Trang chính » Biên Khảo, Giới thiệu tác giả, Giới thiệu tác phẩm, Nhận Định, Phê Bình Email bài này

Thanh Tâm Tuyền (1936 – 2006) – ‘cái tôi ẩn mật…’ 3-4 (kỳ chót)

Matthew-Wong-A-Dream_thumb.jpg

 

van gogh wheatfield with crows
Vincent Van Gogh ((1853-1890), Đồng lúa và Quạ (Wheatfield with Crows)
Auvers-sur-Oise, 1890

 

3.

Ðọc thơ Thanh Tâm Tuyền, những ngày xưa, thời ông còn đầu cao mắt sáng vào đời, ta đi vào đời bằng thơ tự do, bằng sự cởi bỏ tất cả những lề luật, những khuôn mẫu trói buộc, những thể thức mệt nhoài, để lên đường đi tìm một dải đất mới, đến những ngày ông đi vào giữa cơn lâm luỵ và vượt lên, vượt qua hết tất cả những gian truân, xót xa, đau khổ, với sự chịu đựng, nhẫn nhục, kiên cường và thơ mộng của mình, tôi cảm thấy yêu thương ông thật nhiều. Sau những ngày giương cao ngọn cờ của tuổi trẻ để đi tìm và khám phá cho mình một dải đất mới, ông đã trở về với những gì thâm trầm, u nhã, cổ điển, đằm thắm và sâu xa nhất trong những vẻ tầm thường và giản dị của nó. Ông dùng lại những thể thức cũ, nhưng cái ngôn ngữ và tinh thần khai phá, làm nên con người của Thanh Tâm Tuyền, vẫn luôn còn ở đấy. Trong khoảng trên mười lăm năm tỵ nạn ở Mỹ, ông đã giữ lại cho mình sự im lặng. Lúc ấy, thơ trở thành vô thanh. Giờ đây, ông thực đã đi hết con đường trần gian của mình.

Ðọc lại hầu như tất cả những bài thơ của ông, từ những ngày xa xưa, cho đến những bài cuối cùng mà ông đã làm, tôi thấy rõ Thanh Tâm Tuyền là một thi sĩ, đã hẳn, tôi còn thấy ông giống như một nhà tiên tri. Ông đã nhìn thấy những điều trước khi chúng xảy ra. Chẳng hạn khi ông viết, trong Liên-Ðêm-Mặt Trời Tìm Thấy, đoạn 4:

[…]

Chúng tước lấy tiếng nói
Giam tôi trong bóng tối
Tôi khóc không ra lời
Và tôi đi lang thang
Tôi đi tìm tiếng nói
Cho cổ họng của tôi

Tôi nhìn người tuyệt vọng
Tôi nhìn người khẩn cầu
Linh hồn tôi rách nát
Lời nói còn ở đâu …

Bây giờ, sau “thời đại động”, chúng ta đã thấy ra là những điều ông viết chính là từ một cái nhìn linh cảm, nếu không muốn nói là tiên tri, về sự thực. “Thi sĩ”, trong tiếng La-tinh, là “Vates”, một nhà tiên tri thấu thị, nhìn ngắm và chiêm nghiệm các tư tưởng siêu nhiên về vũ trụ, về thế giới; đồng thời, từ này cũng mang nghĩa “sáng tạo” trong nó. Tất cả mọi thi sĩ, nhìn ở một khía cạnh nào đó, đều là những nhà tiên tri. Nhưng với Thanh Tâm Tuyền, tôi thấy điều đó lại càng đúng. Chỉ có điều, ông không phải là một nhà tiên tri sống xa rời quần chúng, xa rời con người. Ông đã sống lăn lộn giữa chúng ta, cùng khóc cười hò hét hân hoan cũng như đã cùng chảy những giọt lệ sầu thảm với tất cả mọi người. Ông đã đi vào cơn lâm luỵ, và rồi đã đi ra khỏi nó, có lẽ, cũng với rất nhiều xót xa và đau khổ. Như rất nhiều người trong chúng ta. Có lẽ, qua những cuộc lâm luỵ của mình, ông cũng đã được thanh tẩy, như một số người trong chúng ta đã tìm thấy điều đó. Và ông đã để lại những bài thơ. Những bài thơ có lẽ là những bằng chứng đẹp đẽ nhất về một cuộc đời tha thiết mà ông đã đi qua. Và đã để lại. Nó có như một tấm áo mà người ta có thể cởi ra và để lại với đời?

Tôi chợt nhớ đến Almustafa, kẻ tiên tri của Kahlil Gibran. Ngày rời bỏ thành Orphalese để về trở lại hòn đảo, nơi người đã chào đời, Almustafa đã nghĩ gì?

Làm sao ta có thể ra đi thanh thản, bình an, mà không chút buồn đau? Làm sao ta có thể rời bỏ thành phố này để lên đường mà không phải gánh chịu một vết thương trong hồn mình?

Dài làm sao là những ngày khổ đau mà ta đã gánh chịu giữa những bức tường thành này, và dài làm sao là những đêm tối cô đơn. Có kẻ nào lại có thể đang tâm rời bỏ những nỗi đau và sự cô đơn của mình mà không xót xa nhớ tiếc?

Biết bao nhiêu mảnh hồn mình ta đã thả vung vãi trên các đường phố này, và biết bao nhiêu những đứa con của khát vọng ta đã bước đi trần truồng giữa những ngọn đồi này. Ta sẽ không thể rời xa chúng mà không cảm thấy nặng lòng đau đớn.

Chẳng phải là một tấm áo mà ta cởi bỏ ra ngày hôm nay, nhưng đó là một lớp da mà ta tự tay lột xé.

Chẳng phải là một ý tưởng mà ta bỏ lại phía sau, nhưng là một trái tim mà đói khát đã làm cho trở thành dịu ngọt. [9]

Có phải thế không, hỡi người thi sĩ. Có phải là Thanh Tâm Tuyền cũng đã từng có tâm trạng như thế trước khi ra đi. Trước khi lên đường trở về nơi mà từ đó ông đã đến với chúng ta, với cuộc đời này.

 

4.

