(Tiếp theo Kỳ 1)
Da Màu: Mong anh cho nhận xét về sự khác biệt giữa Văn Học Miền Nam 1954-1975 và Văn Học Việt Nam Hải Ngoại.
Bùi Vĩnh Phúc: Sự khác biệt chính nằm ở hoàn cảnh lịch sử, môi trường sống, cũng như tâm thế sống của người viết và người đọc. Cũng có cái giống từ góc nhìn. Nói về Văn Học Miền Nam 1954-1975 (VHMN 1954-1975) thì sẽ không thoát khỏi sự đối chiếu giữa hai nền văn học trong Nam và văn học ngoài Bắc, trong cùng một giai đoạn (một sự đối chiếu khách quan, không cảm tính, để thấy cái đặc thù, mạnh yếu của mỗi dòng)—cũng như khi nói về văn học Đàng Trong (văn học Nam Hà), người ta thường dễ đặt nó trong thế đối sánh với văn học Đàng Ngoài (văn học Bắc Hà)—; còn nói về Văn Học Việt Nam Hải Ngoại thì thường sẽ có cái nhìn đối sánh với văn học trong nước.
VHMN 1954-1975 được viết và đọc trong cái nhịp sống và tâm thế sống của những con người vẫn sống tại quê hương, mặc dù khác với cái nhịp sống và tâm thế sống của những con người ở miền Bắc vào cùng giai đoạn. Đó là dòng văn học pha trộn giữa cái chơn chất, thật thà, láng lẩy và phóng khoáng của người dân miền Nam đã ở sẵn đó; cái cuồng nộ, sóng gió nhưng cũng hết sức thơ mộng của người miền Trung; và cái lịch lãm, sắc sảo, văn hoa, cộng với niềm hoài vọng về một nơi chốn đã rời bỏ của những người cầm bút di cư từ miền Bắc vào. Và chính những con người “tha hương” nhớ về “cố thổ” này, sau đó, cùng với những người cầm bút của miền “sông Hương núi Ngự” và của “đất phương Nam”, đã tạo nên một dòng văn chương đầy sức sống, phong phú, đa dạng, đa giọng, đa âm sắc, nhiều hương vị, bay múa theo cái nhịp sống tràn đầy, thiết tha và nóng hổi của VHMN 1954-1975.
Văn học VNHN, ngược lại, được khởi dựng bởi những con người sống trong một tâm thế khác. Những con người sống trên đất khách, với tâm trạng xa nhà, pha lẫn buồn đau, giận uất, ít nhất trong giai đoạn đầu. Sau đó, với sự sống đã ổn định, tâm hồn ngoài cái khắc khoải cũ, đã bắt đầu tiến đến tâm trạng làm quen, hoà nhập ở một mức độ nào đó vào cái mới, để sống còn và phát triển, những con người cầm bút ấy, đặc biệt những người ở các thế hệ sau—cùng với người đọc của họ—đã sống với tâm trạng “thế giới” hơn. Hay với một tâm trạng “kép”, mang tính “lai ghép”, với những phức tạp và trăn trở riêng.
Môi trường sống, hoàn cảnh sống, thời đại sống và tâm thế sống khác biệt, đưa đến sự đổi khác. Trong cách nhìn, cách cảm nhận cuộc sống, và, sau đó—đặc biệt nơi những người cầm bút có ý thức vượt thoát, làm mới, có sự tiếp xúc rộng rãi hơn với văn chương thế giới—trong cách thức thể hiện. Cái thể của văn đã dần dần có sự thay đổi.
Dù sao, con người sống là sống cùng và sống với. Sống với những người khác, với những hình ảnh, âm thanh, dòng chảy của sự sống và những biến động quanh mình. Cái sống của thời VHMN 1954-1975 và cái sống của Văn học VNHN khác nhau nhiều vì chúng tiếp cận với sự va đập và những “chất sống” khác nhau. Ngoài ra, cái thời của hai dòng văn học này cũng khác.
Tóm kết, tôi nghĩ, giữa hai dòng văn học này chắc chắn có sự kết nối, sự bắc cầu. Có một sợi dây dẫn, như sợi dây nhau, đưa dẫn và chuyển dịch, trao truyền sự sống. Khi sự sống mới bắt đầu, sợi dây nhau đó có thể được cắt đi, nhưng những nhiễm sắc thể, cái gien, đã nằm sẵn nơi cái sống mới. Nó giữ lại tất cả những đặc điểm trao truyền và dẫn nối đó; nhưng cái sống mới sẽ có những con đường riêng của nó trong sự tiếp xúc với mọi sự, đến từ mọi hướng, để giúp nó phát triển. Cái sống mới ấy sẽ khác đi, cách này hay cách khác, cho dù trong nó vẫn còn cái dưỡng chất và “bản đồ tham chiếu” ban đầu.
Da Màu: Theo quan sát của anh, có sự giao thoa nào giữa Văn Học Hải Ngoại và văn học trong nước không, và sự giao thoa đó diễn ra như thế nào?
Bùi Vĩnh Phúc: Tôi nghĩ là có sự đọc và nhìn ngắm nhau. Ở một mức độ nào đó. Trong một mắt nhìn, sự tạm gọi là giao thoa này cũng có những đường nét giống như sự giao thoa của những người viết trên khắp thế giới đối với nhau. Họ đọc nhau, và họ ảnh hưởng qua lại, tương tác với nhau và trên nhau. Cái viết và những tư tưởng, cách nghĩ, sự làm mới trong sáng tác được chia sẻ rộng rãi. Nhưng mỗi kẻ sáng tạo, thật sự sáng tạo, lại có cái riêng của mình. Và chính cái riêng ấy làm nên dấu ấn của họ. Không có cái riêng ấy, họ nhoà đi, và có khi bị xem là kẻ lặp lại.
