Suốt đời đi ngược gió
Ngược khỏe bước lại thêm mát mình
Dòng đời xuôi quanh co
– Mặc Đỗ
Máy đánh chữ Việt của nhà văn kiêm dịch giả Mặc Đỗ
(“Phần lớn tâm tư của tôi gửi xuống giấy trong thời tị nạn đã qua máy này”(22 năm đầu)
Liệu nhà văn di dân có thể sáng tác nơi đất mới như khi còn tại đất cũ? Nhất là khi làm lại từ đầu khi tuổi không còn xanh, hồn nặng mỏi mê từ cơn giông chiến tranh? Nỗi lo sợ của Trịnh Công Sơn có lý do:
-Cái cây nó mới mọc lên như như 1 cái cây được trồng trên cái đất, anh là người làm, người sáng tác thì phải có cái đất Việt Nam này nó mới mọc lên được (…) 1 ngày nào, anh bỏ Việt Nam đi, có nghĩa là anh bỏ những kỷ niệm của anh ở trên tất cả cuộc sống ở đây. Thí dụ như ở Việt Nam, ra khỏi Việt Nam, đi đến 1 nơi khác thì giữa anh và cái thiên nhiên ở đấy với những con người ở đấy không có kỷ niệm nào cả; và nếu không có những kỷ niệm đấy thì không có cảm hứng, không thể viết được cái gì hết cả không biết làm gì cả; bởi vì đang ở trong một chế độ này qua một chế độ khác cách suy nghĩ cái hoàn cảnh xã hội nó khác nên cách suy nghĩ nó khác, cho nên làm việc không được… [Phỏng Vấn Nhạc Sĩ Trịnh Công Sơn & Tâm Hồn Người Nghệ Sĩ Tài Hoa, do KTS Lê Quốc Phi đăng trên kênh YouTube https://www.youtube.com/watch?v=Ze49aO6M5Ro Phút 15:38]
Tuy thế, lý do của ông không xác đáng ở trường hợp này vì Tự Do là một phần nguyên ủy của Nghệ Thuật. Rất khó sáng tác khi không có Tự Do; ngược lại còn có thể sản xuất loại tuyên truyền như các bài hát về nông trường, công trường hoặc “em ra đi nơi này vẫn thế”.
Nhà văn kiêm dịch giả Mặc Đỗ, thuộc giới cầm bút di tản khỏi Miền Nam từ 1975, vẫn tiếp tục sáng tác tại Hoa Kỳ, nhưng cuộc đời sáng tác và hoạt động văn nghệ của ông đã lùi dần vào quá khứ nên cần có những nghiên cứu mới để danh mục sáng tác được đầy đủ hơn. Trường hợp của ông không là duy nhất. Danh sách văn nghệ sĩ Miền Nam tỵ nạn cần một danh mục sẽ dài: Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Duy Thanh, Tô Thùy Yên, Viên Linh…Ở trường hợp Mặc Đỗ, tiểu sử văn nghệ của ông còn bị vài sai sót từ ngay chính một người tự nhận quen biết qua mối liên hệ văn chương. Sự sai sót ấy càng phóng xa hơn khi được phổ biến rộng rãi bằng phương tiện truyền thông ngày nay. Tôi muốn nói tới nhà văn Ngô Thế Vinh.
Năm 2015, chỉ 3 tháng trước khi ông qua đời (ngày 20. 9. 2015), nhà văn Ngô Thế Vinh nhận xét rằng Mặc Đỗ “gần như dứt khoát không xuất hiện hay có tham dự nào trong sinh hoạt cộng đồng văn chương ở hải ngoại” và “có viết nhưng phải nói là rất ít”. Trước Ngô Thế Vinh, nhà văn Mai Thảo đã dán nhãn hiệu “quy ẩn” cho Mặc Đỗ mà Ngô Thế Vinh sẽ nhắc đến trong bài như thêm một chứng cớ:
– Mặc Đỗ nhà văn, nhà báo, dịch giả là một trong những tên tuổi của văn học Miền Nam trước 1975. Sau 1975, sang Mỹ tỵ nạn ở cái tuổi 58 còn tràn đầy sức sáng tạo nhưng anh đã chọn một cuộc sống quy ẩn, chữ của Mai Thảo. Mặc Đỗ gần như dứt khoát không xuất hiện hay có tham dự nào trong sinh hoạt cộng đồng văn chương ở hải ngoại — [biển ngoài, chữ của Mặc Đỗ], thái độ chọn lựa đó khiến tên tuổi anh hầu như rơi vào quên lãng.
TIỂU SỬ MẶC ĐỖ (…) Tên Đỗ Quang Bình, sinh năm 1917 tại Hà Nội trong một gia đình Nho học nhưng hấp thụ một nền văn hoá Tây phương. Học Luật nhưng không hành nghề và chọn viết văn. Tên Mặc Đỗ được thân phụ đặt cho, có nghĩa là người họ Đỗ trầm lặng…
NHƯ MỘT GIÃ TỪ (…) Nói rằng nhà văn Mặc Đỗ hoàn toàn không viết gì khi ra hải ngoại thì không đúng. Anh có viết nhưng phải nói là rất ít… [Ngô Thế Vinh, “Con đường Mặc Đỗ từ Hà Nội Sài Gòn tới Trưa trên đảo san hô”, Diễn đàn Da Màu, ngày 22.5.2015, https://damau.org/37330/con-duong-mac-do-tu-ha-noi-sai-gon-toi-trua-tren-dao-san-ho ]
Trước hết và giản dị hơn hết: Có phải “Tên Mặc Đỗ được thân phụ đặt cho…” như Ngô Thế Vinh thông báo cho độc giả bốn phương? “Mặc Đỗ” là “bút hiệu” không phải “tên” vì tên ông là Đỗ Quang Bình. Sau nữa, bút hiệu Mặc Đỗ không do “thân phụ” mà do một vị sư lánh nạn chính trị đặt cho ông. Điều này cực kỳ quan trọng vì phản ảnh trực tiếp vào phong cách viết-và-sống của Mặc Đỗ. Vào năm 2004, nghĩa là 10 năm trước khi có bài thượng dẫn của Ngô Thế Vinh (2014), Mặc Đỗ đã đề cập tới người “Thày” qua cuộc phỏng vấn của tôi rồi sau này, thêm chi tiết qua 2 bài viết khác. Nhờ đó, chúng ta được biết dù Bắc-Nam chia cắt, người Thày, vốn là một nhà sư tham gia nhóm Duy Dân, vẫn có tin tức của Mặc Đỗ-nhà văn. Chữ “Thày” xuất hiện công khai khi tôi phỏng vấn Mặc Đỗ vào năm 2004.
Ông giải thích bút hiệu của do “Thày” đặt cho, hàm ý “họ Đỗ trầm lặng, khiêm cung”:
– Tà Cúc ơi, tôi đã được Thày đặt cho bút hiệu Mặc Đỗ (họ Đỗ trầm lặng, khiêm cung) tôi rất chịu và cố giữ mãi như vậy. [Mặc Đỗ trả lời Nguyễn Tà Cúc, Khởi Hành số 98, trang 14, Tháng 12.2004-Đăng lại trên Diễn đàn Da Màu ngày 23.5.2014, https://damau.org/32050/van-hoc-mien-nam-to-tu-do-nhom-quan-diem-va-van-hoc-hai-ngoai]
Bởi thế, tôi rất hiếu kỳ, muốn biết Ngô Thế Vinh…nhặt được tin tức “do thân phụ đặt cho” và cả tin tức “họ Đỗ trầm lặng” ở đâu, nhưng chắc chắn “Thày” ở đây không có nghĩa là “thân phụ” như người Bắc vẫn dùng, khiến Ngô Thế Vinh bị tổ trác một cách đích đáng. Sao không hỏi tôi nhỉ?! Tôi đã phổ biến tin tức này mươi năm trước đó. Có xá gì một chút…credit!
Ngoài ra, thông thạo hai ngôn ngữ (Anh và Pháp), Mặc Đỗ làm nghiên cứu cho hệ thống ngân hàng, thay vì hành nghề Luật, cho tới khi về hưu tại Hoa Kỳ như tôi biết. Dù sao, vài thiếu sót ấy, có thứ chỉ là tiểu tiết, không thể so sánh với quan sát gán cho Mặc Đỗ “gần như dứt khoát không xuất hiện hay có tham dự nào trong sinh hoạt cộng đồng văn chương ở hải ngoại” để dẫn đến một sai lầm hơn nhiều “Anh có viết nhưng phải nói là rất ít…” (Ngô Thế Vinh, sđd). Thế nào là tiêu chuẩn của sự “xuất hiện” hay “tham dự nào trong sinh hoạt cộng đồng văn chương”? Tôi sẽ nhắc đến mấy sai lầm ấy trong một phần bài này, không để chỉ trích Ngô Thế Vinh, mà để tìm hiểu và soi sáng thêm hành trình của nhà văn Mặc Đỗ trong bước đầu, không những của ông mà còn có phần của cộng đồng văn chương tỵ nạn.
Trên những bước đầu ấy, “thế giới báo giấy” trở thành diễn đàn thông dụng của người cầm bút trong cộng đồng tỵ nạn. Mặc Đỗ, sinh năm 1917, thuộc vào “thế giới báo giấy” và có quan niệm mà tôi đặt là “mặc cảm tự trọng”. “Mặc cảm tự trọng” ấy tựa một thứ rào cản khiến ngay một nhà văn Miền Nam tự nhận quen biết ông trước tại Sài Gòn và một thời gian tại Hoa Kỳ như Ngô Thế Vinh cũng bầy tỏ sự không hiểu, hay đúng hơn hiểu lầm, một cách quá tự tin. Chính “mặc cảm tự trọng” ấy khiến họ rất thận trọng trong việc phổ biến tác phẩm vì việc sáng tác quan trọng gấp bội việc phổ biến. Do đó, Mặc Đỗ đã góp bài, đã xuất hiện tại những nơi ông chọn. Thế giới báo giấy lại càng giới hạn sự chọn lựa ấy. Tôi sẽ cho biết rõ hơn những tờ báo nào mà tôi biết chắc chắn ông đã cộng tác, nhưng mục đích của bài này là thêm vào chân dung Mặc Đỗ đôi nét chưa đề cập đến. Chân dung, hay danh mục ấy, sẽ được trọn vẹn hơn qua các hoạt động cũng như phát biểu của ông liên quan đến vấn đề Phụ Nữ và vấn đề Kỳ thị Màu Da, trong hoặc ngoài Miền Nam.
8. Mặc Đỗ, một đời ngược gió
8.1 Đất đứng tại Sài Gòn: không kỳ thị Nam Bắc tại Miền Nam Tự do
Nhà Xuất bản Quan Điểm, một trong những hoạt động văn nghệ đầu tiên của Mặc Đỗ tại Miền Nam, không chỉ dành riêng cho tác giả trong nhóm mà còn kết nối với làng văn Miền Nam, nơi dung thân sau biến cố 1954. Ông đã biết đến nhà thơ kiêm dịch giả Bùi Giáng trước đó. Bài Nỗi lòng Tô Vũ (Bùi Giáng) đăng trên tạp chí Phổ Thông-Cơ quan văn hóa của Hội Ái Hữu Cựu Sinh viên Trường Luật– số 19-20, tháng 6&7 năm 1953 tại Hà Nội. Những tác phẩm đầu tay của Mặc Đỗ, từ kịch thơ, truyện ngắn, truyện dịch, quan điểm chính trị, nghiên cứu về khía cạnh luật pháp cho tới tường thuật sinh hoạt văn nghệ như các cuộc triển lãm hội họa và nhiếp ảnh tại Hà Nội vv. đều xuất hiện trên tạp chí này. Ông vốn là bạn thân của Chủ nhiệm Lê Văn Ky và Chủ bút Lê Quang Luật. Vào Miền Nam, ông nhận chức Đổng Lý tại Bộ Thông Tin cũng để giúp Luật sư Lê Quang Luật. Họa sĩ Nguyễn Tiến Chung, thày dậy Duy Thanh và Ngọc Dũng, nhờ người bạn Mặc Đỗ giới thiệu hai họa sĩ này khi họ triển lãm lần đầu tại Hà Nội. Nhà thơ Thế Lữ, nhóm Tự Lực Văn Đoàn, đọc những bài thơ đầu tay của Mặc Đỗ khi hai người cùng tới thăm miền Thượng Du Bắc Việt.
Bùi Giáng, “Nỗi lòng Tô-Vũ”
Phổ Thông, Tháng 6&7. 1953, Hà Nội
Tài liệu của Nguyễn Tà Cúc
Dù không tiếp tục ước vọng ban đầu, tuyển tập Đất Đứng biểu hiệu cho niềm hy vọng cùng hành trình hoạt động văn nghệ tiếp tục sau đó. Đất Đứng cũng là chứng cớ tuyệt vời để chứng minh văn nghệ sĩ di cư như Mặc Đỗ và nhóm Quan Điểm không hề kỳ thị văn nghệ sĩ Miền Nam khi rất cần đoàn kết đặng chống lại Cộng Sản Miền Bắc.
Anh Nguyễn Trường Trung Huy, Sài Gòn, đã gửi ngay cho tôi bản sao bìa và những trang Đất Đứng khi tôi xin. Chân thành cảm ơn anh, một lần nữa.
Đất Đứng, Nhà Xuất bản Quan Điểm
Tài liệu của Nguyễn Trường Trung Huy, Sài Gòn
Đất đứng-16 Nhà văn độc lập, Nhà Xuất bản Quan Điểm, Sài Gòn
Tôi xin được trích dẫn vài trang trong Đất Đứng hầu giới thiệu sinh hoạt văn nghệ không những không phân biệt Nam-Bắc, mà còn hoàn toàn tự do từ những văn nghệ sĩ “độc lập” với chính trị, với phe nhóm văn nghệ dù di cư từ Miền Bắc hay ngay tại Miền Nam vào những ngày đầu tiên của Văn Học Miền Nam:
-VÀI LỜI GHI CHÚ CỦA NHÀ XUẤT BẢN
Điểm đầu tiên cần phải ghi ở đây là sự hân-hoan của chúng tôi vì đã tụ tập được một số đông đảo các cây bút có thành tích, trong tập văn mở đầu loại sáng tác của nhà xuất-bản “Quan- Điểm”. Chúng tôi hân hoan đón tiếp các bạn văn đã vì cảm-tình với nhà xuất-bản sốt sắng đáp lại lời mời hợp tác của chúng tôi bằng mỗi bạn một sáng tác ngắn đắc ý. Sự có mặt của hơn mười nhà văn trong một hợp tuyển quả là một mối băn-khoăn lớn cho chúng tôi. Làm sao giữ được tính cách đồng nhất của một tập văn, trong khi mỗi cây bút ở một phương trời lại và muốn giữ đặc tính của mình. Tuy nhiên, mối băn-khoăn không còn nữa khi chúng tôi đã có trên tay tác-phẩm của các tác giả. Không một cây bút nào giống cây bút nào, nhưng sự đồng nhất của tập văn lại nằm ngay trong ý chí duy nhất của các tác giả là phô diễn đúng cải bản sắc của mỗi người. Danh từ ĐẤT ĐỨNG đề trên đầu sách chúng tôi đã chọn để mang một ý nghĩa linh động vừa riêng — nếu nghĩ đến vị trí của mỗi tác giả vừa chung — nếu tin rằng nắm tay nhau các tác giả đã minh định được ranh giới phần đất của những người cầm bút. Khi đến tay độc giả, tập ĐẤT ĐỨNG có ôm một sứ mệnh: Giới thiệu với bạn đọc từng cây bút với sắc thái đương thời nhất. Và, chung góp lại, những tác phẩm đặc sắc của hơn mười cây bút độc lập muốn nêu lên một ý chí, vạch một hưởng tiến chung… Đến đây công việc của nhà xuất bản tạm hết. Chỉ còn các tác giả nói chuyện với từng bạn đọc. [Đất Đứng, “Vài lời ghi chú của nhà xuất bản”, sđd]
Một trong hai phụ bản của họa sĩ Tạ Tỵ trong Đất Đứng
“15 nhà văn độc lập” đó là: Bình Nguyên Lộc, Cung Trầm Tưởng, Đinh Hùng, Kiêm Minh, Mai Thảo, Mặc Đỗ, Nguyễn Sỹ Tế, Phạm Duy, Quốc Sỹ, Tạ Tỵ, Thanh Nam, Thanh Tâm Tuyền, Trần Thanh Hiệp, Trọng Miên, Vũ Khắc Khoan. Ngoài truyện ngắn, Tạ Tỵ còn vẽ bìa và góp 2 bức minh họa. Đất Đứng do Mặc Đỗ trình bày và Quan Điểm xuất bản, 3.000 cuốn.
Tháng 4, 1975, Mặc Đỗ cùng gia đình rời Sài Gòn tới Hoa Kỳ lánh nạn Cộng Sản, tìm một đất đứng có tự do khác.
8.2 Từ cộng đồng tỵ nạn đến văn học
Như đã trình bày, trước hết, tôi muốn nhấn mạnh vào phần “thế giới báo giấy” của những nhà văn trọng tuổi vào đợt di tản đầu tiên như Mặc Đỗ. Sở dĩ Ngô Thế Vinh nhận xét không chính xác về Mặc Đỗ vì Ngô Thế Vinh sang Hoa Kỳ vào năm 1983 rồi trở lại học Y Khoa thêm năm ba năm nữa nên khoảng cuối thập niên 80 hoặc đầu thập niên 90 mới tham dự văn học hải ngoại, nếu sớm nhất. Với những người trẻ hơn như Ngô Thế Vinh, lại lọt vào hoàn cảnh bị bắt buộc sử dụng và cập nhật các phương tiện vi tính, thì phổ biến tác phẩm bằng cách in ấn rồi, sau này, bằng internet là quá dễ dàng. Đó là chưa kể tới các thân hữu “tiền hô hậu ủng” thêm bài nhận xét, điểm sách, phê bình vv. khiến tiếng vọng của tác phẩm càng đi xa hơn, dù có khi chỉ luẩn quẩn trong vòng thân hữu. Khi có nhận xét “dù có khi chỉ luẩn quẩn trong vòng tròn thân hữu”, tôi không có ý ngạo mạn mà chỉ nêu ra một thực trạng trong giới văn nghệ. Không phải độc giả hay thân hữu nào cũng muốn đọc tất cả. Và chưa nói tới độc giả, chưa chắc thân hữu đã biết một tác giả đã sai lầm ở chỗ nào vì không cùng lãnh vực trước tác. Nếu không, đám phê bình chúng tôi sẽ…thất nghiệp hết. Ngày nay, ngoài blog, vlog, chúng ta còn có thêm Facebook, YouTube, Instagram, mini vlog và danh sách sẽ còn dài. Trong khi đó, một số tác giả vẫn quyết định không gia nhập vì chưa hay không có nhu cầu. Phần Mặc Đỗ, ông đã thử mà không thể sử dụng computer vì mắt bị lóa khi nhìn vào màn ảnh, lại quá sức thận trọng trong cách phổ biến (“mặc cảm tự trọng”). Ông giải thích về khả năng chỉ có thể “gõ máy” đánh chữ trong hơn nửa trang giải thích– do tôi yêu cầu vì nhu cầu…tài liệu– khi trao tặng chiếc máy chữ “tàn phế”:
–Dài dòng về chuyện cái máy chữ.
Ngay từ khi bắt đầu nuôi mộng trở thành người chuyên viết văn, tôi đã nghĩ tới sẽ viết bằng máy. Có ba lý do của ý định đó: 1) viết bằng máy rõ đọc tránh nạn phảo (sic) sửa nhiều lỗi nhà in tuy thời đó máy chữ chưa có dấu Việt; 2) từ máy ra một lần gõ được ba bản giống nhau; 3) cái đầu tôi vốn rất nhanh nhảu, e rằng tay viết khó theo kịp. 1947, trở lại Hà nội, tình cờ may mắn tôi mua lại được một máy chữ có dấu Việt hẳn hoi, máy Olympia loại nhẹ nhưng gần như mới. Tôi có máy gõ từ đó cho tới khi xách vô Saigon di cư, máy phục vụ giúp tôi gõ ra được vô số trang. May mắn thứ hai đưa tới tay tôi một máy loại nặng để bàn mới tinh mua từ hãng nhập cảng. Vụ vội vã phải bỏ chạy Sàigòn tháng tư 1975 không cho phép tôi xách theo được dù chỉ đem đi cái máy nhẹ. Tới Mỹ tôi phải bỏ dấu trên những trang viết trong mấy tháng. Một nhà nhập cảng Mỹ giúp tôi mua được một máy nhẹ có dấu Việt từ hãng sản xuất Đức Olympia cùng loại với chiếc máy thương tiếc bỏ lại Sàigòn. Tôi trở lại tiếp tục gõ trong nhiều năm cho tới một ngày nhiều năm sau máy bị ngã từ mặt bàn xuống mặt đất bị lệch một bộ phận khiến cái trục không chạy được. Chuyên viên Mỹ sung sướng ở điểm bộ phận máy gì hư cũng dễ dàng tháo bỏ để thay vào bộ phận mới tinh, không phải hì hục như chuyên viên ta hầu hạ những chiếc xe taxi Renault cũ mèm mà vẫn chạy được trên đường phố Sàigòn. Chiếc máy chữ “tàn phế” của tôi được cô bạn Nguyễn Tà Cúc giữ làm kỷ niệm…Tôi bị mất phương tiện gõ trong lúc hầu hết những đồng nghiệp Việt Nam của tôi ở Mỹ hoan hỉ xử dụng computer. Vấn đề tôi phải gặp nếu chuyển qua click nhẹ trên những phím computer nó buồn cười lắm chẳng nên viết ra đây. Nhưng một lần nữa tôi có may mắn nhờ mua lại được từ Saigon liên tiếp những hai máy chữ cũ cho nên hôm nay tôi còn có thể chiều ý cô bạn gõ được bài này. – Mặc Đỗ”
Một thí dụ điển hình cho sự khó khăn vì “trục trặc kỹ thuật” là trường hợp Chủ Đề Mặc Đỗ trên Diễn Đàn Da Màu vào năm 2014. Được lời ông ủy thác và được Ban Chủ trương Da Màu chấp thuận, tôi quy tụ bài vở để Diễn Đàn Da Màu thực hiện, nhưng ông không theo dõi được tuần-theo-tuần trên mạng. Tôi quá bận nên chỉ có thể gửi loáng thoáng một số bài khi rảnh. Chưa hết, có lần tôi khấp khởi mừng khi in xong hơn trăm trang gửi cấp tốc trong một bao thư kếch xù, tin tưởng người nhận sẽ mừng vì tấm lòng đặt vào đó. Ngờ đâu, bưu điện trục trặc. Đằng khác, 2 gói thuốc bắc ông gửi cho tôi cũng đi lạc. Henry David Thoreau có thể phát biểu rằng ông không cần gửi điện tín cho ai vì tiểu bang Maine không có gì quan trọng hầu trao đổi với tiểu bang Texas:
– […] We are in great haste to construct a magnetic telegraph from Maine to Texas, but Maine and Texas, it may be, have nothing important to communicate…/ Chúng ta đang hết sức gấp rút khi xây dựng một hệ thống điện báo từ tính từ Maine đến Texas, nhưng có thể Maine và Texas không hề có gì quan trọng hầu thông tin cho nhau… [Henry David Thoreau, Walden]
Hỡi ôi, trong trường hợp này, tiểu bang California-xứ tìm vàng và tiểu bang Texas-xứ cowboy quả có quá nhiều tin tức cần được thông báo một cách “hết sức gấp rút”. Sau vài lần trục trặc vì nhiều “lý do kỹ thuật ngoài ý muốn” (chữ của làng báo Sài gòn), tôi in xuống toàn bộ theo thứ tự ngày tháng kể cả lời góp ý của độc giả Paul Nguyễn Hoàng Đức và Black Raccoon khi chủ đề kết thúc đoạn xếp vào 3 cuốn album loại khổ lớn, vẫn dùng lưu trữ hình ảnh, rồi gửi cấp tốc sang cho Mặc Đỗ. Chỉ sau khi nhận được 3 cuốn album nặng chình chịch, ông mới thực sự thấu hiểu diễn tiến của chủ đề cùng phản ứng của độc giả và công khó của anh chị em Da Màu. Rất cảm động, ông đã gửi thư chuyển lời cảm ơn vì trên đời này, có ai thừa thì giờ vác những thứ không phải ngà voi cho ai. Là một tác giả, ông lại càng tri ân nhận xét của một lớp độc giả mới. Họ đã chọn ông để đọc và để có lời bàn. Lần nào nghĩ tới chuyện này, tôi cũng thầm cảm ơn Trời Phật vì ông qua đời khoảng một năm sau đó.
