.4.
Nhịp điệu không vần của những cánh rừng
Trong tình yêu riêng của mình, Thanh Tâm Tuyền đã sống và chết trong đời sống như thế, đã hạnh phúc và đớn đau như thế, nhưng người thi sĩ ấy không để tình yêu che mờ hết những rung động khác trong con người chàng. Thanh Tâm Tuyền đòi hỏi tự do. Tự do trong mọi thể thái của nó. Người thi sĩ ấy đã làm thơ, và thơ của ông trước tiên là một sự phá bỏ những xiềng xích cũ. Sự cân đối, mực thước, cùng nhịp điệu, lối gieo vần của những thể thơ cũ có lẽ đã cản trở Thanh Tâm Tuyền trong cách diễn đạt những tư tưởng vỡ bờ, những lề lối suy nghĩ nằm ngoài khuôn phép của ông. Thanh Tâm Tuyền muốn cho hơi thở mình được tự do, tư tưởng mình được phóng khoát, nên ông đã đẩy thơ tự do của ông, thời ấy, vào những con đường hết sức mới lạ. Dĩ nhiên là Thanh Tâm Tuyền không thể thoát khỏi ảnh hưởng của những trào lưu Tây Phương đang ghi những dấu ấn trên tâm thức của thanh niên thời đó. Nhưng việc ông can đảm và sáng tạo đưa vào thi ca chúng ta thời ấy những thể mới, ý mới như ông đã làm cũng đã cho chúng ta thấy tính cách khai phá của ông.
Trên đường đi tìm một tự do hằng khao khát, Thanh Tâm Tuyền, như bất cứ ai chọn cuộc lên đường đầy thử thách để tìm một dải đất mới cho mình, đã có những lúc phẫn nộ. Có những phẫn nộ chính đáng, trong đó có những mầm hạt cho một hạnh phúc ước mơ sau này. Có những phẫn nộ xem ra vô lý, vô cớ, không dựa trên một lý do chính đáng nào cả, nếu ta không làm một cuộc nội soi vào tâm lý nhà thơ. Nhưng thật ra thì phẫn nộ, phản kháng là yếu tính của con người nghệ sĩ, của kẻ sáng tạo. Tôi thấy, ở một mức độ và góc cạnh nào đó, sự phản kháng của Thanh Tâm Tuyền có một số nét gần gũi với cung cách phản kháng của Albert Camus.
Trong Con người phản kháng (L’homme révolté), và trước đó, thể hiện trong Kẻ xa lạ (L’étranger), Camus đã trình bày ý nghĩa của cung cách phản kháng này. Nhiều người và nhiều nhà phê bình đã không hiểu rõ ý nghĩa phản kháng trong các tác phẩm của Camus nên đã đưa ra những bàn cãi và phê bình đi ra ngoài những điều ông muốn nói, và bởi thế, đã thất bại trong việc đánh giá các tác phẩm của ông. Bây giờ, sau khi những bàn cãi sôi nổi đã lắng xuống, Albert Camus đã chết, và tác phẩm của ông đã được xếp vào loại những tác phẩm chứa đựng những giá trị thâm sâu và nhân bản nhất của con người [5] , người ta mới nhìn kỹ hơn những ý nghĩa mà Camus đã mang đến cùng với từ “phản kháng” trong văn chương ông. Camus đã không dùng từ này theo nghĩa vẫn được chấp nhận. Sự phản kháng của ông không trực tiếp để chống lại cái khát vọng có tính cách lãng mạn để thăng hoa và tiêu diệt những giới hạn ràng buộc con người. Sự phản kháng này nhắm thẳng vào tất cả những âm mưu, những sức cản làm giảm bớt đi cái khả năng của con người trong việc nắm bắt những cơ hội để sống hạnh phúc trong vòng những giới hạn ấy. Những kẻ thù mà Camus vạch mặt và không ngừng chiến đấu để chống lại là tất cả những sức mạnh làm đông cứng, mô-mi-hoá con người, cho dù bất cứ những sức mạnh này ở dưới dạng nào—tinh thần, cá nhân, hay định chế—bắt nguồn từ sự vô cảm, mơ ngủ, hay từ những mạng lưới chằng chịt của các ý thức hệ, xanh hay đỏ, của thời đại này nhằm trói buộc và cầm bắt tâm-ý-thể con người. [6]
Hãy đọc lại Hãy cho anh khóc bằng mắt em những cuộc tình duyên Budapest để thấy sự phản kháng này của Thanh Tâm Tuyền. Hay là đọc bài sau đây:
Ngực anh thủng lỗ đạn tròn
lưỡi lê thấu phổi
tim còn nhẩy đập
nhịp ba nhịp ba nhịp ba
tình yêu tự do mãi mãi
[…]
núi cao uốn cây rừng
nhịp ba nhịp ba nhịp ba
tình yêu tự do mãi mãi
đất nước ào ào vỗ nhịp
triều biển chập chùng
Hà Nội Huế Sài gòn
ôm nhau nức nở
[…]
nhịp ba
tình yêu
tự do
mãi mãi
tình yêu tự do mãi mãi
tình yêu tự do mãi mãi
tình yêu tự do
mãi mãi anh ơi
(Nhịp ba)
Hoặc sự phản kháng của Thanh Tâm Tuyền trước những bất hạnh, những bất công, những bất túc của lương tâm con người. Trong lời phản kháng này, ta vẫn còn nghe ra một niềm hy vọng.