Văn Học Hải Ngoại và Văn Học Trong Nước, dù sao, chưa thật sự có được sự chia sẻ cần thiết và có thực chất để có được một sự giao thoa. Trong một giai đoạn trước khi có sự bung nở của các diễn đàn mạng, vì hoàn cảnh xã hội, có một số nhà văn trong nước đã gửi bài ra cộng tác với một vài diễn đàn văn học ngoài nước, đặc biệt là với Hợp Lưu và Văn Học, và với cả tạp chí Thơ (của nhóm Khế Iêm). Nhưng sau đó, hoàn cảnh dần dần thay đổi. Và, với sự làm quen với các diễn đàn mạng, với sự mở rộng và tự do của mạng, sự vươn ra bên ngoài để đăng bài trên các báo in ở ngoài nước ấy có lẽ không còn cần thiết nữa. Việc viết và đọc, qua các kênh giao tiếp mới này, có những khía cạnh và biên độ mới.
Nhìn lại toàn bộ, các kênh “phát sóng” của cả hai bên chưa được kết nối trực tiếp và rộng mở. Chỉ có những người, cả ở trong nước và ngoài nước, cả người đọc lẫn người viết, quan tâm đến chữ viết và sự suy nghĩ, cùng lối sống, lối ăn nói, hành xử, v.v., của người ở phía bên kia mới tìm tòi để đọc và hiểu nhau. Chưa có một sự giao lưu và mở cửa chính thức. Cho dù một số rất ít tác phẩm của tác giả ngoài nước đã được in và phổ biến trong nước. Và, ngược lại, một số lớn các tiệm sách báo ngoài nước cũng bày bán một cách giới hạn các tác phẩm trong nước. Vấn đề ở bên trong là chính sách, và ở bên ngoài là hoàn cảnh và nhu cầu thị trường. Ở ngoài nước, các chủ tiệm sách, một phần vì không có đủ sách Việt của các tác giả hải ngoại—nhất là trong giai đoạn sách in đang thiếu hụt, khó tiêu thụ, vì gần như mọi sự đọc bây giờ được chuyển lên internet—, một phần vì muốn có sách bán, và có thể cũng vì biết nhu cầu của người đọc, đồng thời cũng muốn giới thiệu một số tác phẩm/tác giả ở trong nước, đã bày bán sách từ Việt Nam. Dù sao, họ chỉ có thể chọn lựa một số giới hạn tác giả và một số loại sách. Đặc biệt những sách dễ đọc và dễ bán. Không thể giới thiệu tất cả mọi sách vở ở trong nước được. Như thế là cũng bị giới hạn bởi hoàn cảnh cuộc sống, của vấn đề buôn bán, thương mại, và nhu cầu của người đọc.
Mạng internet là “kênh” chính thức giúp cho sự đọc và biết qua lại này giữa hai bên, mặc dù người đọc trong nước cũng không hẳn là có thể đọc được thoải mái và tất cả những diễn đàn văn học có gốc ở nước ngoài. Nhưng cái đọc ở đây cũng chỉ giới hạn vào những người trong nước có sự để ý và quan tâm. Việc đọc văn học Việt ngoài nước chưa được phổ thông hoá về mặt xã hội qua các ấn phẩm in trên giấy và được bày bán rộng khắp trên diện cả nước. Trong những năm gần đây, dù sao, có những tín hiệu hy vọng cho thấy một sự nhận thức tốt hơn. Mong là vấn đề này sẽ nhận được sự quan tâm xứng đáng và cần thiết, của những người có liên hệ đến chính sách và thiết tha với văn hoá dân tộc, để văn học Việt Nam có được cái phong nhiêu với nhiều màu sắc và biên độ phản ánh rộng lớn và thích đáng của nó.
Sự đọc hiện tại, ít nhất là qua internet như thế, cũng, phần nào, giúp cho người viết và người đọc bên trong và bên ngoài biết và hiểu nhau hơn. Ở đây, phải cám ơn những diễn đàn văn chương mạng cả ở trong và ngoài nước, từ nhiều năm nay, với những nỗ lực bền bỉ, thiết tha và sự hy sinh thời giờ, sức lực của những người yêu mê và trân trọng với văn học và con người Việt. Những diễn đàn đó là cần thiết. Chưa nói là giao thoa, nhưng tôi thấy có sự ảnh hưởng qua lại trong cách viết của cả hai bên. Và đó là điều cần và quý. Để viết được cho hay, cho sâu, người viết phải đọc nhiều. Để học hỏi cái hay, thậm chí cái dở của người khác (để tránh). Cái đọc chính là ngọn đèn soi đường để ta tiến lên phía trước. Và, nhiều khi, cũng là ngọn đèn để soi lại chính mình. Cái viết mình. Đời sống mình. Tôi tin là con người, nói chung, luôn cần một sư đọc như thế.
Da Màu: Có những nhà văn/nhà phê bình hay tác phẩm nào đã là nguồn cảm hứng đặc biệt cho anh trong việc viết không?
Bùi Vĩnh Phúc: Để viết, ta phải đọc. Đọc để mở rộng tầm nhìn, để học hỏi, để phản biện và để chấp nhận những cái nhìn, những lối nghĩ khác ta. Người không đọc mà cầm viết giống như kẻ mù cắm cúi đi trong đêm. Cũng có thể kẻ ấy sẽ đi đến một cái đích nào đó, nhưng chắc chắn cái đi ấy sẽ có nhiều sự chệch choạc. Sự đọc giúp ta có một khoảng không mở ra trên cao, với nắng gió và ánh sáng. Những điều ấy giúp cho hơi thở và mắt nhìn ta được khoảng khoát. Có thể đôi lúc cũng có sấm sét. Dù sao, ngay cả sấm sét cũng giúp ta thấu hiểu và nhận thức đúng cuộc đời hơn.
Tôi đọc trong tâm thức ấy. Và gặp được những người mà mình có thể học được điều này điều nọ từ cái viết của họ. Để viết về sự đọc và học này, một người viết nghiêm túc có thể chia sẻ nhiều điều. Đối với riêng mình, tôi muốn cám ơn những người đi trước, với tác phẩm của họ, đã mở ra cho tôi những chân trời. Trước đó là tối đen, mù mịt, hoặc tưởng như không có. Họ đã làm sáng các chân trời bằng những ngọn lửa của mình. Họ đã làm cho chúng hiển lộ.
