệ héo … “ Má không “sầu ai” cũng chẳng “sầu tình”, mà má bận bịu chuyện gia đình, cố gắng giữ gìn để trong ngoài thuận bề tươi tắn.

*

Chị Ba Khởi rang vàng mớ dậu phộng, trút vô rổ con. Cẩm mon men sà tới. Chị Ba biết ý, tủm tỉm:

– Chờ chút xíu cho nguội rồi chị cho em chà vỏ. Mà không được bốc lủm, nghe chưa?

Cẩm gật đầu lia lịa. Anh Chung sanh nạnh:

– Con Cẩm chà đậu phộng, lần nào cũng còn hai ba hột.

Cẩm phản đối chói lói:

– Anh nói thêm nói bớt, chết sa địa ngục …

Chung cướp lời:

– Tao bị cắt lưỡi, còn mày ăn vụng cho cố, chết bị quỷ sứ khâu miệng bằng cái máy may.

Cẩm vùng vằng xách rổ đậu phộng tới ngồi cạnh ngưỡng cửa, liếc đuôi mắt về hướng Chung đang tỉ mỉ lau khô chồng chén dĩa kiểu. Nhà có hai bộ chén dùng đãi khách, một cất trong tủ kiếng gian trên, bị trộm thừa lúc lụt lội, rinh mất; bộ còn lại gói giấy nhật trình chất trên gác gỗ tạp, may mắn còn nguyên, má kêu đem xuống rửa sạch. Cẩm thích bộ chén nầy hơn. Má lại cho rằng, lớp men tráng vụng về, vành nắn dầy cui, nặng chịch, cầm lên muốn gẫy tay. Cẩm lại thấy màu men phớt xanh lục đẹp rỡ ràng, có lẽ tại phết không đều nên ngó như đọng lớp mây mỏng dặm nền cho dăm ba cành trúc phóng hoạ thiệt khéo, chợn vợn nhắc nhớ Cẩm tới cảnh sắc thiên nhiên nơi đây. Không có gì cao lớn. Tất cả đều nhỏ hẹp tầm thường, vậy mà chẳng hiểu sao, gắn bó thân thích như cuống rún chưa lìa.

Cẩm cẩn thận miết tay lên nhúm đậu phộng rang, mắt lóng ngóng nhát chừng lên chòm so đũa có tổ chim được chú Năm Tự đem đặt lên chảng ba hổm rày. Lâu lâu có con chim màu nâu đất soải cánh vòng vo rồi sà xuống. Cẩm không thấy gì, chỉ bắt được tiếng chim chíp, thoạt đầu nhỏ yếu rồi rõ dần, rộn rã. Cẩm hình dung ra cảnh chim con được cha mẹ đút mồi, lòng rộn lên niềm vui khó tả.

Thị lực bà nội kèm nhem, nhưng nghe Cẩm kể lại, bà cho rằng đó là giống chim áo dà. Rồi bà thủng thỉnh thuật cho Cẩm nghe sự tích chim áo dà là hoá thân của nhà sư, suốt đời hoang mang bay tìm trái tim của tướng cướp móc dâng Phật. Cẩm không rõ ngụ ý của tích chuyện, chỉ thấy ngộ nghĩnh. Hỏi thêm thì bà nội đủng đỉnh chép miệng, Phật tánh của mình mới đáng quí …

Cẩm đảo mắt, thấy không ai để ý, bốc lẹ nửa hột đậu phộng bỏ vô miệng, nhai lẹ thiếu điều nuốt trộng. Giọng chú Năm Tự từ mấy luống rau thơm vọng lại: “Gió đưa bụi sậy … ớ … mà bông lau. Sao em nỡ ngắt … ớ … cọng rau … ờ … đoạn đành. Sớm khuya … ớ … hương lửa ngọn ngành. Theo chồng bên ấy … ờ … nửa vành … ờ … trăng tan.” Nghe sao buồn buồn.

Từ nhà trên, chuông đồng hồ gióng bốn hồi rổn rảng. Nhà mời khách năm giờ. Sẽ có mặt thầy giáo Hoàng và vài người bạn của anh Chúc. Chị Châu nói, thầy giáo Hoàng sẽ đem theo nhạc cụ để đàn hát cho vui sau bữa cơm chiều.

