Trang chính » Sáng Tác, Tiểu thuyết Email bài này

Núi Đoạn Sông Lìa – phần 2

 

 

Dưng không núi đoạn sông lìa
Đêm ôm gối lạnh, ngày chia ngắn dài.

 

*

 

Chị Châu có nhiều điểm lạ. Ngoài chuyện siêng năng chép thơ, chị còn chép tân nhạc. Nhiều bài, Cẩm nghe lần đầu. Chị nói, phỏng theo nhạc Tây. Rồi chị ngân nga: "Ngày ấy khi xuân ra đời, một trời bình minh có lũ chim vui. Có lứa đôi yêu nhau rồi, hẹn rằng còn mãi không thôi…" ([1])

Không biết Cẩm có tưởng tượng quá đà không, vì lúc chị Châu uốn miệng theo giai điệu, nét mặt chị lạ lùng như vay mượn của ai khác. Hai mắt chị khép hờ. Đôi hàng mi cong rậm tự nhiên nhấp nháy như bộ mày một loài bướm đêm. Gò má chị đổi sắc hồng. Cánh mũi phập phồng lấy hơi. Ngấn cổ thon rung nhẹ theo giọng ngân. Cẩm thấy chị điệu đà, duyên dáng như một ca kỹ chính hiệu. Rồi Cẩm không khỏi thắc mắc, chị có được khúc hát nầy từ đâu, do ai chỉ dạy? Nhưng Cẩm không dám hỏi. Chị Châu có nhiều điều bí mật, mà một đứa trẻ con chưa tới tuổi bận quần đen như Cẩm không được phép biết tới. Chị thường nói với Cẩm như vậy, rồi bật cười giòn tan.

Một hôm, tình cờ, anh Chung tiết lộ điều bí mật nầy cho Cẩm biết.

Anh Chung mười ba tuổi, mép đã lún phún râu măng. Trưa nào đi học về, cơm nước xong, anh cũng ra nằm võng mắc giữa hai cây ổi lão. Một cây bốn mùa sai trái. Còn cây kia chỉ biếng nhác đơm bông mỗi mùa nắng, nhưng lá kết rậm rì, tàn toả bóng mát. Cẩm có chiếc ghế nằm bằng mây tự tay ba đan cho trong một lần về thăm. Mỗi bận anh Chung ra võng đong đưa giấc ngủ trưa, Cẩm cũng bắt chuớc khiêng ghế tới nằm bên cạnh. Trưa hạ nắng gắt, gió từ cửa sông thổi về mát rượi. Từ chái bếp, giọng chị Châu vọng ra trong lúc phụ chị Ba Khởi dọn bàn, rửa chén: "Từ đó khi xuân tái hồi, cho bùi ngùi thương nhớ tới xa xôi. Nhớ tới câu yêu thương người, một ngày tuổi mới đôi mươi…"

Cẩm khép mắt, mơ màng theo giọng hát chị Châu. Bỗng dưng anh Chung cất tiếng:

– Mầy hiểu thấu chị Châu hát cái gì không?

Cẩm bừng mắt ngơ ngác, đầu óc quay một vòng theo từng lời ca. Chợt Cẩm nhận ra, Cẩm không hiểu chút nào hết. Cái gì mà "tái hồi" với lại "bùi ngùi", rồi còn "yêu thương" và "đôi mươi" nữa?

Cẩm lắc đầu:

– Em không hiểu.

Giọng anh Chung nhỏ lại:

– Mầy biết không, tao nghi lắm. Tao đoán chị Hai đương để bụng thương ai.

Cẩm xoe mắt:

– Ai vậy anh?

Anh Chung thõng chân xuống đất, ngừng đưa võng, ngoái đầu ngó Cẩm:

– Mà mầy không được nói cho ai biết, nghe không?

– Em thề…

– Mấy bài hát là của thầy giáo Hoàng dạy chị đó.

– Sao anh biết?

– Ở trường, ai cũng biết hết á!

Cẩm đắn đo:

– Ừa… thầy giáo dạy chị hát, thì có sao đâu?