Trước đó, trước khi ông tiến đến ngưỡng trăm năm trong cõi người ta (Nguyễn Du), tôi vẫn có mối lo. Ai sẽ báo cho tôi biết? Ông dặn tôi, Cứ yên tâm. Một chiều rất muộn, nghe tiếng chuông bấm, tôi mở cửa. Trên thềm nhà, một bó thược dược tươi màu vây quanh 7 bông hồng trắng bọc trong giấy đen huyền, đặt trên bao thư priority. Vẫn địa chỉ ông-Texas và địa chỉ tôi-California bằng máy đánh chữ. Không cần mở ra, tôi cũng biết bao thư ấy trống rỗng.
Tự nhiên thành mỏm băng
Lục địa lạnh một ngày cách biệt
Lênh đênh vào có không
Cuối cùng, phương tiện ngày nay giúp Texas giữ đúng lời hứa. California đã được báo tin không hề chậm trễ.
Tuy vậy, tôi phải công bằng mà thú thật, nhờ những phương tiện kỹ thuật chớp nhoáng hiện đại, Mặc Đỗ [1917, Hà Nội, Việt Nam – 20.9.2015, Austin, Texas, Hoa Kỳ] kịp đọc bài thượng dẫn của Ngô Thế Vinh–cũng xuất hiện trong quãng thời gian đó (ngày 20.6.2015) nhưng ngay trên mạng–đặng “ngư tiều vấn đáp” với tôi về một số tin tức không chính xác đã dẫn.
Dấu bưu điện Texas: Ngày 24 tháng 8, năm 2015
Trong bài, Ngô Thế Vinh viết “Nói rằng nhà văn Mặc Đỗ hoàn toàn không viết gì khi ra hải ngoại thì không đúng. Anh có viết nhưng phải nói là rất ít…” [Ngô Thế Vinh, sđd]. Thế nào là “rất ít” hay “rất nhiều”, Cher Vinh (mượn hai chữ này của …nạn nhân Mặc Đỗ)?! Quý hồ tinh hay quý hồ đa? Ngô tiên sinh quên khuấy câu thơ của Giả Đảo rồi sao: Nhị cú tam niên đắc/Nhất ngâm song lệ lưu…? Đâu phải cứ vất bừa trên báo trên mạng là đáng khuyến khích. Trên thực tế, tuy không có ác ý, Ngô Thế Vinh đã lầm chỉ vì vắng mặt thời báo giấy thịnh hành lúc đầu tỵ nạn. Ông cũng vắng mặt vào quãng thời gian tác phẩm sách báo được bày bán bên cạnh lỉnh kỉnh “dưa cà mắm muối” trong chợ Việt Nam. Không tin, cứ hỏi đồng nghiệp Hoàng Khởi Phong sẽ rõ. Hoàng tiên sinh có vài lời cảm khái khi được Nguyễn Mạnh Trinh phỏng vấn:
– Thời gian làm nhà xuất bản Bố Cái, tôi nhìn thấy sách của mình bị bầy bán tại những cái kệ trong các chợ thực phẩm Việt Nam, cạnh mắm tôm, nước mắm. Có thể với một số người nào đó, văn chương của tôi làm mắm thêm nặng mùi. Cho dù có như thế thật tôi cũng xấu hổ và thu sách về. Văn chương tôi có dở, tôi cũng không nỡ nhìn thấy nó nằm đó… [Nguyễn Mạnh Trinh nói chuyện với Hoàng Khởi Phong, khoảng 1995. Đăng lại trên trang Mượn dấu Thời Gian/Họa sĩ Phan Nguyên thực hiện- https://phannguyenartist.blogspot.com/2013/05/hoang-khoi-phong.html
Tôi nghĩ, Không thực sao vực được đạo…viết? Hết gạo tiến sĩ còn chạy rông, huống chi văn sĩ? Bàn tay lao động nuôi bàn tay viết văn dù lúc này lúc khác. Viên Linh có thời làm thợ in rồi chủ nhà in trong một thời gian rất dài, từ 1975 tới 1994. Còn tôi thì khỏi nói: đã làm thợ sửa áo cưới, thợ sơn và, suýt chút nữa, kiêm luôn nghề ca sĩ. Tôi thuật lại …dật sử ca sĩ này trong bài viết về nhạc sĩ Song Ngọc, người đã phổ bài thơ “Có bỏ ta đi” (Nguyễn Tà Cúc, khoảng 1995) và hát tặng. Tôi còn giữ bài và băng nhạc đó nên quý độc giả khó nghi ngờ rằng dật sử ca sĩ này không có thật.
Trên thực tế, tác phẩm của nhiều tác gia Miền Nam được bầy bán bên cạnh mộc nhĩ măng khô hột vịt bắc thảo đã giúp người Việt tỵ nạn thêm niềm tin vào công cuộc lập được một cộng đồng chung tiếng nói và chữ viết. Tôi đã mua rất nhiều sách in lại như Trăm Hoa đua nở trên quê hương, Những truyện ngắn hay nhất của quê hương chúng ta vv… tại một chợ Việt Nam tại San Diego. Và khi mua về, độc giả- một người đàn bà đặt chúng ở đâu? Dĩ nhiên xếp quanh quẩn trong nhà bếp vì “con đông chồng nhiều”, tôi hầu như không có thì giờ ngồi yên. Không chỉ sách truyện Việt Nam, tôi còn luôn luôn có một cuốn sách hay một cuốn báo Anh ngữ đọc/học dở dang đâu đó, cất vội vàng trong ngăn tủ chứa các hộp bột làm bánh cuốn, bánh bèo, bánh xèo, dầu chiên chả giò vv…vì vẫn nguyện với lòng chắc chắn sẽ hoàn tất việc học dở dang từ 1980. Nhiều quyển tự điển Anh-Việt hay Việt-Anh dày cộm cũng được bày bán tại chợ Việt Nam hay chợ Tàu (do người Tàu làm chủ). Chợ Wai Wai hồi xưa tặng truyện của tác gia Miền Nam thay vì mời khách hàng bắt thăm trúng xe hơi Mercedes như bây giờ. Không tin à? Tôi có hình ảnh cả, sẽ trưng ra sau.
Ngày nay, thật khó hình dung cảnh tượng văn chương xếp hàng cạnh đậu hũ mắm tôm, nhưng cứ trả lời câu hỏi này thì sẽ biết ngay sự quan trọng của báo giấy: Trước khi có tiện nghi do kỹ thuật vi tính mang lại, các nhà văn quý phái…như Hoàng tiên sinh và Ngô tiên sinh đăng bài và in ấn ở đâu? Đâu phải cứ bắc thang lên thuê…ông Trời (Amazon vv.) như bây giờ. Tiện thể, tôi muốn cho một thí dụ cụ thể để chúng ta cùng nhớ tới thời làm sách thủ công nghệ tại Hoa Kỳ, bằng quyển Văn học Miền Nam *Nhóm*Tạp chí văn học*Tác giả (Nhà Xuất bản mẹ & con, Hoa Kỳ, 2014). Tôi chọn cuốn này chỉ vì là tác phẩm của tôi nên biết rất rõ khi thực hiện. Tôi hình dung một hình ảnh không chỉ dùng cho bìa mà còn cho poster khi ra mắt sách, nên hẹn nhà nhiếp ảnh Josh Last chụp cho một loạt trên bờ biển California, nhờ Viên Linh thực hiện bìa với thêm một dấu hiệu tượng trưng sinh quán. Bị trục trặc kỹ thuật bất ngờ, chỉ một tháng trước ngày ra mắt, tôi phải trình bày phần ruột tuy không có tay nghề. Anh Kim Khôi, chủ nhân Number One Printing, biết được nỗi khốn đốn của tôi, không những ưu tiên chăm sóc rất kỹ lưỡng, còn bất ngờ tặng thêm một mảnh giấy cứng (cũng là loại giấy in bìa trong của cuốn sách) có cùng bức ảnh, ôm ngang cuốn sách.
Nguyễn Tà Cúc, Văn học Miền Nam *Nhóm*Tạp chí văn học*Tác giả
Bìa bao bên ngoài sách – Nhà Xuất bản mẹ & con, Hoa Kỳ, 2014
Viên Linh trình bày
Kim Khôi, Number One Printing, in ấn
Bây giờ thì đâu cần bối rối thế. Chỉ cần người chuyên môn, liên lạc với nhau bằng email và vài “click” giao dịch là xong ngay. Thế nên, tương tự, khái niệm “tạp chí văn học” quy tụ giới nhà văn chỉ thành hình cụ thể sau này. Hai tạp chí văn học sớm nhất mà tôi biết đều không sống quá 1 năm. Tạp chí Văn học Nghệ Thuật do nhà văn Võ Phiến chủ trương sống được 1 năm (1978). Tạp chí Thời Tập, do nhà thơ Viên Linh tục bản vào khoảng 1979, sống chưa được nửa năm. Ông sẽ lại tái bản Thời Tập vào năm 1990, nhưng thất bại lần nữa khi Thời Tập cũng không sống nổi quá 1 năm, phải đình bản vào giữa năm 1991.
Trở lại phần Mặc Đỗ vào thời đó, ông sẵn sàng cộng tác nếu biết trước người chủ trương hay quen biết. Theo Viên Linh, Mặc Ðỗ đã gửi cho ông truyện ngắn “Cái Áo Len Màu Rêu”, đăng trên tờ Lửa Việt Xuân Bính Thìn “làm cuối năm 1975, ra trước Tết 76” do The National Center for Vietnamese Resettlement tài trợ, xuất bản tháng 1.1976 tại Washington, D.C. Khi nhà văn Võ Phiến lập tạp chí Văn học Nghệ Thuật vào tháng 4, 1978 và mời Mặc Đỗ góp bài, ông đã gửi “Kế hoạch chống đàn bà”, một truyện ngắn cũ trích từ truyện dài cùng tên đã đăng trên nhật báo Sóng Thần. Kế đó, ông có bài nghị luận “Làm văn học nghệ thuật trong hoàn cảnh tỵ nạn” (Số 2, tháng 5.1978). Bài phỏng vấn ông có tên “Văn Nghệ Việt Nam ở hải ngoại” được đăng vào số 4, tháng 7.1978. Bài cuối, “Con người Nga trong khuôn đúc Cộng Sản,” được đăng vào tháng 10.1978, là một bài dịch cuộc phỏng vấn của tờ L’Express với triết gia/nhà văn/nhà báo Alexander Alexandrovich Zinoviev.
Sau nữa, lúc mới định cư tại Hoa Kỳ, nhà văn Mai Thảo làm báo Đất Mới với nhà văn Thanh Nam, nhưng về California lập báo Văn vào năm 1982. Số Văn ra mắt tháng 7.1982 có bài của Mặc Đỗ. Truyện ngắn “Trưa trên đảo san hô” đăng trên Văn số 2. Ông sẽ tiếp tục có bài hoặc trả lởi ngắn, chung với vài tác giả khác rồi thưa dần
Văn số 2, Tháng 8.1982, California
Ông có dăm bẩy bài thơ cùng truyện ngắn và tiểu luận dịch thuật trên báo Văn. Tôi rất thích bài thơ “Riêng chung”, đã đăng trên báo Văn thời Mai Thảo, nhưng không giữ được từ số nào, chỉ biết tại trang 26.
Uống chung một chén bồ hòn
Từng trang vận hạn nét son chưa về
Trải bao ngày tháng u mê
Tỉnh ra người vẫn hướng về chiêm bao
Núi sông này đất nước nào
Mượn tay người đến gầy hao thân này
Quật cường trong một cơn say
Mê này hoặc nọ biết ngày nào thôi
Chẳng đành nước chảy mây trôi
Năm canh thức giấc đứng ngồi không yên
Bây giờ ngơ ngác ba miền
Năm châu lưu lạc triền miên một giòng
Cảm thương tan tác máu hồng
Nghìn sau bút mực cầm lòng được đâu
Kẻ làm sử kẻ cúi đầu
Phút nào chợt lặng nhìn nhau ê chề
Trải bao ngày tháng u mê
Tỉnh ra người vẫn hướng về chiêm bao
Núi sông này đất nước nào
Riêng chung vằng vặc ngàn sao trên trời.
(Mặc Đỗ, “Riêng chung”)
Ngoài những tờ báo hay tạp chí kể trên, ông còn cộng tác với một vài tờ báo khác mà tôi không rõ tên cũng như thời gian xuất hiện. Thí dụ như loạt 6 bài đã gửi cho ký giả Đinh Từ Thức (Miền Đông Hoa Kỳ) có lẽ vào cuối thập niên 70 rồi giao cho tôi giữ bản chính. Bài “Bánh xe lịch sử quay không ngừng”, với 2 chú thích mới của ông, đã đăng lại trên Khởi Hành, Chủ đề 35 năm 30.4.1975, Số 162, trang 9-10 vào tháng 4.2010. Trong bài, ông nhắc đến “danh từ ‘giai cấp mới’” của lý thuyết gia mác-xít bất đắc chí người Nam Tư”. Đó là từ cuốn The New Class: An Analysis of the Communist System/Giai cấp mới: Phân tích Hệ thống Đảng Cộng Sản, Milovan Djilas (Nhà Xuất bản Frederic A. Preager, 1953, Hoa Kỳ). Tôi sẽ kèm bài này trong phần Phụ Lục đặng Danh Mục Mặc Đỗ thêm đầy đủ. Tôi tin, dù viết cách đây gần 50 năm, nhận xét của ông về Đảng Cộng Sản và những người thừa hành không hề cũ. Càng không hề cũ khi chúng ta chứng kiến những vụ tham ô hàng triệu triệu mĩ kim của “giai cấp mới” đã và đang xẩy ra tại Việt Nam.
Nhân thể, đã nhắc tới Ngô Thế Vinh, tôi cũng muốn cho thấy, chỉ qua sự tái xuất hiện của “Bánh xe lịch sử quay không ngừng” (2010), tôi không hề …vô trách nhiệm khi nhận xét Ngô Thế Vinh đã thiếu trách nhiệm khi bàn tán một cách quá thiếu sót đến sinh hoạt văn nghệ của một nhà văn bạn hữu–lại không phải bất kỳ một nhà văn bạn hữu nào mà là một người đã biết đến ông từ Miền Nam, rồi tiếp tục tâm sự, rồi gửi cả vài tin tức cá nhân–vào thời kỳ mà Ngô Thế Vinh không hề có mặt. Tôi dùng chữ “thiếu trách nhiệm” càng không khe khắt khi đối chiếu Mặc Đỗ-Báo Giấy với Ngô Thế Vinh-Báo Mạng. Nhất là khi Ngô tiên sinh được biết đến như một tác giả khả tín đã có nhiều bài đương nhiên xuất hiện trên mạng và còn lập lòe in thành sách.
Sau khi quen tôi, Mặc Đỗ bắt đầu cộng tác với Khởi Hành, Hoa Kỳ (Tháng 11.1996-Tháng 5.2018) một cách thường xuyên hơn. Tôi dùng chữ “bắt đầu” vì hai chữ này cũng phản ảnh một sự cộng tác mật thiết, có lẽ duy nhất, giữa một nhà văn thuộc thế hệ đầu tiên của Văn Học Miền Nam và một phụ nữ thuộc thế hệ đầu tiên của Văn chương Biển-ngoài, không chỉ về quá khứ văn chương mà còn vì những vấn đề muôn thưở liên quan đến phụ nữ và chính trị.
8.3 Nam văn sĩ Miền Nam viết về Phụ Nữ
8.3.1 Trường hợp Mặc Đỗ
8.3.1. A Thì xót xa gì Nghệ Sĩ ơi/Mà không cống hiến cả cho đời/Mà không chịu chết trong im lặng/Để thả hồn ra muôn viễn khơi-Mặc Đỗ, “Thu Ý”, Cây Duyên, cuối năm 1949
Tôi hân hạnh được quen biết Mặc Đỗ khoảng 12 năm, nếu không tính vài năm lúc chưa thân lắm. Nhà văn/dịch giả Mặc Đỗ viết truyện ngắn, tùy bút, điểm sách, làm thơ haiku, dịch bất cứ tác giả nào mà ông thích như Malcom X, hoặc về bất cứ đề tài nào khiến ông quan tâm tại quê hương mới. Những năm cuối đời, ông làm loại thơ haiku được cả ngàn bài. Ông còn là địch thủ lợi hại của tôi trong chuyện viết thư tay. Ông viết bài và viết thư bằng máy chữ có dấu tiếng Việt vì không sử dụng được máy computer. Tôi viết tay với đủ thứ màu mực và màu giấy: đen có, xanh dương có, tím có, xanh lá cây có, vàng có, hồng có, nâu có…vv vì thường chỉ rảnh lúc được nghỉ giữa 2, 3 việc làm. Ông hay trổ tài xem tướng qua màu mực nhưng giải nghệ khi gặp trường hợp tôi. Ông cực kỳ kín đáo cho mình và cho người nên cũng…võ trang bằng một máy chém/shredder để cắt tan thư từ riêng tư. Trước khi qua đời, ông gửi trả lại những lá thư và vật kỷ niệm nào còn giữ để chính tôi thiêu hủy dù cũng chẳng có gì bí mật, ngoài ý kiến về Văn Học Miền Nam và sự chia sẻ cùng khuyến khích, nâng đỡ tinh thần trong tình thân hữu giữa hai người có gần cùng quan niệm sống và viết. Sau ngày ông qua đời, đến lượt tôi thiêu hủy hết thư từ như đã hứa trừ những đoạn liên quan đến tài liệu cần dùng được copy lại. Các tài liệu khác, như bản thảo hay chiếc máy đánh chữ được ông tặng, đã giao cho Tổ hợp Luật giữ, đợi ngày cũng theo tôi thành tro bụi.
Ông thường bàn luận (nghĩa là viết trong thư) về chủ nghĩa Cộng Sản, Cộng sản Việt Nam, Đảng Dân Chủ, Đảng Cộng Hòa, văn chương Hoa Kỳ, văn chương Âu Châu, và dĩ nhiên, vấn đề kỳ thị phụ nữ từ trong nhà tới ngoài nhựt trình, hoặc tệ nạn kỳ thị Màu Da tại đây. Biết tôi vẫn còn thêu, ông gởi một trang trên báo Pháp quảng cáo chỉ thêu mới lạ để biết đường mà mua. Khi bà Mặc Đỗ qua đời, tôi thêu hình một chiếc hoa hồng đỏ thẫm tặng ông bà để kỷ niệm mối tình 62 năm của họ.
Khởi Hành, số 122, tháng 12.2006
Tài liệu của Nguyễn Tà Cúc
Bà là một trong những phụ nữ cấp tiến nhất mà tôi biết. Ở vào thời mà đàn bà phải lập gia đình sớm, bà có học, có cơ sở làm ăn riêng, đàn piano, bơi lội làm thú vui. Bà xuất thân từ một gia đình cự phú vẫn giữ nhiều lề luật cổ, nhưng thay vì lo lắng về đường nhân duyên, đã chỉ tính chuyện yêu và lập gia đình khi gặp được ý trung nhân. Ông bà, hoàn toàn xa lạ, gặp nhau lần đầu tại Đà Lạt. Lần đó, bà mặc chiếc áo dài màu hoa cà mà ông còn sẽ nhắc đến nhiều lần. Khi quyết định bỏ đời độc thân để kết hôn, họ đã có một bản giao kèo bất thành văn: mỗi người theo đuổi công việc và sở thích nhưng lòng chung thủy và gia đình phải ưu tiên. Ông bà không bao giờ phản bội bản giao kèo đó. Bà vẫn chuyển lời góp ý về áo dài, cách xưng hô vv. và cả cách làm món ăn như món bánh đúc. Ông hay nhắc tới nụ cười “rất tươi” của bà khiến chú ý rồi tới làm quen.
Ngoài “nhà văn Mặc Đỗ”, tôi còn 1 kỷ niệm với luật sư Đỗ Quang Bình. Năm 2007, Khởi Hành cùng chủ nhiệm Viên Linh và tôi bị kiện tại Pháp đình Houston, Texas vì 2 bài điểm sách. Ông đọc lại rất kỹ rồi bỏ thì giờ phân tích luật lệ Texas hầu thứ nhất, trấn an rằng không có gì đáng lo và, thứ hai, xem lại một vài đoạn tiếng Pháp mà tôi phải dịch từ tiếng Việt trong bài. Trong khi chờ đợi đèn trời Houston soi sáng, tôi tự bào chữa lúc đầu. May nhờ có Luật Sư Hoàng Duy Hùng đại diện nên rốt cuộc, cả tôi và Khởi Hành cùng Viên Linh đều không… thua một cách vẻ vang. Ngược lại, sau khi đại diện chúng tôi hoàn toàn miễn phí trong một vụ kiện có thể xem là quan trọng bậc nhất trong làng báo văn học di tản, luật sư Hoàng Duy Hùng (bản thân là tác giả có sách đã xuất bản) còn chịu tốn phí giúp chúng tôi tự bảo vệ trước những vụ kiện tương tự. Nhân thể, tôi cũng hỏi Mặc Đỗ về lý do đã không hành nghề Luật tại Hà Nội hay Sài Gòn. Ngoài viết văn, ông còn làm báo nên đã có dịp đi dự một phiên họp các Chủ Bút tại Luân Đôn vào năm 1956.
Cho đến cuối đời, ông vẫn theo dõi các tác giả ngoại quốc. Ông gửi cho tôi nhiều tác phẩm của tác giả Pháp, trong số có Les trois parques (The Three Fates/Ba số phần) của Linda Lê. Ngược lại, tôi gửi cho ông tác phẩm của một số nhà văn Pháp như Shan Sa. Cô cũng kiêm họa sĩ, có hai năm học nghề từ họa sĩ Balthus và sau này sẽ tổ chức những cuộc triển lãm của ông tại Á Châu. Theo lời yêu cầu của Mặc Đỗ, tôi thường gửi tác phẩm của tác giả Hoa Kỳ hoặc Đông Âu, trong đó có bộ Writers from the Other Europe/ Nhà văn từ một Âu châu Khác. Bộ này gồm 17 tác phẩm được dịch ra Anh ngữ từ các nhà văn Tiệp Khắc (Ludvík Vaculík, Milan Kundera, Bohumil Hrabal), Hung Gia Lợi (George Konrád, Géza Csáth), Ba Lan (Witold Gombrowicz, Tadeusz Konwicki, Bruno Schulz) và Nam Tư-Serbia (Danilo Kiš) do nhà văn Philip Roth (Hoa Kỳ) làm Chủ biên chính. Tôi chú ý đến bộ này vì nghĩ tới kinh nghiệm sáng tác của nhà văn từ nhiều phần đất và văn hóa khác nhau, như tiểu thuyết gia Philip Roth giải thích về xuất xứ của sáng kiến đó:
– […] Mục đích chuyến viếng thăm Prague đầu tiên của tôi là để xem nơi Franz Kafka đã cư ngụ. Tôi trở lại Prague vì muốn tìm hiểu xem các nhà văn hiện xoay sở để sống tại đó, viết lách thế nào trong những điều kiện hoàn toàn xa lạ với kinh nghiệm viết lách của chính tôi… /The purpose of my first visit to Prague had been to see where Franz Kafka had lived, I returned to Prague because I wanted to find out how the writers managed to live there now, working in conditions that were utterly alien to my own writing experience…[Philip Roth, “In Search of Kafka And Other Answers”/Hành trình tìm kiếm Kafka và các giải đáp khác, Nhật báo The New York Times, ngày 15.2.1976, https://www.nytimes.com/1976/02/15/archives/in-search-of-kafka-and-other-answers.html ]
Tôi đã gửi bộ Writers from the Other Europe cho Mặc Đỗ, không chỉ để cung cấp thêm cho nhu cầu đọc của ông, mà vì còn liên tưởng tới một Mặc Đỗ-khác/The Other Mặc Đỗ. Thời của Mặc Đỗ gắn liền với những biến động chính trị toàn thế giới liên quan trực tiếp tới số mệnh của các dân tộc Á-Phi từng bị đế quốc Tây phương biến thành nô lệ. Mặc Đỗ đã tường thuật về Hội Nghị Á-Phi được tổ chức tại thành phố Bangdun, Indonesia vào ngày 18 tới ngày 24 tháng 4, năm 1955, quy tụ 29 quốc gia, có cả Việt Nam Cộng Hòa. Biến cố lịch sử ấy đánh dấu sự thành hình của Khối Các Quốc Gia Thứ Ba/The Third World bên cạnh Khối Tây Phương-Hoa Kỳ và Khối Sô Viết (Nga Sô). Mới đây, nhà khảo cứu David Van Reybrouck, qua tác phẩm Revolusi: Indonesia and The Birth of The Modern World (2024), đã chứng minh vai trò tiên phong của Indonesia– trong việc hệ thống hóa cuộc tự giải phóng song song với phần góp sức thế giới hóa cuộc cách mạng từ các quốc gia Á-Phi thoát khỏi các đế quốc Tây phương khi cùng 3 quốc gia khác tổ chức Hội Nghị Bandung.