Thanh Tâm Tuyền, cuối cùng, cũng đã thực hiện được cuộc lên đường có lẽ cũng đầy khó khăn của mình như kẻ tiên tri, như vị ngôn sứ kia. Và cũng như mỗi một chúng ta, có thể ông cũng còn có quá nhiều thiết tha yêu dấu đứng bên đời vẫy gọi mà ông—cũng như mỗi một người trong chúng ta—cảm thấy vẫn chưa trả hết ân tình. Người thường đã vậy, một nghệ sĩ, một nhà thơ có thể còn đầy ắp những nỗi thiết tha hơn. Mong là cuộc ra đi, hay cuộc trở về, của ông giống như những gì ông đã nhìn thấy, như trong một tấm tranh, mà ông đã viết để tặng một người bạn hoạ sĩ nhiều năm trước:

Trở về dịu dàng điệu màu sắc
Vàng xa gợn gió rét hoang mang
Xanh thất thần xanh ngây hạnh phúc
Mặt tình nhân tươi rói kinh hoàng
Trên lối mòn quanh chìm bất giác
Gió bay lả tả bụi thời gian
Thanh thoát cơn say rũ tro mộng
Rừng đêm bùng cháy rỡ mây hồng.

(Bài Tặng Hoạ Sĩ)

Thi sĩ, hãy lên đường thanh thoát. Thanh thoát như những tiếng mưa rơi rất nhẹ ngày xưa, ta cười đổ mưa một mình, trong những buổi sớm mai Sàigòn rất nhiều bóng lá. Em là lá biếc là mây cao là tiếng hát / Sớm mai khua thức nhiều nhớ thương. Thanh thoát như những tiếng kèn đồng tinh khôi ta thổi cho cuộc lên đường.

Thanh Tâm Tuyền, lần cuối, xin từ biệt anh.

Hãy khép mắt khép mắt thật khẽ
Có thấy chúng ta rơi vào giấc ngủ sâu vào những giấc mơ
Hương hoàng lan lẫn mái tóc người yêu… [10]

Tustin Ranch, Calif.

30.III.2006
Nhuận sắc: 2023

___________________________________________________

Chú Thích:

(*) Xem thêm tiểu luận “Cái Tôi kỳ việt và Âm bản Thành phố/Tình yêu trong thơ tự do Thanh Tâm Tuyền” của Bùi Vĩnh Phúc. Cùng với bài này, “Cái Tôi ẩn mật và Dương bản Thiên nhiên ngày vây hãm trong Thơ Ở Đâu Xa của Thanh Tâm Tuyền, cả hai được viết, quấn quít và nương tựa nhau trong một tổng thể (mặc dù có vẻ khác nhau trong phong cách và hướng triển khai), với hy vọng phản ánh được một cái nhìn tương đối đầy đủ từ nhiều góc cạnh, trong mắt riêng của người viết, về một đời thơ của Thanh Tâm Tuyền.

[1] Thơ Pablo Neruda:

[…] cuando desde lo alto
se avecina la noche, cuando el solitario poeta
a la ventana oye correr el corcel del otono
y las hojas … pisoteado crujen en sus arterias,
hay algo sobre el cielo…

(Vuelve el Otono)

[2] Thơ Phùng Quán:

Có những giây phút ngã lòng
Tôi đã vịn câu thơ mà đứng dậy.

[3] Bài viết này, gần 40 năm sau đó, đã được phát triển, bổ sung và mở rộng (với tựa đề khác là “Cái Tôi kỳ việt và Âm bản Thành phố/Tình yêu trong thơ tự do Thanh Tâm Tuyền”), từ bài viết gốc năm 1986, với tựa “Thanh Tâm Tuyền, người thi sĩ ấy”, theo tinh thần tựa đề “L’Homme, cet Inconnu” (1935) (Con Người, kẻ Xa Lạ ấy) của Alexis Carrel (Nobel 1912). Một vài chủ đề đã được đưa vào, hay tô đậm, qua một cái nhìn hồi cố và tái thẩm, để làm đầy đặn và làm rõ hơn các đường nét về thơ Thanh Tâm Tuyền, vốn, trong bản gốc nguyên thuỷ, đã được vạch ra nhưng chưa được khai thác kỹ.

“Kỳ”, trong “kỳ việt”, có thể được hiểu là “kỳ dị”, “kỳ quái”, hay “kỳ khôi” (“khôi”, theo nghĩa “ngọc quý”, hay “lớn lao”), “kỳ bí”, “kỳ diệu”, một cái gì lạ lùng, khác với, hoặc đi xa hơn, vượt khỏi cái bình phàm, cái thường tình. Còn “việt”, xin hiểu theo nghĩa là “vượt qua, băng qua, vượt lên” như trong “việt dã” (băng đồng), “siêu việt” (vượt lên trên), hay “phiên san việt lĩnh” (翻山越嶺 trèo đèo vượt núi).

[4] Về mặt ngôn ngữ, đơn vị ngữ âm âm đoạn (segmental) nhỏ nhất là âm (âm tố), sau đó là âm tiết, âm tự, âm cú. Các đơn vị âm đoạn này luôn gắn với các âm vị siêu âm đoạn (suprasegmental) là thanh điệu, ngữ điệu, trọng âm. Thanh điệu được miêu tả bằng hai tiêu chí là cao độ và đường nét. Về mặt cao độ, trong tiếng Việt, có thanh điệu cao (ngang, ngã, sắc) và thanh điệu thấp (huyền, hỏi, nặng). Về mặt đường nét (âm điệu), có thanh bằng phẳng (ngang, huyền) và thanh không bằng phẳng hay thanh trắc (ngã, sắc, hỏi, nặng). Thanh trắc lại chia thành thanh gãy (ngã, hỏi) và không gãy (sắc, nặng).

[5] Trong bài này, để nói gọn, trong những hoàn cảnh thích hợp, một số từ « âm » được dùng để thay cho từ « âm tiết ».

[6] Thơ Tô Thuỳ Yên:

… Nên ta phó mặc cho trời đất
Trời đất vô ngôn lại bất nhân
Nên ta lẳng lặng đi đi khuất
Trong lãng quên xanh hút thời gian…

(Hề, Ta Trở Lại Gian Nhà Cỏ)

[7] « Khúc Hát Thanh Xuân », nhạc ngoại quốc (« One Day »). Phạm Duy đặt lời Việt.

[8] Xem thêm phần phân tích về nghệ thuật ngôn ngữ của TCS của tác giả bài này trong chuyên luận Trịnh Công Sơn, Ngôn Ngữ & Những Ám Ảnh Nghệ Thuật, California: Văn Mới, 2005.