Anh Chung bực bội:

– Em út không được "ừa", mầy hiểu chưa? Mầy ngu lắm, hổng hiểu gì hết trọi. Bài hát có nghĩa như là… là… trai gái thích nhau. Tao hồ nghi chị Châu… thích thầy giáo Hoàng.

Cẩm chưng hửng:

– Anh đừng nói bậy, má nghe được đánh chết!

Anh Chung rút phắt chân lên võng, quay mặt chỗ khác, lầm bầm:

– Đồ con gái, ngu quá!

Mẩu chuyện không đầu đuôi với anh Chung một trưa nắng mát thỉnh thoảng gợn về tâm trí Cẩm. Những khi chỉ có hai chị em bên nhau, Cẩm muốn hỏi lắm, nhưng cố ghìm. Lỡ ra, tới tai anh Chung, anh nhéo tai đau lắm. Nhưng từ đó, Cẩm để ý tìm hiểu mấy lời ca chị Châu thường chuốc giọng.

 

*

 

Ba có một tủ gỗ chạm hoa văn, đánh vẹc-ni bóng ngời, cửa có khoá, phía trên lót kiếng ba ngăn đựng sách, phía dưới đựng vật dụng tạp nhạp. Tủ luôn luôn khoá chặt. Má cất chìa khoá trong tráp sơn mài để phía sau bàn thờ Phật chung với nhang thơm và dầu bông lài. Chỗ đó, Cẩm phải bắc ghế mới vói tới. Nhưng có bao giờ Cẩm dám nghĩ tới. Má đã căn dặn, tủ sách dành cho người lớn. Con nít như Cẩm chỉ được phép dán mắt sát lớp kiếng ố vàng lốm đốm, ngắm nghía cho mãn nhãn. Mà Cẩm có hiểu mấy chữ ép nhũ vàng, nhũ bạc trên gáy sách gì cho cam. Có cuốn bằng chữ Nho, có cuốn chữ Tây, có cuốn chữ Việt, Cẩm đánh vần được bặp bẹ: "Từ điển Việt ngữ", "Tam quốc diễn nghĩa", "Hồng Lâu Mộng", "Kim Vân Kiều", hay "Lục Vân Tiên". Vậy mà, không hiểu sao, những ngữ vựng cao xa đó đã kích thích tột độ trí tưởng tượng Cẩm. Nhất là những dịp ba về thăm, rảnh rang, ba mở tủ, rút ra một cuốn, ngồi đọc tới khi má nhắc thắp đèn. Thỉnh thoảng Cẩm chàng ràng bên cạnh, liếc mắt. Toàn chữ, chi chít. Có cuốn dặm tranh màu Tây Đầm lạ lùng, ngộ nghĩnh vô cùng. Đôi khi ba kêu anh Chúc đọc cho ba nghe. Anh Chúc ngồi xếp bằng trên ván, trong khi ba cởi trần nằm bên cạnh, lim dim mắt.

Giọng anh Chúc bổng trầm trưa nắng chan chan:

Thời Vũ đế, nước Tề có người họ Đông Phương tên Sóc, tính ưa kinh truyện cũ, đọc rộng tất cả các bách gia chư tử. Lúc mới đến Trường An, Sóc đến dinh Công xa dâng thư, thư dài đến ba ngàn "giản độc"

Tới đó, anh Chúc ngần ngừ:

– "Giản độc" là cái gì vậy ba?

Giọng ba uể oải, không mở mắt:

– Là thẻ tre. Đời xưa người ta chưa biết làm giấy, nên viết chữ trên thẻ vuốt bằng tre… Đọc đi, đừng hỏi nữa!

