Trang chính » Sáng Tác, Tiểu thuyết Email bài này

Núi Đoạn Sông Lìa – phần 12

 

NDSL-11

 

Dưng không núi đoạn sông lìa
Đêm ôm gối lạnh, ngày chia ngắn dài.

 

(tiếp theo)

*

"Má sắp nhỏ yêu dấu,

tờ thơ nầy anh thảo riêng cho mình để trang trải chút tình riêng. Anh đọc nhựt trình đăng tin quê nhà lâm cơn lụt lớn, anh chằm chặp lo lắng, ăn ngủ không yên. Mình biết tính anh, có bao giờ tin ở thần thánh, vậy mà có hôm lạc chân qua vùng quê nghèo miệt trung bắc, cảnh đình làng nọ đã bắt anh dừng bước phân vân. Nơi đây nắng bụi khô cằn, hiếm khi thấy được cảnh trí tươi mát như ở quê mình. Ngôi đình nhỏ thôi, kiến trúc đơn giản, nhưng vững chắc với mái cong rêu bám, rồng phun châu đắp mảnh sành màu mè sơ sài, sứt mẻ, không biết vì mưa nắng hay chiến tranh. Gỗ vách nâu bạc mộc mạc, khô nứt loằng ngoằng những đường chỉ trong lòng tay thời gian, định hướng rủi may. Cánh cửa khắc chữ phước với hình dơi đan cánh. Cột kèo chạm hoa văn thô kệch, tựa như những vết sẹo đã lành da. Nền đất dậm, đôi chỗ mòn lõm, chứng tỏ trước kia khách vãng lai, đình đám thường xuyên.

Lúc anh ghé ngang, trời đã xế ngọ. Nắng trưa đã bớt bốc lửa, nhưng vẫn hừng hực chan hoà mái ngói âm dương. Có điều lạ, bên ngoài nắng táp như đổ lửa vậy mà nội đình toả hơi mát rượi, tưởng như bóng quế tiền nhân còn lẩn khuất đâu đây, quyến luyến chưa rời đất chôn nhau cắt rún. Hay đó là âm khí những oan hồn tức tưởi lìa đời vì những biến động nghiệt ngã chưa kịp đầu thai?

Một vệt sáng xuyên mái thủng, soi lóng lánh máng nhện giăng xéo góc cột. Anh quì chân xuống vùng áng sáng hình nón ám bụi, ngước mặt. Bàn thờ nguội lạnh hương khói. Từ bao lâu rồi, ngôi đình làng không người quét dọn? Thắc mắc nầy bắt anh chùng lòng xúc động, một nỗi xúc động khó lòng giải thích.

Mình thấy đó, dù bôn ba năm tháng và dày dạn phong sương, anh vẫn còn bản tánh giàu tình cảm.

Vây quanh ngôi đình là mảnh vườn thưa lá. Dẫu cây kiểng không được chăm sóc chu đáo, nhưng cách bày trí còn phảng phất nét tài hoa của người gầy dựng. Vài chậu bùm sụm xanh um dưới tàn cây rậm. Một ao nước cạn khô, đất nứt nẻ như lòng chân mốc thếch tiêu biểu của dân làm ruộng, đi biển nơi đây. Dăm ba bụi cỏ sậy thoi thóp xanh, cố bám lấy cõi hồng trần. Đó đây vất vưởng lá sen khô, còn chằng chịt những đường gân sinh lực. Mình ơi, không dưng anh mường tượng ra quang cảnh vườn đình thuở đất nước còn an bình và con người chưa một lần nghe tới hai chữ ‘chủ nghĩa’ mà chua xót. Đành rằng không ai sai khiến được chuyện thiên tai, thời thế, nhưng lý ra phải hiểu thấu hậu quả của chiến tranh, để tránh.

Anh đã lặng người đỗi lâu vì những suy tư bất chợt hiện mất. Đột ngột từ sau lưng, anh nghe tiếng lá động đậy, dò dẫm. Quay lại thì thấy một người đàn ông nhỏ thó, da dẻ nhăn nhúm như núm cau khô. Ông ta đi chân đất, bận quần cụt lem luốc sắc nâu nhuộm, áo cụt tay vá miếng tả tơi. Không thể đoán ông bao nhiêu tuổi.

Anh chưa kịp phản ứng thì người đàn ông dị hợm kia đã cất tiếng:

– Chào quí khách. Tui là ông từ giữ đình làng.