[9] Thơ Kahlil Gibran:

“How shall I go in peace and without sorrow? Nay, not without a wound in the spirit shall I leave this city.
Long were the days of pain I have spent within its walls, and long were the nights of aloneness; and who can depart from his pain and his aloneness without regret?
Too many fragments of the spirit have I scattered in these streets, and too many are the children of my longing that walk naked among these hills, and I cannot withdraw from them without a burden and an ache.
It is not a garment I cast off this day, but a skin that I tear with my own hands.
Nor is it a thought I leave behind me, but a heart made sweet with hunger and with thirst…”

(Kahlil Gibran, The Prophet. New York: Alfred-A-Knopf, 1979. Phần tiếng Việt tại đây do tác giả bài này dịch.)

[10] Những câu thơ trong bài, in nghiêng, không ghi chú thích, là thơ của Thanh Tâm Tuyền.


Vài bài thơ nên đọc thêm trong tập “Thơ ở đâu xa” trước khi chấm dứt bài này

chiều nắng hanh trên đồi hương nhu

Tuốt những chùm bông hạt già úa
Ðộng nhánh cành trơ trụi xác xơ
Hè cháy rụi sót hoa nám lửa
Chiều gió hanh con mắt im ngơ

Thoáng hương gắt bắt nhớ tha thiết
Mái tóc ẩm dầy đầu thềm rũ hong
Ðồi đột ngột rực nắng mê mệt
Ðêm lạnh về thao thức theo trăng.

 

ngã trên núi việt hồng ở yên báy khi đi vác nứa

Tuột dốc té nhào trên hẻm núi
Chết điếng toàn thân trong giây lâu
Mưa rơi đều hạt mưa phơi phới
Ngày đang tàn hiu quạnh rừng sâu

Duỗi xoải chân tay gối trên nứa
Ngó trời nhá nhem nghe mưa mau
Tưởng chừng thi thể ai thối rữa
Hồn viển vông chẳng chút oán sầu

Mưa giăng tấm lưới trắng dầy khít
Làng xóm dưới núi ở phương nào?
Gió lạnh tái tê bó liệm chặt
Lả thiếp người quên bẵng xước đau

Ðầm mình trong hạnh của ẩn mật
Mắt hoen nhoà hứng giọt thiên thâu
Dò dẫm lối về đêm tối mịt
Sông xa núi thẳm quê nhà đâu?


bài ru tháng năm

Tháng Năm mưa núi nhộn nhịp phố
Khúc dạo xanh tươi mở vào hạ
Hè cao nguyên chín mùi độ xuân
Dòng nhạc tuôn tràn điều niềm nở

Tháng Năm nắng trong ủ mật hương
Óng biếc sau mưa những rừng thông
Thiếp mê tình tứ trên đồi cỏ
Ngày nhởn nhơ khoác áo huy hoàng

Tháng Năm nườm nượp gió xa lạ
Rủ rê mặt trời về hớn hở
Trong vườn nhốn nháo giọng trăm miền
Ngất khuya còn nỉ non hàn huyên

Tháng Năm ghé tạt cánh bão tố
Giông trốt buông thùa đến suồng sã
Thú dữ từng bầy động cỡn đêm
Hoan lạc reo quần thảo rừng điên

Tháng Năm về dặt dìu quên nhớ
Mưa sao trút sáng biển soi im
Tháng Năm về nhặt khoan điệu cũ
Mây bão xô lồng trăng lênh đênh

Tháng Năm về đong đưa tâm sự
Võng đưa trầm bổng vực thời gian
Tháng Năm về du dương sầu khổ      
Sinh nhật con mẹ khóc mơ màng

5/81

***
Matthew Wong, A Dream
Matthew Wong, A Dream (Một Giấc Mơ) (2009)
© 2019 Matthew Wong Foundation

 

Văn Thanh Tâm Tuyền:

Nghệ Thuật Đen (trích đoạn)

Một Chủ Nhật Khác (trích đoạn)


Nghệ Thuật Đen
(trích đoạn)

[…] Nghệ thuật trước hết là một lối nhận thức đời sống. Nhận thức nào cũng bắt đầu bằng sự chia lìa cần thiết giữa một ý thức và đối tượng của nó. Cấp độ của sự nhận thức cao thấp là tùy theo sự chia lìa ấy sâu xa hay hời hợt. Hằng ngày người ta sinh sống trong một thế giới nhân loại được xếp đặt quy định trong một trật tự được tự nhiên hoá không nghi ngờ không dò hỏi, người ta sống yên ổn thoải mái với những thói quen, tiếp nhận hạnh phúc cũng như sự phiền muộn như những trái cây ngon ngọt hay đắng chát của Tạo Hoá ban cho, nhưng rồi một cơ hội nào đó trật tự kia bị xô lệch bởi những người khác, người ta có thể ngạc nhiên rồi quên đi khi trật tự vãn hồi, người ta có thể hoảng kinh vì không quên được trước cái trật tự giả tạo. Người ta cảm thấy từ đấy sự chia lìa giữa mình với đời sống xung quanh, giữa mình với mình, người ta tự hỏi, người ta cố gắng tìm cách trả lời, người ta hoài nghi. Như một cơn địa chấn – nói theo Nietzsche – con người lúc bấy giờ thấy mặt đất điên đảo dưới chân mình, một mình mình gánh nặng cả đời sống trên hai vai, nỗi hoảng kinh thất thần của chàng Roquentin trong tác phẩm của Sartre lan tràn ra bên ngoài như thế đó, chàng nhìn lọ mực để trên bàn, nhìn bàn tay của mình, cái mặt cái miệng của kẻ khác, cái rễ cây nơi công viên, những sinh vật hết sức tự nhiên đối với mọi người trở nên hãi hùng đối với chàng.