Và đương nhiên, không thể không nhắc tới Albert Camus, thần tượng của thế hệ Mặc Đỗ và Bùi Giáng. Cả hai đều viết thư, đều được Albert Camus nhận họ là “anh em” trong cuộc đấu tranh chung. Có thể văn chương Albert Camus đã lỗi thời vì ông sử dụng nhân vật như “một thứ con rối” hầu máng tâm nguyện ước vọng lên, như một số nhà văn trong Tự Lực Văn đoàn đã bị chỉ trích tương tự; khiến Linda Lê không thể đọc lại các tác giả đã từng yêu thích thời niên thiếu như ông, đến nỗi đặt cho họ biệt hiệu dear departed/người yêu mến đã lìa đời. Tuy thế, Albert Camus vẫn giữ vị trí đặc biệt, nhất là trong tâm hồn những người như Mặc Đỗ và dân Miền Nam bị đẩy vào biên giới sinh tử của bạo lực và tự do. Ông phụ trách phần biên tập và phát biểu của Combat từ năm 1943, một trong những tờ báo xuất bản một cách bí mật do Kháng chiến Pháp bảo trợ, chống lại Đức Quốc Xã thời Pháp bị chiếm đóng. Albert Camus phản ảnh cuộc tranh đấu sinh tử ấy với vài giòng trong Carnets 1942-1951/Notebooks 1942-1951:
– […] Trong một giai đoạn cách mạng, người xuất sắc nhất luôn luôn là người (sẽ) mất mạng. Quy luật của sự hy sinh để lại lời cuối cho kẻ hèn nhát và kẻ nhút nhát, vì những người mất mạng đã cống hiến phần tốt đẹp nhất của họ. Khả năng (được) phát biểu luôn ám chỉ rằng kẻ có khả năng ấy đã phản bội…/ In a revolution period it is always the best who died. The law of sacrifice leaves the last word to the coward and the timorous, since the other has lost it by giving the best of themselves. The ability to speak always implies that one has betrayed…” [Albert Camus, sđd, trang 81- Justin O’Brien dịch và chú giải, Nhà Xuất bản Harvest HBJ, 1965]
Nếu nhớ đến những “người mất mạng” nên không thể phát biểu được nữa, sự phát biểu của người sống sót liệu còn có ý nghĩa gì? Bởi thế, thay vì so sánh kinh nghiệm sinh sống và sáng tác của các nhà văn ngoại quốc như Milan Kundera hoặc Bruno Schulz với nhà văn tại Việt Nam hay Hoa Kỳ, tôi muốn so sánh kinh nghiệm viết lách của chính Mặc Đỗ từ Miền Nam với một chỗ khác trong “những điều kiện hoàn toàn xa lạ” qua bài viết hay sáng tác đã xuất hiện trên báo chí cộng đồng tỵ nạn. Trong số đó, các bài viết của ông trên Khởi Hành, nếu gom lại, chắc cũng được một cuốn khá khá. Tôi cũng còn giữ bản thảo của văn thơ ông đã sáng tác, nhưng chưa xuất bản hoặc chưa xuất hiện tại đâu.
Tôi đã trình bày sơ lược về tiểu sử cùng hoạt động văn nghệ của Mặc Đỗ để có thể dẫn một cách chi tiết hơn đến vấn đề Phụ Nữ và vấn đề Màu Da qua trao đổi hoặc bài viết, nhất là sau 1975, cũng là một phần của loạt bài Từ một góc California.
8.3.1. B Mặc Đỗ và những Y “Thị”
Mặc Đỗ là nhà văn di cư thuộc Văn Học Miền Nam chống Cộng Sản và quan tâm tới Phụ Nữ. Hai điều này thể hiện trong nhiều tác phẩm của ông, ngay từ ngày đầu. Ông quan tâm đến vấn đề Phụ Nữ một cách thiết thực dưới nhãn quan Luật Pháp vì tốt nghiệp luật sư tại Hà Nội. Ngay từ năm 1953, 70 năm trước đây, ông đã cổ võ cho sự độc lập tài chính của phụ nữ khiến họ chỉ nên kết hôn khi đã vững vàng:
Phổ Thông, Tháng 1&2. 1953
Chủ nhiệm Lê Văn Ky & Chủ bút Lê Quang Luật
Tài liệu của Nguyễn Tà Cúc
– […] Nhưng cả một hệ thống những tập quán của xã hội ta, nhất là ở thôn quê, đã đặt phụ nữ ở trong gia đình vào một địa vị thật là tạm bợ trước khi xuất giá. Thêm vào đó một lòng tin tưởng mù quáng vào số mệnh khiến chính người phụ nữ cũng sao nhãng việc tự tạo lập lấy một căn bản, tự gầy lấy một cái vốn, dù tinh thần, để có thể đứng vững trước những sự rủi may của số phận. Cương cường đến như Hồ Xuân-Hương mà cũng phải than van nỗi “bảy nổi năm chìm” về đường chồng con. Tâm lý hốt hoảng đó sở dĩ có cũng bởi vì địa vị của phụ nữ quá lệ thuộc vào người chồng. Cả một tương lai của chị em được quy định bởi một cuộc hôn nhân mà phần định đoạt chị em không được biết đến mảy may. Sự lo lắng cũng không phải là quá đáng. Có hai nguyên nhân đã xui nên nông nỗi đó. Một nguyên nhân về pháp lý đó là địa vị quá thấp kém của phụ nữ trước luật pháp như đã nói ở phần trên. Nguyên nhân này liên hệ mật thiết tới một nguyên nhân thứ hai: vai trò phụ thuộc của phụ nữ trong mọi hoạt động kinh tế. Ở trong gia đình người con gái làm việc cho cha. Khi xuất giá lại ra sức cần lao cho chồng, câu “của chồng công vợ” thật đã chứng minh cả một bất công và tham lam thái quá! Làm sao phụ nữ có thể nghĩ đến tự lập ở trong một hoàn cảnh như vậy? Muốn giải phóng tinh thần phụ nữ, ta thấy ngay rằng việc đầu tiên phải đặt lại địa vị của phụ nữ trong một quy chế cấp tiến và công bằng hơn. Đã có một khả năng pháp lý khả quan, hoạt động kinh tế của chị em nông dân sẽ có một ý nghĩa phấn khởi và khi đó, câu chuyện tự lập mới có lý do thực hiện. Nhờ hoạt động tiểu công nghệ, phụ nữ sẽ có phương tiện để gây lấy cái vốn riêng và cái quyền sử dụng vốn riêng của mình sẽ không khiến chị em phụ nữ phải quá phấp phỏng lo âu về đường chồng con, sự “cao số” sẽ trở thành thông thường và hóa nên một thói quen (…) Nói đến từng trải tất nhiên không thể tin được ở những người vợ mới vừa đôi tám theo lý tưởng cũ… [Đỗ Quang Bình, “Người đàn bà trong sinh hoạt nông nghiệp”, Phổ Thông, trang 38, Tháng 1 & 2. 1953]
Mặc Đỗ đang nói đến “phụ nữ nông thôn”, “chị em nông dân” nghĩa là “80 %” phụ nữ lúc đó. Xuất thân từ Đại học Luật Khoa Hà Nội, từ một gia đình cự phú và có học—bà thân sinh thông thạo chữ Hán, ông thân sinh chuyên về thương mại—nhưng Mặc Đỗ bàn đến họ, một tập thể gánh vác và chịu đựng nhiều trong lịch sử Việt Nam, cũng là tập thể cần nhiều sáng kiến và giúp đỡ cụ thể khiến thay đổi cuộc sống họ một cách xứng đáng và tốt đẹp hơn. Bài này cho thấy hai chữ “chiến trường” không chỉ giới hạn vào súng đạn. Nhiều mặt trận, không kém gay go, xẩy ra tại nhiều nơi khác.
Tình bạn giữa ông và tôi thực sự bắt đầu từ một chỗ bất ngờ: Chữ “Tà” trong tên của tôi thay vì chữ “Thị”. Tháng 3, năm 2000, ông gửi tôi một bức thư gần 1 trang về chữ “Thị”:
-Tà-Cúc thân,
Sáng nay đọc báo gặp một đề tài bắt suy ngẫm, gợi ngắm tới những THỊ Lộ, THỊ Bằng trong văn học, vào bao nhiêu là THỊ khác trong văn hóa ta. Đề tài có thể đưa tới một bài viết, chẳng hạn “Nữ Quyền, Bề mặt và Bề Xâu (sic)”. Hết thời viết, nhưng vẫn tiếc. Tà Cúc sẽ giúp tôi đỡ tiếc chăng? Nhật báo Austin American-Statesman nằm trong hệ thống Cox Enterprises, Inc., rất có thể Cali cũng có nhật báo Cox và có bài này. Tôi ngẫm tới những THỊ Việtnam và khuynh hướng “Nguyễn THỊ Tèo” ở ngoại quốc (hình như cả ở trong nước) tự ý đổi thành “Nguyen Teo” hay “Teo Nguyen”. Ở Tàu không thế mà không hiểu tại sao các Cụ ta (chịu văn hóa Tàu rất nặng) lại dùng chữ làm chữ đệm cho họ tên phụ nữ, kéo dài cho mãi tới rất gần đây. Trong Hán văn chữ “thị” hàm một ý niệm bé mọn hầu hạ, ỷ lại, nhờ cậy- kéo theo một tràng những thị tỳ, thị nữ, thị yến, thị phụng, thị vệ…Trời Đông với trời Tây khá xa nhau, vậy mà cũng có điểm giống: phụ nữ Tiệp khắc với phụ nữ Việt nam bề mặt muốn bỏ “ova” với “thị” nhưng bề xâu (sic) vẫn chịu vậy. Tôi chưa hề thấy bà hay cô nào lên tiếng đòi vứt bỏ cái Thị đi. Nhân bàn tới vụ tên họ phụ nữ, tôi nhớ lần đầu thấy tên ký của nữ sĩ Nguyễn Tà-Cúc, tôi cứ thắc mắc với chữ “Tà”: con gái tên Cúc khiến nghĩ đến hoa cúc nhưng tại sao lại “Tà”? Ban đầu tôi cho rằng lỗi nhà in, nhưng (ta, tá, tả, tả, tạ) đều không được cả. Đến bữa nhận được bì thư viết tay với tên người gởi có dấu huyền rõ ràng. Tôi tra hỏi từ và tự điển chữ Hán mới vỡ ra rằng còn một chữ cúc khác không có nghĩa là hoa cúc. Cúc này là động từ, có nghĩa là thẩm vấn, tra hỏi, tà cúc là tra hỏi kẻ tà (…) Thân mến gởi thăm Tà Cúc và các bạn ở bển. [Mặc Đỗ, “Thư gửi Nguyễn Tà Cúc- California”, Austin, ngày 5 tháng 3. 2000]
Tôi khất lần việc “giúp ông đỡ tiếc” vì chưa thể thổ lộ dự tính trong khi vẫn cần đợi một thời gian cho công việc chú trọng vào Văn Học Miền Nam đạt được phần nào kết quả. Bên cạnh Văn Học Miền Nam, Nữ Quyền, theo tôi, không có nghĩa hô hào lập đảng…chống đàn ông dù dưới bất cứ danh nghĩa hay hình thức nào. Tôi không chủ trương tìm kiếm “đồng minh” chỉ vì quy trách nhiệm một cách sai lầm của mọi sự tệ hại trên thế gian này vào đàn ông. Một nửa những người giúp tôi hay gánh vác hết mọi công việc nặng nhọc khi tổ chức những buổi Diễn Đàn Phụ Nữ, sinh hoạt của Khởi Hành vv. là đàn ông. Tôi lại càng hay liên tưởng tới “nhân quyền”, nghĩa là cho cả đàn ông và đàn bà, trong thời buổi mà nhân quyền bị vi phạm nặng nề. Trên hết thảy, tôi cần chứng minh có đủ khả năng để xứng đáng được coi như một bạn văn, trước khi là một phụ nữ. Tương tự, đàn ông hay đàn bà cũng đều cần chứng minh ngược lại với tôi. Nhân danh Văn Học Miền Nam, Nữ Quyền; hoặc, khó hiểu hơn, mạo danh solidarity/kết đoàn, để đòi giảm khinh khi kém tài năng, đồng thời toan tính triệt hạ đàn ông và buộc những người đàn bà khác đồng ý tuyệt đối trên mọi vấn đề là những thứ điều kiện phi lý/absurd (mượn Albert Camus).
Trong chiều hướng đó, Khởi Hành số 53- Chủ đề Phụ Nữ lần đầu được phát hành vào tháng 3. 2001 rồi sẽ tiếp tục thành một chủ đề thường trực trong nhiều năm. Đó là kết quả của một quan sát đã được chuẩn bị từ lâu. Sau hơn 4 năm có mặt, tôi bàn với Viên Linh tờ Khởi Hành cần làm chủ đề Phụ Nữ mỗi năm vì không thể ngó lơ phụ nữ được nữa. Họ là một thành phần độc giả hăng hái mua báo, góp ý, cổ động bạn bè. Họ gây hứng khởi vào thời làm báo giấy với đầy thách thức. Thật vậy, Khởi Hành chuyển nhiều sang phần nghiên cứu về sự đóng góp của Phụ Nữ trong Văn Học Miền Nam và cuộc chiến tự vệ của Việt Nam Cộng Hòa trong các số Phụ Nữ tiếp sau. Mặc Đỗ có lời bàn ngay. Một lần nữa, ông nhắc đến chữ “Thị”. Đoạn thư này được Viên Linh trích dẫn lại trong một bài viết vào năm 2006:
-Ngày 25 tháng ba, 2001
Viên Linh thân,
Tôi ra đời đầu thế kỷ XX, thời hầu như đã cắt đứt với Hán học, sau này cố học chữ Hán để hiểu tiếng Việt hơn mà thôi (80 phần trăm từ Việt gốc Hán). Riêng chữ “thị” nằm giữa tên họ phụ nữ VN tôi chú ý từ lâu lắm. Hồi tôi mới lớn, bắt đầu đọc thông quốc ngữ, tình cờ vớ được một cuốn truyện mỏng, Một Cảnh Làm Dâu, phô bày nông nỗi một cô gái bơ vơ giữa một nhà-chồng khắt khe. Ðọc, thấy cảm thương phụ nữ ta quá sức; cảm nghĩ này ảnh hưởng nặng tới sự viết lách của tôi mãi cho tới nay. Một dịp nói chuyện với anh Nhất Linh, ảnh nhìn nhận cũng bị ảnh hưởng như vậy và do đó mới có Ðoạn Tuyệt. Thời còn đi học đôi khi tôi tới tìm hiểu ở toà án và rất bực nghe ba ông thông ngôn dùng chữ “thị” với nữ tội phạm, mỗi khi nghe gọi thị nọ thị kia tôi cảm thấy những con người bị gọi đó là thứ người không như mọi người. Bị ám ảnh như vậy tôi tìm hỏi người Tàu được biết chữ đệm đó do các Cụ ta sáng tạo; hỏi các cụ Việt cũng chẳng hơn chút nào… Tôi tự kết luận rằng, dùng chữ “thị” như vậy chỉ biểu tỏ theo các cụ ta sự lệ thuộc (tam tòng) của phụ nữ. Năm 1946 chúng tôi quyết định bỏ “thị” khi khai sinh cô con gái đầu, quyết định này có sự tán đồng của song thân tôi (mặc dù con gái các anh, chị tôi đều có thị). Thái độ của tôi đối với chữ thị nằm gọn trong ý muốn đổi khác thế sống của phụ nữ ta, bất kể chữ thị đó là thị nào trong bảy tám chữ thị Hán. Tôi nhớ bữa đọc thấy trên báo về vụ phụ nữ Tiệp đòi bỏ/không bỏ cái đuôi của tên họ tôi nghĩ ngay đến cô Tà Cúc, tôi coi như một tay đầu têu trong phong trào đổi khác thế cách của phụ nữ và cắt báo gửi kèm ý kiến… [Viên Linh, “Mặc Đỗ riêng tư”- Trích dẫn thư Mặc Đỗ, Khởi Hành số 122, trang 15, tháng 12.2006]
Viên Linh cũng trích dẫn mươi giòng Mặc Đỗ viết vắn tắt về Nhóm Quan Điểm thay vì trả lời bản câu hỏi do Viên Linh soạn. Tôi không ngạc nhiên. Mặc Đỗ đã từ chối trả lời phỏng vấn và chụp ảnh của vài nhà văn dù họ cất công sang tận Texas. Ông phải quý trọng Viên Linh đặc biệt dù chỉ đáp ứng được chừng đó. Tuy biết thế, tôi vẫn mong có ngày được phỏng vấn ông. Nhóm Quan Điểm là nhóm nhà văn, trong số có người tham chính, chống Cộng di cư từ Bắc vào. Hoạt động văn nghệ của họ không thể không được tìm hiểu cho kỹ càng nếu muốn biết thêm về giai đoạn đầu của Văn Học Việt Nam và cả Việt Nam Cộng Hòa. Ngay việc sáng lập nhật báo Tự Do cũng chỉ được sáng tỏ khi Mặc Đỗ trả lời. Tôi có thể sử dụng các phúc đáp trong bài phỏng vấn để bác bỏ các nguồn tin hàm hồ, ác ý—hoặc đơn giản hơn, bịa đặt– đã gieo hai chữ “kỳ thị Nam Bắc” vào ông và nhóm sáng lập nhật báo Tự Do.
Năm 2004, sau khi đã sẵn sàng, sau khi đã cùng Viên Linh giữ được tờ Khởi Hành càng lúc càng khởi sắc, tôi mới viết lá thư thành thực cho biết dự định đường dài, mong thuyết phục Mặc Đỗ chính thức trả lời phỏng vấn, chính thức cho công bố nhiều trả lời trước đó như năm sinh của ông (1917, không rõ ngày tháng); và tiếp tục soi sáng những vấn đề về Văn Học Miền Nam. Trước đó, mỗi lần viết thư hỏi ý, ông đều trả lời, Thôi đừng quan tâm nữa, uống ly nước lạnh cho hạ hỏa đi!
Lần này, tôi xin thưa: chúng ta không thể và không nên tiếp tục thứ “mặc cảm tự trọng” đó nữa. Chúng ta đang sống trong thời sách bị đốt, nhà văn bị cầm tù, người dân bị đàn áp… nghĩa là ký ức chung bị hủy hoại không chỉ cho một người (một người thì có quan trọng gì), nhưng của một nửa dân tộc. Tôi hiểu sự tự trọng khiến nhiều tác gia thuộc Văn Học Miền Nam đã im lặng. Tuy vậy, thái độ im lặng trong trường hợp này đồng nghĩa với một cánh cửa bỏ ngỏ cho những rác rưởi càng lúc càng đổ vào căn phòng Văn Học Miền Nam và căn nhà Chiến tranh Việt Nam. Tôi còn cho sự phát biểu hay phản bác đồng nghĩa với bổn phận nếu vấn đề liên quan trực tiếp tới tác gia đó vì Im Lặng ở đây không còn là Khinh Bỉ mà là Chấp Nhận (hay Thú Nhận). Tôi tìm đến ông và nhiều người khác chỉ vì ký ức chung, hoàn toàn không phải vì họ nổi danh. Sự nổi danh ấy sẽ luôn luôn đứng sau cái chết vô danh của các bạn quân nhân và nỗi cùng khổ của nhiều bạn gái sau 1975. Sau gần 5 năm quen biết, tôi còn muốn thành thật một cách sòng phẳng vì thừa biết, tiếng lành đồn xa, tiếng dữ đồn xa hơn; khiến có lần ông than phiền “các con cua đố kỵ trong một giỏ cua, chỉ muốn kéo con cua leo cao nhất xuống…” Bởi vậy, đây là lần cuối tôi yêu cầu. Nếu không, California sẽ không còn gì để liên lạc với Texas. Tôi muốn dành thời giờ và sức khỏe đặng…cạnh tranh với các con cua khác! Chính bức thư có nhiều đoạn giống như một thứ giao kèo này đã khiến ông đổi ý.
Ông phúc đáp ngay:
Tả Cúc thân mến,
Cho tới trước khi đọc thư 25-IX-04 của Tả Cúc tôi luôn luôn cho rằng không nên bắt TC lo công việc đó, một việc nên dành cho thứ “Special Force” nào đó mới đúng. Tôi tin như vậy vì bao giờ tôi cũng muốn phụ nữ là những bông hoa tô điểm, làm đẹp cuộc đời, mũi nhọn nếu cần là mũi kim riêng may vá cho chồng cho con. Đọc hết ba trang biện luận của TC tôi ngẫm nghĩ và khám phá ra chân lý: Ngoài tính chất phụ nữ như mọi phụ nữ khác, con người TC khi đặt trên bình diện văn đàn đã biến tính (…) Bắt được chân lý tôi vội vàng, (không cần ly nước lạnh) rút hết mọi can ngăn trước và nhất định chiều TC tha hồ phỏng vấn, viết bài, đăng báo, in sách v.v. Nhất định như vậy (…) Deal? Về tánh cách trầm lặng khiêm cung của tôi, bản chất của tôi đã thế lại được Thày dặn dò kỹ (…) Thái độ đó vô hại vì như tôi đã viết trong thư, tôi viết cho tôi trước hết, sự nghiệp có mai một sau khi thân xác đã ra tro cũng vậy thôi. TC viết xong cho tôi xem trước cũng nên, không phải để yêu cần (sic) khen thêm như vậy chưa đủ, để tôi có thể ngăn kịp những gì TC có thể hiểu sai hay thương quá đáng, liên quan tới tôi và hoạt động của anh em QĐ. Dứt khoát vấn đề qua hai đoạn trên đã đủ. Tôi vội viết thư ngắn này để TC khỏi thấp thỏm viết xong phải để dành. Còn nhiều điểm (không dính tới vấn đề) trong nhiều trang của TC thong thả tôi sẽ có ý kiến, hôm nay thì giờ eo hẹp. Tôi đã nhận được bao thơ to-Thân mến. [Thư Mặc Đỗ gửi Nguyễn Tà Cúc, 2004]
Bài “Mặc Đỗ trả lời Nguyễn Tà Cúc: Văn học Miền Nam, tờ Tự Do, Nhóm Quan Điểm và Văn Học Hải Ngoại” xuất hiện trên Khởi Hành số 98, trang 12-17, tháng chạp, 2004, đánh dấu buổi khởi đầu của cuộc hợp tác. Đó là lần duy nhất ông trả lời phỏng vấn tại hải ngoại một cách rất cặn kẽ, rất thẳng thắn về ông và về Nhóm Quan Điểm nên yêu cầu tòa soạn ghi rõ tôi là người phỏng vấn. Sau đó, ông làm bài thơ có đoạn kỷ niệm cuộc hợp tác ấy:
Việc phải mấy ai cùng thấy phải
Lẻ loi chống lại mấy ai chia
Liên tình xích lại nên tình bạn…
(Ngày 11.10.2005)
Từ 2004 tới 2015, ông (đã cùng nhiều thân hữu trong và ngoài nước) giúp tôi rất nhiều trên con đường trở về Văn Học Miền Nam và một Sài Gòn càng lúc càng lấn át (cái tên) Thành phố Hồ Chí Minh.
