Trang chính » Biên Khảo, Nhận Định Email bài này

Tặng phẩm của ngôn ngữ: Thói "ăn" nếp "ở" của người Việt qua cách nói


Không biết có phải do hoàn cảnh thiếu ăn thiếu mặc từ xa xưa, mà người Á đông nói chung, người Việt nói riêng, đặc biệt quan tâm tới miếng ăn. Ăn không phải chỉ để sinh tồn, mà còn để hưởng thụ: Ăn đứng đầu tứ khoái. Ăn cho sướng miệng cái đã, mấy chuyện khác tính sau.

Ở đâu lúc nào, một mình hay nhiều mình, cũng thấy ăn. Thui thủi, trơ trọi ở nhà, lục lọi coi có cái gì ăn cho đỡ buồn. Ra đường, đi chơi hay lo việc, trước hay sau gì cũng phải kiếm cái gì dằn bụng. Ăn sáng, ăn trưa, ăn chiều, ăn tối, ăn khuya. Vì vậy, trong tiếng Việt có vô số động từ đôi đi chung với "ăn". Điểm này không thấy có trong ngôn ngữ của các dân tộc khác.

Nhưng "ăn" nhiều khi lại không có nghĩa là "ăn", mới lạ!

Tụ họp đình đám, lễ lạt giỗ tết, người mình nói "ăn cưới", "ăn tết", "ăn giỗ", "ăn cúng", "ăn đám ma", … Từ "ăn" trong những nhóm chữ này rõ ràng là hành động đưa thực phẩm vào miệng, nhai rồi nuốt, không thoát đi đâu được. Giống như "ăn" trong "ăn khín", "ăn chực", cũng là "ăn", nhưng hàm ý không mấy tốt, tới ăn không ai mời, hoặc có mời nhưng sau đó lại nhiếc móc sau lưng: "Cái thằng đó ưa tới nhà mình nhằm giờ cơm để ăn khín mà không biết mắc cỡ!" Nhưng "ăn chực" trong thành ngữ "ăn chực nằm chờ" lại ngụ ý: kiên nhẫn chờ được giải quyết một vấn đề gì đó. Có lẽ bắt nguồn từ xưa: mỗi khi dân chúng từ những nơi xa xôi có việc tới nhà quan ở chợ, ở tỉnh, ở kinh thành, thường đem theo đồ ăn thức uống để lót bụng, vì biết chắc thế nào cũng phải chờ đợi lâu lắc, lắm khi dăm ba ngày liên tiếp; ăn để chực chờ tới lượt được vô hầu quan lớn.

Phong cách ăn uống, nói năng giữ một vị trí vô cùng quan trọng trong truyền thống phong tục, lễ giáo của người Việt. Con cái, đặc biệt là con gái (vì thời xưa không được tới trường), được cha mẹ dạy cho "học ăn, học nói, học gói, học mở", coi như những chuẩn mực để xử thế và giao tiếp trong gia đình, họ hàng và ngoài xã hội. Nghĩ rộng, thấy bốn món "công, dung, ngôn, hạnh" được gói ghém gần như trọn vẹn trong đó. (Tới đây, người viết xin được mở dấu ngoặc, đặt dấu hỏi lớn về nghĩa đen và nghĩa bóng của cụm từ "học gói, học mở" trong thành ngữ này. Tự điển Việt ngữ có vài cách giải thích khác nhau, không biết thực hư ra sao?). Vậy, "ăn" khi đi chung với "nói" được hiểu là đối đãi, cư xử. Nhưng khi cặp kè với "nhậu", tuỳ theo cách nói, lại có nghĩa hoàn toàn khác: "Chuyện vợ chồng người ta không ăn nhậu gì tới mình, mình xía vô đâm ra mất lòng." Ở đây, không biết vì nỗi niềm trắc trở gì mà "ăn nhậu" cương quyết chia tay, không còn luyến tiếc chút dư vị nào của "ăn uống, nhậu nhẹt" nữa, để cải trang, đổi lớp thành "dính líu, dính dáng". Lạ, nhưng không lớn!

Chuyện lớn chỉ thực sự xảy ra, khi "ăn"… lỡ chung chạ với "nằm". Mẹ quát con gái: "Hả, cái gì? Bộ đui hay sao mà mày ăn nằm với cái thằng trời đánh thánh đâm, lưu manh láu cá đó? Trời ơi là trời, con ơi là con!" Nhất định là phải có "ăn" vô đây thì "nằm" mới trọn nghĩa "tằng tịu" của nó, và được dùng để ám chỉ những trường hợp chung đụng xác thịt không chính thức. Vợ chồng với nhau, không ai (hoặc không nên) nói "ăn nằm", mà nói "ăn ở". Khi người vợ rưng rưng nước mắt trách cứ: "Vợ chồng mình ăn ở với nhau bảy mặt con, không còn tình cũng còn nghĩa, mình nỡ lòng nào ăn nằm với con ở. Bây giờ, nó chang bang một bụng, em biết ăn nói sao đây với con cái?" Nghe thương xót biết mấy! Và, "ăn nói" trong tình huống này, có thêm nghĩa "giải thích, làm sáng tỏ", ở đây là lý do tại sao cái bụng chị ở không dưng càng ngày càng phình 1ớn một cách vô cùng khó hiểu.