Tôi nhớ đến trường hợp của Gabriel García Márquez và quyển sách “Pedro Páramo” của Juan Rulfo, viết năm 1955. Đây là một tác phẩm kỳ lạ, nổi tiếng với cấu trúc thử nghiệm, hình ảnh phong phú, và sự khám phá các chủ đề như ký ức, tội lỗi, và sự hiện diện, ám ảnh của quá khứ. Nó kể về Juan Preciado, kẻ đã thực hiện một hành trình để đến thị trấn (ma) Comala với mục đích tìm cha mình, Pedro Páramo. Nhưng anh ta lại khám phá ra một nơi tràn ngập âm hưởng của người chết, của cõi âm, và cái di sản đen tối của cha, người mình muốn tìm kiếm. Cuốn tiểu thuyết đã có ảnh hưởng lớn đến văn học châu Mỹ Latinh, đặc biệt là đến chủ nghĩa hiện thực huyền ảo.
Márquez cho biết rằng nhờ đọc quyển sách “Pedro Páramo” của Juan Rulfo mà ông đã tìm được cách viết quyển “Cien años de soledad” (“Trăm Năm Cô Đơn”, 1967). “Cien años de soledad” đã trở nên nổi tiếng khắp thế giới, giúp Gabriel García Márquez đoạt giải Nobel văn chương năm 1982. Sự thú nhận của Márquez không làm sút giảm ánh sáng toả chiếu từ tác phẩm riêng của ông. “Cien años de soledad” được xem là một trong những thành tựu đỉnh cao của văn chương nhân loại, và đã đưa văn học châu Mỹ Latinh vào mắt nhìn của thế giới.
Cái đọc, như thế, là một điều quan trọng trong hành trình viết của bất cứ một người cầm bút nào.
Tôi đọc các nhà văn, nhà thơ, các nhà nghiên cứu, phê bình, biên khảo của Việt Nam cũng như của thế giới. Trong khoảng vài chục năm nay thì tôi có cơ hội đọc nhiều hơn về các tác giả có những tác phẩm mà tôi nghĩ đã tạo nên nhịp thở và tiếng đập của trái tim nhân loại. Tôi đã hạnh phúc và học được nhiều điều từ tất cả những cái đọc ấy. Sự đọc làm con người sống phong phú, tràn đầy và thiết tha hơn.
Ở một mức độ nào đó, tôi đã chia sẻ kinh nghiệm đọc này của tôi trong bài “Nói Chuyện Đọc và Viết & Cái Sống, Thân Phận, Hiệu Ứng của Chữ”, được phổ biến khoảng một năm trước đây. Vậy, xin phép được không trình bày thêm nữa.
Đọc là một chất liệu nuôi dưỡng cái viết nơi người cầm bút. Trong những thứ “thực phẩm trần gian” (“Les nourritures terrestres” (1897), chữ/tác phẩm của nhà văn André Gide, Nobel văn chương 1947), những quyển sách hay, những tác gỉả tài năng, là những “của ăn” cần thiết cho bất cứ ai muốn tiến xa trên con đường cầm bút.
Da Màu: Với sức đọc “thiên kinh vạn quyển” như thế, anh đã có một thư viện riêng rất lớn, nhưng nghe nói anh từng có lần “tung hê” (hay, đúng hơn, là trao tặng đi) rất nhiều sách của mình. Trong hoàn cảnh và với lý do nào anh đã làm chuyện ấy?
Bùi Vĩnh Phúc: À, lúc đó là vào giai đoạn cả thế giới đang bị đại dịch Covid-19 bủa vây, trong khoảng hai năm rưỡi, từ tháng Một, 2020 đến tháng Năm, 2023. Tôi cũng bị “giam” trong nhà, không có dịp gặp gỡ bạn bè thân hữu như trước. Tôi dùng thì giờ ấy để đọc sách. Lục tìm những sách vở cũ ra đọc và xem lại. Thấy mình có quá nhiều sách. Thấy hạnh phúc trong việc lục lọi và đọc lại các loại sách báo và tài liệu cũ. Rồi, đến một lúc, tôi nghĩ cuộc đời này cũng quá “vô thường”, sao không trao tặng bớt sách đi cho nhiều người cùng đọc. Thế là, sau đó, tôi mất khoảng từ hai đến ba tháng để lục lọi, duyệt xét lại tất cả các loại sách mà tôi đã thu thập được từ khi đến Mỹ, có nghĩa là trong hơn 40 năm tính đến thời điểm ấy. Sách vở lúc bấy giờ được lục ra, xếp la liệt đầy nhà. Tôi lọc lựa ra khoảng từ bốn đến năm ngàn quyển sách để giữ lại; còn tất cả khoảng hơn năm ngàn quyển khác tôi phải cất công cho vào các thùng carton (cũng phải ra Home Depot mua nhiều), chất đầy nhà. Để chuẩn bị cho đi. Nhà cửa lúc ấy rất buồn cười! Tôi phải mua giấy dầu “băng kín” lại những bức tường trắng trong nhà—giống như mình đang sửa nhà vậy—để các thùng sách này khỏi làm bẩn hay xước các bức tường. Mà chuyện bỏ sách đi, vui thì vui vì thấy mình đang làm được một việc tốt, là đem sách chia sẻ cho nhiều người khác đọc, nhưng, một cách nào đó, cũng giống như mình tự lột da mình vậy. Tất cả sách vở là những kỷ niệm đã bám vào đời sống mình. Mỗi quyển sách đều nhắc tôi nhớ đến lần đầu tiên tôi tìm được nó ở đâu. Trong hoàn cảnh hay giai đoạn nào. Đời sống và tâm thái mình lúc gặp gỡ nó lần đầu, mua nó về nhà, đọc và hạnh phúc với nó thế nào, v.v..