Anh gật đầu chào trả, nhận ra hai bàn chân ông to bạnh khác thường, như hai nan quạt dán bằng da thuộc.

Người đàn ông tiếp lời:

– Hèn lâu mới có khách ghé thăm đình làng. Quí khách đây hẳn từ phương xa tới?

Anh nhoẻn cười:

– Đúng vậy! Thú thật tôi lạc bước ngang đây, chớ không hẳn vì chủ ý.

Ông từ nhếch môi nhoẻn nụ cười buồn thiu:

– Đâu mấy ai tới đây vì chủ ý? Tui không nhớ, đã bao lâu rồi, đình làng không còn lễ lạt kỳ yên hằng năm … Mà nhớ để làm gì, chỉ xót dạ thêm thôi!

– Nếu vậy, cớ gì ông còn ở đây?

Gương mặt người đàn ông nhíu lại. Những nếp gấp thời gian thô bạo còn nguyên vẹn lớp lớp quá khứ buồn vui, rành mạch. Ông Từ ngồi xuống phiến đá phẳng làm cảnh, đáy quần rượn chỉ lấp ló nhúm da nhăn nheo, đen mốc, lơ thơ lông quắn. Cánh tay ông quạt một đường gói trọn ngôi đình làng, giọng nói nhân ái lạ thường:

– Làm sao tui nỡ đi cho đành, ông khách! Rồi ai lo nhang khói cho thánh thần thổ địa đây? Từ khi chiến chinh tràn về, người ta bỏ làng ra đi gần hết. Cá nhơn tui trụi lủi một mình, chỉ còn ngôi đình nầy làm chỗ nương thân. Riết rồi tui đâm lì, hết biết sợ đường tên mũi đạn. Đạn tránh nhơn chớ nhơn biết đường đâu mà né?

Cách nói năng và xử thế đạo nghĩa của người đàn ông quê mùa kia làm anh xúc động nổi gai. Thì ra vậy, bất kỳ trong hoàn cảnh nào, con người vẫn cố bám lấy mảnh đất quê nhà, đình chùa, am miễu. Nơi đâu có nhiều biến động, nơi đó càng sâu gắn bó. Vậy thì, tại sao anh cứ mải miết ngược xuôi Nam Bắc?

Mình ơi, thảo tới đây, cõi lòng anh không khỏi xót xa. Gia đình mình nhằm lúc thiên tai hoạn nạn, lại chẳng có mặt anh. Mình, một thân đơn độc, không biết có đủ sức đỡ đần, cáng đáng cho cả nhà? Anh không biết làm gì khác hơn là gởi kèm theo tờ thơ nầy cái măng-đa, coi như chút trợ lực của người chồng, người cha hèn mọn. Anh sẽ cố thu xếp công việc để trở về. Lần nầy không chừng ở luôn.

Thăm mình và tía má, cùng các con.

Ba sắp nhỏ."

Má run tay gấp tư lá thơ lại, nước mắt nước mũi đầm đìa. Trưa nào rảnh, má cũng lỏn lẻn lấy mấy phong thơ nhận được hổm rày, ra vườn sau ngồi đọc dưới bóng mát tàn vú sữa. Lần nào cũng khóc. Vậy mà chẳng khi nào má nhớ cầm khăn tay theo, cứ tay áo mà chặm.

Hôm qua, theo lời chỉ dẫn của ông Chín đưa thơ, sau khi đưa Cẩm và anh Chung tới trường, má cùng chị Châu đón xe thổ mã ra tỉnh lãnh tiền măng-đa. Cẩm đòi theo trèo trẹo, má phải lớn giọng nạt, mới im. Má hứa sẽ mua bánh bao chỉ, kẹo đậu phộng đem về. Má không rõ ba gởi về bao nhiêu. Tới lãnh mới hay, trời ơi, một gia tài đồ sộ. Gần năm chục đồng bạc đông dương. Má lại ứa nước mắt, lần nầy có thêm nỗi vui mừng. Rồi má xăng xái nắm tay Châu đi thẳng một mạch ra chợ mua một con vịt ướp rượu mai quế lộ nướng, một thớt heo quay tươm mỡ, lạp xưởng thịt, lạp xưởng gan mỗi thứ một ký và bánh kẹo như đã hứa với cô con gái út, quẩy về. Má nói, để cúng tạ ơn thiên địa, nhân tiện làm tiệc ăn mừng. Dọc đường, má dặn Châu sáng mai tới trường làng, nhớ mời thầy giáo Hoàng ghé nhà ăn bữa cơm gia đình lấy thảo.