Chuyển qua "ăn vụng". Nghĩa đen ý nói "giải quyết cái đói một cách lén lút": "Nhà tôi có tật ăn vụng ban đêm, khuya nào cũng thức dậy, xuống bếp lục cơm nguội." Chuyện không sao cả. Nhưng tới lúc nàng nghiến răng trèo trẹo cảnh cáo: "Tôi nói cho anh biết, anh mà lén tôi đi ăn vụng, tôi biết được, đừng có trách tôi ác!" Và, tới khi bạn gái trề môi nhún mỏ rỉ tai nhau: "Ai kêu, ăn vụng không biết chùi mép, bị vợ đuổi ra khỏi nhà, đáng đời!", thì chuyện đã… mọc trăng sao, đang tối thành sáng trưng; hành động "ăn vụng" trở mặt, chỉ còn độc nhất một nghĩa bóng: "Đã có gia đình, còn đi ngoại tình."

Trực tiếp hay gián tiếp cùng nghĩa với "ăn", trong tiếng Việt có "ăn xin", "ăn mày": "Xin" người khác để có miếng ăn, để sinh sống (chữ "mày" trong "ăn mày" ngụ ý gì, có dính dáng gì tới "mày ốc", "mày ghẻ" hay không, người viết không rõ.) Không riêng gì ở Việt nam, mà khắp nơi trên thế giới, đều có người ăn mày. Thậm chí, như ở Việt nam, có cả làng sống bằng nghề ăn mày, từ đời cha tới đời con. "Ăn mày", vì vậy, nghiễm nhiên trở thành cái nghề. Để rồi, từ "nghề" chuyển ra "nghiệp", đâu mấy hồi. Sinh ra, vướng nghiệp "ăn mày", cuộc đời hẳn nhiên rách, rách lắm. Đâu mấy ai nhờ đó mà "ăn nên làm ra"?

Ở Pháp, tin mạng có trang "Ăn mày văn chương", nghe rất "ấn tượng". Nhưng cá nhân tôi không thấu đáo hai chữ "ăn mày" ở đây hàm ý gì. Văn chương chữ nghĩa là tặng phẩm của ngôn ngữ dành cho tất cả chúng ta, nào phải sở hữu riêng ai để mình xin xỏ hay đem bố thí cho người khác!

Qua tới các động từ "ăn cắp", "ăn trộm", "ăn cướp" thì đột nhiên "ăn" không còn ý nghĩa là hành động giải quyết cái đói nữa (hay có, nhưng rất gián tiếp), mà: lấy của người khác làm của riêng.

Ca dao có câu:

Con ơi học lấy nghề cha,
Một đêm ăn trộm bằng ba năm làm.

Thì ra, không phải chỉ có nghề "ăn mày", có cả nghề "ăn trộm" nữa kia. Và, cái nghề này hứa hẹn một tương lai sáng sủa hơn nhiều. "Ăn trộm" trúng mẻ, trời ạ, "thu nhập" ngang ngửa tới ba năm làm. Nghe bắt ham!

Dĩ nhiên, đã là nghề thì phải có trường ốc đào tạo, để học viên rành rẽ bài bản sáu câu mùi mẫn sau khi tốt nghiệp học đường "ăn xin", và có chiến thuật tiến thoái gọn gàng, êm thắm, không để lại dấu vết khi thành tài "ăn trộm". Theo học trường ốc ở đây, học viên không cần ghi danh, đóng lệ phí, cũng không nên hy vọng sẽ có ngày được… bảng vàng ghi tên. Tất cả mánh mung được "sư phụ" chỉ giáo cho "đệ tử", và hẳn là… lén lút theo truyền thống dân gian truyền khẩu, cha truyền con nối. Vì vậy, không thấy lưu lại sách vở, tài liệu gì, để hậu bối đưa lên tin mạng cho người viết… tiện việc tra cứu.

Trong văn chương, nữ sĩ Trúc Giang tự thú trong hồi ký "Tình yêu nuôi tôi lớn", đã "ăn cắp thì giờ của con, của chồng để viết truyện, để làm thơ". Động từ "ăn cắp" được chị biểu tượng hoá, sử dụng ẩn dụ rất khéo, đọc nghe ái ngại, không biết rồi chị có… bị sao không, có bị chồng con thưa ra toà phạt vạ hay tù tội gì không?

Trong khi "ăn cắp" và "ăn trộm" mang nghĩa lén lút, lặng lẽ, lấm lét lấy "cắp" và lấy "trộm" của người khác làm của riêng, thì "ăn cướp" là dùng võ lực lấy công khai, nhiều khi sử dụng cả dao găm, súng đạn để tước đoạt cho bằng được.
Con ơi nhớ lấy câu này,
Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan.