Nghệ thuật đen bắt đầu bằng một ý thức chia lìa ghê gớm đó. Chia lìa ghê gớm thế nghĩa là gì? Đó là một bệnh trạng của trí thức thời nay chăng? Không. Đó là khởi nguyên của ý thức là mầm mống của thay đổi, của sáng tạo. Sự chia lìa ghê gớm kia là điều kiện cho một nhận thức sâu xa hơn về đời sống, rũ bỏ những huyễn ảnh của kẻ bấy lâu ngồi trong hốc đá chỉ nhìn những bóng chiếu in trên vách mà tưởng là sự thật. Triết lý luôn luôn là một sự khởi đầu, kẻ tới sau muốn lật đổ áp lực người thuở trước. Nghệ thuật đối với các tác giả lớn cũng là một sự khởi đầu. Nghệ thuật gần gũi với triết lý ở điểm này. Bởi thế không lấy làm lạ thứ nghệ thuật tầm thường là thứ nghệ thuật không có một nhận thức về đời sống, hay nhận thức đời sống theo những giản đồ được quy định từ trước. Khi Dostoievsky nói người ta chỉ sáng tạo được trong đau khổ, hãy hiểu nỗi đau khổ ấy là sự chia xé tan hoang của một ý thức tận trong phần sâu hút của nó bơ vơ trơ trọi ngoài đời sống muốn trở về gia nhập nhưng không thỏa mãn với trật tự hiện hữu và chưa nhìn thấy cái trật tự tìm kiếm.

Sự khác biệt giữa lối nhận thức nghệ thuật và lối nhận thức triết lý là: lối nhận thức thứ nhất thiên về cụ tượng, cố gắng thâu tóm lấy sự toàn thể của thực tế lúc xuất hiện trong một ý thức khởi nguyên thông suốt – một thứ trực giác, theo ngôn ngữ thông thường –; lối nhận thức thứ hai thiên về quan niệm, cố gắng vượt từ những kinh nghiệm riêng tư đạt tới những ý tưởng chân xác phổ biến nhờ sự can thiệp của lý tính trong ý thức bằng sự sử dụng luận lý. Lối nhận thức của nghệ thuật, so với lối nhận thức triết lý, tất nhiên là mơ hồ hẹp hòi, nhưng lại giữ được tính cách cụ thể mạnh mẽ xúc động, tránh xa sự trừu tượng, cuộc phiêu lưu tách rời khỏi thực tế của một ý thức mãi đuổi theo sự tuyệt đối mà ra khỏi thế giới nhân loại lúc nào không biết. Nhận thức triết lý về đời sống ở một triết gia bao giờ cũng đến sau một nhận thức theo lối nghệ thuật đen ở nơi người ấy, nghĩa là một sự đột khởi xé toang ý thức dìm nó vào một cơn khủng hoảng đảo điên trong một thời khắc đặc biệt nào mà một kinh nghiệm rất nhỏ bé đơn giản hiện lên tóm thâu cả ý nghĩa của một đời một cách chập chờn kỳ lạ, trong bóng tối đen đặc của giao động đã rực rỡ ánh sáng; nhận thức triết lý sau này tới để phân giải để khơi sáng cái nhận thức khởi đầu ấy. Như thế sẽ không ngạc nhiên khi thấy ảnh hưởng mạnh mẽ của Lão Trang trong nguồn cảm hứng của thi ca xưa – bởi lối nhận thức của hai triết gia này rất gần với lối nhận thức của Sartre là người có “khiếu thực tế” (sens du réel) bởi bên cạnh những tác phẩm triết học công trình xây dựng thuần trí thức, ông thường quay về với lối nhận thức khởi đầu bằng những tác phẩm văn chương.
Vậy nghệ thuật là một lối nhận thức đời sống riêng, có nguồn giống triết lý, những nghệ thuật lớn từ ngàn xưa vẫn phảng phất cái không khí siêu hình là thế. Nhưng từ đây có thể nhìn rõ sự phân ly giữa nghệ thuật đen và nghệ thuật xưa.

Bởi nghệ thuật gần gũi với triết lý, chỉ cần một bước cố gắng của ý thức là có hy vọng tới (nhưng là một bước tự sát của nghệ thuật) nên nghệ thuật xưa có khuynh hướng muốn đồng hoá với triết lý. Phải đặt sang bên hội họa và âm nhạc, những nghệ thuật mà sự đồng hoá với triết lý là điều không thể quan niệm nổi, những người trong hai ngành này có thể có ý thức siêu hình nhưng sự thể hiện qua những chất liệu đặc thù là màu sắc cùng âm thanh đã giới hạn rõ ràng phạm vi của họ; chỉ còn văn chương vì cùng sử dụng ngôn ngữ nên sự tràn lấn giữa hai phạm vi thật dễ dàng. Nhưng ngay trong lĩnh vực văn chương, cái tham vọng của nhà văn muốn đồng hoá văn chương với triết lý bao giờ cũng dẫn tới sự thất bại trên bình diện nghệ thuật – không kể đến thứ vạch đồng hoá với luân lý hay với chính trị là thứ phản-văn-chương, bởi nó chẳng mang tới một nhận thức nào về đời sống, nó chỉ minh họa cho một nhận thức đã được quy định giản lược từ trước.

[…] Nghệ thuật đen chính là cái ý thức siêu hình trước những cảnh ngộ trong đời sống hôm nay, là biểu thị sự tự do của những con người bằng xương thịt trong những tình thế có thực của kiếp người, là lời kêu gọi cất lên cùng mọi người trong cuộc hành trình lịch sử phải sống.

Bởi đó nó bi đát phẫn nộ, nó suồng sã dục tình, nó vô luân trắng trợn. Tại sao vậy?