Một người da đen một khúc hát đen
Bầu trời đen sâu không cùng
Những dòng nước mắt
Xé nát thân thể bằng tiếng kèn đồng
Bằng giọng của máu của tủy của hồn bắt đầu ngày tháng
Giữa rừng không lời rừng mãi trống không
[…]
Vì Blues không xanh vì điệu Blues đen
Trên màu da nức nở
Trong hộp đêm
Bắt đầu chảy máu thầm kín khóc cổ họng mình
Ngón tay cấu lấy ống kèn như một bùa thiêng
[…]
thế giới va chạm những loài kim réo gọi
Thời gian mềm
không gặp thời gian
Không gian quay thành những vòng kỷ niệm
Rồi một buổi nào Blues hiện về xanh
(Đen)
Đen ở đây là một khí quyển. Một khí quyển xã hội, văn hoá và nghệ thuật. Đen trong màu da, đen trong cõi sống. Đen trong khúc hát, đen trong tiếng kèn. Tiếng kèn vút lên thảm thiết như máu nhỏ trong hồn, trong tuỷ. Tiếng kèn đi vào cuộc đời, phủ chụp lấy con người. Nó hoà tan tất cả vào sự khốn cùng, tủi cực. Nó không còn phân biệt màu da nữa khi nó tràn lấp thân phận người như những lớp sóng. Những con sóng rách nát phủ chụp lên đời sống người. Blues, điệu khúc buồn, đen. Cho những cảnh đời sầu thảm, dưới đáy. Cho những phận đời nhược tiểu. Nhưng, đâu đó, nhà thơ vẫn còn nuôi một chút hy vọng. Rồi một buổi nào Blues hiện về xanh. [7]
Và sau đây là một cơn phẫn nộ xem ra vô lý, vô cớ, không dựa trên một lý do chính đáng nào cả, nếu ta không chịu khó đi vào những thâm cung, mật thất của tâm lý nhà thơ, như ta đã nói. Nào ai có biết tôi phẫn nộ gì. Cuộc đời này lúc nào cũng chật hẹp, tù túng, người nhìn người hau háu những móng vuốt giơ ra. Tôi phẫn nộ với tất cả mọi thứ đảo lộn hay đã được sắp xếp để đặt vào thế giới này, biến nó thành những công thức. Hay tôi phẫn nộ với chính con người bên trong của tôi. Con người luôn kìm giữ tôi lại. Tôi, hay “kẻ đó”, mới là con người “chính diện” trong chính bản thể tôi, linh hồn tôi?
Tôi buồn chết như buồn ngủ
dù tôi đang đứng trên bờ sông
nước đen sâu thao thức
tôi hét tên tôi cho nguôi giận
thanh tâm tuyền
đêm ngã xuống khoảng thì thầm tội lỗi… [8]
(Phục sinh)
Ngôn ngữ của Thanh Tâm Tuyền mạnh và chắc; nhịp điệu sắc gọn ở những bài mang ý phẫn nộ. Trong những bài nói chuyện yêu đương chan chứa, những hình ảnh dịu được đưa vào đã giúp điều chỉnh giọng thơ. Chính Thanh Tâm Tuyền cũng có nói xa gần đến điều này khi bảo thơ tự do “không gieo vần lối đồng âm đồng thanh, vần của nó là vần ẩn giấu cách xa (có thể đi tới khác âm, nghịch thanh), nhịp điệu của nó là sự phối hợp của một toàn thể không khuôn trong một số câu nhất định khiến cho hơi thơ tự do dễ kéo dài hơn các hơi thơ khác” [9] . Ngoài ra, cũng trong đoạn trình bày về thơ tự do, cũng như về thái độ, cung cách làm thơ của mình, trong tập Liên-đêm-mặt trời tìm thấy, Thanh Tâm Tuyền cũng nhắc đến một thứ nhịp điệu gọi là nhịp điệu của hình ảnh, một thứ nhịp điệu khác là nhịp điệu của ý tưởng, cả hai thứ này là sự thể hiện của nhịp điệu của ý thức.
Những điều Thanh Tâm Tuyền phát biểu rất đáng cho chúng ta lưu ý. Tôi sẽ không phân tích nhiều về cấu trúc thơ Thanh Tâm Tuyền, để chia sẻ cái nhìn cũng như phát biểu này của nhà thơ, trên những mặt từ pháp, cú pháp, ngữ âm, ngữ nghĩa, ngữ ảnh, bố cục, sự sắp xếp câu đoạn, ý tưởng, các hình ảnh, các vang âm, các biện pháp chuyển nghĩa (tropes) trong đó có cả sự điệp ý, điệp từ, điệp hình ảnh, khiến các ý tưởng và hình ảnh vang động, liên hệ, vẫy gọi nhau và làm chúng trở nên những mối liên kết trong một tấm lưới rung động những bước sóng xô đẩy, kết nối chúng là toàn bài thơ, v.v. Cho dù tất cả những điều này, cùng nhau, có thể giải thích được, phần nào, những gì ông nói.
Tôi muốn làm một điều khác, nhìn một cách khác.