Khổ cho dân mình quá! Nhưng không phải chỉ có khổ không đâu, cũng có trường hợp dân chúng nhờ cướp mà sướng. Thời xưa, ở Tây có anh hùng Robin Hood, ở Tàu có "108 anh hùng Lương Sơn Bạc". Rủi thay, chỉ sướng… ảo, vì các vị anh hùng thảo khấu nêu trên toàn là những nhân vật huyền thoại. Thời nay, tin mạng loan tin, ở Mỹ có anh quản lý ngân hàng "vừa bị tuyên án 41 tháng tù giam vì tội đã lấy tiền ở một số tài khoản của ‘người giàu’ bù vào tài khoản của ‘người nghèo’ tại ngân hàng nơi anh ta làm việc." Khi bị phát giác, anh được các nhà tâm lý học chẩn bệnh, rằng anh mắc phải "hội chứng Robin Hood". Dù vậy luật sư vẫn không cứu vãn cho anh được trắng án. Ấy, ngoài "hội chứng ăn cắp", còn có thêm "hội chứng ăn cướp" nữa kia! Biết đâu chừng, dám có cả "hội chứng ăn chực, ăn khín" nữa, mà khoa tâm lý học chưa tìm ra!

Đàn bà, con gái khi không có gì ăn, tối tối ra đường ăn… sương, riết thành chuyên nghiệp: mang danh "gái ăn sương", không được ai thương hại, mà còn bêu rếu. Thời đại bây giờ, đàn bà, con gái không còn độc quyền hành nghề này nữa, cả nam giới và, buồn thay, ngay cả thiếu niên nam nữ cũng nhảy vô cạnh tranh. Còn động từ "ăn đêm", tôi nghĩ, không hẳn đồng nghĩa với "ăn sương", mà gần với "ăn khuya" hơn. Ngoài ra, còn được dùng để chỉ "hành động đi kiếm mồi trong đêm tối" của muông thú, như trong bài đồng dao ru con:

Con cò mày đi ăn đêm,
đậu phải cành mềm, lộn cổ xuống ao…

Ỷ mạnh hoặc vai vế lớn, người miền Bắc nói "bắt nạt", người miền Nam dùng động từ "ăn hiếp", thường nghe trẻ con hài tội lẫn nhau: "Thưa cô, trò A ăn hiếp con, mượn con cục gôm, con đòi không chịu trả, còn kí đầu con nữa!"

Khi có kẻ thừa cơ "chôm" của, hoặc đợi anh hùng hảo hán ra tay trước, rồi hùa theo lấy, người Việt mình nói "ăn hôi". "Ăn tàn" trong thành ngữ "theo đóm, ăn tàn" cũng có nghĩa tương tự như vậy: "Cái thằng đó là hạng người ‘theo đóm ăn tàn’, không hiểu sao mầy ăn ở với nó tới sáu mặt con!" Nghe hèn lắm. Còn "ăn mót" nghe lại thấy tội: "Vợ chồng nó chuyên môn ăn mót lúa của người ta mà sống", và chẳng có gì đáng hãnh diện, vậy mà tục ngữ có câu:

Muốn ăn cơm ngon, lấy con nhà đi mót.
Muốn ăn canh ngọt, lấy con nhà bắt cua.

Câu đầu, tôi không biết phải hiểu sao cho đúng. Có lẽ ở đây không hẳn chỉ nói chuyện đi mót lúa đem về nấu cơm? Và cả hai câu hàm ý bóng gió, khuyên người đời nên biết chọn ý trung nhân cho đúng… tâm nguyện "ăn uống" chăng?

Còn "ăn" trong "ăn quịt" nguyên thuỷ hẳn có nguồn gốc "ăn xong, lỉnh mất, không trả tiền". Về sau được dùng chung cho mọi trường hợp, khi tiền bạc không được thanh toán sòng phẳng. Hai bà chủ nợ khuyên nhủ nhau: "Chị coi chừng cái thằng cha X, bản mặt nó bảnh bao vậy chớ chuyên môn mượn tiền rồi ăn quịt." Nhưng khi "ăn" cặp kè với "vạ", ngộ nghĩnh thay, "ăn" bay mất nghĩa gốc. "Ăn vạ" là tiểu xảo thường thấy ở tâm lý lì lợm của trẻ con và… cầu thủ đá banh. Nhiều bà mẹ thường than phiền: "Thằng út nhà tôi, mỗi lần đòi gì không được là lăn ra ăn vạ, khóc lóc thảm thiết, thấy ghê lắm!" Hoặc: "Cầu thủ Y cố tình ăn vạ, thay vì được quả phạt đền, lại bị trọng tài phạt vạ thẻ vàng." "Ăn" trong trường hợp này, có lẽ gián tiếp ngụ ý "cầu thắng, để đạt được mục đích" chăng?