Trong suốt thời gian còn lại, chúng tôi đã may mắn giữ được tình bạn cũng nhờ …giao kèo “mọi sự cho Văn Học Miền Nam”. Tình bạn ấy còn ẩn chứa hy vọng vào ngày phụ nữ được trân trọng một cách công bằng, giải thoát khỏi gánh nặng của kỳ thị có khi đến ngay từ chính giới văn nghệ dù nam dù nữ. Sự kỳ thị này đã có lúc phơi bày trên báo, không phải trên bất cứ báo nào mà trên tờ Tiền Tuyến, nhật báo của Quân Lực VNCH; và được viết, không phải từ một tay thường thường bậc trung mà từ nhà thơ kiệt hiệt Thanh Tâm Tuyền của làng thơ Miền Nam. Tôi muốn sử dụng trường hợp Thanh Tâm Tuyền hầu cho thấy trường hợp cấp tiến của Mặc Đỗ đáng được ghi nhận vì sự cấp tiến này biểu trưng không chỉ cho ông mà còn cho Miền Nam.
8.3.2 Trường hợp Thanh Tâm Tuyền: Ở đầu môi họ đang mấp máy cái khẩu hiệu do cô Loan phát thanh theo văn bản Tây: Bà là người, tôi cũng là người, tôi có quyền…Ôi thật buồn cười. Có quyền “nam nữ bình quyền” còn cái khẩu hiệu này nữa…
Khi Thanh Tâm Tuyền viết những giòng thượng dẫn vào cuối thập niên 60 thì không chỉ Âm Nhạc, Văn Chương, Thời Trang lên trang nhất tại Miền Nam. Phụ nữ tham gia mọi lãnh vực, kể cả nghề Văn và nghề Báo. Cuộc chiến mở rộng càng khiến cuộc tiếp xúc với Tây phương không còn giới hạn trên những trang dịch thuật mà ảnh hưởng cả trên kinh tế và kỹ thuật. Thành trì bảo thủ của một số đàn ông có vẻ bị đe dọa khi phụ nữ trực tiếp tham dự mọi lãnh vực, nhất là Chính Trị. Họ muốn tiếp tục giam phụ nữ trong “cái cũi cụ lão nho họ Khổng” (mượn lời Mặc Đỗ) bằng cách lên án những cuộc vận động cho Nữ Quyền tại Tây Phương mà, tuy chưa am hiểu nổi, vẫn sẵn sàng gán cho chúng cái tội làm hỏng phụ nữ Miền Nam.
Là một nhà thơ, Thanh Tâm Tuyền xứng đáng được ngưỡng mộ. Ông xứng đáng được ca ngợi cả về Văn. Cho tới nay, không ai còn đặt câu hỏi về thơ Thanh Tâm Tuyền. Vị trí Thơ của ông chiếm một chỗ đặc biệt. Sự thành công của Thơ Thanh Tâm Tuyền không dừng lại tại Miền Nam. Sau 1975, cứ google tên Thanh Tâm Tuyền, chúng ta sẽ được đọc nhiều bài nghiên cứu về văn thơ ông của tác giả trong và ngoài nước. Thế nên, một cách tình cờ, tôi sẽ trưng dẫn 3 đoạn của 3 tác giả quen thuộc với độc giả hải ngoại, như một thí dụ về sự thành công ấy; sau nữa, cũng cần cung cấp một chân dung toàn diện hầu công bằng cho ông trước khi vào phần của tôi.
Ø Mở đầu, nhà phê bình Thụy Khuê đề cao tính chất không-kỳ thị của Thanh Tâm Tuyền:
– […] Người Việt vốn tính kỳ thị, gọi người Tàu là Chệt, người Ấn là Chà Và, người Ả Rập là Rệp, đó là những dân tộc có truyền thống văn minh lâu đời hơn họ. Sang Mỹ, họ khinh người Mễ, và không thèm ngó tới người da đen. Nếu là người ở trong nước sang Pháp chơi, bước vào métro, thế nào họ cũng cố tránh ngồi gần một người da đen (…) phản ứng của người Việt đối với người da đen không mấy khi thân thiện và ngây thơ như thế, bởi có thành kiến sẵn: họ lấy làm “tự hào”: mình tuy “không bằng” da trắng, nhưng “còn hơn” Rệp, Mễ (da màu) và “hơn hẳn” da đen. Một niềm tự hào sai, bởi sự thật thì “mình” chẳng thua ai và cũng chẳng hơn ai: lột lớp da ngoài, bên trong xương, thịt, gân, máu, hệt như nhau: cùng một màu cho tất cả mọi người. Thanh Tâm Tuyền là nhà thơ toàn diện, total, lấy lại chữ của nhà phê bình Đức, Curtius. Bởi chỉ những nghệ sĩ toàn diện mới có khả năng nhấc dân tộc ra khỏi sự độc tôn, kỳ thị. Thanh Tâm Tuyền đi từ nỗi đau cá nhân để đạt đến nỗi đau nhân loại (…) Ông đi đến cái đau lớn, đau mầu da, đau thân phận nhược tiểu của con người (…) mà chỉ những nghệ sĩ đích thực mới cả gan đào sâu, cắt mạch cho nó tóe ra trong địa ngục con người. Họ là tự do. Họ là sự thật.” [Thụy Khuê, “Nguyên là chương XIII của cuốn Cấu trúc thơ (Văn Nghệ, CA, 1995) Chúng tôi bổ sung và hoàn chỉnh lại ngày 3/11/2006 và 20/8/2014” – https://vanviet.info/van-hoc-mien-nam/van-hoc-mien-nam-1954-1975-24-thanh-tm-tuyen-1936-2006/ ]
Ø Tiếp đó, nhà thơ Trần Mộng Tú so sánh Thanh Tâm Tuyền với Đinh Hùng và Vũ Hoàng Chương. Bà quả quyết Thơ Tình Yêu của Thanh Tâm Tuyền chỉ dành riêng cho một tầng lớp độc giả nào đó:
-[…] Cùng một thời điểm làm “Thơ Tình” với Đinh Hùng và Vũ Hoàng Chương, nhưng có một cái gì rất khác với hai thi sĩ này. Thanh Tâm Tuyền mở ra cho chúng ta một trang Thơ Tình rất lạ, rất khác, rất kén độc giả nhưng vô cùng quyến rũ […] Tình Yêu trong thơ Thanh Tâm Tuyền vượt ra ngoài quy luật Thơ Tình của các tác giả cùng thời. Thanh Tâm Tuyền có một trang giấy riêng, có những ngôn ngữ riêng, giọt lệ riêng mà một số rất ít người có thể chia xẻ được. Nhưng ai đã thích ứng và yêu thơ Thanh Tâm Tuyền thì có cả ngàn lý do để yêu những chữ lạ, những suy nghĩ, những khác biệt trong ngôn ngữ của Thi Sĩ…” [Trần Mộng Tú, “Tình yêu trong Thơ Thanh Tâm Tuyền -Đánh dấu ngày mất của Thanh Tâm Tuyền 20-3-2006” –
Ø Sau hết, nhà phê bình Bùi Vĩnh Phúc trình bày giả thuyết về sự thành công của Thơ Thanh Tâm Tuyền:
-[…] Thanh Tâm Tuyền tạo nhịp điệu cho hình ảnh, ý tưởng từ công phu riêng của ông, từ ý thức ông, từ sự mẫn cảm nghệ thuật nơi ông. Ông hay dùng những bước sóng của hình ảnh, như đã nói, để kết nối, để đảo ánh, phản chiếu những ý tưởng, hình ảnh trong thơ mình, qua những từ hay những nét ảnh mang tính “chìa khoá”. Những bước sóng ấy được ông thả cho chìm nổi, hay đôi khi cuồn cuộn, khắp bài thơ, mà tôi tạm gọi là những “ba ảnh”, hay những lớp sóng, những bước sóng của hình ảnh. Hình ảnh làm thành những lớp sóng, những ba động. Chúng tạo nên một nhịp điệu lan truyền trong bài thơ mà, nếu không có sự mẫn cảm, người đọc có thể không bắt được chúng…” [Bùi Vĩnh Phúc, “Thanh Tâm Tuyền (1936-2006) – kỳ ii [.4.5.] .4. Nhịp điệu không vần của những cánh rừng” -Ngày 19 tháng giêng 2024- https://damau.org/98827/thanh-tm-tuyen-1936-2006-ky-ii-4-5 “]
Bùi Vĩnh Phúc cũng có nhận xét tương tự Trần Mộng Tú ở phương diện “người thường” và thi sĩ:
-[…] Và cũng như mỗi một chúng ta, có thể ông cũng còn có quá nhiều thiết tha yêu dấu đứng bên đời vẫy gọi mà ông—cũng như mỗi một người trong chúng ta—cảm thấy vẫn chưa trả hết ân tình. Người thường đã vậy, một nghệ sĩ, một nhà thơ có thể còn đầy ắp những nỗi thiết tha hơn.” [Bùi Vĩnh Phúc, https://damau.org/en/98999/thanh-tm-tuyen-1936-2006-ky-iv-ci-ti-an-mat-3-4 ]
Có đúng Thanh Tâm Tuyền “có khả năng nhấc dân tộc ra khỏi sự độc tôn, kỳ thị”, “là nhà thơ toàn diện, total” (Thụy Khuê), “có những ngôn ngữ riêng, giọt lệ riêng mà một số rất ít người có thể chia xẻ được” (Trần Mộng Tú), hoặc “Người thường đã vậy, một nghệ sĩ, một nhà thơ có thể còn đầy ắp những nỗi thiết tha hơn” (Bùi Vĩnh Phúc)? Tất cả những điều đó có thể đúng có thể sai về Thơ Thanh Tâm Tuyền. Nhưng có điều chắc chắn: ông không chỉ có Thơ và Văn. Với bút hiệu “Ký giả BA-TÊ”, ông còn viết tạp ghi về “Đàn bà” và minh tinh Thẩm Thúy Hằng trên Tiền Tuyến vào năm 1968 rồi được in lại trong Tạp Ghi, Nhà Xuất bản Chiêu Dương, 1970. Nhắm cho thấy sự tương phản giữa vị trí đặc biệt của Thơ Văn với loại chữ nghĩa và quan điểm về Phụ Nữ của Thanh Tâm Tuyền, tôi sẽ trích dẫn Tạp Ghi lần lượt theo đây. Những đoạn trích dẫn ấy sẽ cho thấy bất cứ sự tiến bộ nào cũng không đến một cách dễ dàng.
8.3.2. A Ký giả BA-TÊ – Ôi! Hạnh phúc—hai cái tiếng ma quỷ giết chết hết đàn bà thật là đàn bà trên cõi đời này. Hạnh phúc là cái thá gì? Các bà mẹ ta xưa đâu có biết mặt ngang mũi dọc của nó như thế nào…
Vào quãng thời gian Thanh Tâm Tuyền ký bút hiệu “Ký giả BA-TÊ”, Trung Tá/nhà thơ Hà Thượng Nhân/ Chủ Nhiệm nhật báo Tiền Tuyến và Trung Tá Lô-Răng Phan Lạc Phúc, người thường phụ trách mục Tạp Ghi, bận công tác tại Đài Loan. Hà Thượng Nhân giao cho Viên Linh trông coi phần in ấn. Ông xác nhận tin này khi gặp tôi tại một cuộc ra mắt sách tại San Jose. Lô-Răng Phan Lạc Phúc giao mục Tạp Ghi cho Thanh Tâm Tuyền, người sẽ ký bút hiệu “Ký giả BA-TÊ”. Sau này, nhà xuất bản Chiêu Dương thu thập các bài viết ấy và in lại thành Tạp Ghi dưới tên Thanh Tâm Tuyền:
Thanh Tâm Tuyền, Tạp Ghi, bìa trước và bìa sau
Chiêu Dương xuất bản, 1970, Sài Gòn
Tài liệu của Thư viện Đại Học Cornell, Hoa Kỳ
-Lời nhà Xuất–Bản:
Đây là những bài “TẠP GHI” của nhà văn Thanh tâm (sic) Tuyền viết từng kỳ trên mục mang cùng tên của một tờ nhật-báo xuất-bản cách nay đã gần hai năm dưới bút-hiệu ký- giả Ba-Tê. Lẽ ra, những bài “TẠP GHI” này sẽ không bao giờ được ra mắt độc giả dưới hình-thức một quyển sách như quyền “TẠP GHI” này. Vì, mới đầu, khi chúng tôi đưa đề nghị đề xin được in những bài “TẠP GHI” lại thành sách, Thanh-Tâm-Tuyền đã có ý-định từ chối. Sau nhiều lần đề nghị, nhà văn Thanh-Tâm-Tuyền mới có một quyết-định lững-lờ: ‘Thôi được, cậu muốn làm sao thì làm, tôi giao trọn quyền cho cậu’, và, chúng tôi đã tự ý đi sưu-tập những tờ báo cũ, góp nhặt lại để in thành quyền “TẠP GHI”. Đây cũng là một sự dễ-dãi của nhà văn Thanh-Tâm-Tuyền dành cho nhà Xuất-Bản CHIÊU-DƯƠNG mà chúng tôi muốn ghi lại một chút ở đây và nhân thể trình bày cùng quí-vị độc-giả thân-mến của Thanh-Tâm-Tuyền cũng như của nhà xuất-bản CHIÊU- DƯƠNG lý-do tại sao có quyền TẠP GHI này ra đời- Nhà Xuất-Bản CHIÊU DƯƠNG” [In lần thứ nhất, 1970, Saigon-Việt Nam]
Nếu không may mắn tìm được Tạp Ghi, tôi sẽ không thể xác nhận những bài báo ký tên “Ký giả BA-TÊ” thực sự của ông vì, trong lịch sử báo chí, việc nhiều người viết dưới cùng một bút hiệu đã xẩy ra. Hãy xem Ký giả BA-TÊ kiêm nhà thơ Thanh Tâm Tuyền viết lách ra sao, bàn luận thế nào về thế giới nhược tiểu đàn bà kiêm “người thường” (mượn chữ Bùi Vĩnh Phúc). Đoạn rất dài sau đây được trích từ hầu như toàn bài “Về đàn bà (2)” trên nhật báo Tiền Tuyến:
-Con gái đàn bà ta hôm nay đúng là đang cứ tưởng bở. Được mấy ông Tây nịnh “đàn bà muốn là trời muốn”, không nên đánh đàn bà dù bằng một cánh hoa hồng, “Nam nữ bình quyền”, thì bỗng thấy mình “le” quá, bèn vùng dậy lật nhào cái bọn vẫn đè ép mình. Ấy là nói thành phần cấp tiến, có ý thức đấu tranh cùng mình thì như thế. Còn thành phần “vô ý thức” thì chỉ ngấm ngầm chống đối trong tư tưởng như: Trời không sinh mình ra làm đàn bà Tây, hoặc bằng phản ứng nồi loạn bất thường. Cứ làm như đàn bà con gái Tây là Trời thật. Và không hay rằng mình đang bị mấy anh Tây xỏ ngọt. Thật vậy. Chị em ta hãy bình tĩnh mà nghĩ lại xem. Chẳng hạn, anh Tây: đàn bà muốn là trời muốn. Nghe du dương lắm. Nhưng nếu thử hỏi: đàn bà muốn cái gì? Thì thấy rõ ngay cái hậu ý không tốt của anh Tây. Đàn bà muốn cái gì? Đàn bà muốn những cái đàn ông nó muốn cho mình muốn. Ấy cái trò của Tây nó phức tạp rắc rối thế đấy. Nói cho cụ thể rõ rệt thì những ý muốn của đàn bà Tây—hay đàn bà theo Tây cũng “mắm sốt”– không ngoài cái bùa chú phù thủy do nền văn minh Tây đẻ ra là hai chữ Hạnh phúc. Ôi! Hạnh phúc—hai cái tiếng ma quỷ giết chết hết đàn bà thật là đàn bà trên cõi đời này. Hạnh phúc là cái thá gì? Các bà mẹ ta xưa đâu có biết mặt ngang mũi dọc của nó như thế nào. Mấy anh “bạch quỷ” mắt xanh, tay chân lông lá, sang đây trương ngay cái ngọn cờ: Hạnh phúc cá nhân, dụ dỗ con gái đàn bà ta vào tròng. Và những cô Loan ‘a la-xô’, đầu quân dưới ngọn cờ ấy tức khắc. Mấy anh Tây thiết lập cả một cái trận đồ Hạnh phúc cá nhân, ai đã lọt vào đừng hòng tìm thấy lối ra. Hạnh phúc là các tiện nghi ngay chính trong đời sống này. Một ông Tây thật lớn đã nói: Tây ta đã dậy cho bọn Á Đông biết rằng đời sống này là duy nhất (La vie est Unique-Malraux). Bởi thế phải tận hưởng đời sống này. Hạnh phúc trong cõi đời này gồm trong các tiện nghi vật chất và tiện nghi tinh thần. Hạnh phúc đối với đàn bà trước tiên là Đẹp. Mà muốn Đẹp thì phải có đầy đủ những thứ phụ tùng trang trí do bọn đàn ông sản xuất. Cả những mẫu Đẹp cũng do bọn đàn ông Tây nó in vào trong đầu óc đàn bà cho đàn bà làm theo bằng đủ các phương cách: văn chương, thi phú, nghệ thuật, phim ảnh, quảng cáo… Các thần tượng ‘Mỹ Lệ’ của đàn bà con gái khắp thế giới—và cũng là của đàn ông—là do các tay tổ Tây nặn ra. Một anh làm thơ ngày nay đã viết đại khái; Nếu không có anh thì ai sẽ… nghĩa là “em” đẹp cho “anh”, “anh” là tấm gương của “em” phải theo ý muốn của “anh” từ trong tiềm thức. Thế là “em” là nô lệ cho anh một cách hết sức tự do. Hạnh phúc vật chất của đàn bà là cái vực thẳm không đáy hút bao nhiêu cũng không vừa, các sản phẩm tiêu thụ mỗi ngày một gia tăng kinh khủng. Đàn bà là mối tiêu thụ không thể đánh mất, bằng bất cứ giá nào. Và con gái đàn bà ta, theo mấy anh Tây, là lao đầu vào trong cái cũi được làm bằng phấn sáp, hương hoa lượt là, máy móc tinh xảo, nằm im “ngu như lợn”, hoặc nhảy nhót như chim yến, hoặc dữ dội như hổ cái, hoặc muốn là gì thì là cũng vẫn đã trở thành một “sản phẩm” của mấy anh Tây láu cá. Sản phẩm này giúp cho mấy anh Tây “nhử” bọn đàn ông ngu đần “mọi rợ” chạy theo phải tiêu thụ những hàng hóa khác, cho nên “chẳng bao giờ nên đánh đàn bà dù chỉ bằng một bông hồng”, bởi lẽ đó là thứ “ê xăng ti-ôn” hấp dẫn không thể tả được. Mà còn gì phải “đánh” nữa khi ta đã vô tuyến điều khiển xong rồi. Và đàn bà con gái sống trong nuông chiều, trong ảo tưởng “bà chúa tự do” với những “caprice” của mình, chẳng hề biết rằng mình đang tuân lệnh một cách ngu si. Thỉnh thoảng, gặp anh Tây đểu, bực mình như tay phù thủy tạo âm binh mà âm binh lại làm ra vẻ muốn nổi loạn, thì anh ta nói trắng trợn: Sois belle et tais-toi. Rốt cuộc là một phút nào giật mình, cũng như nàng Kiều, chị em ta sẽ “giật mình, mình lại thương mình xót xa” nó trân tráo ném vào mặt chị em ta cái sự thật. Đau đớn thay phận đàn bà…Đàn bà thật lắm chuyện và chuyện đàn bà cũng lắm. Nói chưa hết đâu. Văn Bựa ạ. Con gái đàn bà ta hôm nay “còn khuya” mới chịu. Ở đầu môi họ đang mấp máy cái khẩu hiệu do cô Loan phát thanh theo bản văn Tây: Bà là người, tôi cũng là người. Tôi có quyền… Ôi thật buồn cười. Có quyền “Nam nữ bình quyền”, còn cái khẩu hiệu này nữa, ta sẽ bàn cho mi nghe trong ngày mai. [Thanh Tâm Tuyền, “Về đàn bà (2)”, Tạp Ghi, Chiêu Dương xuất bản, trang 53 -57 – Ký giả BA-TÊ, Mục Tạp Ghi, Nhật báo Tiền Tuyến, Số 1013, ngày 15 và 16, tháng 9, năm 1968 -Chữ viết hoa là của nguyên bản * Tôi thường so sánh bản trên Tiến Tuyến với bản in lại trên Tạp Ghi-Chiêu Dương mỗi khi có nghi vấn vì bản Chiêu Dương thường có một số lỗi chính tả. Trong trường hợp bài này, tôi chọn “nằm im ‘ngu như lợn’ theo bản Tiền Tuyến thay vì “nằm im ‘ngủ như lợn’ theo bản Chiêu Dương. Độc giả có nhã ý muốn giúp tôi kiểm tra lại–vì chữ trên Tiền Tuyến đã hơi mờ mà mắt tôi lại còn mờ hơn (!)–, xin vào link đính kèm.]