Đã có một thời nghệ thuật chỉ là ý thức thưởng ngoạn trước đời sống. Người làm nghệ thuật tách mình ra khỏi đời sống để nhìn ngắm nó một cách khách quan tìm lấy cái lý tuyệt đối vượt ngoài tính cách vô thường của vạn vật. Nghệ thuật này thường tìm về gần với tạo vật thiên nhiên vì ở đấy người ta tìm được một trật tự tự nhiên, dẹp được nỗi bàng hoàng của ý thức, thả cho ý thức được thảnh thơi ghi nhận lấy những vẻ Đẹp kín đáo vẫn có sẵn ở quanh mình. Nếu trước thiên nhiên tạo vật nỗi kinh hoàng của ý thức vẫn trỗi dậy, bước thêm bước nữa nghệ thuật này tìm tới tôn giáo, ở đấy những lý lẽ tuyệt đối tạo trong một trật tự đời đời không còn phải hoài nghi nữa. Tóm lại, nghệ thuật thoát từ đời sống cụ thể ra ngoài tự nhiên rồi bay bổng lên trời. Từ cái ngôi cao vút nhìn xuống đời sống – bởi nghệ thuật này vẫn không quên nổi đời sống – nghệ thuật làm hiển hiện cái lý tuyệt đối, tinh lý của đời sống chỉ là phản ảnh của cái thế giới tuyệt đối trên kia mà thôi. Người làm nghệ thuật bấy giờ đứng ở quan điểm Tạo Hoá, từ nhận thức cho đến cách thể hiện. Người ta đặt những quy luật chặt chẽ cho nghệ thuật, tìm ra những ước lệ – những yếu tố lý tưởng vĩnh viễn – mà ở nơi ấy đời sống bị tước bỏ nghèo nàn chỉ còn là một mớ ý niệm ký hiệu xếp đặt theo một khuôn mẫu bất biến. Ở nghệ thuật này, đời sống thường nhật, những sự vật nhỏ nhặt cụ thể, những cá nhân hèn mọn, những con người có xúc cảm có bản năng chỉ là những sinh vật mang theo những ước muốn những khát khao sát trên mặt đất, bị khinh bỉ, bị gạt bỏ. Nếu đôi lúc nghệ thuật có nhìn tới nơi này, là với một lòng xót xa của kẻ bề trên, nghệ thuật này có diễn tả sự xấu xa ghê tởm của xã hội cũng cố tạo những rung động thuần khiết, nhưng rung động có tác dụng đẩy thêm con người xa lìa sự sống hiện hữu, một rung động rất Đẹp. Người làm nghệ thuật không còn là một tự do biểu diễn đời sống, với một nhận thức thành nề nếp hoá ra không còn là nhận thức nữa, hắn chỉ còn biết theo đuổi cố gắng đạt tới bằng mọi xảo thuật cái thế giới lý tưởng, thế giới Nghệ Thuật (viết hoa), thế giới Đẹp không dính dáng tới cái kiếp người hèn mạt của chính hắn và của người quanh hắn. Nếu chẳng may trong thời kỳ này, một vài hiện tượng đặc biệt xảy ra: Có những người ngoảnh mặt với cái thế giới tuyệt đối kia để nhìn thẳng vào đời sống đang ngọ nguậy xung quanh da thịt mình, thì thái độ của những kẻ bảo vệ thứ nghệ thuật viết hoa nói trên hoặc là mang con ngáo ộp luân lý ra để nạt nộ hoặc không thể chối cãi được về giá trị của công trình sáng tạo, họ chỉ còn cách kéo nó vào cái thế giới Đẹp của họ và làm ngơ trước cái sự sống ghê tởm (theo ý họ) chứa đựng trong nó.

[…] Cái tính chất đen đầu tiên của nghệ thuật hiện nay là sự bi đát đến phẫn nộ ít thấy ngày trước. Đừng giải thích vội vàng bằng sự bệnh hoạn của cá nhân, cũng không hẳn hoàn toàn là một tâm trạng của thời đại. Cũng đừng vội chê trách nghệ thuật đen là thứ chỉ đưa ra sự bế tắc, một thứ thuốc độc giết mòn tinh thần của người đọc. Khi nghệ thuật đen nhất định trói mình vào trong đời sống thực, nhất định trung thành với cái ý thức siêu hình phát động nguồn sáng tạo; không chịu dấn thân vào cuộc phiêu lưu thuần lý để đi tới chốn tự sát trong triết lý, nhận thức trực tiếp toàn diện một cảnh ngộ cụ thể bằng ý thức khởi đầu ấy, tất nhiên đối với những người vẫn quen tìm ở nơi nghệ thuật sự biểu diễn một trật tự sẵn có hay tìm thấy, một lời giải đáp minh bạch – nói theo tiếng thông dụng trong giới văn nghệ ngày nay: một lối thoát, tính cách xây dựng lành mạnh của nghệ thuật – thì nghệ thuật đen là bi quan lạc lõng. Nhưng nếu người ta chịu hiểu sâu xa hơn một chút rằng nhận thức nào cũng là một sự khẳng định và trong sự khẳng định đã giúp cho con người tìm lấy những phương tiện thích ứng để hoạt động trong thế giới sự vật – ngay sự nhận thức một tình thế tuyệt vọng qua tác phẩm cũng là sự khẳng định đối đầu với thực tế phũ phàng đòi tìm cách ứng phó, không trốn chạy bằng những ngõ ngách quắt quéo của cái thói tự gạt mình vô ích. Sở dĩ nghệ thuật đen không đưa lại một lời giải đáp thì chỉ có tính cách cá nhân của tác giả, là một trong rất nhiều lời giải đáp khác nhau, không thể tìm tính cách chung bởi như thế phản nghệ thuật. Nói rõ: nghệ thuật đen đứng lại là một lời kêu gọi, ý thức siêu hình sáng tạo của nó cố gắng đạt đến một nhận thức càng rộng rãi đầy đủ bao nhiêu càng hay bấy nhiêu, phô bày qua tác phẩm những thực kiện phức tạp cho thật cụ thể chân xác, nỗ lực trong nhận thức triệt để về một cảnh ngộ là đã mở ra những tầm chân trời để tùy sự lựa chọn từng cá nhân đường lối thích hợp cho riêng mình giải phóng mình khỏi cảnh ngộ. Đối với xã hội, nghệ thuật đen giữ vai trò là một ý thức dò hỏi phát hiện những vấn đề có liên quan đến kiếp sống con người, một ý thức siêu hình luôn luôn thức tỉnh hoạt động trong phạm vi của nó, không có tham vọng giải quyết. Giải quyết thuộc phần vụ của các ngành hoạt động khác trong xã hội nhân loại, nói cho đúng là công trình của cả một xã hội trong sự vận dụng hết mọi khả năng của xã hội ấy. Làm sao lại bắt người làm nghệ thuật, một cá nhân chỉ có năng khiếu dễ gần gũi gắn liền với thực tế xã hội trong một đời sống văn minh phát triển ghê gớm về mọi mặt như ngày nay phải có được sự hiểu biết thông thái về mọi ngành để đúc kết tiên đoán về tương lai, phải làm một việc vượt ngoài khả năng của hắn? Người làm nghệ thuật hôm nay rất khiêm nhượng không muốn khoác cái bộ dạng lố bịch của một người thầy đời bằng những câu giải đáp nông cạn lý tưởng vô ích và hào nhoáng chỉ lòe được đám học sinh hay bọn trí thức một dúm; hắn biết rõ hắn chỉ là một cá nhân hèn mọn, cái kiến thức chuyên môn về các địa hạt tinh thần khác, nếu có, chỉ là một mớ kiến thức phổ thông sơ đẳng so với những bậc thức giả mỗi ngành, trước mắt các bậc ấy những câu giải đáp của hắn chỉ là một trò múa rối của kẻ tự kiêu ngu ngốc, hắn tự định rõ vị trí của hắn trong hoạt động tinh thần nhân loại là tận dụng hết năng khiếu thực tế của mình để biểu diễn cái đời sống tầm thường hiện thực hằng ngày nơi ấy vẫn ẩn nấp trong mỗi thời khắc những vấn đề siêu hình (vẫn hiểu theo nghĩa rộng) mà ngày nay ảnh hưởng tới từng khía cạnh vụn vặt nhất của cuộc sinh hoạt. Nghệ thuật đen là ý thức siêu hình của xã hội, có thể là thô sơ, nhưng chắc chắn là thực tế nhất.