Nhịp điệu của hình ảnh, nhịp điệu của ý tưởng, nhịp điệu của ý thức. Hãy nghĩ đến một rừng cây. Một rừng cây nguyên sinh, chẳng hạn. Cây mọc trong rừng không cần vần, không theo vần, không nhất thiết phải ngay hàng thẳng lối. Có ánh nắng là có sự sống, có sự mọc lên và trưởng thành. Có tiết tấu riêng của chúng. Có tình yêu là có sự sống, có sự phát triển. Cây cối mọc cùng nhau có tình yêu dành cho nhau không? Hẳn là phải có. Chúng hẳn là phải “phải lòng” nhau, phải yêu thương nhau mới mọc lên cạnh nhau như thế. Con người, trong “bối cảnh” này, có lẽ chỉ là một cái duyên, nếu có thể nói được như thế, một chút duyên phù trợ. Một chút duyên, trong lẽ nhân duyên. Cả một rừng cây, như một bài thơ, cho ta thấy rõ nhịp điệu của hình ảnh, cho dù cây cối có thể không mọc “ngay hàng thẳng lối” để “tiếp ứng” nhau. Còn ý tưởng và ý thức? Chắc là có đấy. Một rừng cây cũng sẽ có riêng trong chúng một nhịp điệu về ý tưởng và ý thức nào đó, nhìn từ góc độ của Kẻ Sáng Tạo, của Thiên Nhiên, của Trời Đất. Những bài thơ của Thanh Tâm Tuyền, chẳng hạn như các bài Vĩ Tuyến, Chim, Lệ Đá Xanh, Hoa, Bến Tàu, Mưa Ngủ, chẳng hạn, đều có thể nhìn như những cánh rừng như thế. Chưa kể những bài dài hơn, hay gần chất văn xuôi hơn.
Thanh Tâm Tuyền tạo nhịp điệu cho hình ảnh, ý tưởng từ công phu riêng của ông, từ ý thức ông, từ sự mẫn cảm nghệ thuật nơi ông. Ông hay dùng những bước sóng của hình ảnh, như đã nói, để kết nối, để đảo ánh, phản chiếu những ý tưởng, hình ảnh trong thơ mình, qua những từ hay những nét ảnh mang tính “chìa khoá”. Những bước sóng ấy được ông thả cho chìm nổi, hay đôi khi cuồn cuộn, khắp bài thơ, mà tôi tạm gọi là những “ba ảnh”, hay những lớp sóng, những bước sóng của hình ảnh. Hình ảnh làm thành những lớp sóng, những ba động. Chúng tạo nên một nhịp điệu lan truyền trong bài thơ mà, nếu không có sự mẫn cảm, người đọc có thể không bắt được chúng. Ngoài ra, tôi tin rằng, cũng rất nhiều khi, ông tạo được điều đó từ trực giác, từ vô thức và tiềm thức luôn làm việc trong ông. Cái trực giác nhạy bén của một lối nhìn tượng trưng-siêu thực. Của những hình ảnh, ý tưởng luôn đập trong ông cái tiếng đập thiết tha của sự gắn bó, nối kết và hoà điệu.
Có thể nói, trong gần như tất cả các bài thơ của Thanh Tâm Tuyền, người ta đều có thể nhìn ra hay cảm nhận về phát biểu của ông về một thứ nhịp điệu của ý tưởng và hình ảnh trong thơ. Ở đây, ta hãy thử đọc lại một, hai bài thơ của ông để cảm nhận cái mặt biển với những bước sóng ấy của nhịp điệu:
Nửa đêm, mọi người ngủ ôm lấy mình
Một người khác trong giấc mơ
Trăng vừa xanh, đèn sân khấu, rất buồn rất buồn, dạ khúc ca
Biển chập chùng hằng thế kỉ xưa
Người lên tiếng khóc
Nô lệ nghìn năm nhân loại gục đầu
Chia tay cho ta đi như một loài cỏ cây điên dại
Như một hồn lang thang không gặp được bóng mình
Xoá hờn oán ngày ngày sóng ngã cao đầu choáng váng
Rồi trời sáng chỉ còn sương trắng không nhìn thấy mặt nhau
Ðau như thú dữ cháy rừng. Ta đập tan hình hài và thức giấc
(Thức giấc)
Đấy là một thứ nhan sắc mới của thơ. Nó trải sóng và bước đi bằng những bước của một thứ nhịp điệu-hình ảnh. Những hình ảnh ráp nối, thường là không logic, phi tuyến tính, đôi khi liên kết, rồi mất liên kết, rồi hoà ảnh, hoà điệu trở lại trong một nhịp khúc mới. Ý nghĩa của bài thơ có thể không đến ngay, hay không bao giờ đến hoàn toàn, nhưng nó đem lại cho người đọc một tâm trạng, một cảm thức vừa gần gũi, vừa xa lạ như trong một giấc mơ. Người trở về với quá khứ nguyên thuỷ của nó, thất lạc chính mình, gắn bó và lạc lõng trong những phức ảnh có tính gốc mẫu, những cổ mẫu mang tính nguồn gốc trong mơ. Nửa đêm / ngủ / một người khác / giấc mơ / trăng / biển / rừng / hồn / cỏ cây / điên dại / khóc / chia tay / lang thang / choáng váng / không nhìn thấy mặt nhau / thú dữ / đau / cháy / không gặp được bóng mình / hình hài / đập vỡ / trời sáng / trắng / thức giấc. Và, đặc biệt, cũng nên chú ý đến những yếu tố cơ bản là NƯỚC (biển chập chùng, sóng ngã), LỬA (hờn oán, cháy rừng), TRỜI (trăng vừa xanh, trời sáng), ĐẤT (nhân loại, cỏ cây, thú dữ), THỜI GIAN (chập chùng, hằng, nghìn năm, xưa, thế kỷ, ngày ngày), KHÔNG GIAN (lang thang, đi, bóng, trời, sương trắng…). Các ý tưởng, hình ảnh gợi nhiều hơn tả, độ mở rất rộng, ánh xạ, khúc xạ nhau, tạo nên những phép chiếu kỳ bí, lạ lùng. Những phép chiếu ý, chiếu hình, chiếu ngôn ngữ, chiếu lập thể. Những hình ảnh chớp tắt, loé sáng, tán lạc, kết nối, vỡ tan. Và người trở về với hiện thực trắng và thô của mình. Một thứ nhan-sắc-thơ có phần quái lạ, hoang dại và kỳ dị, kỳ ảo, được trình hiện với những mảnh vỡ như rơi ra từ vô thức, tiềm thức, trong một cấu trúc được sắp xếp và hình thành, phần nào, từ ý thức sáng suốt.