Tương tự như trong chuyện bài bạc. Vợ chồng Năm Chuột sống bằng nghề "bài ba lá". Ngày nào đi làm về, anh Năm cũng bị vợ vặn hỏi: "Bữa nay ăn thua sao rồi?" Không chạy đi đâu, "ăn" ở đây đồng nghĩa với "thắng". Giống như trong thành ngữ "ăn thua đủ", có nghĩa "so tài đọ sức cho tới lúc thắng thua minh bạch mới thôi": "Tư Lùn là tay anh chị thuộc hạng dế ốc tiêu, vậy mà gan cùng mình, dám ăn thua đủ với dế cơm Hai Búa, không sợ sứt càng gãy gọng sao ta!" Hoặc trong "ăn gian": Gian lận để thắng. Nhưng nhiều khi còn được sử dụng thay cho "gian dối": "Cô hoa hậu ăn gian chiều cao, cao có 1 thước 55 thôi mà dám nói cao tới 1 thước 72. Thiệt, xạo hết ý!" Chuyện nhỏ. Còn có người "ăn gian" trí thức nữa kia! Hãy nghe chị em bạn gái tâm sự với nhau: "Chị lấy nó về làm chồng, mới biết nó là đứa ăn gian bằng cấp, đi du học Liên-xô chỉ được bằng phó tiến sĩ thôi, mà dám khoe mình là tiến sĩ, nghe có tức không?"

Có ai muốn dằn mặt, cảnh cáo kẻ khác, chỉ cần đeo vũ khí, đạn dược cho "ăn" là đủ: "Nói cho mầy biết, chớ có đụng vô con nhỏ đó, chồng nó cho mầy ăn dao tức thì!" Hoặc khi đi chung với những hành động không mấy nhẹ nhàng như "tát", "đấm", "đá", v.v… thì "ăn" có nghĩa "nhận lãnh, lãnh lấy hậu quả" không mấy êm đẹp. "Con bé coi vậy mà dữ, tao chỉ mới khều mông một cái nhẹ hều, đã bị nó cho ăn tát." Đối với trẻ con, ăn gì cũng thích, chỉ không hảo mấy món "ăn đòn", "ăn roi", "ăn chổi lông gà", v.v… mà thôi.

Gặp trường hợp bà mai đưa ảnh cho anh chàng kiếm vợ coi mặt, thòng theo câu nói: "Tại con nhỏ chụp hình không ăn ảnh, chớ ngoài đời cổ ngó coi đẹp gái lắm, chú à!"; hoặc có ai đó chặc lưỡi xuýt xoa: "Cô đào X lúc nhỏ té thùng đinh, mặt rỗ như tổ ong, vậy mà phấn son lên sân khấu, ăn đèn dễ sợ!"; từ "ăn" mất bén nghĩa gốc, mà có nghĩa "thích hợp, hoà hợp" với kỹ thuật chụp ảnh, trong "ăn ảnh", cũng như với ánh đèn sân khấu, trong "ăn đèn".

Nghĩa cũng gần như vậy, người Việt nói "ăn nhịp", thường được sử dụng khi đàn ca hát xướng, và "ăn khớp" để chỉ trường hợp nói năng, hành động sao cho hợp lý, không mâu thuẫn nhau. Anh dẫn em đi quán bia ôm, trước khi về nhà, dặn dò thằng em: "Má hỏi, mày nhớ nói là mình đi ăn sinh nhật cho ăn khớp, không thôi bả đánh cho nát đít!"… Cùng nghĩa như vậy, nhưng đi đôi với tiếng… nước ngoài, Việt ngữ có động từ "ăn rơ", với "rơ" được phiên âm từ jeu (trò chơi, cuộc chơi) của tiếng Pháp mà ra. "Trời ơi, chị em nhà Williams chơi quần vợt đôi ăn rơ với nhau hết sức." Lẽ đương nhiên, cách nói này chỉ bắt đầu thông dụng từ khi có mặt người Pháp, ở thành thị, cũng như trong giới có… ăn học.

Phần trên có nhắc tới động từ kép "ăn ở", ngoài ý nghĩa "đời sống vợ chồng" còn hàm ý chỉ "cách xử thế, đối đãi" với nhau, như trong trường hợp vợ Năm Chuột than thở cùng chồng: "Lúc nào vợ chồng mình cũng ăn ở hiền lành, phước đức, mà sao nghèo hoài hổng biết!", nhưng khi người mẹ xẳng giọng với anh con trai đã ngoài năm mươi mà vẫn còn độc thân: "Mầy cứ ăn ở keo kiết như vậy, có chó nó lấy mầy làm chồng." Hoặc khi cô con gái lắc đầu nguây nguẩy: "Con không ưng anh ấy đâu, người gì mà ăn ở dơ dáy như heo!", nghĩ kỹ, thấy ra "ăn ở" đổi nghĩa hoá thành "thói ăn nếp ở" hoàn toàn có tính cách cá nhân, không đụng chạm gì tới người khác.

Thành ngữ Việt nam có vô số câu liên quan tới "ăn". "Ăn không", tiếng miền Nam, cùng nghĩa với "ăn vã", tiếng miền Bắc, ý nói, chỉ ăn món chính, không kèm theo cơm, cháo, v.v… Khi đi chung với "ngồi rồi", thành "ăn không ngồi rồi", có nghĩa "rỗi việc", nhưng không mấy tốt, gần như "vô tích sự": "Từ khi anh ấy bị muỗi voi chích tới giờ, suốt ngày ảnh ăn không ngồi rồi, bí rị một chỗ, thấy chán lắm!"