Việc lục lọi và sắp xếp sách để giữ lại hay cho đi không dễ. Vì việc ấy dính líu đến chuyện xem lại, ở một mức độ nào đó, cả chục ngàn quyển sách. Có những loại sách báo, nhất là những quyển sách hay những tờ báo cổ, một khi đã lục ra, giở qua một vài trang, là nhiều lúc không dừng lại được. Lại mê man đọc. Và đủ mọi thứ kỷ niệm ùa về. Lúc ấy, tôi như là sống với sóng. Sóng hình ảnh, sóng cảm xúc, sóng thời gian, từ bao nhiêu kỷ niệm cứ ào ạt đổ về, nhồi tôi bập bềnh trên những dòng lũ… Sách từng thùng, để chồng trong nhà kho, chất cao ngất ngưởng từ nhiều năm. Phải bắc thang, trèo lên, bê từng thùng xuống. Rồi mở ra, lục lọi, chọn lựa. Rồi lại sắp xếp, phân loại, rồi bỏ chúng vào các thùng mới. Thùng nào giữ lại, thùng nào cho đi. Sách bỏ vào thùng, chất lên, rất nặng, sức mình không làm nổi, tuổi tác cao nếu cố quá có thể gẫy lưng. Tôi phải thuê người đến giúp việc khuân vác, và xếp chồng lên nhau các thùng sách. Sau khi đã bỏ sách báo vào cả mấy trăm thùng sách, chất đầy cả trong nhà, ngoài vườn, ngoài cửa, để đem cho, tôi lại phải tiếp tục thuê người đem xe pick-up đến khuân ra xe, và thực hiện nhiều chuyến đi với họ, trong nhiều ngày, đến các thư viện để cho sách.
Trong suốt quãng thời gian ấy, tôi được sống với nhiều cảm xúc. Nhớ lại cả về những ngày còn bé “vừa đi vừa đọc sách” trên những đường phố thưa thớt xe cộ và đầy bóng cây xanh, với tiếng kêu luýt chuýt của các loài chim trên cao, nắng vàng nghiêng xuống. Nhớ lại những ngày đi lục sách cũ bầy trên vỉa hè của những con đường Công Lý, Pasteur… ở Sài gòn; những lúc la cà bên các kiosques chứa đầy sách báo trên các con đường Lê Lợi, Nguyễn Huệ, Pasteur, Công Lý. Rồi đạp xe hay lái xe về, với một tay nải đầy sách, và mấy chùm mây ngũ sắc phía trước mặt trên đường trở về “cố quận”, để mở từng trang sách ra đọc. Bao nhiêu quyển sách thơm mùi giấy mới. Những kỷ niệm, như những tờ giấy cũ càng, vàng ố, và nhàu nát. Mở những tờ giấy vàng ố ấy ra, rồi vuốt lại cho phẳng phiu. Mây vẫn bay đầy trong ấy.
Chuyện mang cho sách ấy của tôi, Đinh Từ Bích Thuý—một dịch giả, biên tập viên, và chủ biên Da Màu (2010-2012)— chia sẻ trong email riêng vào dịp Giáng Sinh 2020, với một nụ cười nghịch ngợm, là một sự “thoái vốn”. Thuý nói là Google dịch thế. Nó dịch chữ “divest”. Mình không tiếp tục “invest” nữa, mà lại “divest”. Chữ nghĩa nó như thế! Thật ra, chữ “divest” này của tiếng Anh có nhiều màu sắc và ý nghĩa khác biệt. Nhưng “thoái vốn” là một chữ rất hay trong lĩnh vực, phạm vi riêng của nó. Trong trường hợp tôi, việc tìm cách trao tặng sách, và, phần nào, thoát ly khỏi sách vở, chữ “thoái vốn” này thật ngộ nghĩnh. Tôi cũng chẳng ngờ có ngày mình lại chơi trò “thoái vốn” một cách … căng thẳng và hạnh phúc đến vậy. Một cuộc “thoái vốn” giữa những kỷ niệm vàng ố đầy mây cùng mùi thơm tưởng tiếc của thời gian.
Da Màu: Độc giả đã được nghe nhà phê bình, nhà thơ, nhà nghiên cứu văn học Bùi Vĩnh Phúc kể về hành trình đọc và viết của anh với tất cả niềm đam mê văn chương chữ nghĩa. Bây giờ xin được mời nhà giáo Bùi Vĩnh Phúc nói về một sở trường khác của anh, là ngôn ngữ. Đọc những gì anh viết về các vấn đề ngôn ngữ (nhất là về ngôn ngữ Việt Nam) rất thú vị. Người mình có câu nói “Phong ba bão táp không bằng ngữ pháp Việt Nam”. Để mở rộng từ vấn đề ngữ pháp đến chuyện ngôn ngữ nói chung, mong anh cho một nhận định về ngôn ngữ Việt, theo anh có lắm “phong ba bão táp” không? Và chắc hẳn nó là một trong những loại ngôn ngữ khó học và “lắt léo” nhất trên thế giới?
Bùi Vĩnh Phúc: Chuyện “phong ba bão táp” liên hệ đến chuyện “ngữ pháp Việt Nam” là… chuyện “có thật”. Câu nói ẩn dụ ấy hay. Lại có vần có điệu. Làm ta nhớ. Và, chỗ này chỗ kia, ta cũng đã nghe và được đọc nhiều câu chuyện lý thú về chữ Việt, tiếng Việt. Thế nhưng, khi người ta đã quen biết đủ với một (số) ngôn ngữ nào đó trên thế giới, chắc chắn người ta cũng sẽ thấy là không chỉ tiếng Việt, chữ Việt, mà ngôn ngữ nào trên đời (hay trên thế giới) này cũng đều có cái đặc thù, phong nhiêu và… “lắt léo” của nó.
Nhà nhân học Claude Lévi-Strauss là người đã bác bỏ hoàn toàn quan niệm cho rằng ngôn ngữ của các bộ lạc “sơ khai” là đơn giản hay kém phát triển hơn so với ngôn ngữ của các xã hội “văn minh”. Và đây là một trong những tư tưởng cốt lõi của ngành nhân học cấu trúc (structural anthropology). Những ý này của ông được thể hiện rõ nhất trong cuốn “Race et Histoire” (Chủng tộc và Lịch sử), một tác phẩm ông đã viết vào năm 1952. Chúng cũng được lặp đi lặp lại và củng cố vững chắc trong các tác phẩm khác của Lévi-Strauss.