Sáng sớm, má đã ba lần bốn lượt nhắc chị Ba Khởi đi chợ đừng quên mua mấy thứ cần thiết về sửa soạn cho bữa cơm chiều. Cẩm tài khôn, nhắc má biên ra giấy cho chị Ba Khởi khỏi quên. Chú Năm Tự nghe được, cười hăng hắc:

– Có biết chữ đâu, biên làm gì mất công.

Chị Ba đỏ mặt, đổ quạu:

– Mới quọt quẹt abc dắt dê đi ỉa đã làm tàng. Tui dốt, nhưng dì Tư nói gì, tui nhớ đó. Đâu ai như chú, đầu chưa nhú bạc mà đã lú lẫn.

Bà nội xen vô:

– Hai đứa bây như thuỷ hoả, mới tảng sáng đã mở miệng gấu ó nhau.

Chị Ba Khởi dằng dai:

– Tại ai chớ đâu phải tại con, nội!

Má nhắc:

– Nhớ mua một nhúm cải bắc thảo, nghe Ba Khởi! Nấu canh bún tàu với thịt heo bằm mà thiếu cải bắc thảo là mất vị. Nếu không thấy bán bánh hỏi thì mua bún về ăn với thịt quay, rau sống, nước mắm tỏi ớt. Con vịt quay, mầy chặt nhỏ, phân nửa đem xào với cải chua, còn nửa kia đem kho lạt. Còn cá trê nướng dầm nước mắm gừng, nhớ lật bụng lựa cá trê vàng mới béo. Đừng quên mua vài trăm gam tép về trộn gỏi ngó sen. Thấy có mè thì mua, không thì thay bằng đậu phộng, cũng được. Cho món tráng miệng, mua khoai lang, hột sen, bạch quả, táo tàu về nấu chè bột khoai nước dừa. Tao nhớ đâu, dặn đó, có thiếu gì thì mầy liệu mua cho đủ. Còn chú Năm ra vườn cắt giùm mớ rau thơm tạp tàng, coi có thứ trái cây nào tươi tốt, hái đem vô cúng ông Địa.

Dặn dò đâu đó xong xuôi, má yên tâm sửa soạn những thứ cần làm trước. Má vô bếp, vớt trong hũ ra mấy miếng mưa mắm, xắt mỏng, bỏ vô tô sứ. Vừa giã tỏi ớt để pha nước giấm đường, má vừa lan man nghĩ tới chị Mười bán nắm. Không biết giờ nầy chị làm gì, ở đâu? Gia cảnh có sứt mẻ gì không sau cơn bão lụt? Phải chi chị ở gần đây, má mời chị tới chơi. Trước đó má đã nhắn nhe bầy con, đứa nào muốn rủ bạn tới ăn tiệc cúng tạ ơn trời đất chiều nay, cứ tự tiện. Rồi má chạnh nghĩ lại thân phận. Những bè bạn thân sơ của má thời con gái, chẳng còn một ai. Ngay cả bà con dòng họ chốn quê cũ, đã ròng rã nhiều năm rồi, má không gặp mặt. Dẫu bây giờ má không còn "chiều chiều ra đứng ngõ sau …", nhưng ruột gan nhiều lúc cũng bằm dập đau xót.

Má dằn tay lên mấy lá thơ đặt trên đùi. Bóng lá líu ríu chập chờn theo gió mỏng. Trưa đứng nắng thinh vắng. Thỉnh thoảng, buồn buồn vẳng lại tiếng gió lay cành quọt quẹt, và trái chín rụng sộp đất mềm. Má toan đứng dậy trở vô nhà thì có tiếng nhỏ nhẹ từ ngạch cửa:

– Con kiếm má nãy giờ.

Má quay lại, cất vội xấp thơ mỏng vô túi áo trong. Châu đang đứng ngấp nghé nơi cửa bếp trổ ra vườn sau, manh áo bà ba màu vỏ trứng hắt sáng nửa phần.

Má cười lấp liếm:

– Chuyện gì vậy con?

– Con muốn hỏi má có cần con phụ hợ chuyện chi không?

– Nghỉ trưa rồi xúm lại làm một lượt cho vui.