– Ơ… ơ… ba ngàn "giản độc", nha Công xa phải cho hai người khiêng mới xuể. Vua đọc thư của Sóc ở nội cung, mỗi khi ngừng phải vạch đánh dấu. Đọc ròng rã hai tháng mới hết. ([2])

Có khi, trong lúc nghe anh Chúc đọc sách, ba sai Cẩm nhổ tóc bạc, tóc sâu. Cẩm thích lắm, vì sau đó lần nào ba cũng thưởng công. Ba nằm sấp, lâu lâu lại trở đầu, vặn lưng, khớp xương lắc rắc. Cẩm săm soi, tìm tòi từng sợi bạc, sợi quăn, sợi rễ tre. Tóc ba hăng hắc thứ mùi pha trộn giữa hương nắng, mồ hôi và dầu xức tóc. Thỉnh thoảng mắt Cẩm rớt trên vai ba, chỗ có mụt ruồi lớn cỡ đầu tăm tre, lơ thơ mấy sợi lông quăn queo. Cẩm muốn nhổ phứt cho rồi. Hỏi thì ba "hừm" tiếng nhỏ, kèm theo lời giải thích: "Lông tài đó con, không được nhổ."

Và tai Cẩm mơ màng theo giọng đọc ê a của anh Chúc, thỉnh thoảng lạc giọng vì tiếng ngáp cố nén. Vậy mà cũng có vài điều sót lại trong trí nhớ Cẩm. Chúng vẽ ra một thế giới xa vời, rực rỡ màu sắc. Không giống như cái thế giới thoát ra từ mấy bài hát bóng bẩy, khó hiểu của chị Châu, mà là một khung cảnh tựa như buổi hát cúng đình. Với áo mão, cân đai. Với liễn đối mực tàu. Với núi sông thuỷ mạc. Với đèn màu và chiêng trống gióng giả. Cẩm bực bội tự trách, không hiểu sao mình nhỏ lâu.

Cẩm thích lê la cạnh chị Châu, mỗi khi chị cắp thau, gáo ra cầu ao gội đầu. Chị có mái tóc đẹp rụng rời, phủ ngang sống lưng, đen óng ả, phẳng phiu chớ không dợn sóng ba đào. Bởi vậy, chị gội đầu kỹ càng, lâu lắc. Chị thích hương chanh, thứ gì cũng vắt thêm chanh. Gội một lượt bằng xà-bông thơm mua ngoài chợ xong, chị múc nước đầy thau, vắt chanh, khuấy đều. Lần này Cẩm được phép lấy gáo xối nước cho chị xả tóc. Mỗi lần nửa gáo. Mà xối nhẹ thôi, chị Châu dặn dò. Cẩm nhận thấy rõ ràng màu tóc chị óng lên trong nắng, tương phản với làn da ót trắng muốt như cánh bông so đũa. Đôi khi chị lỡ làm ướt áo. Lúc chị đứng dậy, một phần ngực mọng lên dưới lớp vải trắng. Cẩm ngờ ngợ, chăm chú. Hình vẽ Tây Đầm trong cuốn sách dầy cộm của ba lờn vờn hiện lên trí Cẩm. Cũng ngực vai đầy đặn, trần trụi dải khăn vắt ngang hông.

Có lần Cẩm tần ngần nói với chị:

– Em ưa nghe mấy bài chị hát.

Chị Châu cười nhẹ, giỡn hớt:

– Ưa bài hát hay là giọng hát?

– Ưa luôn giọng hát. Chị dạy em hát đi!

– Đâu có gì khó. Mà em đọc chữ chưa rành, làm sao học lời?

– Chị hát trước, em nhái theo. Có mấy bài chị ca đi ca lại, em thuộc lòng.

– Bài nào?

– Cái bài "ngày ấy khi xuân ra đời" đó.

Hai má chị Châu chợt đỏ lơ đỏ lưởng:

– Ờ, ờ, người ta bắt chước theo nhạc tây.

Cẩm dạn dĩ hơn:

– Mà "xuân ra đời" là nghĩa gì vậy chị?

Chị Châu cười giòn:

– "Xuân" là mùa xuân, lúc cây cối trổ bông, còn "ra đời" là mới bắt đầu. Nghe nói, ở xứ người có bốn mùa xuân, hạ, thu, đông, chớ không phải chỉ hai mùa mưa nắng như bên mình.

Cẩm reo lên:

– Vui quá hén!

Rồi Cẩm nghiêng đầu, láp dáp ca vài câu. Chị Châu vắt khăn lên vai, rút lược, thong thả chải tóc.