Từ sớm mai Châu đã rộn ràng ra vào, đắn đo không biết nên chọn mặc bộ quần áo nào cho buổi tiệc chiều. Hôm từ núi Phụng trở lại nhà, lúc Châu khuân rương quần áo trên gác xuống, mở nắp, mùi long não quyện hương hoa lá đồng nội quyến luyến khứu giác. Cô rưng rưng xoè tay vuốt lên mặt vải thân quen, tưởng như vừa phân thân, nửa nầy ghì lấy nửa kia san sẻ. Ôi, thịt da cùng tơ lụa, cớ sao gần gũi khó lìa? Quần áo, giày dép, nữ trang, Châu tư hữu mỗi món đôi ba bộ, ưng bụng chỉ độ vài món. Những thứ đó, cô không mang theo lên núi Phụng. Chiếc quần mỹ a cẩm vân, chiếc áo dài màu mạ non mà cô chỉ mặc mỗi năm một lần sáng mồng một Tết, đôi dép da đen mũi bít, sợi dây chuyền móc trái tim ngọc hổ phách trong veo. Tất cả còn nguyên đó. Châu lấy ra từng thứ, ngắm nghía, sờ soạng như thể mới thấy chúng lần đầu. Châu lấy ra tấm kiếng soi mặt hình quả trám viền khung sơn hồng giấu giữa mớ quần áo, hà hơi lên mặt gương tráng thuỷ, rà ngón tay loằng ngoằng. Tay hỏi han mặt kiếng bấy lâu vắng hơi người. Rồi cô nghiêng mặt săm soi. Một giọt nước mắt nhỏ xuống, loè nhoè má môi xanh xao, làn tóc biếng chải. Châu không nghĩ cô là người có diện mạo sắc sảo, huê rạng. Nhưng cô có thể đo lường được nhan sắc mình qua mắt nhìn của người khác phái.

Châu quyết định, chiều nay sẽ mặc quần sa-teng trắng trơn và áo bà ba lụa màu kén tằm. Trái tim cô trỗi nhịp vui vầy như trẻ con chờ Tết.

*

Hai người bạn mùa dắt trâu của anh Chúc cắp theo chai rượu đế, sau bữa cơm họ rót ép đám đàn ông, mỗi người một chung. Má không nói gì, chỉ hướng mắt nghiêm nghị ngó Chúc. Chàng hiểu ý, kéo hai người bạn qua bàn bên, tiếp tục rượu mồi. Má kêu chị Ba Khởi dọn bánh trái tráng miệng, rồi quay mặt nói với thầy giáo Hoàng:

– Mời thầy dùng miếng bánh chuối hấp chan nước cốt dừa và trái cây vườn nhà.

Bà nội tới cữ nhai trầu, ra ván ngồi xếp bằng, vặn lớn tim đèn dầu, vói giọng:

– Không có món tráng miệng nào ngon bằng một hớp trà sen và miếng trầu cau dậm vị, nghe bây!

Ông nội húng hắng giọng:

– Ối, làm sao sánh bằng một điếu thuốc vấn, bà!

Cẩm nhổm lưng:

– Con vấn cho ông nội một điếu nghe?

Anh Chung giành phần:

– Con vấn cho. Con Cẩm vấn thuốc, ướt dầm nước miếng, đốt ba bữa không cháy.

Ông nội xuề xoà:

– Để ông vấn cho mau, còn nghe thầy giáo Hoàng nói chuyện với lại đờn ca nữa chớ.

Rồi ông xoay qua thầy giáo Hoàng:

– Thầy giáo kể chuyện xứ Bắc nghe chơi!

Nghe hỏi bất thần, người đàn ông không khỏi lúng túng:

– Dạ … cũng không có gì lạ, thưa cụ.

Ông nội mau mắn:

– Đối với thầy, không lạ, nhưng với người sanh đẻ miệt nầy, lạ lắm chớ.

Chị Châu dừng tay bổ cam sành, bày ra dĩa, rón rén đưa mắt ngó thầy giáo Hoàng. Hôm nay thầy đóng bộ áo trắng tay ngắn, bỏ vô quần tây xanh dương đậm xếp li thẳng thớn, lưng thắt dây nịt đen, khoá nhôm sáng loá. Tóc thầy xức dầu bóng, chải ngược ra sau, phô vầng trán phẳng, khuôn mặt nhẵn nhụi, quai cằm ửng xanh chân râu. Dù đã quen mắt, nhưng đôi khi cô vẫn thấy lối phục sức của thầy giáo Hoàng cách biệt, lạ lẫm với khung cảnh nơi đây. Ví như xứ Bắc xa xôi ấy, chung một dãy giang sơn mà sao như muôn dặm.

– Thưa hai cụ, thưa bác, cùng các em đây, tôi vô cùng cảm kích được có mặt trong bữa tiệc tạ ơn thiên địa ngày hôm nay. Tôi, một kẻ tha hương cầu thực, tuy khác lạ quê quán, nhưng đã gắn bó vô cùng tha thiết với đất người nơi này, cũng xin có lời cảm tạ các đấng vạn năng đã phù trợ cho chúng ta tai qua nạn khỏi, giúp tôi thêm tin tưởng vào một tương lai huy hoàng, độc lập sẽ đến với đất nước một ngày không xa.