Để tổng hợp các ý đó một cách súc tích, ta có thể tạm đưa ra một diễn đạt như sau, căn cứ trên những ý tưởng của ông:
“Il n’existe pas de langues primitives, au sens où l’on a longtemps parlé de peuples primitifs. Toutes les langues, quelle que soit la simplicité de la société qui les parle, obéissent à des règles aussi complexes que celles du français ou de l’anglais. La structure du langage est le miroir de la complexité de l’esprit humain, et non du niveau technologique d’une culture.”
[ “Không hề có ngôn ngữ sơ khai (nguyên thủy), theo cái nghĩa mà người ta đã từng nói về các bộ lạc sơ khai. Mọi ngôn ngữ, bất kể sự đơn giản của xã hội sử dụng chúng, đều tuân theo những quy tắc phức tạp như tiếng Pháp hay tiếng Anh. Cấu trúc của ngôn ngữ chính là tấm gương phản chiếu sự phức tạp của tâm trí con người, chứ không phải là trình độ công nghệ của một nền văn hóa.” ]
Ý tưởng này là một chủ đề xuyên suốt trong nhiều tác phẩm của Claude Lévi-Strauss, nhưng nó được phân tích và trình bày một cách cô đọng nhất trong một số tác phẩm chính:
1. “Anthropologie Structurale” (Nhân Học Cấu Trúc): Đây là một cuốn sách tập hợp các bài tiểu luận của ông. Trong đó, ông sử dụng ngôn ngữ học cấu trúc như một mô hình để nghiên cứu các lĩnh vực khác của văn hóa như thần thoại, thân tộc và nghi lễ.
2. “Race et Histoire” (Chủng tộc và Lịch sử): Trong tác phẩm này, ông tranh luận một cách mạnh mẽ rằng sự đa dạng của các nền văn hóa không phải là bằng chứng cho sự khác biệt về “chủng tộc” hay sự kém phát triển, mà là kết quả của các lựa chọn lịch sử và văn hóa khác nhau. Ngôn ngữ, với sự phức tạp vốn có của nó, là một bằng chứng quan trọng cho luận điểm này.
Lévi-Strauss đã chỉ ra rằng ngay cả những ngôn ngữ tưởng chừng “giản đơn” nhất cũng có ngữ pháp, cú pháp và ngữ nghĩa vô cùng phong phú, thể hiện khả năng tư duy trừu tượng và logic (hay “lý tính”) sâu sắc của người bản xứ. Tôi đã có dịp nói qua về tư tưởng này của Levi-Strauss trong quyển “Trịnh Công Sơn / Ngôn Ngữ và Những Ám Ảnh Nghệ Thuật” (2005) khi nói về những khúc thức, tuy có vẻ giản dị, của họ Trịnh, nhưng chúng vẫn thể hiện được sự đẹp đẽ và cuốn hút của chúng đối với người nghe. Đó là chưa nói đến cái đẹp “huyền ảo” đầy tính lai ghép giữa mộng tưởng và hiện thực trong hình ảnh, chữ nghĩa, ngôn ngữ của người nhạc sĩ. Sự so sánh này, liên hệ đến quan điểm của Lévi-Strauss, dù sao, cũng chỉ mang tính ẩn dụ thôi, vì đây là so sánh giữa ngôn ngữ âm nhạc—giữa những nốt nhạc và cách sắp xếp chúng—với ngôn ngữ nói chung, nhưng tôi nghĩ nó cũng có thể đưa đến một suy nghĩ tương đồng nào đó.
Trong tác phẩm “La Pensée Sauvage” (Suy Tưởng Man Mọi, hay, thích đáng và trung tính hơn, Tư Duy Hoang Dã), một trong những cuốn sách quan trọng nhất của ông, Lévi-Strauss không trực tiếp nói về ngôn ngữ mà tập trung vào tâm trí hoang dã (pensée sauvage) và cách nó tổ chức thế giới. Ông cho rằng tâm trí này không hề “sơ khai”, mà là một hình thức tư duy logic hoàn toàn độc lập, khác biệt nhưng không hề thua kém so với tư duy khoa học hiện đại.
Lévi-Strauss lên án việc xem sự sử dụng các khái niệm trừu tượng (của người “nguyên thuỷ”) như một bằng chứng cho thấy “sự nghèo nàn trí tuệ của những người hoang dã” [(une preuve de) « l’indigence intellectuelle des sauvages » (La Pensée Sauvage)], [tức là] những con người chỉ bằng lòng với các thuật ngữ chung chung vì họ không thể thực hiện các phân biệt tinh tế. Lévi-Strauss muốn khẳng định rằng, ở khía cạnh này, không có sự khác biệt căn bản giữa các xã hội được gọi là “nguyên thủy” và các xã hội mà các nhà dân tộc học thuộc về. Ông đã chứng minh rằng “việc sử dụng các thuật ngữ ít nhiều trừu tượng không phụ thuộc vào năng lực trí tuệ, mà là do những mối quan tâm được biểu hiện và chi tiết hóa một cách không đồng đều trong mỗi xã hội cụ thể.” [« l’usage de termes plus ou moins abstraits n’est pas fonction de capacités intellectuelles, mais des intérêts inégalement marqués et détaillés de chaque société particulière » (ibid.)].
Ông cho rằng các hệ thống phân loại của các bộ lạc (như totems, thần thoại,…) cũng phức tạp và có tính logic nội tại không kém gì các bảng tuần hoàn hóa học hay hệ thống phân loại sinh học. Do đó, mặc dù không trực tiếp đề cập đến ngôn ngữ trong câu nói này, nhưng thông điệp chính của nó là: khả năng tư duy của con người là phức tạp bẩm sinh, và ngôn ngữ của họ là một bằng chứng rõ ràng cho khả năng đó, bất kể nền văn hóa của họ ở trình độ phát triển nào.
Da Màu: Anh có thể nói, ở một mức độ sơ lược nào đó mà anh nghĩ mình có thể trình bày, cái rắc rối và “lắt léo” của một vài ngôn ngữ mà anh đã từng quen biết?