Hầu hết các bài thơ tự do của Thanh Tâm Tuyền đều phản ánh, trong bố cục, trong cấu trúc của chúng, những hình ảnh, ý tưởng với độ mở rộng như thế—những độ mở có thể, một cách rất kỳ dị, nghịch ngôn, được toả chiếu từ những “hố đen”, và những (vùng) “vật chất tối”, chứa đầy năng lượng, từ những chỗ mất liên kết, trống và trắng—, nhưng lại có thể được thu nhiếp, soi chiếu, phân tích, bằng một nhịp thức, một lối phân giải theo một kiểu phác đồ tổng quát như trên. Hãy nghe Thanh Tâm Tuyền định nghĩa và mô tả khuôn mặt ấy của thơ, một lần nữa:
hơn một loài quạ đen khủng khiếp
cánh màn trắng ngón tay lo âu vuốt mắt
hãy đánh rơi vào buổi chiều của trời
một cuộc đời tròn như hạt cốm
mùa thứ ba trong năm nhỏ sữa
may mắn như bài thơ gồm những âm trắc đồng tình
cần thêm vào tam đoạn luận
người là phải chết
mày là một người vậy mày phải chết
một yết thị
các con hãy ngủ tim những người thân yêu
cuộc hành trình thiêng liêng đi mãi bằng dòng máu
hoàn thành bao nhiêu tác phẩm
chỉ để sau rốt kết luận một lời
anh hãy từ biệt mọi người bằng tác phẩm của anh
một câu thơ hay tự nhiên như lời nói
bài thơ hay là cái chết cuối cùng
giã từ cái gường cái bàn cái ghế
một người hai người và ba người
một người hai người và ba người
(Định nghĩa một bài thơ hay)
Nhưng, như tôi đã nhận xét, trong những bài có chủ ý rõ là nói về tình yêu nam nữ, tình yêu đôi lứa, Thanh Tâm Tuyền vẫn dùng những nhịp gãy, nhịp trắc trở, những dấu nhấn, những liên kết và những khoảng trống liên kết khác thường so với những thể thơ cũ. Nhưng những hình ảnh rất đẹp và lạ và mới trong những bài thơ này đã làm cho cả bài thơ mềm đi và bay lên như một tiếng chim vào cửa sổ trời mở rộng.
Ðêm hiền từ nhỏ to trên trán
Màu đen sáng đủ ngó vào nụ cười
Có đấy không này em mưa chan hoà
Trên ngực trên ngực em bát ngát
Một lần không gian xảo hết cả nhiệt tình
Ðầy rất đầy hai trũng tay
Người ta bảo đêm tháng giêng cỏ cây hiện thành người
Anh bảo em chúng ta hãy là
Những cây leo yếu đuối
Những cỏ non dại dột
Mùa xuân đòi em trong quấn quít chờ đợi
Da trắng như tiếng hát ở trên trời
Anh cúi hôn cánh môi tím màu đêm mà thương nhớ
Từng chút một từng chút một
Em biến thành pho tượng rực rỡ
Anh biến thành thiên tài ngây thơ
Trong đầu là hư vô
Trong mắt là hoang đảo
Trên môi là thần chú
Trên tay là trống không
Cả đời là sa mạc
Cả tôi là tự do
(Đêm, khúc số 3 / Tặng Duy Thanh)
Đọc kỹ, thật sự, ở một số bài, người ta vẫn thấy Thanh Tâm Tuyền còn sử dụng những vần hoặc nhịp điệu của thơ cũ. Những bài này không nhiều, nhưng vẫn có. Và vẫn rất đáng yêu. Hãy đọc lại năm câu thơ này:
Vứt mẩu thuốc cuối cùng xuống dòng sông
Mà lòng mình phơi trên kè đá
Con thuyền xuôi
Chiều không xanh không tím không hồng
Những ống khói tàu mệt lả.