Không chỉ riêng người, mà cả không gian dường như nín thở lắng nghe mấy lời trịnh trọng của người đàn ông. Một con thiêu thân đâm vô chụp đèn dầu, kêu xèo. Má nâng dĩa cam, nhỏ nhẹ:

– Mời thầy dùng miếng cam đầu mùa. Cam ngọt nhờ đất, đất lành nhờ phước tổ tiên.

Bàn bên, ba người con trai đã bỏ ra vườn sau hút thuốc, chuyện vãn bông lơn. Lúc Châu phụ chị Ba Khởi bưng chén dĩa xuống nhà dưới, mảnh trời bên ngoài đã chạng vạng tím ngắt. Chùa Phụng thỉnh chuông khi nào, cô chẳng hay. Không dưng Châu cảm thấy như liền da nối thịt mặn mà với thổ ngơi nơi đây. Cớ gì vậy? Từ nào tới giờ, chưa một lần Châu ý thức cảm xúc nầy. Phải chăng nó chỉ thực sự hiện hữu sau cơn nghịch cảnh?

Châu trở lại nhà trên, đang lúc thầy giáo Hoàng liền giọng kể:

– … Đói ghê lắm, có nơi người ta ăn cả côn trùng, cỏ lác. Người chết không thân nhân vuốt mặt. Sáng sáng có người đánh xe bò đi nhặt xác. Trong khi đó, nghe nói ở trong Nam, lúa dư thừa tới độ Nhật đốt lúa thay than chạy tàu hoả. Thành thử khi nghe tin Mỹ thả hai quả bom nguyên tử xuống Hiroshima và … và … gì nhỉ … khiến cho Nhật hoàng phải đầu hàng vô điều kiện, ai cũng khấp khởi vui mừng. Thế nào quân Nhật cũng rút khỏi Đông dương. Nghe tin phong phanh Pháp trở lại. Khắp nơi trên đất Bắc, người ta nô nức chuẩn bị toàn dân kháng chiến. Thừa dịp thế sự hỗn mang, tôi lìa quê, theo tàu vào Nam. Có người quen đi trước, biên thư cho hay, nhiều đồn điền cao su trong này mộ phu trả lương công nhật. Khi biết tôi có bằng thành chung, họ khuyên tôi nên nạp đơn xin dạy học. Rồi cơ duyên đưa đẩy, tôi giạt về đây, nhận nơi này làm đất dung thân.

Giọng thầy giáo Hoàng chầm chậm rồi ngưng hẳn. Vài giây im lắng. Ông nội bặp một hơi thuốc dài, phều phào thả khói, rồi chép miệng:

– Tui có nghe nói tới cái nạn đói chết không kịp chôn ở ngoải, nhưng bán tín bán nghi, tưởng chuyện thị phi. Nói vậy, thân nhơn thầy có ai lâm nạn?

Mặt người đàn ông ráo hoảnh:

– Thưa cụ, cả hai bên nội ngoại tôi đều có người chết.

Má xen vô:

– Còn cha mẹ, anh em thầy thì sao?

– Dạ, lâu rồi tôi không được tin tức gì.

Bà nội thở ra:

– Không có tin nghĩa là điềm lành, thầy giáo à!

Thầy giáo Hoàng nở nụ cười chắp vá, đổi giọng tươi tắn:

– Mà lý do của bữa tiệc hôm nay là để ăn mừng, chứ đâu phải để ôn lại chuyện quá khứ không vui. Tôi có mang theo cây đàn ghi-ta.

Bàn bên, anh Chúc lẹ tay rót rượu đầy chung, chồm qua, lớn tiếng mời:

– Thầy nhắp ngụm rượu cho thấm giọng!