"Ăn xổi", với trạng từ "xổi" ("qua loa, tàm tạm", thí dụ: cà pháo muối xổi), thuần tiếng Bắc, đi chung với "ở thì" ("ở ngắn hạn, nhất thời, có giai đoạn"), thành "ăn xổi ở thì": nghĩa đen ý nói kẻ nào ăn ở với ai đó một thời gian ngắn để trục lợi, nghĩa bóng ám chỉ hạng người chỉ biết lợi dụng, bạc tình bạc nghĩa. Truyện Kiều có đoạn, khi chàng Kim lơi lả buông lời ong bướm (ngôn ngữ hiện đại nói là "thả dê") đòi… ăn nằm, nàng Kiều bèn thỏ thẻ xổ… Nho và thành ngữ cảnh giác:

Phải điều ăn xổi ở thì,

Tiết trăm năm, nỡ bỏ đi một ngày!

Rõ là nàng Kiều được Vương ông Vương bà dạy cho "học ăn, học nói, học gói, học mở" khéo thì thôi!

Khi đứng trơ trọi một mình, "ở" có nhiều nghĩa, và không phải chỉ giữ vai trò động từ: "Anh lại đây với em tối nay nghe! một mình, em sợ ma quá hà!", mà cũng có thể là giới từ chỉ định xuất xứ, vị trí: "Cô ấy quê mới lên, nên ưa đi chân không trong nhà."

Khi "ở" kết bạn với "đậu", có nghĩa "sống nhờ, sống cậy" vào người khác. Với "đợ", hoặc với "người" thành "người ở": "tới sống chung để giúp việc nhà có lãnh lương". "Con nhỏ đó dưới quê lên Sài gòn ở đậu nhà bà con, chờ kiếm ra chỗ ở đợ." Với "vậy", theo tôi, có hai nghĩa: "ở vá": độc thân, không lập gia đình" (có tự điển ghi thêm, "vá" cũng còn có nghĩa như "goá"). Hoặc, "ở goá: sau khi vợ hoặc chồng chết, không lấy người nào khác." V.v… và v.v… Tựu trung, trong tất cả những trường hợp nêu trên, "ở" có nghĩa "hoàn cảnh gia đình".

Ở trên có nhắc tới "ăn không", với "ở" ta có "ở không": rảnh rỗi, không làm gì cả. "Nhân lúc vợ ở cữ, thi sĩ ở không, bèn lấy giấy viết tí toáy làm thơ tình gởi đăng nhật trình." Tới đây, ta có thêm "ở cữ": hoàn cảnh, thời gian sau khi sinh nở, cần kiêng cữ.

Thời trước, thi sĩ trào phúng Tú Mỡ có làm bài thơ tựa đề: "Sư cô ở cữ".

… Nhưng rồi một sáng mùa thu,
Người ta thấy vị ni cô sượng sùng.
Bụng đeo cái trống cà rùng,
Đến nhà thương để tìm phòng khai hoa …

"Ăn" với "ở", tóm lại, thường đi đôi với nhau như hình với bóng, như đũa có đôi, như môi răng, miệng lưỡi đặc thù hương vị ngôn ngữ của người Việt. Người viết xin được kết thúc bài tiểu luận ở đây với câu ca dao "hậu hiện đại" tự biên tự chế:

Ăn có đũa, ở có đôi.

Bậu ơi, khéo giữ trọn đời có nhau.

(tháng 10.2009)

bài đã đăng của Ngô Nguyên Dũng


11 bình luận »

  • Đặng Tiến viết:

    Ăn mày trả lời Ngô Nguyên Dũng:
    Mày trong từ “ăn mày”, nghĩa là xin, từ điển Khai Trí Tiến Đức 1931, còn cho ví dụ thành ngữ “con mày cũng như con đẻ”.
    Chữ ” ăn mày” có trong từ điển A R, 1651.

    Danh hiệu Ăn Mày Văn Chưong, thì phải đợi các vị ấy trả lời. Tôi đoán mò: họ dựa trên các dòng tu khổ hạnh, khất thực như giói tăng lữ Á Châu. Âu châu thì có các dòng tu Augustins, Carmes, Dominicains, Franciscains, thời xưa, sống nhờ bố thí.

    Trong tiểu thuyết Thân Phận làm Người, André Malraux có dùng câu “tông phái những kẻ ăn mày cách mạng”, ordres mendiants de la revolution.

    Trong tiếng Việt, có nhiều thành ngữ, tục ngữ thông dụng, nhưng không dễ giải thích:
    ăn lông ở lỗ(lổ),ăn vóc học hay, ăn ốc nói mò, ăn măng nói mọc, ăn cò nói bay..

    Chủ nhật, phiên phiến, chúc ăn ngon.
    Đặng Tiến

  • Trinh - Trung Lap viết:

    Kính Anh NND !

    Rất thú vị được đọc thêm 1 bài của anh về chữ “ăn” trong Tiếng Việt, sau “màn trình diễn” rất độc đáo về “chữ mình” của anh. Rất khâm phục về “nghiên cứu liệt kê” của anh.