(Bao giờ)
Vần vẫn còn đấy, mặc dù nhịp điệu có được làm cho sai khác đi. Đoạn thơ sau đây cũng thế. Vần vẫn còn đó, nhưng nhịp điệu đã được chuyển hoá đi làm cho khác lạ, tạo nên những syncopes như trong âm nhạc. Những âm được sử dụng cũng là những âm chõi, cùng với những nhịp nhấn khác lạ, làm cho bài thơ toát ra một cảm giác buồn bực, dồn nét, bứt rứt. Tất cả những điều đó dọi phóng thành một cảnh buồn, chiếu mãi trong tâm thức người đọc. Những cảnh ấy được tạo nên bằng những bức ảnh đen trắng hoặc có màu xám xịt. Tiếng lóc cóc của vó ngựa trên đường về huyệt mộ và tiếng kèn harmonica nổi bật lên trong bối cảnh này.
Khi đêm chạy trở lui
Người nào thổi harmonica
Tôi đến bằng mọi cách
Tiếng kèn khóc oà
Mưa bẩn sân ga
Toa tầu hạng ba
Chuyến xe hàng ốm yếu
Thổ mộ con ngựa già
Đường mòn đưa đến huyệt
Đứa trẻ con thổi harmonica
Trong hoàng hôn tóc rối
Tiếng kèn khóa oà…
(Sầu khúc)
.5.
Cái Tôi kỳ việt. Cái tối thượng, cái vực thẳm và
cái bi tráng của con người qua Sophocles và Heidegger
Tôi đã yêu thơ, đã làm thơ, và đã đọc thơ của nhiều người. Càng đọc nhiều tôi lại càng yêu nhiều. Càng yêu nhiều, tôi lại cứ muốn đọc mãi. Thơ làm cho ta yêu cuộc sống hơn, thiết tha với sự sống hơn. Nếu thơ không làm được những điều đó, không gợi lên trong lòng người đọc những tình cảm đó, thơ không đạt đến cứu cánh của nó nữa.
Thơ Thanh Tâm Tuyền cho tôi nhiều cảm xúc. Mỗi lần trở lại với thơ ông, tôi đều tìm ra một nét gì mà tôi đã chưa hề thấy trước đó. Bởi những ý tưởng, những hình ảnh Thanh Tâm Tuyền sử dụng thường không nằm trong những ước lệ của tiếng nói hay của lối suy tư hàng ngày, ta thường không nhìn ra được hết cái chân diện mục của chúng. Gần gũi với trường phái thơ siêu thực của Pháp, những hình ảnh mà Thanh Tâm Tuyền sử dụng trong thơ ông cũng, phần nào, có tác dụng của những đường nét trong những bức tranh siêu thực của các hoạ sĩ thế kỷ 20. Dù sao, nếu nhìn dưới khía cạnh hội họa, tôi nghĩ chúng ta đều thấy rằng những “bức tranh cất tiếng” [10] của Thanh Tâm Tuyền có nhiều nét gần gũi với các bức tranh của những họa sĩ siêu thực lớp sau như Max Ernst, René Magritte, Salvador Dali, Pierre Roy… hơn là với những họa sĩ siêu thực lớp trước như Jean (Hans) Arp [11] . Nói về tính chất siêu thực trong văn chương, cũng như trong các thể thái khác, có lẽ không ai có thẩm quyền hơn André Breton. Ông định nghĩa: tính cách siêu thực là cái tính cách tự động thuần túy xét trên mặt tâm linh, qua đó, nó được diễn tả ra hết sức rõ ràng—bằng chữ viết, hoặc bằng bất cứ một thể thái nào khác—cái tiến trình tư duy thật sự của con người. Đây là tiếng nói của bất cứ một hình thái thẩm mỹ hay đạo đức nào. Được sáng tạo ra từ những thúc đẩy ở ngoài phạm vi luận lý và lấy chất liệu từ tiềm thức và từ những thị kiến nghệ thuật, các thi sĩ hoặc họa sĩ thuộc trường phái siêu thực đã sáng tạo nên những tác phẩm xuất phát từ những mơ mộng thuần túy của họ về một thế giới mà họ mong ước đạt tới. Tác phẩm của họ không còn nằm trong phạm trù thực tại mà đã bước chân sang một biên địa khác, có những lý tưởng, những ước mơ, và ngay cả những ảo vọng nữa. Đây là những con chim vô hình đập cánh và bay vào cõi vô biên, để rơi lại những tiếng hót vương vất trong cõi trần gian.
Thơ Thanh Tâm Tuyền, ở một số khía cạnh, đã bay nghiêng về những vùng không gian đó. Còn ông, trong chốn trần gian tăm tối và đầy lệ thảm kia, nơi dàn đồng ca của tiền bạc, máu mê và quyền lực vẫn còn che kín cả bóng đêm lẫn bóng ngày, nơi mặt trời mù mà ông đã muốn dùng mảnh chai để ném lên hòng đánh thức, nơi những tiếng nói bình thường của con người đang còn quờ quạng, dắt díu nhau trong đêm mù tối, nơi máu trong tim / Chảy nhanh như máy móc đau ốm / … / Ở cuối đêm, với Những ám hiệu / Của mặt biển đen, ông sẽ ra sao?
Những câu thơ tiên tri ngày nào có trở về trong đời sống kẻ thi sĩ?
Những giấc ngủ xiềng xích
Cuộc lưu đày thêm xa
Tôi trốn về lẩn lút
Đất đai không tìm ra
Đâu cũng toàn quỷ sứ
Riễu cợt tôi ngây ngô
Cớ sao nhà ngươi khóc
Muốn làm người là điên
Con người thì cô độc
Không phép thuật nhiệm mầu
Tôi khóc mặc tôi khóc
Bầy quỷ nhảy xung quanh
Tôi khóc hoài tôi khóc
Và chúng nó phát điên
Chúng tước lấy tiếng nói
Giam tôi trong bóng tối.