Ba người con trai đồng loạt đứng dậy lao nhao, mời thầy giáo, vô một hơi thôi nghen! Thầy giáo Hoàng cũng đứng lên, ngửa cổ nốc cạn. Má day mặt ra cửa, thấy trời đã tối sầm, nhắc chị Châu lấy nhang muỗi ra đốt. Từ nãy giờ, Cẩm và anh Chung dỏng tai nghe chuyện người lớn, chán, rủ nhau ra ván nằm gác đầu lên đùi bà nội, lim dim mắt. Bà nội phe phẩy quạt mo đuổi muỗi. Mớ âm thanh tạp nhạp bên bàn tiệc len vào thính giác Cẩm, rõ mất từng chặp. Giọng miền ngoài của ông thầy giáo cất lên, lúc dõng mãnh lúc tha thiết:

Ta lên núi Bắc, quê xa tắp ơ … Mắt lửa phất cờ, đỏ sắc reo. Ngàn lau réo gọi, giành độc lập. Vùng lên ứ … kháng địch, vững chí theo. Đêm nay tiến bước ơ … đoàn du kích. Từ Lạng sơn về ứ … chiếm Tây nguyên. Giục giã tràn qua sông giết địch. Chiến thắng này ta đoạt trước tiên ơ

Cẩm tỉnh ngủ, nhấc đầu tựa vào ngực bà nội. Bài thơ thầy giáo Hoàng vừa ngâm diễn, nhiều đoạn Cẩm không hiểu gì ráo, nhưng nghe thầy bừng giọng khẳng khái, Cẩm thấy hứng khởi lắm. Dứt bài thơ, bừng lên lào rào tràng vỗ tay tán thưởng. Anh Chúc rót tặng thầy thêm chung rượu. Thầy nhắp môi chừng mực. Tán đèn dầu lớn ngọn, soi rõ sắc mặt người đàn ông rựng đỏ, không biết vì men rượu hay vì tấm lòng phấn chấn? Không ai nhắc, anh Chúc tới lấy cây đàn dựng bên vách, trao cho thầy giáo Hoàng, giục:

– Thầy đờn ca một bài tân nhạc nghe chơi!

Thầy giáo Hoàng nâng đàn, lên dây lẳng tẳng. Chị Châu bóc vỏ trái cam khác, mời thầy ăn thấm giọng. Thầy ngước mặt, nói khẽ:

– Thầy đàn, em hát nhé!

Châu lúng túng, chần chừ chưa thốt nên lời thì thầy đã nhắc:

– Bài “Ngày ấy …”, nhé!

Chưa chi anh Chúc đã nhịp tay cổ võ:

– Hay đó, hát đi!

Châu ngồi xuống, mấy ngón tay vân vê chéo áo mỏng. Đỗi sau, tiếng đàn búng lên rộn rã điệu luân vũ. Người con gái bắt nhịp sượng sùng. Ánh mắt thầy giáo Hoàng đẫm sâu vào hai mắt Châu, đăm đăm khuyến khích. Châu thêm tự tin, cất giọng rỡ ràng:

… Có lứa đôi yêu nhau rồi, hẹn rằng còn mãi không nguôi. Nhạc lắng hương xuân bồi hồi, như vì tình ai tiếng hát lên ngôi. Nói với nhau, yêu nhau rồi, một ngày còn mới tươi môi. Rồi nắm tay cùng nói vui, những câu êm êm không rời vai …

Gian nhà thoáng chốc bừng lên sức sống theo điệu đàn giọng hát thanh tân. “Từ đó khi xuân tái hồi, cho bùi ngùi thương nhớ tới xa xôi …” Như thiên nhiên những ngày tháng chạp chuẩn bị đón Tết, đất đai cây cỏ xanh tươi. Sớm mai thức giấc, Cẩm bắt được hương nụ mới thơm đầy buồng ngủ. Chim hót ca gọi thức không gian. Chùa núi Phụng buông thoảng tiếng chuông trầm trầm, huyễn hoặc. “… Nhớ tới câu yêu thương người, một ngày tuổi mới đôi mươi.” Dưng không Cẩm hiểu ra, thấu đáo ngọn ngành lời ca ý nhạc. Có phải đó là lý do để con người yêu đời mãnh liệt, dẫu những chia lìa, mất mát? Thứ yêu đương đôi lứa ấy, đâu ai ngăn cản được, dẫu những tai ương, hoạn nạn ngặt nghèo?

Chị Châu rẩy giọng ngân nga, dứt tiếng. Mọi người gõ bàn, vỗ tay đôm đốp. Bà nội chặc lưỡi:

– Con Châu nó hát cái gì vậy bây?

Anh Chung ngóc đầu, làu bàu:

– Chỉ hát nhạc Tây đó nội.

– Tây tà kiểu gì, nghe kỳ cục quá tay!

Cẩm bênh:

– Con thấy hay chớ nội.

Bà nội cười hiền:

– Con nít con nôi biết gì. Bây coi tới giờ đi ngủ chưa?

Má nghe được, phất tay:

– Tối nay má cho hai đứa thức khuya.

Cẩm mừng rơn, tiếp tục nép đầu vào ngực bà, thiu thiu mắt.

(còn tiếp)

bài đã đăng của Ngô Nguyên Dũng


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006*2018 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)