Bùi Vĩnh Phúc: Tôi nghĩ, mỗi ngôn ngữ là một thế giới riêng với những quy tắc, sự phong phú và cả những “khó khăn” đặc biệt của nó. Việc nắm bắt những nét đặc thù này giúp chúng ta hiểu sâu sắc hơn về văn hóa và cách tư duy của người bản xứ. Dưới đây là một số nét tiêu biểu về “cái khó”, cái đẹp và sự phong nhiêu của một vài ngôn ngữ mà tôi sẽ thử đề cập:
1. Tiếng La-tinh (Latin)
Tính linh hoạt nhưng phức tạp: Tiếng La-tinh là một ngôn ngữ “biến tố” (inflected language) cực kỳ phức tạp. Thay vì dùng thứ tự từ để xác định vai trò của danh từ (chủ ngữ, tân ngữ/túc từ…), nó sử dụng các đuôi từ (case endings). Có tới sáu cách (cases) khác nhau cho danh từ và tính từ (nominative, accusative, genitive, dative, ablative, vocative…). Người học phải nhớ biến cách cho cả danh từ, tính từ, đại từ, và động từ. Số lượng các biến cách khiến nhiều người “toát mồ hôi”.
Thứ tự từ được “thả lỏng” tự do: Do có đuôi từ, ta có thể sắp xếp các từ trong câu gần như tùy ý mà vẫn đúng ngữ pháp, miễn là đuôi từ không đổi. Điều này tạo nên sự linh hoạt và tính thi vị cho văn chương La-tinh, nhưng lại là cơn ác mộng cho người học. Ví dụ: “Puer puellam amat” (chàng trai yêu cô gái) có thể viết thành “Puellam puer amat” hoặc “Amat puer puellam” mà ý nghĩa không đổi. Câu La-tinh có thể đảo trật tự rất tự do, nên đọc những câu dài giống như giải một mê cung ngữ pháp.
Không có mạo từ (articles): Tiếng La-tinh không có mạo từ xác định (“the”) hay không xác định (“a/an”), khiến việc dịch sang các ngôn ngữ khác đòi hỏi người dịch phải nắm vững và hiểu rõ ngữ cảnh.
Cái đẹp và cái khó của tiếng La-tinh là cực kỳ cô đọng, giàu tính tu từ. Một câu ngắn có thể chứa lượng thông tin bằng cả đoạn văn tiếng Anh.
2. Tiếng Đức (German)
Danh từ & Giống: Giống như La-tinh, tiếng Đức có ba giống danh từ (giống đực – der, giống cái – die, trung tính – das). Vấn đề là giống của danh từ không theo quy tắc rõ ràng, ta phải học thuộc lòng.
Hệ thống cách (cases): Tiếng Đức cũng có bốn cách (cases) cho danh từ, mạo từ và tính từ (nominative, accusative, dative, genitive). Cả mạo từ và tính từ đều phải thay đổi đuôi từ để phù hợp với giống, số và cách của danh từ, tạo nên một hệ thống biến cách phức tạp. Ví dụ: der große Mann (người đàn ông to lớn) nhưng thành dem großen Mann (đối với người đàn ông to lớn).
Cấu trúc câu: Cấu trúc câu tiếng Đức có thể rất rắc rối, đặc biệt với các mệnh đề phụ, nơi mà động từ chính thường bị đẩy về cuối câu. Trong khi đó, ở mệnh đề chính, động từ ở vị trí số 2. Trong câu hỏi hay mệnh lệnh, động từ đứng ở vị trí đầu.
Danh từ ghép: Tiếng Đức rất nổi tiếng với khả năng tạo ra các danh từ ghép cực dài và phức tạp (ví dụ: Rechtsschutzversicherungsgesellschaften – các công ty bảo hiểm bảo vệ pháp lý). “Rechtsschutzversicherungsgesellschaft” (“Legal protection insurance companies”) là một danh từ ghép, được hình thành bằng cách kết hợp các từ “Recht” (“law”), “Schutz” (“protection”), “Versicherung” (“insurance”) và “Gesellschaften” (“companies”). Từ này, mặc dù dài, nhưng nó được coi là một trong những từ dài nhất được sử dụng hằng ngày trong tiếng Đức. Nó là một từ đầy đủ được dùng để chỉ các công ty cung cấp bảo hiểm pháp lý, mang đến sự bảo vệ trong các vấn đề pháp lý. Một từ ghép rất dài khác: Donaudampfschifffahrtsgesellschaftskapitän (thuyền trưởng công ty tàu hơi nước sông Danube).
Vẻ đẹp của câu tiếng Đức là khả năng tạo khái niệm chính xác bằng cách ghép từ, và, đặc biệt, diễn đạt những tư tưởng triết học phức tạp một cách trật tự.
3. Tiếng Pháp (French)
Giống và Sự hòa hợp (Gender and Agreement): Tiếng Pháp có hai giống danh từ (đực và cái). Giống của danh từ không có quy tắc rõ ràng, ta phải học thuộc lòng. Tính từ và mạo từ phải thay đổi để “hòa hợp” về giống và số với danh từ mà chúng bổ nghĩa.
Thì và Thể động từ phức tạp: Hệ thống chia động từ của tiếng Pháp rất phong phú với nhiều thì (tương lai, quá khứ đơn, quá khứ kép…) và thể (bàng thái cách – subjonctif, điều kiện cách – conditionnel…). Người ngoại quốc có thể khá nhức đầu với các thì và thể của tiếng Pháp.
Ngữ âm và Chính tả: Tiếng Pháp có rất nhiều âm câm (chẳng hạn âm cuối không đọc), khiến việc học phát âm và chính tả trở nên khó khăn. Cùng một âm thanh có thể được viết bằng nhiều cách khác nhau (ví dụ: “eaux”, “au”, “o”). Những nguyên âm mũi (nasal vowels) trong tiếng Pháp cũng là những nét đặc thù riêng. Nếu không được học tập phát âm từ nhỏ, người nước ngoài cũng khó có thể phát âm chuẩn những âm với đặc thù về ngữ âm này. Câu “Un bon vin blanc” có thể là một câu biểu tả nét đặc thù của những nguyên âm mũi Pháp. Để nắm vững những nét đặc thù về mặt ngữ âm của cụm từ này, ta cần luyện tập cách phát âm nguyên âm mũi, phụ âm câm và những khác biệt tinh tế về phương ngữ. Ngoài ra, quy tắc liaison (nối âm) trong tiếng Pháp khiến việc phát âm và nghe hiểu trở nên khó cho người mới học.