http://ndclnh-mytho-usa.org/KhoSachCu/Nhat%20Bao%20Tien%20Tuyen/TienTuyen_1013%2015_16SEP1968.pdf
Và một đoạn dài khác:
-Tiện nghi vật chất như thứ Hạnh phúc “cụ thể bình dân” biến con gái đàn bà thành một sản phẩm kiểu mẫu quỹ biện (sophistiqué) cho văn minh Tây. Người đàn bà phổ thông chẳng còn gì ngoài cái vai trò “bông hoa” bày trong phòng khách, cái “giống” phô diễn ngoài phố phường, cái mồi câu bọn đàn ông vào tròng. Cái tròng gì đây? Tròng “hạnh phúc” rửng mỡ, nô lệ cho các tiện nghi mỗi ngày mỗi biến hóa theo đuổi đến “phờ râu trê”, quay cuồng đến không còn biết phương hướng đâu vào đâu nữa. Ôi, cái đám nô lệ vùng lên để kéo người khác cùng nô lệ với mình là cái đám con gái đàn bà ta mơ tưởng. Hạnh phúc kiểu Tây. Ôi thôi, kể số gì cái đám con gái đàn bà “bình dân” ấy. Phải kể đến cái thành phần tân tiến, “cách mạng” thực sự chứ. Đám này được bao nhiêu? Cứ giả dụ rằng đó là đa số chị em ta đi nữa thì cái Hạnh phúc như tiện nghi tinh thần mà chị em đuổi bắt theo lời dụ dỗ của mấy anh Tây “aprique” (sic) nó sẽ như thế nào. “Nam nữ bình quyền”, người đàn bà cũng là một người như người đàn ông. Đúng phóc còn ai dám cãi nữa. Chỉ mấy anh đàn ông “mọi” mới không chịu nhận cái lý đương nhiên ấy mà thôi. Ta có thể là “mọi” đây, nhưng, nhưng “mọi thì mọi” ta cứ nói chơi. “Nam Nữ bình quyền” là cái nghĩa gì kia chứ. Thật sự cái Hạnh phúc tinh thần Tây mớm cho nó như thế nào? Ta có thể nói ngay nó gồm trong hai chữ Tự do. Tự do này mặt mũi nó ra sao đây? Ta không triết lý lẩm cẩm kiểu ông Tây bà Đầm hiện đại cho rằng muốn giải phóng đàn bà thì phải giải phóng đến cùng độ là thủ tiêu hẳn cái ý niệm “đàn bà” trong đầu óc, trong con mắt nhìn của đàn ông. Nghĩa là chỉ còn những “người” chứ chẳng còn đàn ông, đàn bà nữa. Như thế là đi đến cùng kỳ lý đấy, đàn bà như đàn ông, với mọi quyền hạn, thế mới thật là tự do giải phóng. (Xin thưa đó là đại khái quan điểm cấp tiến bậc nhất của cặp Tây Đầm lừng danh thế giới là ông Sartre và bà Beauvoir trình bày trong bộ sách dầy nhan đề là “cái giống thứ hai”.) Ta chỉ tự hỏi: đàn bà Tây có tự do không? Không muốn bàn cãi vô ích đến cái thứ tự do tuyệt đối muốn làm gì thì làm. Hãy coi cái quyền được lựa chọn, Tây nó cho đàn bà, con gái giải phóng chọn lựa những gì. Xưa kia quả là mấy anh đàn ông Á đông chẳng cho đàn bà con gái lựa chọn gì hết ráo. Thầy Khổng Phu Tử nhà ta ấn định cái “cốp” ngay từ khi sinh ra cái vai trò duy nhất phải gánh: làm vợ và làm mẹ. Đừng có lôi thôi rắc rối. Không được làm vợ, làm mẹ, thì chỉ còn có nước làm nàng Kiều hay “nàng Cung nữ” thôi. Bây giờ Tây nó làm như mở ngõ các cánh cửa cho chị em tha hồ chọn. Nhưng các chị em chọn được những gì nào? Muốn chọn gì thì chọn, các chị em ta chỉ chọn được những món phụ tùng, chẳng bao giờ chọn được điều căn bản là quyền sống ngang như đàn ông. Nhưng tự do của đàn bà trong đời sống hiện nay cũng đã bị mấy anh Tây quy định sẵn: không thích làm vợ làm mẹ — bởi đó là thứ gông cùm suốt đời trong những bổn phận tẻ ngắt — sống “tự do” thì có những vai trò khác như vai trò “tình nhân” muôn đời, vai trò “thần tượng” của đám đông, vai trò đàn bà “khốc liệt” nhốt (sic) chửng bọn đàn ông. Chị em ta đừng tưởng bở, khi mấy anh Tây quỵ lụy mình, phải nhớ rằng mấy anh ấy nếu không mắc bệnh sa đích thì cũng mắc bệnh “ma dô sít”. Đàn bà Tây, xét cho cùng, chỉ là các bà chúa nô lệ mà thôi. Đàn bà vẫn là “trò” của đàn ông. Đàn bà phổ thông thì là “cái giống” đã được tô điểm kỳ khu, đàn bà cao kỳ thì đóng các trò tự do của trí tuệ. Một lũ nô lệ của một ông chủ mắc bệnh thần kinh cho phép nô lệ đóng vai chủ để mình đóng vai nô lệ trong một vở tuồng “tự do” có giới hạn… [Thanh Tâm Tuyền, “Về đàn bà (3)”, sđd, trang 58-61 – Ký giả BA-TÊ, Mục Tạp Ghi, Nhật báo Tiền Tuyến, Số 1014, Ngày 17 tháng 9 năm 1968]
http://ndclnh-mytho-usa.org/KhoSachCu/Nhat%20Bao%20Tien%20Tuyen/TienTuyen_1014%2017SEP1968.pdf
Trong mọi bài viết, hầu như Thanh Tâm Tuyền chỉ nhắc đến khía cạnh tiêu cực của nền kinh tế tiêu thụ. Ông cũng nhắc sơ đến, nhưng bỏ qua phần “tiện nghi tinh thần” hầu dồn mọi nỗ lực tấn công “Tròng “hạnh phúc” là rửng mỡ, nô lệ cho các tiện nghi mỗi ngày…” vv. Ông đẩy hẳn vấn đề từ nhu cầu cải tiến hạnh phúc cá nhân và tiến bộ chung của xã hội—những giá trị muôn đời của nhân loại–sang ảnh hưởng không tốt đẹp gán cho Tây Phương trong cái nhìn chứa sẵn thành kiến miệt thị Phụ Nữ. Hẳn Thanh Tâm Tuyền quên số nữ độc giả của chính ông và Văn Học Miền Nam? Ông nhắc đến Simone de Beauvoir, nhưng kéo triết gia Jean-Paul Sartre một cách bất công vào tác phẩm Le Deuxième Sexe (1949). Hơn thế nữa, bà còn là một nhà hoạt động mà tiểu sử ghi lại trong mấy tác phẩm của chính bà có đoạn nhắc đến cả Hoàng Văn Chí lẫn Hồ Chí Minh (La Force des choses I, Nhà Xuất bản Gallimard-Tủ sách Folio, 1963). Chẳng lẽ Thanh Tâm Tuyền không nhớ Sài gòn còn có các đại học và ngành chuyên môn với sự góp mặt của nữ lưu? Chẳng lẽ ông không biết phụ nữ lúc ấy đã đi làm và càng cần đi làm cùng chồng đủ tài chính lo cho gia đình. Họ có quyền mua sắm những thứ tiện nghi khiến cuộc sống và gia đình nhàn hạ hầu giúp họ thêm chút thì giờ làm thơ viết truyện hay, đơn giản hơn, nghỉ mệt. Và trên hết thẩy, họ có quyền làm đẹp bằng tiền của họ hay của những người yêu họ bằng bất cứ cách nào mà họ muốn. Bởi thế, rất khó để bênh vực Thanh Tâm Tuyền khi ông bàn đến hạnh phúc như đã dẫn chứng:
–Ôi! Hạnh phúc—hai cái tiếng ma quỷ giết chết hết đàn bà thật là đàn bà trên cõi đời này. Hạnh phúc là cái thá gì? Các bà mẹ ta xưađâu có biết mặt ngang mũi dọc của nó như thế nào…
Vâng, Các bà mẹ ta xưa đâu có biết mặt ngang mũi dọc của nó (hạnh phúc) như thế nào hay là cái thá gì chỉ vì các bà mẹ ta xưa còn bận rộn túi bụi hầu hạ các-ông-bố-ta-xưa và cả các-ông-con trai quý hóa bây-giờ. Sau vài chục năm, Thanh Tâm Tuyền vẫn còn cay đắng về nỗi-cô-Loan là đủ biết. Tuy đả phá kịch liệt nhóm Tự Lực Văn Đoàn về lối viết “tiểu thuyết luận đề” cũ kỹ, một vài đàn ông lại không chịu nổi sự đổi mới mang lại công bằng cho phụ nữ thấp thoáng bóng ma Cô Loan trí thức ở thành phố.
Đoạn Tuyệt (Nhất Linh) xuất bản lần đầu, Hà Nội, vào năm 1936, nghĩa là cô Loan đã hơn ngũ tuần khi Ký giả BA-TÊ bàn đến cô vào năm 1968. Cuộc cách mạng, đại diện bằng một cô gái trẻ muốn quyết định hạnh phúc chính mình, không khỏi làm một số đàn ông bất mãn vì họ không được tiếp tục hưởng lợi—và trần trụi hơn, tiếp tục hưởng lạc–từ sự đàn áp một tập thể nhân danh luân lý cùng đạo đức từ một thứ “truyền thống” không còn lường gạt đươc ai. Sự bất mãn và mâu thuẫn này còn lộ ra trong một đoạn khác. Nói đến Tây, nhưng chính Thanh Tâm Tuyền cố tình diễn dịch sai về một bài ca dao cổ điển của Ta:
– […] Trước đây, theo truyền thống dân tộc ta, mỗi anh đàn ông VN là một tướng coi đàn bà như rác. Đàn bà con gái bị gắn liền với trẻ con: ối, chuyện đàn bà trẻ con. Anh đàn ông VN, dù ra ngoài, chẳng thá gì, dốt nát hèn kém đến đâu nhưng vẫn lên giọng trước bọn đàn bà con gái: Đàn ông nông nổi giếng khơi đàn bà sâu sắc như cơi đựng trầu. Xưa kia con gái đàn bà ta lâu lâu “phẫn” muốn trả thù bọn đàn ông con trai chỉ có mỗi thứ vũ khí là giọng chua ngoa đanh đá: ba đồng một chục đàn ông, chị bỏ vào lồng chị xách đi chơi… Bồng bồng gánh chồng đi chơi, đi đến chỗ lội đánh rơi mất chồng. Đau một cái là càng chua ngoa đanh đá càng chỉ tổ tự tố cáo sự lép vế của mình. Sức mấy mà có được một chục đàn ông mà bỏ vào lồng, thực tế là anh đàn ộng lại thừa sức để hoa thơm đánh cụm, , đeo cả chục chị đàn bà một cách hào hùng hợp pháp. Nếu chị đàn bà nào mà lại gánh chồng đi chơi thì nói ra thẹn lắm chị em ơi, tự mình mình tố cáo với làng nước là thằng chồng em nó bé tỉ ti, em chỉ là thứ tôi mọi, đêm đêm chịu cảnh “xuông xuổng xuồng xuông” mà thôi (…) Trong lãnh vực văn hóa, chính đàn bà con gái ta đang bắc cầu cho sự giao tiếp với nền văn minh tân tiến nhất thế giới là văn minh kỹ thuật, văn minh thụ hưởng—nôm na là văn minh Hợp chủng quốc. Trong lãnh vực văn nghệ, các nhà văn đàn bà hiện dẫn đầu phong trào văn chương trong nước, vận động cho cuộc cách mạng “dục tình” nữ giới… …Nhiều lắm, không kể xiết… [Thanh Tâm Tuyền, “Về đàn bà”, sđd, trang 48-51-Ký giả BA-TÊ, Mục Tạp Ghi, Nhật báo Tiền Tiến, Số 1012, Ngày 14.9.1968]
Nhờ anh Võ Phi Hùng và Chủ Quán Huỳnh Chiếu Đẳng (Kho sách xưa)—hai người đã cho nhật báo Tiền Tuyến lên mạng– tôi mới có thể cho độc giả chứng kiến nhỡn tiền cảnh Thanh Tâm Tuyền …chua ngoa đanh đá tới mức nào khi bẻ quẹo một bài ca dao rất danh tiếng của Ta vốn chỉ trích tệ nạn “tảo hôn”, thứ bi kịch dành cho các cô gái nhà nghèo bị mua về làm người giúp việc nhà không công. Trên thực tế, tôi có thể bảo đảm, rằng ông chưa gặp một cô Loan chua ngoa đanh đá đã di cư vào Sài Gòn hay cư ngụ gần chợ Đa Kao, nơi nổi tiếng bán guốc cao gót. Nếu có, …sức mấy chàng dám viết như thế. Còn hào hùng hợp pháp? Tôi không hành nghề Luật trước 1975 nên không hiểu các chàng đa thê hợp pháp chỗ nào ra sao nhưng hào hùng thì chưa chắc. Quay đầu về Sở e Tề giận/Ngoảnh lại bên Tề sợ Sở ghen. Hoặc gặp Hoạn Thư tân thời Làm cho nhìn chẳng được nhau/Làm cho đày đọa cất đầu chẳng lên. Ấy là chưa kể còn có lúc bị cả Tề lẫn Sở mời ăn cơm nguội bẩy món và nằm nhà ngoài bị muỗi đốt …sưng tay làm thơ cho tởn cái tật đèo bòng. Một mối nguy khác, hết sức thiết thực và thập phần khốn đốn hơn mối nguy “ăn cơm nguội, ngủ nhà ngoài”, đã chờ đợi, đang chờ đợi và sẽ chờ đợi xẩy ra cho các chàng văn nghệ sính khoe “đeo cả chục chị đàn bà”. Ngay khi các chàng còn sống hay đã qua đời, các chị-đàn-bà này rất có hy vọng cho các chàng lên- nhựt -trình cũng nhân danh Văn chương hạnh phúc cuộc đời vân vân (thơ Viên Linh). Đó chỉ là hậu quả đương nhiên của cái sự các chàng đã nhân danh tạp ghi mà ghi tạp khiến sau cùng, các chàng mất hào hùng trước mặt bá quan văn võ vì toàn quân và toàn dân dư biết các chàng chỉ hào hùng lúc vắng mặt cả bà chính thất lẫn (các) bà thứ thất.
Thế vẫn chưa thê thảm bằng lúc TTT-Thanh Tâm Tuyền nhạo báng ngôi sao điện ảnh TTH-Thẩm Thúy Hằng. Xin quý độc giả yên tâm: loại dè bỉu này không hề bí hiểm nên khỏi cần tới các nhà phê bình diễn dịch bàn ra tán vào. Từ nam phụ tới lão ấu đều hiểu ngay tức khắc dù có khi tác giả ẩn nấp giữa hai hàng chữ.
8.3.2. B Thanh Tâm Tuyền T.T.T. V. Thẩm Thúy Hằng T.T.H- Hàng ta mà đọ với hàng Tây thì còn sợ kém đủ mặt, nhưng đọ với hàng Phi, hàng Trung đông, hàng Mỹ Châu chậm tiến thì ít nhất cái bề ngoài không đến nỗi nào. (Tuy nhiên cũng cần lưu ý là cái mặt thì hơn đấy, nhưng cái “chất” ta còn phải xét lại. Hàng các vùng ấy tuy bề mặt hơi thô, nhưng chất thì “bền dai” kinh khủng lắm) …
Minh tinh Thẩm Thúy Hằng trở thành đề tài của loại viết lách thượng dẫn mà một quan văn nghệ mũ cao áo dài kiêm một nhà thơ huy hoàng như Thanh Tâm Tuyền không nên có. Ông đã viết những giòng bất nhã về Thẩm Thúy Hằng, một người xem ra không có tội gì ngoài tội…nổi tiếng hơn ông. Nhiều. Và chắc chắn phải lịch sự hơn ông. Cũng nhiều:
– […] “Bụt chùa nhà không Thiêng”. Nước ta là nước kinh tế hậu tiến, kỹ nghệ kém cỏi, dân ta có mặc cảm về hàng “nội hóa”, quen dùng hàng nhập cảng, chẳng bao giờ có cao vọng thấy hàng “mết in Việt Nam” bầy bán trên thị trường thế giới cả. Vậy mà ngày nay, thời thế xoay vần, hai cái món “lãnh tụ” và “người đẹp”, có cơ được tiêu thụ mạnh mới chết. Cái món bàn đến hơi kẹt, vì nó là sản phẩm của một ngành đại kỹ nghệ của những cái “trust” kinh khủng, với số vốn đầu tư ngoài sức tưởng tượng, kẻ không chuyên môn trong ngành sức mấy biết nổi. Nay ta chỉ nên bàn đến món “người đẹp”, đặc biệt là món “Thẩm thúy Hằng” một sản phẩm “nội hóa” quen thuộc, mai mốt ta sẽ mang rao trong Đại hội điện ảnh Carthage hy vọng sẽ hấp dẫn được một số khách hàng. Đây không phải là lần đầu quốc tế biết đến người đẹp của ta. Thật sự thì “người đẹp” ta cũng đã được khá nhiều nước Đông Tây ưa chuộng, nhưng là họ tiêu thụ ngay tại chỗ như một thứ sản phẩm địa phương chỉ có giá trị tại chỗ thôi. Cũng có vài người trước đây có đầu óc kinh doanh đã cố gắng tự mình xuất cảng như trường hợp Trang Thiên Kim hay Khánh Ngọc chẳng hạn, nhưng dường như cũng không thành công mấy.Tuy nhiên đó cũng là mấy mẫu rao quảng cáo tiên phong đáng ca ngợi. Lần này với món Thẩm Thúy Hằng “người đẹp” xứ ta có nhiều cô ăn khách lắm. Trước tiên, đây là lần thứ nhất, thế giới đòi xem mẫu hàng của ta chớ không phải ta ấn vào tay đòi khách xem thử. Ít nhất thì cái mẫu hàng của ta cũng phải có cái gì khiến khách đã lưu ý rồi, tuy nhiên cần xem lại cho kỹ. Hai nữa, mẫu hàng lần này của ta không lo cạnh tranh mấy ở một thị trường ta có ưu thế phần nào. Hàng ta mà đọ với hàng Tây thì còn sợ kém đủ mặt, nhưng đọ với hàng Phi, hàng Trung Đông, hàng Mỹ Châu chậm tiến thì ít nhất cái bề ngoài không đến nỗi nào. (Tuy nhiên cũng cần lưu ý là cái mặt thì hơn đấy, nhưng cái “chất” ta còn phải xét lại. Hàng các vùng ấy tuy bề mặt hơi thô, nhưng chất thì “bền dai” kinh khủng lắm). Nhưng điều quan trọng hơn cả là chính mẫu hàng ta lần này đưa đi, thực chất khá lắm, hơn mấy lần trước nhiều. Món Thẩm Thúy Hằng xuất sắc hơn mấy món đã đưa ra từ trước đến nay. Cứ xét cái tên đã hấp dẫn biết mấy. Thẩm Thúy Hằng có nghĩa là Thường Thấm Sâu. Đó là một dân tộc tính. Bề ngoài trông lỳ lỳ phẳng phẳng nhưng bề trong thì với cái gì cũng cắn sâu, hút dữ và bền bỉ không rời. Món “người đẹp” này, của ta hòa hợp được một cách tài tình các chất liệu Tây phương nhập cảng–hợp với thị hiếu của thế giới–và các chất liệu bản xứ, khiêu khích, con nít, ngu ngu như mẫu Femme-enfant đang thịnh hành, nhưng đồng thời lại nhõng nhẽo, đỏng đảnh, mơ màng như cỏ cây sông nước, mưa nắng của vùng lưu vực Cửu Long. Nhìn Thẩm Thúy Hằng bằng con mắt địa phương quá quen nên thấy nhàm. Bây giờ phải nhờ ngoại quốc nhìn hộ, rồi ta mới khám phá nổi cái “giá” của món hàng ấy. Trước ngày Thẩm Thúy Hằng đi, những người vẫn quan tâm đến nền kinh tế lạc hậu của xứ sở, đều cầu mong cho Thẩm Thúy Hằng thành công. Bởi nếu món hàng này được tiêu thụ thì chẳng những chỉ kỹ nghệ điện ảnh ta vượt được bế tắc bấy lâu nay mà còn nhiều hy vọng giải quyết luôn được tình trạng kinh tế chung của ta bị khốn đốn vì chiến tranh giặc giã. Biết đâu trong sự phân công của kinh tế thế giới tương lai, nước ta lại chỉ chuyên sản xuất hai món “lãnh tụ” và “người đẹp”. Biết đâu đấy. [Thanh Tâm Tuyền, “Món ‘Người đẹp’”, sđd, trang 64-67-Ký giả BA-TÊ, Mục Tạp Ghi, Nhật báo Tiền Tuyến, Số 1026, ngày 1.10.1968]
http://ndclnh-mytho-usa.org/KhoSachCu/Nhat%20Bao%20Tien%20Tuyen/TienTuyen_1027%2001OCT1968.pdf
Thiệt là hết nước nói: bêu riếu tên tuổi Thẩm Thúy Hằng lên nhựt trình chưa đủ hay sao mà còn kéo “lưu vực Cửu Long” –Thẩm Thúy Hằng sinh quán Hải Phòng nhưng di cư vào Nam– vào đây? Vậy mà tôi cứ “tưởng bở” Ký giả BA-TÊ Chẳng thơm cũng thể hoa nhài/Dẫu không thanh lịch cũng người…Nghệ An. Nhưng Thẩm Thúy Hằng đâu có “con nít, ngu ngu” nhỉ? Bà “phụ trách” mục “Đặc biệt dành cho lính” ngay trên nửa trang 4 của Tiền Tuyến vào mỗi thứ tư và chủ nhật, nghĩa là…đồng nghiệp với nhà thơ Thanh Tâm Tuyền, người phụ trách mục “Văn hóa Chính trị” trên trang 5. Thế mới oái oăm. Bà đã trả lời như sau khi được phóng viên của chương trình Người Dân Muốn Biết đặt câu hỏi “Phải có điều kiện nào để thành ngôi sao màn ảnh?”:
-Một nền học thức căn bản, đủ sức nhận định ý nghĩa chuyện phim và vai trò, đó là điều căn bản. Hơn nữa, phải có sức khỏe. Nghề nghiệp chúng tôi bất thường, nhiều khi đóng phim từ 4, 5 giờ chiều tới 4,5 giờ sáng. Ăn uống thất thường. Ngoài ra, phải kiên nhẫn và nhiều óc tưởng tượng và giàu tình cảm. Điều quan trọng là biết thận trọng và biết tự chủ. [Thẩm Thúy Hằng trả lời phỏng vấn Chương trình Truyền Thanh & Truyền Hình Người dân muốn biết/Phát hình ngày 3.4.1970, Sài gòn]
Bà không tai tiếng gì trong một giới rất dễ bị hiểu lầm có lẽ vì biết thận trọng và biết tự chủ, nhưng không tránh khỏi bị “món Thanh Tâm Tuyền” và “món Phạm Duy” (không biết hai món này có …chính chuyên lắm không) nhẩy vào ăn có:
– […] Tôi có người yêu, cái đít to như Thẩm Thúy Hằng/Cái đít nhìn qua đã khiến cho ta phải ngỡ ngàng/Vừa to vừa lớn! Như những mặt Vua/Mặt ông Tổng Thống, cũng phải thua…”- https://phamduy.com/vi/am-nhac/chuong-khuc/tuc-ca/5187-tuc-ca-pham-duy
Theo tôi, miệt thị phụ nữ– hơn thế nữa, miệt thị đích danh cốt lấy cớ ám chỉ hay đề cập tới những vấn đề trọng đại của quốc gia dân tộc–thật không đáng mặt anh hào. Có bảnh cứ kêu đích danh “món lãnh tụ” mà phê bình thử coi có bị bắt-bỏ-bót không:
-Cứ xét cái tên đã hấp dẫn biết mấy. Thẩm Thúy Hằng có nghĩa là Thường Thấm Sâu. Đó là một dân tộc tính. Bề ngoài trông lỳ lỳ phẳng phẳng nhưng bề trong thì với cái gì cũng cắn sâu, hút dữ và bền bỉ không rời. [Ký giả BA-TÊ tự Thanh Tâm Tuyền, sđd]
Thiệt hên cho ký giả BA-TÊ: hình như chưa thấy diễn đàn văn nghệ hay văn chương nào có sáng kiến làm …chủ đề cho chàng. Nếu có, the press will have a field day/ Giới ký giả kịch trường cùng giới ký giả chuyên viết tạp ghi, sổ tay, “thiên hạ đồn rằng” sẽ có dịp tranh luận kẻ bênh người chống tưng bừng hào hứng. Ấy là chưa kể đến các nữ tướng đang bận rộn tại các trận tiền khác, chắc chắn cũng kéo quân về giữa đoàn hùng binh có tôi đi hàng đầu. Cá nhơn tôi, tôi chỉ dám ngạc nhiên một cách chính đáng. Thứ nhất, Ký giả BA-TÊ nhà ta có thẩm quyền gì mà kỳ thị hàng Tây, hàng Phi, hàng Trung Đông với lại hàng ta, hàng nội hóa, hàng nhà hay…hàng Đồ Sơn:
-Hàng ta mà đọ với hàng Tây thì còn sợ kém đủ mặt, nhưng đọ với hàng Phi, hàng Trung Đông, hàng Mỹ Châu chậm tiến thì ít nhất cái bề ngoài không đến nỗi nào…[sđd]
Hình như là đang có người…mặc cảm nhược tiểu đầy mình đấy nhé.
Thứ hai, chàng có dịp đi chợ ngoại quốc sắm hàng lần nào chưa mà dám coi rẻ hàng địa phương?! Lỡ sản phẩm địa phương cũng chua ngoa đanh đá thắc mắc ngược lại về thứ sản phẩm địa phương của các chàng, thì không hiểu biết trả lời sao nhỉ? Dĩ nhiên, còn khuya mới trả lời được vì sở trường của nhà thơ Thanh Tâm Tuyền không ở loại Tạp Ghi, Sổ Tay, Ao Thả Vịt vv. trên nhựt trình Sài Gòn. Rừng nào cọp đó, không phải chỗ cho các chú mèo “rửng mỡ” –chữ này tôi lại mượn từ chính nhà thơ rất sính sử dụng những chữ nôm na vẫn gán oan cho chị em chúng tôi– đang tập tành vờn chuột, mà lại là những chú chuột khổng lồ hoặc chiếm đa số tại Thành phố New York ngày nay.