Châu tới gần, đặt tay lên vai má ốm nhom:

– Con không ngủ được, tự nhiên thấy người bợn rợn.

Má ngẩng mặt, hắt tiếng:

– Má cũng vậy.

Tay Châu siết nhẹ bả vai má:

– Chắc tại mấy lá thơ của ba?

Má thở dài:

– Không hiểu giờ nầy ba con ở đâu? Được thơ thì vững bụng vì biết ổng mạnh giỏi, nhưng sau đó lại lo chằm chặp.

– Con thấy dạo nầy má làm sao đó!

– Chính má cũng thấy vậy.

Châu đi nhắc ghế tới ngồi cạnh má. Chưa lần nào má con tâm tình cạn ráo cùng nhau, nhưng Châu đoán, má không phải là người hủ lậu, hẹp hòi. Cảm xúc Châu, từ cái lần bạo dạn trao tay nắm cùng thầy giáo Hoàng trên núi Phụng, cứ rạo rực không nguôi mỗi khi nhớ lại. Cô không thể phân định rành rọt đó là thứ cảm xúc gì, chỉ biết nó thường bắt cô tư lự mông lung, như thể hồn vía lẩn thẩn tách lìa thể xác, tản mạn rong chơi. Nhất là những khi Châu một mình: lúc chép nhạc đề thơ, khi giặt giũ quần áo bên cầu ván, hay những tối trăng lu ra ao tắm gội. Ngàn bàn tay đêm xập xoè úp lên da thịt. Nước xốc xách rờn rợn ngõ ngách thân thể. Những ngón tay kỳ cọ, của chính cô mà tưởng như của ai khác ngang nhiên sục sạo. Đôi lúc cảm giác va chạm mới mẻ, kích thích tới độ bắt Châu khép mắt tưởng lại nắm tay rắn rỏi của ông thầy giáo bữa nọ. Hơi hướm kẻ khác phái truyền sang, bắt da thịt cô nổi gai như có bầy kiến rậm rật bu quanh phần thân thể ứa mật xuân thì. Đã nhiều năm rồi Châu nhận biết mình không còn trẻ con nữa, nhưng bắt đầu từ nay cô mới thật sự ý thức phần nữ tính đang đâm chồi xao động trong cô.

Không biết cô có nên tỏ bày những tâm tư thầm kín nầy cùng má?

– Con đọc hết ba lá thơ ba viết chưa?

Má gợi chuyện.

– Dạ rồi, nhưng chỉ hai lá thôi, còn lá kia ba viết riêng cho má mà.

Má chớp mắt, đôi gò má ửng đỏ:

– Cũng không có gì lạ. Ba kể chuyện làng xóm đàng ngoài.

– Con thấy ba đi xa, hiểu rộng như vậy, con ham quá.

– Cái số ổng có chân đi. Vả lại con sanh ra nhằm phận gái, làm vậy không khỏi thói đời dị nghị.

Châu thấp giọng chần chừ:

– Con muốn hỏi má chuyện nầy, chỉ sợ … sợ … má la.

Má mỉm cười hiền hậu:

– Con cứ hỏi! Nếu má không trả lời được thì má im.

Châu chụm hai tay lên đầu gối, lúng búng lựa lời:

– Từ hồi má lìa quê tới đây làm dâu … làm vợ … rồi sanh con, má có thấy … vui?

Chữ "vui" Châu thốt ra hụt hơi, cụt ngủn như gẫy ngang, rớt xuống đoạn đành. Cô không dám ngó thẳng mặt má mà cúi mặt e ngại. Má xoè tay, úp lên lưng tay Châu, xoắn lại. Giọng má nghe lạ lẫm như của hồn ma bóng ảnh nào vừa nhập:

– Có chớ con! Nhưng nhiều lúc không phải cho mình.

Châu xúc động hoen lệ. Ngoài sông, đưa lại tiếng dừa rụng oạch, có lẽ bị chuột khoét. Lũ chim đồng nội giật mình túa lên không trung hực nắng. Cả thinh không bừng lên khoảnh khắc, rồi trở lại trầm mặc. Như thể chẳng có gì xảy ra cho mỗi sinh vật nơi đây. Châu muốn như vậy. Đừng có những thay đổi, vì đổi thay nào cũng đưa tới ít nhiều mất mát.

 

(còn tiếp)

bài đã đăng của Ngô Nguyên Dũng


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006*2018 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)