Cái đẹp của tiếng Pháp là nó được xem là ngôn ngữ của văn chương và ngoại giao, giàu từ vựng mô tả sắc thái cảm xúc.
4. Tiếng Tây Ban Nha (Spanish)
Động từ bất quy tắc và Ngữ điệu: Tiếng Tây Ban Nha có rất nhiều động từ bất quy tắc, và việc chia động từ cho mỗi ngôi (tôi, bạn, anh ấy/cô ấy, chúng tôi…) và mỗi thì là một thách thức lớn. Ngữ điệu uyển chuyển, trọng âm quyết định nghĩa—trong cách viết và cách phát âm (papá = cha; papa = khoai tây (la papa), hay đức giáo hoàng (el papa) ).
Hai động từ “to be”: Tiếng Tây Ban Nha có hai động từ tương đương với “to be” trong tiếng Anh: “ser” và “estar”. Ser dùng để chỉ những đặc điểm lâu dài, bản chất, trong khi estar dùng để chỉ trạng thái tạm thời, vị trí. Việc sử dụng sai hai từ này là lỗi phổ biến nhất. Ngoài ra, hệ thống subjunctive mood (thức giả định/bàng thái) được dùng nhiều hơn tiếng Anh, khiến người học dễ bối rối.
Giống, Số và Dạng từ: Tương tự tiếng Pháp, danh từ, mạo từ, và tính từ phải hòa hợp về giống (đực/cái) và số (ít/nhiều). Có nhiều từ đồng âm, dạng giống nhưng nghĩa khác (false friends) so với tiếng Anh.
Vẻ đẹp của ngôn ngữ này nằm ở nhạc tính và khả năng diễn đạt tình cảm tinh tế, nhất là trong thơ và ca khúc.
5. Tiếng Anh (English)
Cú pháp đơn giản, nhưng từ vựng phức tạp: Ngữ pháp tiếng Anh, nhìn chung, đơn giản hơn so với các ngôn ngữ La-tinh hay Đức, không có giống danh từ, và hệ thống biến cách đã bị lược bỏ. Trật tự câu đóng vai trò lớn. Hệ thống từ vựng đồ sộ nhờ vay mượn từ nhiều ngôn ngữ (Latin, Pháp, Đức, v.v.).
Động từ bất quy tắc: Tiếng Anh có hàng trăm động từ bất quy tắc ở thì quá khứ và quá khứ phân từ. Ta phải học và nhớ.
Cụm động từ (Phrasal verbs): Đây là một trong những điểm khó nhất của tiếng Anh. Một động từ kết hợp với một giới từ hoặc trạng từ có thể tạo ra nghĩa hoàn toàn khác (ví dụ: “take off”, “take up”, “take on”). Tiếng Anh có rất nhiều thành ngữ không thể (hoặc khó) dịch thẳng.
Ngữ âm và chính tả bất quy tắc: Chính tả tiếng Anh rất khó đoán. Cùng một cách viết có thể có nhiều cách phát âm khác nhau (“ough” trong “tough”, “through”, “though”, “bough”) và ngược lại. Điều này do sự vay mượn từ những nguồn gốc khác nhau.
Cái đẹp của tiếng Anh là nó rất linh hoạt, và giàu khả năng sáng tạo từ mới. Nó có thể diễn đạt ý tưởng từ giản dị đến hàn lâm.
Da Màu: Nghe anh trình bày về các ngôn ngữ vừa nói, ta thấy được cái tinh tế, phong phú và nét đẹp của các ngôn ngữ này. Nếu có thể, mong anh cũng trình bày đôi chút như trên về Việt và Hán ngữ.
Bùi Vĩnh Phúc: Về tiếng Việt và tiếng Hán, từ đó liên hệ đến tiếng Hán-Việt—cũng là một phần máu thịt và hơi thở của chúng ta từ bao đời, và là thành phần tạo nên sự phong phú của ngôn ngữ Việt Nam—, tôi có vài nhận xét như sau:
6. Tiếng Việt
Nét đặc thù và Thanh điệu: Ngôn ngữ đơn lập (không biến hình), trật tự từ và hư từ quyết định ngữ pháp. Thanh điệu là nét đặc trưng và cũng là thách thức lớn nhất đối với người nước ngoài. Tiếng Việt có 6 thanh điệu, việc phát âm sai một thanh có thể làm thay đổi hoàn toàn ý nghĩa của từ (“ma”, “má”, “mà”, “mả”, “mã”, “mạ”). Với người nước ngoài, phát âm và phân biệt thanh điệu là thử thách lớn.
Hệ thống đại từ nhân xưng và kính ngữ phong phú: Tiếng Việt có một hệ thống đại từ nhân xưng và kính ngữ vô cùng đa dạng, phức tạp, phụ thuộc vào tuổi tác, mối quan hệ, giới tính, vai vế, mức độ thân mật, và cả vùng miền (chú, bác, cô, dì, dượng, o, mệ, anh, chị, ông, bà, tôi, em, cháu, con, v,v.). Rồi kính, thưa, xin phép, hân hạnh, trân trọng, kính mời, kính báo, dạ, vâng, xin lỗi, tôi xin được, tôi mạn phép, v.v. ). Ngoài cách dùng đại từ nhân xưng mang tính tôn kính, ngoài cách nói khiêm cung, nhún nhường, hệ thống kính ngữ của tiếng Việt cũng bao gồm những cách nói lich sự, như: “Xin mời anh dùng cơm.”, hay “Cho phép tôi được giới thiệu.”, v.v..
Từ vựng phong phú: Tiếng Việt có nhiều từ đồng âm khác nghĩa, và ý nghĩa phụ thuộc vào ngữ cảnh. Hệ thống từ vựng đa dạng: từ thuần Việt, từ Hán-Việt, đến các từ vay mượn. Một ý có thể được diễn đạt bằng nhiều từ đồng nghĩa với sắc thái khác nhau. Người ta cũng đã nói nhiều về chuyện thú vị của động từ “porter” trong tiếng Pháp khi được chuyển sang tiếng Việt (mang, vác, xách, cõng, địu, thồ, bồng, bế, cặp, khiêng, bưng, đội, gánh, gồng, ôm, đeo, v.v.).