    Tôi nghĩ hình như trong tiếng Anh cũng có hiện tượng tương tự thì phải. Người Anh thường nói : to get abroad, to get married, to get back home, vô số to get….Tôi cũng nghĩ sao người ta lại nói như vậy trong khi họ cũng đã có lối nói khác : to go abroad, to marry, to come back home,….Như vậy hiện tượng từ đệm thì giống nhau chăng ? Chỉ đáng nói ở đây là tiếng Việt lại có quá nhiều từ đệm “ăn” mới lạ.

    Thật ra nếu đặt giả thuyết thì cũng không lạ lắm đâu anh. Cùng trong 54 dân tộc anh em Việt nam như : Kinh, Nùng, Tày, Kohor,…, có 1 số dân tộc lại dùng chữ “cái bụng”. Họ nói : “Cái bụng em thương anh”, “Cái bụng của miềng mấy ngày nay vui lắm”, “Anh biết rõ cái bụng của em mà”.

    Chính xác là người Kinh dùng nhiều từ đệm “ăn” phải không anh ? Phải chăng đó là 1 đặc trưng ngôn ngữ địa lý (có thể hiểu như ngôn ngữ địa phương) của 1 nền văn minh lúa nước
    (Đông Nam Á và Nam Trung Hoa) nói chung và Người Kinh Việt nam nói riêng, trong đó “cái ăn” là tiêu chuẩn đầu tiên và cuối cùng để đánh giá mọi giao tiếp xã hội (miếng trầu là đầu câu chuyện, có thực mới vực được đạo)

    Qua bao nhiêu ngàn năm rồi, từ “ăn” đó phần lớn không còn mang nghĩa của từ “to eat” nữa, như “ăn nói hay”, “ăn mặc đẹp”.

    Và e rằng chỉ 1 thời gian ngăn nữa, từ “comment” cũng được dịch luôn thành “ăn theo nói leo” thì cũng chết !

    1 lần nữa rất thú vị về bài viết của anh !

  • Một độc giả viết:

    Thưa anh Ngô Nguyên Dũng,

    Tôi có một thắc mắc xin hỏi. Tôi nghe người ta nói:” Thói ăn nết ở” Tựa đề bài viết của anh là Thói Ăn Nếp Ở. Như vậy cái nào đúng? NẾT hay NẾP ? Thường thường người ta hay nói:” Cái thói, cái nết” chớ không phải nếp. Như vậy “nết” nghe có lý hơn là “nếp” trong trường hợp này. Anh nghĩ sao? Các bạn khác có ý kiến gì không?

    Trân trọng cám ơn.

  • thangtram viết:

    Trích “Nhưng khi cặp kè với “nhậu”, tuỳ theo cách nói, lại có nghĩa hoàn toàn khác: “Chuyện vợ chồng người ta không ăn nhậu gì tới mình, mình xía vô đâm ra mất lòng.” Ở đây, không biết vì nỗi niềm trắc trở gì mà “ăn nhậu” cương quyết chia tay, không còn luyến tiếc chút dư vị nào của “ăn uống, nhậu nhẹt” nữa, để cải trang, đổi lớp thành “dính líu, dính dáng”. Lạ, nhưng không lớn!”

    Theo hiểu biết của tôi, trước đây không có từ “ăn nhậu” hiểu theo nghĩa dính dấp, dính dáng, dính líu…mà chỉ có từ “ăn nhập”. Sau đó, vì lý do gì không chắc (có thể hiểu theo nghĩa “dây máu ăn phần”), một số người thay “ăn nhập” bằng “ăn nhậu”. Tất nhiên, trong “ăn nhập” thì từ “ăn” cũng đã thoát khỏi nghĩa ban đầu nhiều lắm !

    Cám ơn bạn Ngô Nguyên Dũng đã có một bài viết rất thú vị.

  • Ngô Nguyên Dũng viết:

    Trả lời của Ngô Nguyên Dũng:

    – Con nhà “ăn ốc nói mò” Ngô Nguyên Dũng thưa cùng Anh Đặng Tiến,

    cám ơn Anh đã tra cứu giùm ý nghĩa của chữ “mày”. Thú thật, tôi chưa được nghe ai nói “con mày cũng như con xin” bao giờ. Tiếc thay, lại thêm một từ trôi vào quên lãng!

    Thân kính.

    – Cùng Anh Trịnh Trung Lập,

    cám ơn Anh đã ngỏ lời khen tặng. Người Việt miền Nam, theo tôi biết, cũng ưa sử dụng từ “bụng” (hẳn là có gốc rễ sao đó với dân tộc thiểu số). Nhiều người không nghĩ bằng đầu mà bằng… bụng đó Anh Lập ơi: “nghĩ bụng, nghĩ thầm trong bụng”. Biết đâu chừng, hàm ý: “Có no bụng mới suy nghĩ được”???

    Mến.

    – Thưa Anh (Chị) Một Độc Giả,

    thắc mắc của Anh (Chị) rất hợp lý. Thoạt đầu bài viết này có tựa “Thói ăn nết ở…” Sau khi nằm vắt tay lên trán nghĩ… bụng lung lắm, tôi đổi nết thành nếp, vì

    1) không muốn dùng “sáo ngữ” nết đã thành nếp,

    2) nghĩ lại, nhận thấy chữ nết gần với hạnh, nên mạn phép bẻ đôi từ nếp của nền nếp thay thế, ngụ ý “thói ăn (cách) ở đã thành (nền) nếp” cho có vẻ mơi mới, và xét ra cũng không đến nỗi nào sai nghĩa.