– Mấy bài hát, bài thơ chị có được là do thầy giáo Hoàng chỉ dạy.

Giọng chị nhỏ nhẻ, ấm áp, khác hẳn mọi khi. Cẩm còn bỡ ngỡ chưa biết nói sao, chị tiếp:

– Mà em nhứt định không được kể cho ai khác nghe, hiểu không? Tới tai má, chị có nước nát thây.

Cũng thầy giáo Hoàng, Cẩm nghĩ thầm. Cẩm ít khi chạm mặt ông thầy giáo nầy, chỉ nghe anh chị thường xuyên nhắc nhở. Ổng là người miền ngoài lưu lạc vô đây làm ăn. Theo lời anh Chúc, ổng nói chuyện, dùng nhiều chữ kỳ cục, nghe tức cười hết sức. Mới đầu, không ai hiểu gì hết, riết rồi quen. Chị Châu bênh chằm chằm, thì người ta từ xứ khác tới đây, đâu phải người sinh đẻ nơi nầy. Bà nội xét nét, vậy thẩy không phải là người mình sao bây? Ai cũng cười. Chị Châu giải thích, người mình chớ nội, có điều gốc gác thẩy đâu đó tuốt ngoài Bắc lận. Má chép miệng, xa dữ thần ôn, chắc thẩy nhớ nhà dữ lắm, Tết tới, tụi bây nhớ nhắc má làm bánh mứt biếu thẩy ăn lấy thảo, nhân tiện mời thẩy tới nhà mình chơi.

Nghe lời mọi người bàn tán, Châu không khỏi nhớ lại những buổi học vui vầy bên cạnh thầy giáo Hoàng. Trường sơ học làng chỉ vỏn vẹn ba lớp năm, tư, ba. Lên lớp ba, đã biết đọc và viết tương đối rành rẽ, Châu được học với thầy Hoàng. Học trò tuổi tác chênh lệch, đứa nhỏ nhứt kém Châu gần chục tuổi. Bởi vậy, học lớp nào, Châu cũng được bầu làm trưởng lớp. Có nghĩa, ngày ngày Châu phải tới sớm, lên phòng cô giáo hiệu trưởng lấy danh bạ, phấn, giẻ lau bảng và rót nước để lên bàn thầy. Tan học, Châu phải nán lại chùi bảng, dọn dẹp bàn thầy, thỉnh thoảng còn ôm mớ tập bài kiểm về nhà giúp thầy. Châu lo tròn bổn phận, không chút nề hà. Vì lẽ gì, cô cũng không biết. Chỉ biết, mỗi lần được dịp rề rà bên cạnh thầy là lòng cô xôn xao, rộn ràng khó tả.

Nhiều trưa tan học, nắng chang chang, thầy Hoàng đi trước, Châu lẽo đẽo theo sau, chồng bài kiểm trên tay. Thầy Hoàng ăn vận tân thời, áo cụt tay lúc trắng lúc xanh da trời, quần tây màu đậm, thắt dây nịt, chân luôn luôn mang dép da. Mùa mưa, thầy che dù đen, xắn quần, tháo dép cầm tay, lội đường trơn trợt bùn đất, lồi lõm lỗ chân trâu. Hôm nào mưa bất tử, không đem theo dù, Châu được thầy cho che chung.

Một bữa tháng sáu, bão rớt, trời đất thịnh nộ, ôm chồng bài kiểm theo thầy về nhà, Châu được thầy cho vô nhà chờ mưa tạnh. Thầy nấu trà sen, đem đậu phộng rang ra mời Châu.

Thầy Hoàng mở lời:

– Em học xong lớp ba rồi dự định sẽ làm gì?

Châu đỏ mặt lúng túng:

– Dạ… thưa thầy, em cũng chưa biết.

– Em thích đi học nữa không?

Châu lí nhí:

– Dạ, thích.

– Nếu vậy, em phải ra trường tiểu học tỉnh.

Châu nói không muốn ra hơi:

– Thưa thầy, chắc không được. Má nói, con gái học nhiêu đó… đủ rồi.