Nghiêm chỉnh mà nói, có thể vì là phụ nữ, lại trải qua và chứng kiến nhiều tình cảnh bất trắc cho mình và cho người, nên tôi thường suy nghĩ về loại văn nghệ tàn nhẫn đã trình diện một bộ mặt dửng dưng. Hãy so sánh lối nói dành cho các cô gái bất hạnh “tiêu thụ ngay tại chỗ như một thứ sản phẩm địa phương chỉ có giá trị tại chỗ thôi” của Thanh Tâm Tuyền với lời nhạc: Ѕau những lần gối mỏi tìm cuộc vui tàn từng đêm/Ɲhững lần hồn ngủ mê dưới mắt giai nhân một đêm (Trúc Phương, Một người đi xa).
Bởi thế, riêng tôi, không lần nào có việc phải đọc Thơ Thanh Tâm Tuyền mà không tự hỏi trong nỗi ngậm ngùi: Bàn tay nào viết “lệ đá xanh”, bàn tay nào viết những giòng thóa mạ “chị em ta”? Bàn tay nào viết những câu thơ cực kỳ mới, bàn tay nào viết lời nguyền rủa cực kỳ cũ “vô ý thức”, “đám nô lệ…”, “nằm im ‘ngu như lợn’”? Bàn tay nào viết lời tuyệt đẹp Hãy cho anh khóc bằng mắt em/Những cuộc tình duyên Budapest, về người Da Đen cùng anh em Cộng Hòa Garcia Lorca, bàn tay nào viết lời nhạo báng Thẩm Thúy Hằng? Là một thi sĩ được tán tụng về tài sử dụng chữ nghĩa, ông đã cân lượng chữ nghĩa hết sức cẩn thận nhắm gây tổn thương tối đa cho nhiều người “đàn bà” không thể tự vệ.
Dĩ nhiên, sau khi đọc 4 bài trên, tôi có thể đoán ngay đề tài sắp tới của chàng, một đề tài mà có lẽ vô số các chàng khác cũng đang bận tâm: Vị trí của các chàng một khi phụ nữ có thể quyết định đời sống một cách bình quyền, được bảo vệ bằng pháp luật và được bảo vệ luôn từ các thứ đạo đức hay truyền thống mà các chàng muốn diễn dịch ra sao tùy ý.
8.3.2. C Thanh Tâm Tuyền: “Các vị phụ nữ cần tự do nên phải có kế hoạch cho sự tự do khỏi đưa đến trách nhiệm…”
Vào ngày chủ nhật 22 tháng 9, 1968, một cuộc hội thảo về “kế hoạch gia đình” được tổ chức tại Đại Học Y Khoa Sài Gòn. Tuy không rõ nội dung nhưng tôi đoán, căn cứ vào thời điểm, đã có hai phản ứng. Bài thứ nhất, “Vài cảm nghĩ về chữ: Kế hoạch gia đình”, xuất hiện trên tạp chí Bách Khoa số 283 của một trung úy ký tên “Hiếu”. Bài thứ hai, “ ‘ Chửa hay không chửa’-That is the question!”, xuất hiện trên Tiền Tuyến số 1024 của Ký giả BA-TÊ -Thanh Tâm Tuyền.
Bài dài 4 trang của tác giả Hiếu rất phải chăng vì chỉ ra những bất cập từ danh xưng đến cách tổ chức một chương trình quan trọng ảnh hưởng đến cả nước. Theo ông:
-Một nhóm người có trách nhiệm về Y Tế đang tìm cách để phổ biến và khuyến khích—tôi nhấn mạnh ‘khuyến khích’—áp dụng các phương pháp ngừa thụ thai mà họ đề ra dưới danh nghĩa ‘Kế Hoạch Gia Đình’… [Hiếu, “Vài cảm nghĩ về chữ: Kế- hoạch gia- đình”, Bách Khoa số 283, trang 44, ngày 15.10.1968]
Đọc bài này, có lúc tôi phân vân trước nhận xét của tác giả khi ông nói thay cho phụ nữ, truyền thống và, thậm chí, nhân danh…ông hay bà Trời (“thiên mệnh”):
-Trên thực tế, phụ nữ Á đông ràng buộc bởi nền luân lý đạo đức cổ truyền, không thích sự xâm lấn của bất cứ ai vào đời sống riêng tư của họ. Bàn đến vấn đề sinh lý đã khiến nhiều người đỏ mặt thì đặt một vật lạ trong một bộ phận riêng không thể là điều dễ chấp nhận, nhứt là công việc đó lại được thực hiện tại một cơ sở công khai. Thế nhưng đứng trước thực tế phũ phàng là yếu tố tài chánh, thiếu phương tiện, họ đã phải chấp nhận cái mà chính lương tâm họ không chấp nhận. Bởi chính quyền bất lực trong việc cải tiến nền kinh tế khiến họ thiếu phương tiện, bởi chính quyền thiếu sót trong việc điều hòa tổ chức xã hội khiến họ thiếu thời giờ, những phụ nữ đã bị dồn vào thế phải hạn chế thiên mệnh sinh nở của họ… [Hiếu, sđd]
Đằng khác, tác giả nêu ra rất nhiều vấn đề cần giải quyết một cách chính danh và hợp lý. Quý độc giả có thể vào xem toàn bài tại link trên Thư Viện Nhật báo Người Việt:
https://issuu.com/nvthuvien/docs/bachkhoa-283?mode=window&viewMode=doublePag
Ngược lại, Thanh Tâm Tuyền tiếp tục tấn công phụ nữ, đặc biệt phụ nữ thành thị ở cùng phố với cô Loan, vì chàng xem ra rất cay đắng. Nếu tôi không lầm thì không những rất cay đắng mà còn rất lo sợ. Dù viết tràng giang đại hải, cuối cùng chàng vẫn thú nhận: “Ở Saigon này, chỉ là biểu thức của kế hoạch hóa tự do cá nhân. Ấy vậy thôi,…”
Đúng thế, Ấy vậy thôi, lo ngay đi là vừa. Trước đây, (có) chàng đi ăn cỗ cũng chỉ có ma mới biết, nên (có) chàng tránh né được búa rìu dư luận và lưỡi tầm sét của chính thất; cùng lúc tránh né được luôn trách nhiệm với các cô nhẹ dạ cả tin vào “cây gậy của thằng ăn mày”. Ấy là mượn chữ văn hoa của Ký giả BA-TÊ, chứ Hồ Xuân Hương đã chỉ đích danh cây gậy của thằng ăn mày bằng 1 câu nôm na Cọc nhổ đi rồi lỗ bỏ không sau khi Sở Khanh đã rẽ dây cương lối nào. Bây giờ hết thời Hồ Xuân Hương, nếu muốn, (các) nàng có cơ hội nhơn nhơn anh ăn chả phượng, em ăn nem công mà thường thì cỗ của (các) nàng phải linh đình hơn, toàn những đẹp trai, con nhà giàu, học giỏi, hỏi sao (có) chàng không cuống cuồng đến nỗi mất tự tin được. Thanh Tâm Tuyền tiếp tục nhân danh thứ thói tục không còn hợp thời, buộc phụ nữ chấp nhận tình trạng bất công, đồng thời tiếp tục chỉ trích phụ nữ thành thị về một vấn đề thuộc trách nhiệm của mọi người:
-Trước tiên nếu cứ bằng vào các sự kiện mục đích thì đây là vấn đề của đàn bà. Theo bản tin của báo chí thì cuộc hội thảo tại Y Khoa Đại Học Saigon hôm chủ nhật 22-9 vừa qua có cả thảy 132 người tham dự, trong số ấy có 77 đàn bà 55 đàn ông. Có bốn vị thuyết trình thì 3 vị là phụ nữ. Thật rành rành nhé,“đẻ hay không đẻ”. Đó là tất cả vấn đề của phụ nữ.” Cái anh đàn ông như cây “gậy của thằng ăn mày” xong thôi, chẳng mấy thắc mắc về cái “vụ ấy”. Chỉ riêng đàn bà là lãnh đủ. Mang nặng đẻ đau, chăn nuôi bú mớm, khổ cực trăm bề vì con cái. Đúng là khi vui… thì vỗ tay vào, đến khi hoạn nạn thì nào thấy ai. Chị đàn bà phải chịu thân “nô lệ” anh đàn ông chỉ vì cái mục “chửa đẻ” này thôi. Dám cam đoan trăm ăn một, là nếu bây giờ có phép mầu làm cho đàn bà khỏi chửa đẻ thì đàn bà sẽ nhất định không chối từ. Bởi đó là cơ hội “giải phóng toàn diện” cho phụ nữ khỏi gông cùm của tự nhiên đã bị bọn đàn ông lợi dụng để áp chế phụ nữ. Tuy nhiên vấn đề căn bản của đời người đàn bà “chửa hay không chửa” ở nước ta, mới chỉ có thiểu số các vị phụ nữ trí thức tân tiến ở thị thành giác ngộ được mà thôi còn đa số hãy còn mù quáng chịu “nô lệ đàn ông”. Vẫn theo bản của tin báo chí, không kể các vị thuyết trình—tự nhiên là trí thức rồi—trong số 77 vị phụ nữ khác tham dự theo phỏng viên ghi chú đa số là nữ sinh viên. Tất nhiên có vị sẽ bắt bẻ rằng tại hai thí điểm đặt vòng xoắn ngừa thai ở Thủ đô cũng có nhiều phụ nữ bình dân, lui tới. Con số phụ nữ “bình dân” tới các thí điểm này thật sự có thống kê, vả lại đã gọi là thí điểm như thế có nghĩa là chưa phổ thông: Trong khi ấy thì con số phụ nữ “không bình dân” ở đô thành chẳng cần đến các thí điểm ấy mà vẫn thừa hiểu về các phương pháp thật là đông. Như đã nói “chửa hay không chửa” là vấn đề căn bản của công cuộc giải phóng phụ nữ. Những “điều chế sinh sản” hoặc “kế hoạch hóa” gia đình chỉ là nói trại đi cho đẹp đấy thôi. Đối với một xã hội hậu tiến như xã hội ta, nghĩa là nền tảng nông nghiệp, thì cái quan niệm “cá sông đông chợ, lắm vợ nhiều con” được “định chế hóa” bằng thói tục có cái ý nghĩa kinh tế và xã hội của nó. Hơn nữa tử xuất của bọn con nít trong một nước hậu tiến chưa hề tiết giản được bao nhiêu. Nghèo đói lúc nào cũng cần người đỡ tay chân. Sức mấy mà những người Việt Nam thật Việt Nam dám nghĩ đến “điều chế sinh sản”. Còn bảo là kế hoạch hóa gia đình thì e rằng quá riễu (sic), “kế hoạch hóa gia đình” thể nào được trong một xã hội không kế hoạch gì ráo. Nếu cần chính danh thì nên gọi là “kế hoạch hóa” tự do cá nhân mới phải. Các vị phụ nữ cần tự do nên phải có kế hoạch cho sự tự do khỏi đưa đến trách nhiệm. Một lý do nữa cũng được viện dẫn đề bênh vực cho công cuộc “giải phóng” nữ giới dưới chiêu bài “kế hoạch hóa” gia đình là tình thương yêu và bổn phận giáo dục đối với con cái. Thế thì nên gọi luôn là “kế hoạch hóa” tình cảm và bổn phận để mưu cầu tự do cho rồi. Sợ rằng đẻ nhiều sẽ phân phát tình yêu không đồng đều, quả là một lý luận “đặc Tây”. Duy lý cực điểm. Chẳng có bà mẹ nào lại nghĩ đến như thế cả. Nếu có cảnh “con yêu con ghét” trong gia đình, ấy là vì nguyên nhân nào khác chớ không phải vì con cái quá đông. Và mối quan hệ giữa mẹ con, trong gia đình ít con, không ắt hẳn là sự thương mến gần gũi. Nhiều khi lại nhiễm luôn những bệnh dịch “Tây” như “complexed d’Oedipe” là khác nữa. Các vị chủ trương đẻ ít con để có đủ khả năng hoàn tất bổn phận giáo dục con cái, gián tiếp đã thú nhận cái khả năng làm tròn trách nhiệm của mình được bao nhiêu rồi. Mặt khác còn thú nhân luôn mình đã đánh mất cái truyền thống giáo dục trong gia đình là anh chị trông nom “các em”. Người ta nên mở cuộc điều tra xem các vị con một thường nên người như thế nào, nếu quả đúng là càng ít con thì giáo dục càng chu đáo. Kế hoạch hóa gia đình, nghĩa là “kế hoạch hóa” tình cảm và bổn phận. Ở Saigon này, chỉ là biểu thức của kế hoạch hóa tự do cá nhân. Ấy vậy thôi. Không hiểu một nhà xã hội học Tây phương nào đã phát kiến rằng: càng nghèo càng đẻ nhiều, càng đẻ nhiều càng nghèo đó là cái vòng lần quần. Đúng quá. Nhưng đẻ nhiều cũng còn nhiều cái lý của nó nữa. Không phải chỉ giản dị như lời một tu sĩ đã phát biểu trong cuộc hội thảo là “tất cả lạc thú nhân sinh của kẻ nghèo chỉ còn mỗi cái “vụ” kia thôi. “Chửa hay không chửa” hay vấn đề “giải phóng” phụ nữ, là vấn đề của một đời sống dư thừa trong một xã hội dư thừa và một nền văn minh “lộn mửa” với kiếp sống. [Thanh Tâm Tuyền, “ ‘Chửa hay không chửa’ that is the question!”, sđd, trang 129-134 – Ký giả BA-TÊ, Tạp Ghi, Nhật báo Tiền Tuyến, Số 1024, ngày 27.9.1968, trang 2, 8]
http://ndclnh-mytho-usa.org/KhoSachCu/Nhat%20Bao%20Tien%20Tuyen/TienTuyen_1024%2027SEP1968.pdf
Thanh Tâm Tuyền hay dùng chữ “thật” như đàn bà thật là đàn bà hay người Việt Nam thật Việt Nam, nhưng sự thật ở đâu trong kết luận của ông nếu ông là một người đàn ông thật đàn ông: “Vấn đề ‘giải phóng’ phụ nữ, là vấn đề của một đời sống dư thừa trong một xã hội dư thừa và một nền văn minh ‘lộn mửa’ với kiếp sống”?
Sự thật ở đâu khi quy kết quả (có con) một cách không quân tử, dù Tàu dù Ta dù Tây, hoàn toàn cho chỉ một phía phụ nữ để kết luận họ muốn tránh trách nhiệm theo lý luận “ ‘đẻ hay không đẻ’. Đó là tất cả vấn đề của phụ nữ”? Sự thật càng ở đâu khi đẩy trách nhiệm vào những đứa trẻ?! Nói thì văn hoa thế thôi chứ tôi có thể bảo đảm Thanh Tâm Tuyền đã phải nhìn thấy ít nhất một bé gái bế em bên hông (có khi chị chỉ cao hơn em nhỉnh một cái đầu), đứng nhìn các bạn nhẩy dây hoặc nhẩy lò cò. Hay một em trai cõng em, trông em giúp bố mẹ bán hàng. Sống không đủ ăn, không đủ thời giờ và phương tiện cho những …tiện nghi tinh thần thì lấy đâu phú quý sinh lễ nghĩa kiểu “cái truyền thống giáo dục trong gia đình là anh chị trông nom ‘các em’” như ông vẽ vời? Thật đáng khôi hài, chứ không kinh ngạc, khi ông phó mặc chuyện “trông nom” cả một thế hệ tương lai cho những đứa trẻ. Bởi thế, ai là “người đàn bà thật” và ai là “người Việt Nam thật”? Ông có lẽ không nhớ Việt Nam đã có một lịch sử với Phụ Nữ bảo vệ bờ cõi ngay trên trận tiền, từ những ngày lập quốc. Giáo sư Đại Học Y Khoa Sài Gòn/học giả Trần Ngọc Ninh có lần nhắn nhủ khi tôi tổ chức Diễn Đàn Phụ Nữ Khởi Hành:
– Lẽ ra phải nói “Giặc đến nhà đàn bà PHẢI đánh” mới đúng.
Giáo sư Trần Ngọc Ninh và Nguyễn Tà Cúc, Thư Ký Tòa Soạn
Diễn đàn Phụ Nữ Khởi Hành
Phòng Sinh Hoạt Nhật báo Người Việt, California, 2007
Dĩ nhiên, điều quan trọng ở đây, với Thanh Tâm Tuyền, không bao giờ là những vấn đề đó. Vấn đề ngay từ đầu và luôn luôn với ông là bóng ma Cô Loan, là vấn đề “giải phóng phụ nữ”, là “bình quyền”. Hơn thế nữa, sự bình quyền ấy từ nay sẽ được bảo vệ bằng pháp luật.
Bởi thế, như thường lệ, mỗi khi viết về một vấn đề nào, tôi muốn tìm lời giải đáp hay phương pháp giải quyết chung, nếu có. Trong trường hợp này, khi dẫn chứng cả Mặc Đỗ lẫn Thanh Tâm Tuyền (và người khác), tôi cũng muốn, nhân đó, hình dung phần nào bước tiến và khó khăn của Phụ Nữ trong hoàn cảnh Chiến tranh Việt Nam. Những phát biểu của Hiếu hay Thanh Tâm Tuyền giúp bức ảnh Miền Nam thêm nhiều chi tiết. Phản ứng và thắc mắc—từ phải chăng đến quá khích—của họ dù sao cũng toàn phần hay có phần nêu trên vị trí của một công dân hay một nghệ sĩ. Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa có bổn phận giải thích cho mọi công dân và đã giải thích những thắc mắc này tương đối đầy đủ qua một cuộc phỏng vấn với chủ đề “CHƯƠNG TRÌNH KẾ HOẠCH HOÁ GIA ĐÌNH TẠI VIỆT NAM” do Chương trình Người Dân Muốn Biết thực hiện rồi phát hình vào ngày 18.4.1971.
Ba nhân viên Y Tế được phỏng vấn là Bác Sĩ/Đại tá Cục Phó Cục Quân Y Trần Ngươn Phiêu- Tổng Trưởng Xã Hội, Bác sĩ Huỳnh Ánh Nguyệt-Chuyên Viên Sở Bảo Trợ Mẫu Nhi thuộc Bộ Y Tế và Bác sĩ Phạm Tu Chính- Giám đốc Bảo Sanh Viện Hùng Vương. Cuộc phỏng vấn này cũng đã được Việt Nam Thông Tấn Xã in lại trong Bộ Người Dân Muốn Biết, Tập II và phát hành vào năm 1972 dưới quyền chỉ huy của Đại Tá Trần Văn Lâm, Tổng Giám Đốc. Do đó, tôi kèm số trang để độc giả dễ theo dõi. Trước hết là một số giải đáp của Bác sĩ Huỳnh Ánh Nguyệt:
Người Dân Muốn Biết (NDMB): Muốn tham gia chương trình KHHGĐ phải có những điều kiện nào?
BS. Huỳnh Ánh Nguyệt: Nhằm mục đích bảo vệ sức khỏe của người mẹ và đứa con cũng như hạnh phúc gia đình, phụ nữ tham gia cũng phải có một số điều kiện. Thứ nhất là người đó phải có gia đình, chứng minh bằng tờ hôn thú hay giấy sống chung và sự ưng thuận của người chồng trong đơn xin. Thứ hai là phải có ít nhất bốn con và trên ba mươi tuổi, ngoài ra nếu có đông con, từ năm đứa trở lên thì điều kiện tuổi tác được miễn. Trong trường hợp bệnh tật mà việc mang thai sắp tới có nguy hại tới sức khỏe của người mẹ và đứa con, thì không cần điều kiện tuổi tác hay số con mà chỉ do sự quyết định của y sĩ là vì đó là một trường hợp có biểu thị y khoa. [sđd, trang 238]
NDMB: Theo Bác sĩ thì con số lý tưởng là bao nhiêu?
BS. Huỳnh Ánh Nguyệt: Cái đó còn tùy hoàn cảnh gia đình. Theo tôi, thì chừng hai hoặc ba. Nhưng số con không thành vấn đề mà cái khoảng cách giữa hai lần sanh rất có ảnh hưởng tới người mẹ và con. [S đd, trang 241]
Bác sĩ Trần Ngươn Phiêu làm chúng ta bất ngờ khi ông cho biết VNCH vẫn còn sử dụng luật của người …Pháp từ năm 1933! Bất ngờ hơn nữa, ông cũng nhắc tới khía cạnh nhân quyền khi đề cập tới quyền chọn sinh bao nhiêu con cái và khoảng cách giữa các lần sinh nở của phụ nữ:
NDMB: Kế Hoạch Hóa Gia Đình là gì?
Tổng Trưởng Xã Hội: Kế Hoạch Hóa Gia Đình là áp dụng những biện pháp hữu hiệu để giúp cho các gia đình có thể tự ý định đoạt được lúc nào nên sanh con. Như vậy, các bà mẹ có thể định được khoàng cách giữa hai lần sinh cũng như là có thể định được số con mà gia đình có thể nuôi dưỡng cách dễ dàng. Ngoài ra chương trình KHKGĐ còn có một khía cạnh khác là giúp những bà mẹ hiếm con có cơ hội để mang thai. [Sđd, trang 235]
NDMB: Thưa ông Tổng Trưởng, vì sao mà chương trình KHHGĐ chưa được phát triển?
Tổng Trưởng Xã Hội: Vấn đề khó khăn cho chương trình KHHGĐ hiện nay tại Việt Nam là một vấn đề pháp lý. Việt Nam nay đã thu hồi độc lập từ lâu nhưng chúng ta vẫn áp dụng những luật lệ do người Pháp để lại. Đặc biệt nhất là bên Pháp, có điều luật vào năm 1920 và được ban bố ở Việt Nam năm 1933, cấm việc tuyên truyền ngừa thai và sẽ bị phạt tù chứ không nói gì tới những dịch vụ ngừa thai. Cho đến nay vấn đề KHHGĐ tại Việt Nam chỉ có thể làm một cách giới hạn ở trong những thí điểm mà bác sĩ Chính vừa nói. [sđd, trang 236]
NDMB: Thưa Ông Tổng Trưởng, mấy năm vừa qua có vài dân biểu và nghị sĩ đã xuất ngoại đề nghiên cứu về vấn đề KHHGĐ tại các nước bạn. Những nghị sĩ, dân biểu này đã làm những gì để có một chương trình KHHGĐ tại Việt Nam?
Tổng Trưởng Xã Hội: Trong thời gian qua, mỗi lần chúng tôi đi quan sát hay tham dự những hội nghị thì trong chương trình của Bộ Y Tế hay bên Bộ Xã Hội chúng tôi vẫn mời các vị nghị sĩ và dân biểu đi quan sát những chương trình ở ngoại quốc. Riêng trong năm 1969, tôi được biết ở Ủy ban Y tế Hạ viện đã đưa ra một dự luật để thay đổi điều luật do người Pháp để lại. Chính bên Pháp người ta đã sửa đổi luật này từ lâu. Nhưng dự luật này chưa được xét tới. Sau này khi chúng tôi đi dự một hội nghị ở Đông Kinh với Nghị sĩ Trần Trung Dung, Nghị sĩ Trần Trung Dung cho biết là đã làm thêm một dự thảo luật để đựa ra thảo luận nhưng tới giờ phút này vẫn chưa thấy thảo luận. Riêng tôi, tôi thấy chương trình KHHGĐ giúp cho hạnh phúc gia đình để người đàn bà có sự tự do lựa chọn thời gian sanh con, khoảng cách cũng như số con. Tôi tin rằng giới phụ nữ rất mong đợi chương trình này. Tôi ước ao trong thời gian sắp tới, dự luật sẽ được đưa ra thảo luận và có nhiều hy vọng được chấp thuận. Tôi nghĩ rằng mùa bầu cử sắp tới và số nữ cử tri cũng là một số đáng kể thì quý vị dân biểu, nghị sĩ chắc cũng nghĩ tới vấn đề này. [Sđd, trang 237]
NDMB: Thưa Bác sĩ Tổng Trưởng Xã Hội, KHHGĐ tại Việt Nam trong tương lai sẽ như thế nào?