[…] Nghệ thuật đen là một ý thức siêu hình về đời sống thế tục, ý thức ấy có những nguồn mạch chằng chịt hút xuống trái đất. Nghệ thuật lý tưởng của một thời – là ý thức thưởng ngoạn bay bổng ngoài cõi tục – đã loại trừ ra khỏi nó cái đời sống mà nó cho là ô trọc, cụ thể, “vật chất”. Trong nghệ thuật này người ta khinh bỉ sợ hãi cái “xác thịt”, những “thực phẩm của địa cầu”, tất cả những gì còn mang nặng cái chất của một sự sống hữu hình, e rằng những thứ ấy là những vật nặng cản trở sự tinh tuý của ý thức đang muốn bay bổng lên cõi hư không. Bởi thế những quy luật chặt chẽ, những ước lệ kiểu mẫu trong phép thể hiện của nghệ thuật lý tưởng là những màng lọc cái chất sống tầm thường đến ghê tởm bám ý thức không cho lọt vào, tính cách nghiệt ngã của hình thức chỉ bằng lòng cho phép nhập nội cái phần tinh tuý của ý thức đã bị tước lược hết hình hài còn lại là những ý niệm.

Nhận thức, nhất là nhận thức bằng nghệ thuật, không phải là công trình của một năng khiếu thuần lý. Không có ý thức nói trống không bay lượn trong không không, nói ý thức là nói ý thức của một người, người bằng xương bằng thịt với những điều kiện sinh hoạt trong xã hội trong lịch sử và trong cảnh ngộ. Ý thức phát động để cấu thành nhận thức tiếp xúc ngoại vật không độc nhất bằng đường lối tư duy; bởi ý thức của một người chính là người ấy với mắt mũi chân tay đầu tóc cho nên một người có thể ý thức và nhận thức, một cách mù tối nhưng cụ thể nguyên vẹn hơn, bằng da thịt bằng cảm xúc giác quan. Nghệ thuật đen chuộng sự cụ thể, trong phép thể hiện của nó thường dùng lối nhận thức thô sơ này bởi ở đấy ngoại vật còn giữ được nguyên hình thể, tính chất của nó. Do đó trong nghệ thuật đen dẫy đầy những xúc cảm đứng lại ở giác quan còn thô kệch xù xì khó chịu, ý thức “thuần tuý” băng hoại bám vào mở rộng ngoài da thịt thành một thứ dục tình [2] suồng sã.

[…] Dục tình trong nghệ thuật đen là một phương cách của nhận thức siêu hình, hiển nhiên không phải là phương cách độc nhất. Nếu nghệ thuật đen có thường dùng đến luôn chỉ bởi phương cách ấy từ xưa vẫn bị nghiêm cấm khinh rẻ, dục tình trong nghệ thuật ở xứ ta là một khu đất hoang chưa được khai thác trong khi thật sự nơi ấy, cũng như ở những hình thái sinh hoạt nhân loại khác, tiềm ẩn cái ý nghĩa siêu hình của kiếp sống mà nhận thức nghệ thuật có thể phơi mở. Không tuyệt đối tin theo Freud rằng cuộc sinh hoạt nhân loại bị quy định thầm kín bởi dục tình bởi bản năng – sự sai lầm hư hỏng của Freud là muốn biến khoa tâm phân bệnh học của ông thành một triết lý toàn diện giải thích tất cả – nhưng cũng không thể chối rằng bản năng, dục tình không giữ vai trò gì đáng kể trong cuộc sinh hoạt nhân loại. Nghệ thuật đen không ngoảnh mặt với đời sống, đối diện với nó trong mọi mặt xuất hiện để theo đuổi dò hỏi ý nghĩa của nó. Hơn nữa, dục tình lại là điểm phát khởi của đời sống nhân loại lúc sơ khai và còn dự phần mãi mãi trong đời sống ấy, trong nó có chứa đựng cái ý nghĩa siêu hình thiết thực của thế tục. Không nhận thức nào cụ thể mạnh mẽ hơn về sự sầu khổ hay hân hoan bằng sự sầu khổ, hân hoan hiển hiện trong da thịt của một người, người ta không còn thể chối cãi rằng đó chỉ là tưởng tượng. Đáng thương cho những kẻ mà sự nhận thức mới nằm trong địa hạt của lý tính trong con người, nó làm cho họ trở thành kẻ lạ mặt giữa cuộc sống, kẻ lạ mặt trong chính thân xác họ. Đối với một vài cảnh ngộ, dục tình còn có thể là sự yêu mến tất cả. Trong dục tình người ta yêu cái chết cùng một lúc với sự sống. Nói như Sartre, “dục tình ném con người vào trong lòng sôi sục của tự nhiên và đồng thời nâng nó vượt khỏi tự nhiên do sự khẳng định cái quyền hạn của nó không được thỏa mãn” [3] .