Cái đẹp của tiếng Việt cũng nằm ở chỗ giàu nhạc tính, ngắn gọn, uyển chuyển trong thơ ca và tục ngữ.
Về vấn đề ngữ pháp tiếng Việt, sự mô tả, nhìn ngắm và tranh luận về nó cũng cho thấy cái phức tạp của ngôn ngữ. Chẳng hạn, chỉ xét riêng về mạo từ/loại từ, ngoài hai chữ cái và con với cách sử dụng đặc biệt và tế nhị, việc xác định “tư cách” mạo từ/loại từ trong tiếng Việt, đối với một số chữ khác, cũng rất phức tạp, cho thấy cái “phong ba” riêng của tiếng Việt.
7. Hán ngữ (Chinese)
Hinh thức chữ Hán: Đây là thử thách lớn nhất. Tiếng Hán không dùng bảng chữ cái, mà dùng hàng chục ngàn ký tự (chữ Hán); mỗi ký tự có thể đại diện cho một từ hoặc một ý. Để đọc báo, ta cần nắm vững ít nhất 2.000-3.000 chữ. Chữ viết logographic (chữ tượng hình/biểu ý) cho thấy mỗi chữ là một đơn vị nghĩa.
Tiếng Hán cổ điển cực kỳ cô đọng, không dấu câu, không biến hình.
Thanh điệu và từ đồng âm: Tương tự tiếng Việt, tiếng Hán có bốn thanh điệu và một thanh nhẹ. Việc phát âm sai thanh điệu sẽ dẫn đến hiểu lầm. Tiếng Hán hiện đại có nhiều đồng âm, buộc người nghe phải dựa vào ngữ cảnh.
Ngữ pháp tương đối đơn giản: Ngữ pháp tiếng Hán lại khá đơn giản so với các ngôn ngữ châu Âu. Không có giống, không có biến cách danh từ hay chia động từ theo ngôi và thì. Các thì được biểu thị bằng các từ chỉ thời gian (hôm qua, ngày mai) hoặc các trợ từ (như 了, 过).
Nói như thế, nhưng ta cũng nên biết là cách dùng chữ Hán, đặc biệt các hư từ, rất phong phú. Chẳng hạn như các từ chi, hồ, giả, dã, yên, tai, hĩ, v.v. Chính vì thế nên các nhà nho Trung Hoa xưa đã có câu này để khuyên học trò: “Chi hồ giả dã hĩ yên tai / Dụng đắc thành chương hảo tú tài” (Ý nói cách dùng các hư từ trên rất phức tạp. Dùng chúng nhuần nhuyễn và viết được thành văn thì xem như đã đạt đến mức “công phu thượng thừa”, có thể đậu tú tài được). Ngoài ra, nói là ngữ pháp chữ Hán tương đối đơn giản, nhưng khi nghiên cứu kỹ, giống như ngữ pháp của các ngôn ngữ khác, vấn đề thật ra lại không hề đơn giản. Nó cũng có những luật tắc và những cái tế vi như ngữ pháp của các thứ tiếng khác. Vấn đề là chúng ta tiếp cận những ngôn ngữ này đến đâu.
Cái đẹp của Hán ngữ là cấu trúc cân đối, hình tượng giàu sức gợi. Mỗi chữ có thể có lịch sử hàng nghìn năm.
Tất cả những nhận xét hết sức sơ lược trên về những nét đặc thù, phong nhiêu hay khó khăn của một vài ngôn ngữ vừa được lược tả chỉ là một cái nhìn rất thoáng qua. Chỉ để tạm đưa ra một vài “sắc thái ngôn ngữ” của chúng. Người nghiên cứu chuyên sâu sẽ có thể đưa ra hàng trăm, thậm chí hàng ngàn, những ghi chú, nhận xét hay bàn luận về từng ngôn ngữ.
Tóm lại, mỗi ngôn ngữ đều có một hệ thống logic riêng. “Khó nuốt” hay không phụ thuộc vào nền tảng ngôn ngữ mẹ đẻ của người học và cách họ tiếp cận với hệ thống đó. Xét về tiếng Việt, ngôn ngữ Việt, người ta cũng nên nghĩ đến một cách nhìn như thế.
Da Màu: Cám ơn anh thật nhiều đã trình bày tận tình, khúc chiết để ghi lại một chặng đường đọc và viết của anh, cũng như để đưa ra một cái nhìn và những nhận định về văn học miền Nam và, đặc biệt, Văn Học Hải Ngoại.
Mong anh cho vài lời cuối để khép lại cuộc nói chuyện này.
Bùi Vĩnh Phúc: Trên những nẻo đường văn học mà tôi đã có dịp dấn bước, trong tâm thức “đi và sống” đó, tôi đã may mắn tìm được những người bạn tốt. Đó là những nhà văn, nhà thơ, những người cầm bút trong mọi lĩnh vực, đã chia sẻ cho tôi cái sống và kinh nghiệm của họ. Qua tác phẩm của mình. Qua những gì họ viết. Cái đọc làm cho con người đến được với nhau. Những con người cùng thời đại, hay cùng môi trường sống, và những con người vốn cách xa nhau cả nhiều thế kỷ với hàng vạn dặm núi non sông biển. Những núi non của ngôn ngữ, của văn hoá, của những cái khác biệt, và những con sông của quá khứ, của thời gian. Tất cả đã cùng gặp gỡ nhau, và cùng hạnh ngộ. Qua cái đọc.
Những người ta đọc, và những người đọc chúng ta. Và chữ nghĩa là những nhịp cầu. Để những mắt nhìn và những vòng tay được tiếp tục mở rộng mãi.
Xin được cám ơn tất cả những hạnh ngộ ấy.
[ Bài phỏng vấn được thực hiện qua điện thư từ ngày 27 tháng Bảy đến 22 tháng Tám, 2025 ]