Tổng Trưởng Xã Hội: Vấn đề KHHGĐ là một vấn đề quan trọng. Ở đây tôi xin nêu ra một ý kiến đã được toàn thể thế giới chấp nhận và đã được Tổng Thư Kỷ LHQ phổ biến nhân ngày Quốc Tế Nhân Quyền 1966. Tất cả những quốc gia đã ký vào trong bản tuyên ngôn này đều nói rằng chúng tôi tin tưởng chính phủ chỉ có thể đạt được mục tiêu kinh tế và đáp ứng được mọi mong ước của nhân dân một khi vấn đề dân số được công nhận như một yếu tố cần thiết cho việc lập kế hoạch quốc gia. Ngoài ra, riêng ở Việt Nam, về phần chuẩn bị chuyên môn, Bộ Y Tế cũng như nhiều nơi khác đã chuẩn bị chu đáo về nhận viên y tế chuyên môn hay những cán bộ xã hội để có thể phổ biến chương trình này. Việt Nam cũng đã thành lập nhiều cơ sở, dụng cụ cũng như có dự trù ngân khoản.Trở ngại chính ở Việt Nam là luật lệ lỗi thời năm 1920 của người Pháp để lại. Nếu ở Việt Nam sang (sic) bằng được vấn đề pháp lý đó thì chương trình KHHGĐ có thể xúc tiến một cách mạnh mẽ và tôi thấy rằng đó là một việc rất cần ích. Tôi cũng xin đọc tiếp lời tuyên ngôn của những nhà lãnh đạo quốc gia ở LHQ và vấn đề này. Trong bản tuyên ngôn đó có một câu hết sức quan trọng là sự tự ý lựa chọn thế nào để ấn định số con cũng như khoảng cách giữa các lần sinh sản là một quyền tự do căn bản của con người được LHQ công nhận. [Sđd, trang 242]
Theo bác sĩ Phạm Tu Chính, phòng Kế Hoạch Hóa Gia Đình tại Bảo sanh viện Hùng Vương được thiết lập từ tháng giêng năm 1968 và “là Trung tâm đầu tiên của Bộ Y Tế trong số 16 Trung tâm hiện nay. Phòng có một nữ bác sĩ và hai nữ hộ sinh phụ trách…” [Sđd, trang 240]. Như vậy, vào những năm cuối của Việt Nam Cộng Hòa, chính phủ đã xúc tiến kế hoạch nhắm giúp đỡ phụ nữ và người chồng quyết định. Theo các phát biểu trong cuộc phỏng vấn thì kế hoạch ấy vẫn còn trong vòng phôi thai và chưa phát triển rộng lớn.
Sau khi đọc 4 bài của Thanh Tâm Tuyền (Ký giả BA-TÊ) trên Tiền Tuyến, bài của Hiếu trên Bách Khoa và cuộc phỏng vấn Bác sĩ Trần Ngươn Phiêu, Bác Sỹ Huỳnh Ánh Nguyệt và Bác sĩ Phạm Tu Chính, tôi có nhận xét sau đây. Trước hết, tôi rất thích thái độ của Hiếu dù có chỗ không đồng ý. Sự chân thành và tin tức do ông cung cấp nhắm góp ý lộ rõ trong bài viết. Thế nên, đến khoảng 3 năm sau, Bộ Xã Hội mới có giải thích bằng phương tiện đại chúng giúp người dân hiểu rõ hơn, kể cũng hơi chậm.
Nhưng quả đáng tiếc khi tôi không thể cũng nghĩ như vậy về Thanh Tâm Tuyền. Những giải đáp của giới chuyên môn nêu trên đã cho thấy sức khỏe của Phụ Nữ, cùng một kế hoạch nhắm sửa soạn tài chính để có một gia đình hạnh phúc qua số con cái được định trước hầu cải tiến xã hội, không chỉ dành riêng hay chỉ làm lợi cho giới Phụ Nữ. Tổng Trưởng Xã Hội Trần Ngươn Phiêu cũng là đàn ông, nhưng sự quan tâm tới Phụ Nữ trong chính sách cũng như phát biểu vô hình trung đã chứng minh vấn đề này không của đàn bà. Nói một cách khác, họ cung cấp những chi tiết chuyên môn giúp đối chiếu một cách công bằng với phát biểu của Thanh Tâm Tuyền. Theo tôi, ông có thành kiến với giới phụ nữ thành thị chỉ vì giới này có học nên dễ tiếp nhận kiến thức mới hay tiến bộ từ Phương Tây. Họ sẽ, không chỉ bổ sung kiến thức mới vào gia tài Việt Nam, mà còn cập nhật hóa những tiến bộ đó bằng luật pháp hầu bảo vệ gia tài được thừa hưởng. Tựu chung, ông muốn cản trở tiến bộ của nữ giới bằng thứ quan điểm quá lạc hậu. Thật ra, nếu chỉ lạc hậu cũng cần được thông cảm. Chúng ta không thể đứng an toàn tại thời điểm của chúng ta với quá nhiều phương tiện và kiến thức mới hơn rồi ung dung chỉ trích nhân sự thuộc quá khứ một cách khắc nghiệt. Tuy thế, điều làm tôi hết sức tiếc là nỗi lãnh đạm của một người đàn ông khi cực lực bảo vệ quyền lợi riêng mình với thứ lý luận chuyên chở bằng ngôn ngữ không đẹp dành cho Phụ Nữ.
Ở mấy phương diện nêu trên, Mặc Đỗ rất khác. Chỉ cần đọc lại câu này cũng đủ thấy ông đã đi trước một cách thiết thực:
-Muốn giải phóng tinh thần phụ nữ, ta thấy ngay rằng việc đầu tiên phải làm đặt lại địa vị của phụ nữ trong một quy chế cấp tiến và công bằng hơn. Đã có một khả năng pháp lý khả quan, hoạt động kinh tế của chị em nông dân sẽ có một ý nghĩa phấn khởi và khi đó, câu chuyện tự lập mới có lý do thực hiện.
Tôi còn có cảm tưởng một số nhà văn thuộc thế hệ trước như Mặc Đỗ hay Nhất Linh, Khái Hưng luôn có mối thương cảm với phụ nữ vì đã được chứng kiến tận mắt. Họ biểu lộ được mối thương cảm ấy phần nào qua sáng tác hay phát biểu; một thứ cách mạng chống lại lề thói đàn áp phụ nữ vào thời họ sống. Ngoài vấn đề (kỳ thị) Phụ Nữ, Mặc Đỗ còn quan tâm đến những bất công khác. Phần trích dẫn sau đây cho thấy ông vẫn tiếp tục theo đuổi sáng tác hay dịch thuật, vẫn đồng hành với thời gian và nơi chốn sinh sống. Tôi chọn một đề tài mà ông chỉ phải đối diện sau khi định cư tại Hoa Kỳ: Vấn đề kỳ thị Màu Da.
8. 4 Tình yêu không biên giới- Đúng rồi, nhưng nó có thể trắng được không?…
Tháng 8, năm 2003, Mặc Đỗ gửi cho Khởi Hành một đoạn dịch từ truyện trinh thám Fat Ollie’s Book /Tác phẩm sắp xuất bản của thám tử Mập Ollie. Fat Ollie’s Book thuộc loạt 87th Precint/Bót Cảnh sát Đường số 87 của Ed McBain, tác giả chuyên về truyện trinh thám dựa trên hoạt động của cảnh sát. Truyện này gồm có cả diễn tiến mối tình giữa bác sĩ giải phẫu/da đen/Phó Giám Đốc/trực thuộc Ty Cảnh Sát/ Sharyn Everard Cooke và cảnh sát thám tử (“detective”)/ da trắng/ Cấp 3/ Bertram Alexander Kling trong bối cảnh những vụ án thuộc phần điều tra của Bót Cảnh sát Đường số 87. Bà thân mẫu bác sĩ Cooke làm nghề lau chùi cho bất kỳ ai mướn, da đen hay da trắng, hầu nuôi và giúp con gái học tới đại học rồi Y khoa. Mặc Đỗ giải thích lý do đã chọn dịch “một phần của Chương 6” như sau:
-Đoạn văn dưới đây là một phần của Chương 6 trong truyện trinh thám Fat Ollie’s Book, tác giả Ed McBain. Ý nghĩa của đoạn văn có thể tách ra ngoài nội dung truyện và đứng vững thành một truyện ngắn tự nó gợi được nhiều suy ngẫm nơi độc giả. [Mặc Đỗ dịch Ed McBain, “Yêu thương nhau”, Khởi Hành-Chủ đề Dịch thuật Số 84, trang 10, tháng 10.2003]
Tôi rất tiếc không thể trích dẫn hết đoạn dịch thuật của Mặc Đỗ trên Khởi Hành, nhưng phần ngắn ngủi sau đây vẫn cho thấy ông đã chọn một đoạn biểu tỏ, thứ nhất, sự kỳ thị màu da tại Hoa Kỳ và thứ hai, tình yêu vượt lên màu da, giai cấp, tập tục lề thói trong xã hội:
– […]Trước hết, so với chàng, Sharyn cao xa hẳn, đích thị như thế và bỏ qua chuyện chính trị đúng. Đó là một trong những điều Sharyn để bụng khi gần gũi thân mật với chàng. Sharyn có thể nói: “Em cao xa hơn đó’, và chàng rất có thể mượn cái giọng ngọt nhạt giống Sammy Davis, Jr. để đáp lại ‘Nàng ớt ngọt ơi, thử nhắc lại nữa đi’, và nàng rất có thể cả cười thấy chàng muốn gợi chuyện kỳ thị nhưng không lấy làm giận, kiểu phụ nữ đen ở Mỹ, nhất là một phụ nữ đen muốn trở thành bác sĩ, đôi khi cũng muốn nổi tam bành. Thêm nữa, Sharyn thật sự cao xa hơn hẳn chàng bởi lẽ Sharyn là Phụ tá Trưởng lương mỗi năm sáu mươi tám ngàn, còn chàng chỉ là một Thám tử Cấp Ba lương thấp xa tít nhiều bực, một điều nàng thường phải nhắc mỗi khi chàng cứ đòi giằng lấy mảnh giấy tính tiền ở tiệm ăn (…)
Có lần Kling hỏi: ‘Nghe nói với đàn ông đen lạ lắm thì phải?’ Nàng hỏi lại: ‘Sao? Tự cảm thấy kém chăng?’
-Tò mò thôi.
-Có nghe chuyện cười đó chưa?
-Chuyện gì?
-Một chàng bị mất cu trong một tai nạn xe hơi, chàng tìm đến một bác sĩ mổ được khoe có thể ráp một cu mới.
-Thế ha?
-Anh chàng hỏi: ‘Hay quá nhưng liệu tôi có thể biết trước nó thế nào không?’ Bác sĩ đáp: ‘Sẽ cho xem vải con làm kiểu‘ rồi vô phòng trong đưa ra một cu dài sáu in cho anh chàng xem. Hắn đáp: ‘À, nếu có được con khác, tôi ước ao…’ Bác sĩ đưa cao hai cánh tay, nói: ‘Được‘. Rồi trở vô trong đem ra con khác dài tám in. Anh chàng nói: ‘Thú thật tôi ao ước thứ có uy tín hơn.’ Bác sĩ lại vô trong đem ra một con dài mười hai in. Anh chàng la: ‘Đúng rồi, nhưng nó có thể trắng được không?’
King phá lên cười. Sharyn hỏi: ‘Chàng ớt ngọt ơi, thế đã đủ trả lời chàng chưa?’ Tình thân vượt quá chuyện đen trắng. Tình thân căn cứ trên nhận định sống chung với người khác đòi hỏi luôn luôn đỡ đần săn sóc. Tình thân đòi hỏi hoàn toàn chân thật và tuyệt đối tin nhau. Tình thân có nghĩa là không bao giờ sợ lộ con người mình với một người khác, cho người khác thấy rõ cơ thể với mọi vết tích, không ngại bị cười hay chê… [Sđd, trang 13-14]
* Chú thích của Nguyễn Tà Cúc: in mà Mặc Đỗ dùng trong bài là đơn vị đo lường inch với biểu tượng “in” của Anh và Hoa Kỳ. Một inch bằng 2.54 cm. Như vậy 12 in bằng 30cm.48- (1)]
Thêm vào đó, thư từ của ông bàn về sự tiến bộ (hay không) của phụ nữ, những ghi chú về hoàn cảnh sáng tác và thời gian sáng tác sẽ giúp người nghiên cứu hiểu rõ hơn về thời đại lúc đó. Truyện dịch này tiêu biểu cho phần không bao giờ ngừng viết và thuộc về phần chưa hay không bao giờ xuất bản của ông.
8.5 “Nếu đúng tầm nhiệm vụ/ Chẳng ai nhìn người nữ người nam /Kết quả phá thành kiến” (Mặc Đỗ, “haiku số 437”)
Tôi muốn dùng 4 câu haiku — kiểu Mặc Đỗ để chấm dứt bài này:
Nếu đúng tầm nhiệm vụ
Chẳng ai nhìn người nữ người nam
Kết quả phá thành kiến
Tôi đã trình bày về phần nghiên cứu hoặc dịch thuật liên quan đến vấn đề Phụ Nữ và Màu Da của Mặc Đỗ. Tôi cũng đối chiếu trường hợp Mặc Đỗ với trường hợp Thanh Tâm Tuyền nhắm cho thấy, nhiều vấn đề, như vấn đề kỳ thị, sẽ khó biến mất dù chúng ta đã và sẽ cố gắng cải thiện. Nhưng cố gắng vẫn là việc của chúng ta, như bao người, nam và nữ, đã hợp tác để cố gắng trước đây. Trong tinh thần hợp tác ấy, tôi sẽ dừng loạt Từ Một Góc California một kỳ hầu có bài ngắn tưởng niệm nhà thơ Viên Linh. Ông là người bạn đồng hành chủ trương và thực hiện tạp chí Khởi Hành hơn 20 năm tại Hoa Kỳ. Ông cũng là người cùng tôi trải qua thời kỳ khủng hoảng của Trung Tâm Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại trong khoảng 1995-1998. Cuộc đời Thơ -Văn-Làm Báo Văn Học của Viên Linh rất rộng và cần nhiều nghiên cứu mới mong trình bày hết được.
Khởi Hành cũng cho thấy, nếu thực hiện đúng tầm nhiệm vụ, một phụ nữ có thể phá thành kiến nếu đạt nhiều kết quả nên chứng minh được phụ nữ có thể đảm nhận các trọng trách, dù đương nhiên, vẫn muôn đời có kẻ muốn …kỳ thị! Thế nên, với tôi, mỗi lần viết về các người bạn vong niên như Mặc Đỗ, Duy Thanh, Văn Quang, Tô Thùy Yên, Viên Linh… hoặc những người không dám gọi là bạn nhưng đã giúp tôi học hỏi như nhà thơ Nguyễn Sỹ Tế, nhà thơ Trần Hồng Châu, học giả Trần Ngọc Ninh… là thêm một lần sống lại sự tin cậy- không kỳ thị được trao tặng.
Tôi viết xong bài này vào đúng ngày 30 Tháng 4 Năm 2024, tưởng niệm 49 năm Việt Nam Cộng Hòa thất thủ. Nhưng cũng qua bài này, tôi đã chứng minh được quốc gia không còn tên ấy đã sản xuất và tiếp tục sản xuất những đàn ông và đàn bà tiếp tục phụng sự, không chỉ cho văn chương, mà cho nhân quần xã hội, dù đã mất đất đứng quen thuộc ở quê nhà ngày nào.
Nguyễn Tà Cúc
30 tháng tư, 2024
***
Chú Thích:
1-Mặc Đỗ dịch Chương 6, Fat Ollie’s Book, một cách tuyệt vời vì ông có một giọng văn riêng. Tuy vậy, tôi muốn thử thay lại vài chữ ám chỉ sự kỳ thị người da đen. Thí dụ như watermelon accent/giọng “dưa hấu” [của người da đen- https://thesocietypages.org/socimages/2012/12/26/slavery-and-the-watermelon/
và spade/lá bài Át Bích https://www.npr.org/sections/codeswitch/2013/09/19/224183763/is-it-racist-to-call-a-spade-a-spade .
Tôi xin cảm ơn dịch giả Đinh Từ Bích Thúy đã lưu ý về chữ spade. Theo mạch văn và trong trường hợp này, chữ spade quả có nghĩa là lá bài Át Bích và no pun intended có thể dịch là không chơi chữ như Đinh Từ Bích Thúy đã cho phép tôi sử dụng.
Ngoài ra, cũng có vài chữ có giọng địa phương Miền Nam trong các đoạn đối thoại của Sharyn và Bert như:
-“You can say that again, honey chile…” (trang 94, sđd)
-“Do that answer yo question, honey chile?” (trang 98, sđd)
“Honey chile” có nghĩa là “honey child/con yêu quý”, hay thông dụng hơn “người thương, người yêu”.
Tôi xin mạn phép dịch lại vài chỗ ấy:
-[…] Để khởi đầu, địa vị của nàng (trong xã hội) vượt xa chàng hàng chục con Át Bích, khỏi cần chơi chữ, cóc cần đến thứ quy tắc chính trị phải đạo. Đó là một trong những điều nàng muốn nói về mối tình ái sâu kín giữa hai người. Nàng có thể tình cờ nói “Thêm vào đó, cấp bậc của em cao hơn anh nhiều”, để chàng có thể nhại dài cái giọng “dưa hấu” của Sammy Davis, Jr. : “Em cứ có thể lập đi lập lại vụ cấp bậc cao hơn, cô em mật ngọt của anh ơi!”, và nàng có thể cười trước sự ám chỉ của chàng về chuyện kỳ thị chủng tộc, nhưng không khiến nàng nổi xung, cái kiểu nổi xung của một phụ nữ da đen ở đất Mỹ – nhất là một phụ nữ da đen đã muốn trở thành bác sĩ –đôi khi dễ nổi tam bành như vậy ở đất Mỹ. Và ngoài ra, cấp bậc của nàng thực sư đã vượt xa chàng, nghĩa là nàng giữ chức Phó Giám đốc lãnh 68 ngàn một năm, còn chàng chỉ là một tay thám tử (quèn) Cấp 3, lương thua xa nàng quá mức, một điều nàng thường phải nhắc mỗi lần chàng nằng nặc đòi thanh toán hóa đơn trả tiền tiệm ăn …/
To begin with, she outranked him in spades, no pun intended, and political correctness be damned. That was one of the things she meant about being intimate with him. She could happen to say, “Besides, I outrank you in spades,” and he could put on a big Sammy Davis, Jr. watermelon accent and answer, “You can say that again, honey chile,” and she could laugh at the racial allusion and not get angry, the way a black woman in America—especially a black woman who wanted to become a doctor—could sometimes get very damned angry in America. And besides, she did outrank him in spades, which meant that she was a Deputy Chief who earned sixty-eight grand a year, and he was but a Detective/Third Grade who earned a whole hell of a lot less than that, a fact she had to remind him of every time he insisted on picking up a restaurant check ….[Ed McBain, Fat Ollie’s Book, trang 94]
Phụ Lục:
BÁNH XE LỊCH SỬ QUAY KHÔNG NGỪNG
Mặc Đỗ
Mặc Đỗ, “Bánh xe lịch sử quay không ngừng”, trang 3
Khoảng cuối những năm 70, Texas, Hoa Kỳ
1.
Nhớ lại hồi 1945 để thổi phồng Cách mạng thành công tuyên truyền cộng sản nắm khư khư lấy một điểm tựa, đó là dữ kiện bánh xe lịch sử đang quay tới lúc thuận lợi cho phong trào giải phóng dân tộc. Trong luận điệu của những người mácxít hỉnh ảnh bánh xe lịch sử đang quay còn hàm hậu ý nhắc tất yếu và quyết định tới một đổi thay lớn. Ngay từ hồi đó những người học sử đều ghi nhận chiều hướng đang đi của thế giới. Nhưng có một điểm đặc biệt trong luận điệu giải thích lịch sử của những người mácxít: họ muốn mọi người tin rằng xã hội chủ nghĩa là cái đích tận cùng, trong khi những người khác nghĩ rằng cái vòng lịch sử sắp tới chỉ đánh dấu một giai đoạn trên con đường chuyển đổi vô cùng. Cho tới nay, với bao nhiêu biến cố đã xảy ra trong nội tình phe xã hội chủ nghĩa cũng như trên thế giới, sự trạng những người mác-xít muốn chính trị hóa lịch sử vẫn phô diễn nguyên vẹn trong quan điểm lầm lạc cố hữu.
Cái lầm của những người mácxít đáng được đề cập tới bởi lẽ thiên kiến của họ không những được biểu tỏ trên lý thuyết mà luôn luôn trong hành động với một mức độ kiêu căng bất chấp lẽ phải, bất chấp thực tế chỉnh ình trước mắt. Gạn lọc đến cùng tột học thuyết của Mác có thể thu gọn trong một câu ngắn: con người là chính, tài sản là phụ. Đứng ra thực hiện cái mộng (rất đẹp) của Mác, Lênin đã biến chủ trương giai cấp đấu tranh thành một công cụ ghê gớm, ghê gớm đến nỗi từ Lênin cho tới những người kế nghiệp bây giờ ở mọi cấp quyền hành hết thảy đều say mê công cụ nằm trong tay, kết quả tạo nên một giai cấp mới. Hình dung từ “mới” mà những người cộng sản ưa dùng thật đắt hết sức trong danh từ “giai cấp mới” của lý thuyết gia mác-xít bất đắc chí người Nam Tư.
2.
Thật vậy, bao nhiêu xây dựng của những đồ đệ Mác-Lê ở Nga và khắp nơi khác tử hơn nửa thế kỷ nay trong những điều kiện ngày một thuận lợi hơn cũng chỉ tạo được những xã hội tiêu thụ thiếu thốn. Tài sản không còn ở trong tay tư nhân nữa, nhưng Nhà Nước của những quốc gia xã hội chủ nghĩa đã thâu tóm hết tải sản đem đặt trong tay thao túng của nhóm người quyền hành, những chủ nhân mới. Biết bao nhiêu chứng nhân và quan sát viên đã ghi nhận, biết bao nhiêu tài liệu đã chứng tỏ con người ở trong vòng quyền lực cộng sản vẫn tiếp tục phải ra sức phục vụ tải sản. Mộng đẹp của Mác đã biến mất hẳn trong con mắt những người cầm quyền cộng sản bây giờ. Tệ hơn nữa, hình ảnh những xã hội tiêu thụ trù phù nhất ở Tây phương mới là cái đích thiết tha mong đợi của họ. Nói chuyện xa xôi có thể bị cho là viển vông, gần gận nhất là những gì đã xảy ra trên đất VN trong năm qua cũng đủ chứng tỏ sự thu hút mạnh đến như thế nào, có thật đến độ nào, của những sản phẩm và tiện nghi mà/xã hội tiêu thụ bé nhỏ và chậm tiến ở miền Nam đã bày ra trước mắt những chủ nhân mới từ Hànội mới vào. Nhà nước vơ vét những thứ lớn (trang bị kỹ nghệ, dụng cụ bịnh viện…) đem về tô điểm thêm cho những xây dựng vất vả trong bao năm tại miền Bắc. Tư nhân cũng ra sức vơ vét đem về bù vào sự thiếu thốn mà mọi người bị buộc phải chịu dưới chế độ giai cấp mới. Theo những tin từ miền Nam, đáp ứng tình trạng các anh bộ đội và cán bộ miền Bắc ăn lương như Mỹ hồi nào (so với dân miền Nam lao động tốt được 30 đồng lương thì cán bộ và bộ đội ăn lương những 100 đồng) và háo hức mua sắm, đồng bảo miền Nam có bao nhiêu tài vật đáng giá đều đưa ra vỉa hè bán lấy tiền sống. Phong trào vét sản phẩm tiêu thụ từ miền Nam đưa về Bắc lớn mạnh đến độ sau đó nhà cầm quyền cộng sản đã phải có biện pháp hạn chế. Câu viết trong thư của một đồng bảo miền Nam, “bây giờ nhà tôi chỉ còn trơ cái sác (sic) không’, đủ nói lên sự chiếu cố đã nồng thắm đến như thế nào.