    Trân trọng.

  • My Khanh viết:

    Tuần trước tôi được dự buổi tiệc Hoàng Gia, tấm tắt ngắm hoài cách xắp đặt các con chữ. Từ ngữ giản dị nhưng đặt chỗ nào là đúng chỗ đó,khiến con chữ được phát huy hết uy lực của nó.

    Tuần này tôi đứng trước một hàng cơm “chỉ” 2 món: Ăn và Ở. Là cơm bình dân đấy, nhưng sao vẫn phong phú gia vị trong món bày ra. Người đọc tha hồ nếm các vị ngọt, chua, cay, đắng, đậm đà ở các câu nói dẫn dụ.

    Bụng bảo dạ, món kế tiếp là món nào đây hả?

    Phiên phiến lạm bàn thế thôi.

  • Đặng Tiến viết:

    Nếp tẻ cùng Ngô Nguyên Dũng:
    1. Chữ ” mày” có trong từ điển A.de Rhodes, 1651,nhưng ông ấy không giải thích.
    Nhưng có đưa ra thành ngữ “ăn mày ăn mót”. Khi chữ “ăn mày ” đã đi vào thành ngữ, thì nó phải xuất hiện trước 1651 rất lâu. Và riêng động từ ” mày” thì lại phải xưa hơn nữa.

    2.” Con mày” đối lập với con đẻ, nghĩa là con ghẻ, con nuôi, con xin. Thành ngữ này có trong các từ điển xưa mà tôi có dướí tay, như Huình tịnh Của , 1898.
    Nhưng giải nghĩa chính xác, mày là xin, thì chỉ có trong Khai Trí Tiến Đức, 1931.
    Mình tuổi già, mà còn sức ăn mày ăn mót được chữ nào, là mừng chữ đó, ông ơi!!!

    3.Anh dùng chữ “nếp” thay cho chữ ” nết ” gần với chữ ” hạnh ” tabou, là giỏi,là hay.
    Nhưng tránh vỏ dưa, coi chừng đạp phải vỏ dừa.
    Thí dụ có người quy kết anh là có ý đồ, thay chữ T bằng chữ P, là âm thầm phục hồi chính sách NEP, 1922 của … Lenine, thì anh thanh minh thanh nga cũng tốn bia, tốn rượu.

    4. Khi Bảo Đại về nước, lên ngôi, cưới vợ, thì có báo Hà Nội khi loan tin,in nhầm tên bà Nam Phương,là Nam Hương, và bị khiển trách.
    Có báo khác đùa vui, bàn về chuyện thiếu chữ P(pê) đầu chữ Hương nghĩa mùi thơm. Mà chữ Phương cũng có nghĩa là thơm
    Trong khi chữ Pê ( pet),tiếng Pháp, lại có nghĩa là … đánh rắm!!.
    Chuyện người dân thời Pháp thuộc, kể lại cho vui, hoàn toàn ” vô ý đồ”.

    Vui thôi mà!
    Đặng Tiến

  • đỗ xuân tê viết:

    Lại thêm một chiếu rượu ngôn ngữ. Hình như món đặc sản này được giới sành điệu ưng ý. Xin được góp ý:
    -cùng anh Đặng Tiến (đàn anh của tôi) về Ăn mày Văn Chương. Các cụ ta hay nói Ăn mày cửa Phật/Ăn mày nhà Chúa ý nói ‘nương nhờ’, ‘trông cậy’,’xin’, nên danh hiệu này theo tôi có thể hàm ý ‘Nương chốn Văn chương’? xin anh chỉ giáo thêm.
    -cùng anh Ngô Nguyên Dũng (người dọn tiệc). ‘ăn không ngồi rồi’ tôi hiểu, nhưng ‘ăn không nói có’ thường chỉ sự điêu ngoa ác ý sao lại có ‘ăn không’ ở đây? Nhân nói về ăn, người Việt mình (kể cả người Hoa)gặp nhau hay hỏi ‘ăn cơm chưa?’ là câu nói đầu môi, có phải xuất phát từ nội hàm ‘dĩ thực vi tiên?’. Chưa thấy anh nhắc ‘ăn bẩn/ăn chặn’, căn bệnh thời đại của các quan tham xưa và nay. Vài hàng góp ý cho vui.

    Thân kính.
    đỗ xuân tê

  • Trinh - Trung Lap viết:

    Kính các Vị Tiền bối !

    Ông Đỗ Xuân Tề so sánh cái khái niệm “Ăn mày văn chương” với “Ăn mày cửa Phật” thật lý thú, ở chỗ Ông đưa ra điểm tương đồng là “nương tựa” hay “nương chốn”

    Qua tìm hiểu thêm, tôi mới biết : “ăn mày văn chương” không là một học phái, văn phái mà là 1 “thái độ”. Trong văn học, 1 kẻ “ăn mày văn chương” cần 1 thái độ kêu gọi người khác đọc những gì kẻ đó viết vì những lý do sau :
    – Không có ai đọc thì những gì kẻ đó viết chỉ đáng quẳng vào sọt rác.
    – Nếu người đọc đầy thành kiến thì tác phẩm của kẻ ấy cũng không tồn tại như ý muốn.
    – Kẻ ấy phải có khả năng khơi lòng nhân và lý trí tự do nơi người đọc, như thế nó mới có khả năng tìm được người đọc xứng đáng và trở thành văn chương.