Tôi khóc không ra lời
Và tôi đi lang thang
Tôi đi tìm tiếng nói
Cho cổ họng của tôi
[…]
Tôi nhìn người tuyệt vọng
Tôi nhìn người khẩn cầu
Linh hồn tôi rách nát
Lời nói còn ở đâu ….
(Liên-đêm-mặt trời tìm thấy)
Thanh Tâm Tuyền, ngay trong những ngày xưa, thời ông còn được tự do làm thơ hạnh-phúc-yêu-thương-phẫn-nộ, đã cho thấy ông là một con người đã từng nếm nhiều trái-cây-đau-khổ. Tôi nghĩ là ông đã đọc nhiều, đi nhiều, thấy nhiều, cảm nhiều, mơ mộng nhiều, suy nghĩ nhiều, nhớ thương nhiều… Ông đã sống nhiều và ông đã trải đời sống mình ra thơ. Thơ ông, và cả ông nữa, đã được hàn gắn, hay vẫn còn bị xé rách? Đó là một con người với ý chí/ý thức sống mãnh liệt và với tiềm thức/vô thức luôn như một ngọn lửa bốc bùng, cháy nóng. Con người ấy, nhìn ở một góc cạnh nào đó, có những lúc có vẻ ngạo mạn, vô lý, rừng rú, vì bị nhìn qua những ngộ nhận, định kiến, nhưng, khi nhìn kỹ và bắt được ngọn nguồn những phẫn nộ, xa cách, đau đớn trong ông, người ta nhận ra là nhà thơ đã sống rất thật cuộc đời mình. Thanh Tâm Tuyền đã sống buốt sắc, sôi nổi, thiết tha, và đắm đuối, dịu dàng. Tất cả chỉ là vì Thơ và cho Thơ.
Trong cái nhìn mang tính bản thể luận và thi pháp học của Heidegger, con người là một hữu thể “kỳ lạ”, “quái dị”, “bí ẩn”, “kinh khủng” nhất. Nó chứa đựng cả cái tối thượng lẫn cái vực thẳm. Và tính hai mặt này chỉ xuất lộ rõ rệt nhất trong cái nhìn sâu sắc của thơ ca. Con người là kẻ sáng tạo, kẻ tìm được đường tới. Nó là nơi tồn tại của ngôn ngữ, hiểu biết và đam mê. Và chừng nào con người còn là nơi tồn tại của ngôn ngữ, hiểu biết và đam mê, bạo lực trong hành động và bạo lực trong lời nói là một phần không thể tách rời trong hiện hữu nó. “Con người kinh khủng”, “kẻ bạo lực”, đồng thời là “con người bí ẩn, đầy sáng tạo” này, dấn mình vào những điều chưa từng được nói, đột nhập vào những điều chưa được suy nghĩ, buộc những điều chưa xảy ra phải xảy ra, và khiến cho những điều chưa bao giờ được nhìn thấy xuất hiện ra trước mắt. Nơi hắn, cái trung tâm, cái trọng lực không thể kìm giữ.
Con người là kẻ sáng tạo và luôn muốn vượt thắng. Thế nhưng, trong cơn bạo lực vô cớ, không kìm hãm của những chuyến lang thang, nó đã bị bắn, bị đẩy ra khỏi khuôn khổ tự nhiên và quen thuộc của mình. Rõ hơn, nó bị cắt khỏi cái chốn lưu cư quen thuộc của bản thể mình, của cái hữu-thể-tại-thế (Dasein) của chính nó. Cái hữu-thể-tại-thế ấy là ma-trận hiện sinh của con người. Bị xé ra khỏi ma-trận này, con người có thể sẽ rơi vào vị thế của những nhân vật chính diện của kịch bi tráng Hy Lap. Oedipus, Antigone là điển hình cho những nhân vật bi tráng như thế. Điều này càng được chiếu sáng trong nhân học chính trị của Heidegger.
Sophocles, trước đó, cùng trong hướng nhìn này về con người, trong phát biểu qua thi kịch về sự “kỳ lạ”, “quái dị”, không chịu ở yên, không chấp nhận bị “đóng gói” trong thể thức, không chấp nhận lưu cư trong cái giới hạn, cũng đã cho thấy con người vừa là một cái gì kinh khủng, đáng sợ, vừa là một cái gì kỳ diệu. Trong lời nói, trong suy tưởng, trong hành động, trong mọi thể thái của nó, vượt khỏi những giấc mơ hoang dại nhất của mình, con người, trong sự khôn ngoan, kỳ diệu và kinh khủng, nó đã vượt qua tất cả. Khi thì bước vào linh địa của cái tốt, cái trong sáng, trinh tuyền, hạnh phúc, lúc lại sa chân vào quái địa của cái xấu, cái ác, cái khổ đau, cái tàn hung bạo liệt. Nó có tính thắng vượt và có tính “bạo động”. Nó có sự sáng tạo, có khuynh hướng vươn tới cái lạ, cái không bình thường, với sức mạnh của tinh thần vượt thắng, vượt qua cái giới hạn của sự bình thường.