Kết quả tốt đẹp nhất của xã hội chủ nghĩa nếu chỉ là một xã hội tiêu thụ trù phú với một giai cấp thống trị cứ tạm cho là xứng đáng hơn đi thì Mác đâu có thể nằm yên dưới mộ được, vỉ lẽ đơn giản con người đâu đã thay được địa vị của tài sản. Xã hội tư bản với xã hội cộng sản xét cho cùng vẫn chỉ là một, nếu đứng ở cạnh khía nhân bản.
3.
Nhận định như vậy không bắt nghĩ rằng bánh xe lịch sử chỉ là cái vòng luẩn quẩn. Tối đại đa số con người còn thiển cận, nhưng trên dòng thời gian nhân loại quả thật có tiến bộ. Bài học mà chúng ta có thể rút ra được qua kinh nghiệm xã hội chủ nghĩa cho phép nghĩ rằng chính trị không giải quyết được gỉ cho nhân loại. Tác dụng của chính trị chỉ nhắm những giải quyết nhất thời và cục bộ. Bảo rằng giải quyết chưa phải là đúng, vỉ giải quyết nào cũng gây hậu quả mới, đưa tới những vấn đề mới phải giải quyết nữa.
Nhìn ngược lại lịch sử nhân loại, cho tới nay chưa có một sáng kiến, một cố gắng nào xứng đáng là mũi tên chỉ nẻo hạnh phúc thật sự, vì sớm muộn học thuyết nào xem ra tốt đẹp nhất liền bị chính trị nắm lấy dùng làm lợi khí. Tôn giáo, khoa học đều trở thành công cụ chính trị. Con người Prométhée hiện đã nắm được phương tiện định đoạt vận mạng tập thể của con người, đây mới đích thật giai đoạn bánh xe lịch sự sắp chuyển một vòng lớn. Đây là lúc con người thật sự ý thức được thân phận của mình. Từ trước ý thức đã nhiều phen có nhưng thu hẹp nơi một người, một số nhỏ người, bây giờ khác ở điểm từng đám đông lớn, đại đa số nhân loại cùng ý thức, và ý thức được bao quát tràn ra ngoài những điều kiện hạn định. Đáng chú ý hơn nữa là ở khắp nơi tuổi trẻ tỏ ra ý thức trước hết.
Những người tuổi trẻ không quan tâm mấy tới màu sắc chính trị. Vấn đề của tuổi trẻ ở khắp nơi là tìm đâu thấy ý nghĩa của sự hiện hữu của họ. Đã biết bao nhiêu thế hệ tuổi trẻ ở nơi này hay nơi khác được kêu gọi hi sinh, nhưng những người rút cuộc tuổi trẻ vẫn không tìm thấy cái ý nghĩa đang tìm kiếm. Bấy lâu tả phái trên thế giới vẫn giành lấy chỗ đứng ở phía hướng về tiến bộ. Tiến bộ thật hay giả chính họ đã phải nhận thấy.-
*
Nguyễn Tà Cúc đánh máy lại từ nguyên bản (khoảng cuối những năm 70) của Mặc Đỗ. Bài này đã đăng lại trên Khởi Hành-Hoa Kỳ (Chủ nhiệm & Chủ bút Viên Linh và Thư Ký Tòa soạn Nguyễn Tà Cúc), Chủ đề 35 năm 30.4.1975, Số 162, trang 9-10, tháng 4.2010.
Tác phẩm, tác giả
và thời gian
Ngoài giá trị tự tại văn chương nghệ thuật của tác phẩm, đôi khi người đời sau cũng xét một tác phẩm dưới khía cạnh khác, như khía cạnh đạo lý hay pháp lý. Điều này khá tế nhị. Chúng cũng còn tùy vào mức độ và thời gian tính cũng như không gian hiện tại. Nhưng mà, có những quy tắc gần như giống nhau dù ở bất cứ thời đại hay không gian nào.
Chẳng phải Ngô mà chẳng phải ta
Đầu thì trọc lốc áo không tà
Oản dâng trước mặt dăm ba phẩm
Vãi nấp sau lưng sáu bảy bà
Khi cảnh khi tiu khi chũm choẹ
Giọng hì giọng hỉ giọng hi ha
Tu lâu có nhẽ lên sư cụ
Ngất nghểu toà sen nọ đó mà
(Vịnh Ông Sư, thơ của HXH)
Hai câu đầu có thể vi phạm về kỳ thị quốc gia và tín ngưỡng. Hai câu sau có thể vi phạm đạo lý nói chung. Tuy nhiên bài thơ vẫn được xem là bài thơ Nôm rất hay. Hai câu chót hay tuyệt. Phải có một tinh thần Thiền tự do phóng khoáng
và vô ngại phá chấp thì mới làm thơ được như vậy.
Tuy vậy, có những văn bản khó thể duy trì vì sự vi phạm đạo lý hay pháp lý :
Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng
Chém cha cái kiếp lấy chồng chung
Năm khi mười hoạ hay chăng chớ
Một tháng đôi lần có cũng không
(HXH)
Dựng súng trường cởi nón sắt
Đơn vị dừng quân trọn buổi chiều
Trọn buổi chiều ta nhậu nhẹt
Mồi chẳng bao nhiêu rượu rất nhiều
(Tô Thùy Yên)
Ta vốn hiền khô ta là lính cậu
Đi hành quân rượu đế vẫn mang theo
Mang trong đầu những ý nghĩ trong veo
Xem cuộc chiến như tai trời ách nước
(Nguyễn Bắc Sơn)
Thời nào thì lấy chồng chung cũng đều là sự bất hạnh. Thời nào thì lính tráng uống rượu giữa sa trường thì vẫn bị xem là vô kỷ luật. Cho dù Nguyễn Trãi điều quân hay tướng Ngô Quang Trưởng chỉ huy cũng đều nghiêm trị sự vô kỷ luật đó. Từ đó, theo tôi, tự thân của tác phẩm cũng đã bị giảm giá trị.
Kính chào nhà phê bình Nguyễn Tà Cúc,
Trong bài của chị, có đoạn “Thiệt hên cho ký giả BA-TÊ: hình như chưa thấy diễn đàn văn nghệ hay văn chương nào có sáng kiến làm … chủ đề cho chàng.” Do chúng ta được biết, qua sự chứng minh rất rõ ràng của chị trong bài: Thanh Tâm Tuyền và ký giả Ba Tê là một. Nhưng về “sáng kiến làm chủ đề ‘cho chàng'” thì đã có một số tạp chí văn học làm chủ đề về nhà thơ, trước 1975 cũng như trong giai đoạn sau khi ông qua đời vào mùa xuân 2006. Thí dụ,Tạp chí Văn đã ra hai chủ đề Thanh Tâm Tuyền — là Giai Phẩm Văn tháng 10 năm 1973, và Văn (bộ mới) số 113 & 114 (tháng 5 & 6, 2006), Tạp chí Văn học số 231 (tháng 5 & 6, 2006), và Thế kỷ 21 số 204 (tháng Tư, 2006). Vậy có nên sửa câu trên lại như sau, để rõ nghĩa hơn, “Thiệt hên cho ký giả BA-TÊ: hình như chưa thấy diễn đàn văn nghệ hay văn chương nào, khi làm chủ đề cho chàng, đã lên tiếng chất vấn về thái độ đối với phụ nữ của chàng cho mục Tạp ghi ….”?
Có thể những phát biểu không tôn trọng phụ nữ của Ký giả BA TÊ / Thanh Tâm Tuyền trên mục Tạp ghi sẽ làm các nhà phê bình và một số độc giả của ông bị sốc. Nhưng tôi thấy nỗ lực nghiên cứu của nhà phê bình Nguyễn Tà Cúc đã phác họa cho chúng ta một chân dung khá toàn diện, cho dù phức tạp, về Thanh Tâm Tuyền — ông xứng đáng được tôn vinh là một nhà thơ lớn của miền Nam, và tôi cũng nằm trong số “fan” đông đảo của ông, đã dịch thơ của ông sang Anh ngữ, và cũng sẽ tiếp tục phân tích và dịch những tác phẩm khác của ông.
Tuy nhiên Thanh Tâm Tuyền không phải là thánh mà là một người đàn ông, bị ảnh hưởng bởi thời thế và thành kiến về giới tính. Sự ái mộ không suy chuyển của tôi đối với những kiệt tác của ông như Bếp Lửa (với khái niệm đúng nghĩa cách mạng về gia đình và quê quán vượt ra ngoài liên hệ máu mủ, tôn giáo, và chính trị!), Dọc Đường, và Một Chủ Nhật Khác, cũng không hẳn là mâu thuẫn cho dù tôi không thể chấp nhận thái độ khinh phụ nữ của ông qua những bài viết cho Mục Tạp ghi trên báo Tiền Tuyến, và đó cũng là một khuynh hướng về phê bình văn học mà tôi muốn duy trì — là sự công bằng và tự do ngôn luận dựa trên nghiên cứu khoa học và lập luận khách quan khi đánh giá từng tác phẩm văn học của một nhà văn, vì nếu không có những yếu tố trên chúng ta sẽ biến môi trường phê bình văn học thành một truyền thống áo thụng vái nhau hoặc chỉ là một hình thức kiểm duyệt hoặc tảng lờ những ý kiến trái biệt trong cùng một con người.
Giai Phẩm Văn (với chuyên đề Thanh Tâm Tuyền ra tháng 10 năm 1973) ghi năm 1956 là năm Thanh Tâm Tuyền hoàn tất vở kịch Ba Chị Em [năm ra mắt của vở kịch này không được thống nhất qua những tài liệu đã xuất bản về Thanh Tâm Tuyền, được ghi là 1957 (Võ Phiến), 1965 (Đặng Tiến), và 1967 (Thụy Khuê và Nguyễn Vy Khanh)]. Qua “trích văn” trên Giai phẩm Văn, thì đây có vẻ là một pastiche pha trộn Truyện Kiều của Nguyễn Du, kịch Three Sisters của Chekhov, và kịch King Lear của Shakespeare. Vở kịch này, theo nhà văn Võ Phiến, đã “đẩy vấn đề đến chỗ gay cấn tột cùng” (!) Tôi không hiểu “vấn đề” ở đây là vấn đề gì vì Võ Phiến không viết rõ mà chỉ khen rất mơ hồ, rằng Thanh Tâm Tuyền “đầy suy tưởng” và “rắn rỏi,” nhưng “trích văn” từ vở kịch mang luận đề lộ liễu với những nhân vật phụ nữ cứng và dẹp như các-tông đã làm tôi bực bội.
Ba chị em cùng mẹ khác cha là Thu, Hương, Nguyệt tượng trưng cho ba miền — Thu là miền Bắc, với “màu đỏ ở trong miệng”, Hương là miền Trung, bác ái nhưng quyết liệt, gần như cực đoan, Nguyệt là miền Nam — ngạo mạn, cynique, với cách hành xử giống người mẹ đĩ thõa (tượng trưng cho Việt Nam) đã quá vãng. Cả ba là những nhân vật phụ nữ bị một tác giả đàn ông bắt vào khuôn khổ bế tắc dẫn đến sự t(h)iêu hủy ở đoạn kết. Qua vở kịch này, có lẽ gần như những phát biểu … coi thường độc giả ở mục Tạp ghi, Thanh Tâm Tuyền không tận dụng tài nguyên sáng tạo của ông mà đã dựa vào sự thuận tiện, hay tự đắc (?), khi dùng thân phận phụ nữ và những ẩn dụ khá nhàm về sự lang chạ, phản bội, bị chiếm đoạt hoặc ruồng bỏ — chỉ để khai thác những trăn trở chính trị của ông. Khía cạnh “chính trị” của những trăn trở này không nâng cao nội dung của vở kịch, vì hình ảnh phụ nữ đã bị dùng như một công cụ.
Trân trọng,
Đinh Từ Bích Thúy
Thưa Dịch giả/Nhà phê bình Đinh Từ Bích Thúy,
1/ Tôi muốn cảm ơn chị đã cho một cơ hội hầu giải thích về phát biểu “Thiệt hên cho ký giả BA-TÊ: hình như chưa thấy diễn đàn văn nghệ hay văn chương nào có sáng kiến làm … chủ đề cho chàng…” khi chị nhận xét:
“… Do chúng ta được biết, qua sự chứng minh rất rõ ràng của chị trong bài: Thanh Tâm Tuyền và ký giả Ba Tê là một. Nhưng về “sáng kiến làm chủ đề ‘cho chàng’” thì đã có một số tạp chí văn học làm chủ đề về nhà thơ, trước 1975 cũng như trong giai đoạn sau khi ông qua đời vào mùa xuân 2006….”
Đúng thế, đã có 4 tạp chí trước và sau 1975 thực hiện Chủ đề Thanh Tâm Tuyền. Tôi rất tiếc đường link dẫn đến Văn (Bộ Mới) Số 113-114 không chứa nội dung các bài viết. Nguyễn Xuân Hoàng mở đầu với “Thanh Tâm Tuyền, một tâm thái văn chương” (sđd, trang 4-5, 2006). Ông diễn tả hết sức cảm động nỗi bàng hoàng cùng ngậm ngùi trước và lập tức ngay sau khi nhận tin Thanh Tâm Tuyền qua đời. Tôi đã có 4 tạp chí này trong tay từ nhiều năm trước; hơn thế nữa, đã biết rõ Ký giả BA-TÊ cũng là Thanh Tâm Tuyền để cân nhắc, tại sao vẫn quyết định đặt vấn đề về một Chủ đề cho Ký-giả BA-TÊ?
Trước hết, khi tách Ký giả BA-TÊ ra khỏi Thanh Tâm Tuyền riêng tại đoạn này trong bài, tôi muốn nhấn mạnh vào vai trò thập phần quan trọng của báo chí Miền Nam trong ngành nghiên cứu. Thanh Tâm Tuyền đã lập tâm chọn nhật báo rồi ngụy trang dưới loại phiếm luận, một thể văn vốn không được trọng vọng như Thơ hay Văn để tiện bề miệt thị phụ nữ, không chỉ 1 bài mà đến 4 bài. Chị cứ tưởng tượng loạt bài này xuất hiện trên Sáng Tạo, Bách Khoa hay Văn?! Dưới hình thức Thơ hay Truyện, bất luận truyện ngắn hay truyện dài?! Nếu có, chắc chắn Thanh Tâm Tuyền khó thoát được bị “chất vấn về thái độ đối với phụ nữ” như chị đoán đúng. Trong khi đó, cả bốn tạp chí văn học thượng dẫn đều không thấy nhắc đến Tạp Ghi một cách chi tiết (nếu không lầm), hoặc có nhắc đến (như nhà văn Thảo Trường) thì rất sơ sài hoặc chỉ kèm trong danh mục (như Đặng Tiến và Thụy Khuê). Đương nhiên, đó là quyền của các tạp chí và các tác gia ấy. Họ có quyền đọc, không đọc, chọn hoặc không chọn Tạp Ghi để phê bình; thậm chí “chất vấn” hay không “chất vấn”. Nhưng thực tế cho thấy họ không hề nhắc đến loạt Tạp Ghi như đã nhắc đến Thơ và Văn. Và đương nhiên, họ cũng không nhắc đến Ký giả BA-TÊ như đã nhắc đến Thanh Tâm Tuyền.
Bởi thế, với tôi, vấn đề không dừng ở đó, nghĩa là không dừng với 4 tạp chí thượng dẫn và các tác gia tham dự với quyết định của họ, càng không dừng với Thanh Tâm Tuyền. Với tôi, Ký giả BA-TÊ đã không còn là một phần mà ngang hàng với Thanh Tâm Tuyền. Đó là nhà báo duy nhất có danh trong giới văn học viết 1 loạt bài tấn công phụ nữ trên một nhật báo Miền Nam danh tiếng quy tụ toàn anh hào văn nghệ. Ông công khai miệt thị hoặc chỉ trích từ nữ đồng nghiệp bỉnh bút Thẩm Thúy Hằng tới nữ đồng nghiệp nhà văn (Nhã Ca, Trùng Dương, Nguyễn Thị Hoàng, Túy Hồng, Nguyễn Thị Thụy Vũ vv.) qua câu “Trong lãnh vực văn nghệ, các nhà văn đàn bà hiện dẫn đầu phong trào văn chương trong nước, vận động cho cuộc cách mạng “dục tình” nữ giới …”(Ký giả BA-TÊ, “Về đàn bà”, Tiền Tuyến số 1012, ngày 15.9.1968, trang 2,7- http://ndclnh-mytho-usa.org/KhoSachCu/Nhat%20Bao%20Tien%20Tuyen/TienTuyen_1012%2014SEP1968.pdf ]. Cho nên, Ký giả BA-TÊ xứng đáng được làm một chủ đề riêng. Trong chủ đề này, thứ nhất, một tài liệu thuộc phần Báo Chí Miền Nam sẽ được công bố đầy đủ. Thứ hai, các tác gia muốn tham dự cũng biết họ phải tập trung vào Chủ đề “Khinh miệt và Phỉ báng Phụ Nữ” của Ký giả BA-TÊ nên không thể tự tiện kéo sang phần Thơ, Văn của Thanh Tâm Tuyền hầu làm loãng vấn đề, khiến làm phí thì giờ của cả người tổ chức lẫn độc giả. Vì nếu muốn, độc giả đã có thể tìm đọc về Thanh Tâm Tuyền tại 4 tạp chí đã dẫn.
Kế đó, quyết định bỏ qua 4 tạp chí nêu trên trong việc làm chủ đề cho Ký giả BA -TÊ cũng dựa một phần rất rất nhỏ trên nhận xét được kiểm chứng một cách khái quát: nhiều tác giả Miền Nam như Mặc Đỗ, Nguyễn Sỹ Tế, Mai Thảo, Tô Thùy Yên, Viên Linh không hề đọc hay đa số chỉ đọc rất qua loa Tạp Ghi khi tôi hỏi. Họ sống tại ngay thời điểm ấy mà còn không biết hay không nhớ nên tôi đoán nhiều phần trăm các tác giả khác–đặc biệt các tác giả sau này tại hải ngoại– càng khó có cơ hội biết đến. Tôi lại hết sức may mắn khi mượn được Tạp Ghi. Quyển đó hiếm, càng hiếm hơn cho tác giả ngoài nước. Như vậy, đã đoán trước mình giữ được nhiều tài liệu hơn mà còn lên mặt …chất vấn người khác về những tài liệu họ chưa rõ hoặc không lưu tâm thì đúng là không quân tử, càng không đúng tinh thần mã thượng của một người … chuyên bút chiến.
Dù sao, chị nói vẫn đúng: không độc giả nào có thể đoán được chủ ý—dù có lý hay vô lý– của tôi nếu không trình bày một cách khúc chiết trong trường hợp này. Thế nên, thiếu sót đó cần được bổ sung bằng một đoạn (như tôi đã trả lời chị) hầu giải thích cho độc giả biết lý do của sự có vẻ mâu thuẫn, không để bào chữa, mà chỉ để trình bày tiến trình suy nghĩ của tôi về Báo Chí Miền Nam và Ký giả BA-TÊ.
2/ Rất cảm ơn chị về việc tán thành cho môi trường lành mạnh dung chứa được cả sáng tác lẫn phê bình. Bộ môn phê bình đòi hỏi mọi tác phẩm của đối tượng nghiên cứu, xuất bản hay chưa, phải được xét đến. Một nhà phê bình, dĩ nhiên, có quyền chọn lựa nhưng cần sòng phẳng. Với tôi, riêng trong lãnh vực Văn Học Miền Nam, ngành phê bình, nói chung, được xây đắp bằng nhiều khám phá mới và chung, không chỉ từ tác giả mà có khi ngay từ độc giả. Như chị và độc giả có thể nhận thấy, ngay trong loạt bài Từ một góc California, tôi đã được phép sử dụng nhiều tài liệu từ độc giả khắp nơi để có thể, cuối cùng, trình bày giả thuyết mới. Bởi thế, sự sòng phẳng sẽ dẫn đến sự công bằng cho đối tượng được nghiên cứu, cho độc giả và cho chính mình.
3/ Tôi đã đọc Ba chị em sau khi chị bàn đến. Từ Thu, Hương, Nguyệt, tôi liên tưởng đến những người đàn bà khác trong Tạp Ghi, trong Thơ và trong Văn của Thanh Tâm Tuyền. Như vậy, Thanh Tâm Tuyền-thật-Thanh-Tâm-Tuyền là ai? Câu trả lời ấy dành riêng cho mỗi chúng ta. Tôi muốn lập lại: tôi là người đầu tiên phải tôn trọng quyền chọn lựa của một tác gia khác. Riêng tôi, không bao giờ tôi đọc Thơ Văn Thanh Tâm Tuyền mà không thấy hiển hiện trước mắt những lời cay chua, nhỏ mọn, không hề có chút trắc ẩn mà ông đã trau chuốt hầu sỉ nhục nhạo báng một số cuộc đời bất hạnh ngay bên cạnh ông. Phần tôi, tôi sẽ chọn đặng viết về những cuộc đời bất hạnh ấy.- Nguyễn Tà Cúc
Tà
Từ Hán Việt. Có mấy chữ tà:
1. Tà 邪 ngược với chánh, gian tà, tà ma, tà đạo
2. Tà 斜 xiên, chéo; tà huy 斜輝 buổi chiều tà, vì ánh sáng xiên nằm về hướng tây chứ không còn thẳng phía trên đầu.
3. Tà 衺, từ Hán Nôm dùng làm chữ tà của tà áo, vạt áo
Tà Cúc 斜菊 là đóa hoa cúc trong ánh tà huy nắng chiều. Nhà văn Mặc Đỗ lại chọn một nghĩa khác, Tà Cúc 邪鞫 là tra hỏi kẻ gian tà. Mặc Đỗ đã nói rõ trường hợp này chữ Cúc 鞫 không còn là tên hoa, mà là sự thẩm vấn tra hỏi-interrogation. Có lẽ Đỗ tiên sinh vốn là một luật sư nên thích chữ cúc này hơn. Thành ra quý danh Tà Cúc trong chữ Quốc Ngữ có đến hai nghĩa. Một hiền, một dữ.☺
Thưa Long Nguyen,
Tôi phúc đáp hơi chậm vì sẽ phải nói về …chính tôi. Mà ai cũng biết “cái tôi” nếu không “đáng ghét” thì cũng chẳng đáng gì để tự mình đề cập đến. “Nhập đề lung khởi” như thế thay cho lời xin lỗi. Thật ra, cũng đến lúc nói tới chữ Tà này. Nó gây thắc mắc và phỏng đoán khá nhiều. Nhà văn Mặc Đỗ còn kể, Trước đó, ông đã hỏi rất nhiều bạn mà không ai giải thích thỏa đáng. Ngược lại, ông được “bonus” rất nhiều tin đồn về tôi. Toàn tin dữ cả. Dẫn đến lời bàn của Nguyen tiên sinh, rằng “quý danh Tà Cúc trong chữ Quốc Ngữ có đến hai nghĩa. Một hiền, một dữ.” Hay đúng hơn, vừa hiền vừa dữ, thưa Nguyen tiên sinh?! Thật ra, tên của tôi liên quan đến bản quán nên nhiều năm qua, đã không thể tự giải nghĩa. Dù có nhiều nghĩa, tôi vẫn tự nhắc tới một nghĩa mà Long Nguyen (và một nhà phê bình khác) đã đề cập đến “đóa hoa cúc trong ánh tà huy nắng chiều” rồi xin phép được thêm, “của mùa thu” vì hoa cúc nở vào mùa thu. Nghĩa là tự răn mình sống cho cẩn thận vì đời người rồi tàn mau—có bình minh cũng có nắng chiều. Đa tạ Nguyen tiên sinh một lần nữa, trong ánh tà huy của một chiều tà tại California khi viết lời phúc đáp này.- Nguyễn Tà Cúc