Chính từ khởi điểm nghệ thuật đen cố gắng là một nhận thức sâu xa linh động về sự vật, vượt ngoài những khuôn sáo tĩnh chết đã bị thực tế chối bỏ, nên nó chấp nhận dục tình xưa nay bị nghiêm cấm làm phương tiện trong công cuộc theo đuổi khám phá ý nghĩa của sự vật. […] Cái ý thức siêu hình phát khởi nghệ thuật đen không kèm theo một ý thức luân lý để giới hạn nó lại trong sự thâu tóm ghi nhận cảnh ngộ, bởi cái ý thức trên có thể là khởi điểm cho một ý thức luân lý mới, nhưng nghệ thuật đen không muốn tiến tới đó. Sự sử dụng luân lý trên những đòi hỏi mới của con người là công việc của nhà luân lý học. Riêng đối với người tiếp thu nghệ thuật, nghệ thuật đen mở rộng tầm chân trời để tùy cá nhân nhận định lấy trong phần cá biệt của mình cái luân lý của một cảnh ngộ nhất định – sự thực vấn đề này chỉ là một phần trong vấn đề nhận thức mà không tiến đến kết luận của nghệ thuật đen đã nói đến ở trên. Vậy nghệ thuật đen là biểu thị một tự do trước cảnh ngộ, kêu gọi những tự do khác trong cuộc gặp gỡ xúc tiếp. Có thể bảo nghệ thuật đen là phi luân lý thì đúng.

Nói kết lại nghệ thuật đen đóng vai trò khích động sự thức tỉnh của xã hội trước những câu hỏi cụ thể thúc bách thế tục, ném sự dò hỏi trâng tráo vào giữa mắt mọi người vẫn ngủ mê trong sự tin tưởng vu vơ trừu tượng ở cõi tuyệt vời càng ngày càng mất hút, kêu gọi mọi người trông thẳng vào cảnh ngộ đang sống, vận động trước hết cho một ý thức dũng cảm táo bạo nhận thức cho đầy đủ thực tế.
Và sau đó chiều hướng của lịch sử, ý nghĩa của một kiếp sống tìm thấy vươn tới, là thuộc về mọi người định đoạt thực hiện.

Gọi nghệ thuật đen không phải vì những ý nghĩa suy đồi lầm lạc người ta gán cho nó. Gọi nghệ thuật đen bởi liên tưởng tới một màu da của nhân loại, màu da đen. Đen có thể là một màu đẹp như đêm tối trong suốt vô cùng, như tròng mắt của người thiếu nữ Á Đông. Nhưng hiện thời đen tiêu biểu hết nghĩa cho một cảnh ngộ trong ấy con người chịu đựng sức nặng đè ép của sự vật, của một trật tự mấy nghìn đời.

“Cớ sao tôi xanh, tôi sầu và tôi đen thế này?”. Hãy nghe tiếng kêu ấy của chàng nhạc sĩ da đen, hãy nghe những âm thanh đổ vỡ lổng chổng hay mệt mỏi thê thiết của chàng như hình ảnh của một thế giới dục tình bi đát.

Danh từ nghệ thuật đen được tạo thành từ hình ảnh một màu da lại luôn luôn là thân phận của người, một thân phận mọi. Bởi thế nghệ thuật đen chính là nghệ thuật hôm nay vậy.


[2] Chữ dục tình hiểu theo nghĩa rộng như chữ Désir của tiếng Pháp.
[3] …Du désir qui (…) replonge l’homme au sein bouillonnant de la Nature et l’élève en même temps au-dessus de la Nature par l’affirmation de son droit à l’insatisfaction (Situations, trang 255).

Nguồn: Tạp chí Sáng Tạo, bộ mới, số 3, ra ngày 1-9-1960, trích từ trang 35 đến 48.

Bản điện tử do talawas thực hiện.

(BVP trích đoạn và hiệu chính chú thích 3 theo “Orphée noir” của Jean-Paul Sartre.)

 

Young TTT
Thanh Tâm Tuyền (thập niên 1950s)


Một Chủ Nhật Khác (trích đoạn)

Thời tiết đang độ giao mùa. Tháng Tư, mùa xuân rắc mưa bụi. Trời nguyên vẹn sắc xanh trong. Những đám mưa thưa, viển vông thoáng chốc. Nắng mát mẻ, tươi thắm ngay cả khi trời đang mưa.

Những rừng cây biếc lục trên các triền núi cao phía Tây thành phố hiện rõ. Những đỉnh trọc phơi mầu đá. Đêm tỏ ngời.

Cuối tháng tư, gió êm ngát trong ngày thỉnh thoảng nổi cơn lộng vào ban trưa hoặc ban chiều. Nắng reo vang trên đồi, trong các rừng thông, lá rộn rịp và trái khô rụng. Mầu nắng rực rỡ, chất nắng óng quyện như mật no ứ gió và phấn thông.

Kiệt bị ho mất tuần lễ có lẽ vì không khí đầy phấn thông.

Đầu tháng năm, đôi lúc ban ngày mưa rào nặng hạt, ngắn ngủi, báo hiệu mùa hè. Đã có sương mù ban đêm. Những buổi sáng trời quang tạnh, gió hẩy hẩy đón nắng. Từ đây cho đến ngày đổ những trận giông lấp kín trời đất, gió còn ngả ngớn giữa nắng, mưa êm dịu.

Kiệt êm tĩnh lạ. Êm tĩnh đủ mọi thứ. Những ngày làm việc trôi chẩy. Thư từ tin tức gia đình đều đặn. Giấc ngủ không bị khuấy động. Mặc dù chung quanh không vậy.

[…] Những buổi chiều thật đẹp. Gió thấp, gió cao, trùng trùng như nắng trên những quãng rộng. Kiệt bắt gặp mình mơ màng hắt hiu. Như thể gió cuốn bay mọi ý nghĩ ra ngoài trời. Kiệt húng hắng ho khi bất chợt hớp phải một ngụm gió lùa.

[…] Nằm trong đêm, Kiệt chờ giấc ngủ.

Chàng nghe lại những đoạn nhạc, nhìn lại những ảnh tượng. Chàng thấm nỗi tang thương vật vã của khúc nhạc ngoài mọi kỷ niệm. Chàng lặng trong ánh lửa bên triền núi tưởng đến một tảng đá bị nung đốt. Một lúc, những âm thanh tán loạn dượt đuổi nhau như những chấm sáng bay mù tít theo nhịp nở dãn riêng không sao kiềm chế, kết hợp. Để trấn áp, Kiệt tập trung tư tưởng, gợi nhắc một vài ảnh tượng liên quan đến Beethoven. Ngôi nhà ẩn náu lúc cuối đời của nhạc sĩ, chàng đã tới chiêm ngưỡng ở Heiligenstadt.

Chàng tưởng tượng nếu như mình điếc đặc hay mù tịt. Rồi chàng mơ màng mường tượng ngọn đại thụ trơ vơ giữa cơn giông tố. Một con dị điểu tên găm đầy mình lao vút, ngã đâu trên chín tầng trời thanh thản. Và chàng hát trong đầu, đề nhạc thiết tha của Hòa Tấu Khúc số 9, những lời trào dâng không rứt của khúc Hoan Ca.