Có lẽ Thanh Tâm Tuyền đã sống cái sống uy dũng và có phần nào bi tráng này hơn đa số con người hiện sống giữa đời như chúng ta chăng?
*
Để tóm kết bài viết này, tôi muốn ghi lại những dòng chữ sau đây của Rainer Maria Rilke. Người thi sĩ Đức tài hoa và tha thiết ấy đã nói những lời hết sức thật và sống động về thơ, về sự làm thơ:
Người ta phải chờ đợi và gom góp những cảm xúc và sự dịu ngọt của cả đời dài, có khi cả một đời người, tới lúc đó, ở cuối cuộc gom góp đó, người ta mới có thể viết được mươi câu thơ hay. Bởi lẽ, thơ, không phải như người ta tưởng chỉ là những cảm xúc giản dị, mà nó chính là kinh nghiệm.
Để có thể viết được một câu thơ, người ta phải thấy bao nhiêu là thành phố, bao nhiêu là người là vật, người ta phải hiểu biết về loài vật, người ta phải cảm được sự sung sướng của con chim bay và biết được những cánh hoa nhỏ bé đã mở mắt chào đón bình minh như thế nào. Người ta phải có khả năng nhớ lại những con đường ở những xứ sở xa xôi mà người ta đã đi qua, những gặp gỡ bất ngờ và những chia tay xa tắp trong trí nhớ. Người ta phải có khả năng nhớ lại được những ngày niên thiếu với những dấu vết khó giải thích, nhớ lại những bậc sinh thành mà người ta đã làm cho đau khổ khi những bậc sinh thành này mang đến cho người ta niềm vui mà người ta không thèm đón bắt, nhớ lại những cơn đau yếu hết sức kỳ lạ bắt đầu bằng một số những thay đổi sâu xa và trầm trọng, nhớ lại những ngày người ta ẩn kín, im lặng trong phòng, nhớ lại những buổi sáng bên bờ biển, những biển hồ sông rạch, nhớ lại những buổi tối lang thang đã bay qua đời người ta rồi bay tuốt lên trời cao với những vì sao […]. Người ta phải có những kỷ niệm về những đêm yêu đương, không đêm nào giống một đêm nào, có những hồi tưởng về những tiếng la hét của phụ nữ trong khi sinh đẻ, và về những người đàn bà nhẹ bẫng, tái nhợt, nằm thiêm thiếp trên giường sau khi sinh nở. Nhưng người ta cũng cần phải có kinh nghiệm ở bên cạnh một người đang chết, người ta cần phải có kinh nghiệm ngồi bên cạnh một người đã chết rồi trong một căn phòng có cửa sổ mở tung ra những cơn ồn ào từng chập. Nhưng chỉ có hồi niệm không vẫn chưa đủ. Người ta phải có khả năng để quên chúng đi khi chúng trở nên quá nhiều, quá đầy trong óc người ta, và người ta phải có lòng nhẫn nại để chờ cho đến khi chúng quay trở lại. Bởi vì những hồi niệm chưa phải là điều thiết yếu. Hồi niệm chỉ là thiết yếu khi chúng biến thành máu chảy trong trái tim, trong thân thể người ta, khi chúng trở thành những dáng vẻ và điệu bộ, không tên tuổi và không còn có thể tách thoát, phân biệt khỏi chính chúng ta. Chỉ tới lúc đó người ta mới có thể bất ngờ, trong một thời khắc hiếm hoi nào đó, viết ra chữ đầu tiên của một câu thơ đang bắt đầu ngoi lên từ trong những vùng âm u mờ mờ sương đục của hồi niệm và chảy tràn ra ngoài. [12]
Thanh Tâm Tuyền đã dâng hiến cho đời nhiều dòng thơ rất đẹp, những câu thơ, những bài thơ đau khổ và phẫn nộ và tha thiết và thương yêu của ông đã làm cho ta hạnh phúc, ngỡ ngàng, và xót xa đến chảy nước mắt. Nhưng nếu Thanh Tâm Tuyền chỉ có được mươi câu thơ hay, ông cũng xứng đáng cho ta yêu mến và cảm phục, bởi lẽ ông đã sống, đã tân toan trong đời sống, đã chịu đựng và gìn giữ tất cả để trở nên một thi sĩ.
Hãy choàng vào cổ thi sĩ một vòng hoa và hãy để chàng ngồi giữa chúng ta trong cuộc đời này.
1986
(Bổ sung mở rộng: XI, 2023)
(*) Bài này, “Cái Tôi kỳ việt và Âm bản Thành phố/Tình yêu trong thơ tự do Thanh Tâm Tuyền”, được phát triển, bổ sung và mở rộng từ bài viết gốc năm 1986, với tựa “Thanh Tâm Tuyền, người thi sĩ ấy”, theo tinh thần tựa đề “L’Homme, cet Inconnu” (1935) (Con Người, kẻ Xa Lạ ấy) của Alexis Carrel (Nobel 1912). Một vài chủ đề đã được đưa vào, hay tô đậm, qua một cái nhìn hồi cố và tái thẩm, để làm đầy đặn và làm rõ hơn các đường nét về thơ Thanh Tâm Tuyền, vốn, trong bản gốc nguyên thuỷ, đã được vạch ra nhưng chưa được khai thác kỹ.