Thầy cười, hàm răng trắng đều:

– Thầy cứ tưởng gia đình em theo mới, cho con cái ăn học đến nơi đến chốn.

Châu bắt đầu bạo dạn:

– Ba em là vậy, nhưng má với ông bà nội còn theo xưa, thưa thầy.

– Nếu em muốn, thầy sẵn lòng dạy em học tiếp.

Mặt Châu nóng bừng, tim đập thình thịch, không tin ở thính giác mình. Cô không dám ngó thẳng mặt thầy Hoàng:

– Dạ… dạ, em cũng không biết… Chắc má không cho.

– Hôm nào rỗi, em dẫn thầy đến nhà, thầy sẽ nói chuyện với má em. Thầy thấy em là người siêng năng, hiếu học, bỏ ngang tiếc lắm.

Châu cúi mặt, giấu vẻ ngượng ngùng:

– Em cảm ơn thầy.

Ngoài trời, đột ngột ánh chớp loé lên. Vài giây sau là tiếng sấm kinh thiên. Thầy Hoàng ái ngại nhìn ra khung cửa nhá nhem bóng xám. Mưa tí tách nhỏ xuống lối đi lót gạch ong, có chưng một con voi sành, chở trên lưng chậu bùm sụm trái nhỏ li ti. Cây dù giương to, phơi ráo ngoài hàng ba. Khung cảnh nầy, đã vài lần Châu đặt chân tới, nhưng chỉ tạt ngang chốc lát rồi chào thầy ra về. Vậy mà, không hiểu sao, hôm nay cô có cảm giác thân thiết, gần gũi lắm. Như đã thường xuyên tới lui. Mắt đã quen với mỗi góc cạnh, từng đồ vật bày biện. Mũi đã hít thở cái hơm hướm lạ lẫm mà khắng khít đằm đằm, tràn lan da thịt. Châu rùng mình tự giác, không biết vì hơi mưa lạnh hay vì xúc cảm?

Thầy Hoàng không để ý vì đang loay hoay lắp dĩa hát vô máy. Châu thấy cái máy hát nầy lần đầu. Thầy Hoàng nhấc cái ống loa loe rộng như cánh bông huệ lớn sang bên cạnh, rồi thong thả quay trục, sau cùng mới nâng đầu kim đặt nhẹ xuống mặt dĩa. Nối theo âm thanh lè rè là tiếng đàn thê thiết lạ tai. Cung điệu trầm bổng hoà tiếng mưa thầm thì, khiến Châu có cảm tưởng vừa lạc sang cảnh giới khác. Tâm tư cô đắm chìm trong cõi hư thực thanh tân, nơi chốn mà cô chỉ trải qua trong chiêm bao. Chân cô giẫm lên cỏ mịn. Tay cô xô nhẹ những phiến cửa khép hờ. Đất trời thênh thang trước mắt, rực rỡ ánh sáng và màu sắc. Có hơi ấm bàn tay đan ngón, kéo tới. Thời gian khựng lại ngơ ngác. Không gian mở ra mênh mông.

Giọng thầy Hoàng cất lên gọi thức:

– Tạnh mưa rồi. Em về thôi, kẻo nhà trông!

Châu nghiêng mặt ra cửa. Mưa thôi nhỏ giọt khi nào, không biết. Nhạc đã đổi điệu. Tiếng tây ban cầm réo rắt đuổi nhau.

Thầy Hoàng ân cần:

– Em nhớ cầm theo dù, lỡ mưa dọc đường.

Châu đứng lên, vuốt áo. Tự dưng cô có cảm giác, khổ áo hôm nay dường như chật hơn. Hàng nút áo căng theo đường cong trũng ngực. Hơi nóng bừng lên đôi gò má Châu. Cô chào thầy, bước đi mà nghe như luyến tiếc.

 

(còn tiếp)


([1]) "Khúc hát thanh xuân", "Wer uns getraut", nhạc Johann Strauss II, lời Việt Phạm Duy.

([2]) Trích "Sử ký Tư Mã Thiên".

bài đã đăng của Ngô Nguyên Dũng


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006*2018 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)