    Ngẫm lại thực tế, tôi thấy đã có 1 vài văn sĩ viết mà không cần người đọc, vì lý do ngại, hay xem thường, hay viết theo khoáng sản phẩm, v.v……Cho nên, họ cứ chỉ là “thợ văn” mà thôi (tựa như thợ thơ), chứ không bao giờ là 1 văn sĩ thực thụ. Trong lãnh vực kỹ thuật thì đúng là “thừa thầy, thiếu thợ”. Nhưng trong văn chương thì “thợ” còn đứng hàng thứ 3 sau cả độc giả và tác giả, nếu không muốn nói là “không có cũng được”.

    Qua giải thích của các Vị Tiền bối, tôi có cơ hội hiểu rõ thêm về 1 khái niệm nữa. Xin cám ơn các Vị.

  • Ngô Nguyên Dũng viết:

    Trả lời của Ngô Nguyên Dũng:

    – Thưa Anh (Chị) thangtram,

    dạ, tôi cũng có nghe có người nói “ăn nhập”, nhưng không nhiều, nếu Anh (Chị) không nhắc, tôi quên mất. Về nghĩa, thì hình như ngoài nghĩa tương tự như “ăn nhậu” (dính dáng, dính líu), còn có nghĩa giông giống như “ăn khớp” (thích hợp, không đối chọi, mâu thuẫn nhau) nữa thì phải: “Cái con ấy ăn mặc kiểu gì dị hôm, thấy xốn mắt quá chừng, quần gin đâu có ‘ăn nhập’ với áo dài!”

    Trân trọng.

    – Thưa Chị My Khanh,

    tôi đã cố gắng bày tiệc mời Anh Chị dùng bữa. Dẫu đôi khi bàn tiệc bình dân, đạm bạc nhưng nếu hợp khẩu thực khách, vẫn thịnh soạn và ấm cúng như thường, thưa Chị.

    Mến.

    – Anh Đặng Tiến ơi,

    Anh hiểu không đúng ý tôi về lý do tôi thay “nết” bằng “nếp” rồi: hoàn toàn không có “ăn nhậu” gì tới chữ “hạnh” tabou (cấm kỵ) như Anh nghĩ đâu! Và tôi cũng không có lý do gì để tránh hay né cả.

    Kính.

    – Thưa Anh Đỗ Xuân Tê,

    tôi rất ưng bụng (nghe… đã hơn là “ưng ý”) cách giải thích của Anh về hai chữ “ăn mày” trong “Ăn mày văn chương”. Chỉ không biết có đúng ý tác giả không nữa???

    Còn thành ngữ “ăn không nói có”, tôi mạn phép võ đoán: Một cách sử dụng “đảo ngữ” của dân gian thay cho “không ăn nói có”, qua đó ý nghĩa hiện ra rành rành như ban ngày, phải không Anh?

    Cám ơn Anh không những đã tới dự tiệc, còn mang theo món ngon để chúng ta cùng nhau thưởng thức.

    Trân trọng.

  • Đặng Phú Phong viết:

    Xin góp thêm:
    Cấu kết với nhau để bao che nhau gọi là ĂN CHỊU. Ăn phở mà không có tiền, ký sổ cũng gọi là ĂN CHỊU hay ĂN THIẾU. Làm việc xấu xa sau này nhớ lại thì ĂN NĂN. Giỏi hơn người khác gọi là ĂN ĐỨT. ĂN MẶN là ăn nhiều muối nhưng nếu ĂN MẶN mà phản nghĩa với ĂN CHAY lại là ăn thịt cá. “Cô đào X lúc nhỏ té thùng đinh, mặt rỗ như tổ ong, vậy mà phấn son lên sân khấu, ăn đèn dễ sợ!” Cô đào X đi săn với bạn trai, khi thấy con nai đang ĂN ĐÈN, “phen này ăn chắc” nàng nghĩ như vậy liền bóp cò, con nai ngã vật xuống, Viên đạn Ăn Ngọt Xớt vô dầu con nai. A, Tôi quên nói với chị bạn trai của cô dâu X là một tay ĂN CHƠI trác táng.

    Xin góp ý về câu “Vợ chồng nó chuyên môn ăn mót lúa của người ta mà sống”Thiển nghĩ câu này ta nên viết : ” Vợ chồng nó chuyên môn (đi) mót lúa của người ta mà sống”. Mót có nghĩa là đi nhặt nhạnh những thứ gì rơi rớt. Nó không liên quan gì tới ăn Còn Ăn mót nó gần với nghĩa ăn hơn. Ví dụ : Thằng A ăn củ khoai không hết, vứt xuống đất, con bé ăn xin thấy vậy liền ngồi xuống ĂN MÓT.

@2006*2018 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)