[…] Một thiếu nữ ngồi trên lối bực đá từ dưới lộ dẫn lên cư xá ngay trước mặt nhà. Tóc ngắn lưng áo vàng. Chính mầu áo nổi rực giữa bờ cỏ rậm trên khu đồi chi chít những gốc thông già hoang tịch vào lúc nửa chiều đập mạnh mắt Kiệt. Mầu vàng tươi lóe trong đám xanh rối.

Trong khoảnh khắc Kiệt choáng váng, lóng ngóng như hệt trong chuỗi ngày đông ảm đạm bỗng một buổi sáng trên đường đi mắt chàng bắt gặp những đóa hoa vàng dại lan tràn khắp bờ bụi. Mầu hoa giống như những tiếng chuông reo mừng giữa cơn buốt giá báo trước anh đào sắp nở. Bởi không lâu sau khi giống hoa dại biến trụi không sót cánh nào – cũng đột ngột như lúc xuất hiện thừa mứa – những đốm hồng quý phái bắt đầu trổ mọc trên các cành trơ trụi. Mầu hồng rập rờn trên những cây anh đào thấp bé giữa cảnh rừng núi xanh ngắt như khúc ru kín ẩn nồng nàn trong tiết đông hàn tê tái. Nhưng Kiệt vẫn ngoái tưởng đến mầu vàng của giống hoa dại, như đoạn khai mở rộn rã mê mẩn rồi chấm dứt mau lẹ.

Lúc này Kiệt cũng nghe động hồi chuông vang lừng ngân nga.

Thiếu nữ ngồi lọt giữa bờ cỏ bị cắt lìa một quãng. Cỏ cao hơn đầu nàng. Những cành thông giăng đan cao hơn. Nàng quay mặt xuống đường. Một cột đèn trồng bên rìa đường nhô ngang tầm đầu. Thấp hơn đường, xa hơn cột đèn hiện mảng mái ngói nơi nhà kho hoang phế của ga xe lửa.

[…] Đêm kỳ ảo, cửa ngõ của cõi mộng mị hoang đường, như phóng từ trí tưởng viển vông bị đầu độc bao giờ không hay, hiển hiện. Kiệt ở trong. Không phải một mình mà cùng với một người khác. Với Oanh. Cõi sáng láng và tối tăm, tưng bừng và lạnh vắng, huy hoàng và điêu tàn, gần gũi và vời vợi. Cõi hiện tại phù du vĩnh viễn bất tuyệt, người ta sống không kịp thấy mình đang sống. Thời gian núp ẩn đâu sau lưng hoặc đón đợi bên ngoài.

Gọi đó là cơn huyễn hoặc của những tâm trí bất thường cũng đúng. Oanh rồi có thể lúc nào tỉnh táo sẽ bảo mình đã mê. Cả Kiệt nữa, sẽ giận dữ, cay đắng với mình nhiều lúc, coi mình là kẻ bệnh hoạn khiếm khuyết tật nguyền. Nhưng lúc đó chưa tới.

[,,,] Trời chưa rạng nhưng từ dưới chân dốc Kiệt đã trông thấy Oanh đứng bên vệ đường. Suốt đêm Oanh không ngủ. Nàng sửa soạn xong hành trang từ năm giờ sáng. Còi dứt giới nghiêm nàng đã ra đứng trước cổng nhà trọ. Người bạn ở chung còn ngủ. Oanh mang theo một chiếc vali và chiếc sắc du lịch.

[…] Buổi sáng khác thường. Không khí ẩm iu. Tiếng gió vi vu lạ lẫm. Nước hồ sóng sánh, gợn đục. Những đỉnh núi khuất trong sương. Cây cỏ đã thức, nặng trĩu. Lại bão rớt. Kiệt hít hà. Trời biệt ly, trời cũng lãng mạn, trời đất váng vất, ngơ ngác. Kiệt nói to những ý nghĩ khơi khơi. Sau khi gửi hành lý Kiệt trở về nhà cất xe. Oanh theo chàng. Họ đi thêm lần nữa trên dải đường trong cư xá, thanh thản như hai kẻ vừa thức dậy dạo chơi ban mai.

[…] Xe xuống đèo trong trận mưa trắng xóa. Rừng lũng ngun ngút. Kiệt vẫn chỉ biết ôm đầu Oanh trong ngực, vuốt ve mái tóc, nhấm nhấm những sợi tóc bay. Chàng ngậm kín lời, thỉnh thoảng bắt gặp thoáng mắt ngước lên của Oanh, chàng cười. Đoạn đường từ thành phố xuống phi trường dài hơn hai mươi cây số, quãng mưa, quãng tạnh. Một khúc đường đang được một đơn vị công binh Việt Nam tiếp tục sửa sang mở rộng để nối với xa lộ do quân đội Mỹ làm dở dang. Những người lính lem luốc đứng bên đường rừng. Ngày làm việc chưa bắt đầu. Xe ủi đất bỏ ngang giữa lộ.

Hết đèo nắng hửng dần.

[…] Những ngày kế tiếp, trời động bão, mưa lây nhây rỉ rả đêm ngày. Gió thốc tạt. Trời xỉn cũ, từ sáng đến chiều một mầu, đôi lúc xập xuống như sắp cạn tuyệt ánh sáng. Không khí chùm hụp, bưng bít, mốc meo, trong ngoài không chừa chỗ nào. Người nào cũng trùm áo mưa, chụp nón, lúi cúi lúp xúp. Chỗ nào lúc lép nhép, trơn trượt, bẩn thỉu.

Thoạt tiên chỉ tưởng cơn trở trời trái gió một hai buổi là tan. Chưa đến tháng gió mùa thổi, không hiểu sao bão đã tới. Những ngày này như đã vào tháng bẩy, tháng tám, như mùa hè đã qua và mùa thu của miền cao đang về.

Những ngày mưa thối cỏ thối cây dứt, gió sẽ bắt đầu cất tiếng ca trên đồi, dưới lũng, bài hát ảo não của mùa mặt trời lảng trốn bên kia núi, dưới đèo.

[…]

bài đã đăng của Bùi Vĩnh Phúc

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

@2006-2025 damau.org ♦ Tạp Chí Văn Chương Da Màu
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)