“Kỳ”, trong “kỳ việt”, có thể được hiểu là “kỳ dị”, “kỳ quái”, hay “kỳ khôi” (“khôi”, theo nghĩa “ngọc quý”, hay “lớn lao”), “kỳ bí”, “kỳ diệu”, một cái gì lạ lùng, khác với, hoặc đi xa hơn, vượt khỏi cái bình phàm, cái thường tình. Còn “việt”, xin hiểu theo nghĩa là “vượt qua, băng qua, vượt lên” như trong “việt dã” (băng đồng), “siêu việt” (vượt lên trên), hay “phiên san việt lĩnh” (翻山越嶺 trèo đèo vượt núi).
Xem thêm về dương bản thiên nhiên trong hồn thơ Thanh Tâm Tuyền qua tiểu luận “Cái Tôi ẩn mật và Dương bản Thiên nhiên ngày vây hãm trong Thơ Ở Đâu Xa của Thanh Tâm Tuyền” (hay “Biệt Khúc cho Thanh Tâm Tuyền”, 2006 (nhuận sắc 2023)) của Bùi Vĩnh Phúc.
[1] Bài này nguyên thuỷ được viết vào năm 1986, khi Thanh Tâm Tuyền còn sống tại Việt Nam, chưa định cư tại Mỹ. Được bổ sung mở rộng vào năm 2023.
[2] Xem chú thích (*) ở trên, về dương bản thơ Thanh Tâm Tuyền.
[3] Về chủ đề và hình ảnh cái-tôi-bị-xé-rách này, Edgar Allan Poe có một thể hiện rất đặc biệt qua truyện William Wilson. Nét độc đáo của Poe nằm ở chỗ ông không để nhân vật chính, William Wilson, bị xé rách ở bên trong, trong phần sâu kín của nội tâm anh ta. Poe để cho nhân vật bị tách làm hai trong “đời thực”. Và để họ theo đuổi, giám sát, kình chống và tìm cách “đối trị” nhau bên ngoài “tiền trường”, trên sân khấu của đời sống, của cõi người xương thịt. Và sự bị xé rách đó đưa đến một chung cuộc gay cấn. Chuyện này của Poe đã tạo cảm hứng cho Luis Malle đưa nó lên màn bạc vào năm 1968, với Alain Delon (trong hai vai) đóng vai chính, cùng Brigitte Bardot. Tên phim là Histoires extraordinaires, chuyện thứ hai trong ba chuyện.
[4] Thật ra, có thể nói tính chất siêu thực thường không dung nạp lý tính. Siêu thực ở ngoài lý trí. Thế nhưng, những đoạn thơ mà nhiều người nghĩ có vẻ “siêu thực” nhất của Thanh Tâm Tuyền lại chứa đựng đầy lý tính. Và hình ảnh trong những bài này thường mang màu sắc ẩn dụ. Xin xem Liên-đêm-mặt trời tìm thấy ở các bài “Hơi thở”, “Thành phố”; “Bài không tên” ở trang 72, đoạn 10,; “Sầu khúc”, đoạn 5; “Từ chối”; “Bài không tên” trang 113-123.
[5] Trong một tiểu luận tựa đề là “Camus in America”, Serge Doubrovsky đã cho rằng Camus là một nhà văn vĩ đại của nước Mỹ. Và mặc dù Camus đương nhiên là một nhà văn lớn của Pháp, nhìn dưới khía cạnh quần chúng, ông vĩ đại hơn nữa trong lòng người Mỹ. Trường hợp đặc biệt và độc nhất của Camus được tạo ra do một sự liên đới cảm nhận và chia sẻ giữa Camus, tác phẩm của ông và quần chúng Mỹ. Cái chết đột ngột của Camus làm chấn động bất cứ một con người nào có suy tư. Chưa nói đến phản ứng của giới văn học, có nhiều người bình thường đã nước mắt đầm đìa khi nghe tin Camus chết; có những người khác thề nhịn ăn trong nhiều ngày. Trên nước Mỹ, nơi văn chương chỉ được coi là một hoạt động có tính cách phụ thuộc, cái chết của Hemingway và Faulkner không để lại những giọt nước mắt. Chưa nói là một tác giả ngoại quốc, một nhà văn nổi tiếng của Mỹ chết đi cũng không gây xúc động gì lắm trong lòng quần chúng Mỹ cho bằng cái chết của một tay chơi football hồi hưu. Trường hợp Camus là trường hợp đặc biệt và độc nhất (“Camus in America”. Trích N.R.F., XCVIII (01/02/1961), 292-296, Ellen Conroy Kennedy dịch ra Anh văn).
[6] Xem Germaine Brée, Introduction to Camus, Prentice Hall, Inc. 1962.
[7] Có thể xem thêm “Nghệ Thuật Đen” (1960). tiểu luận của Thanh Tâm Tuyền.
[8] Việc “mình tự gọi tên mình” có thể có một số lý do. Chẳng hạn, một là để tự xác định con người mình, tự giới thiệu mình với thế giới, với cuộc đời; hai là để tự an ủi, tự cầm nén vết thương, niềm vui hay nỗi thống khổ của mình; và ba là để đối thoại, lên tiếng với con người khác bên trong mình, một sự lên tiếng có thể ôn hoà, giận dữ, hay cuồng nộ.
Thật sự, Thanh Tâm Tuyền không phải là người đầu tiên tự gọi tên mình một cách đau khổ trong thơ. Trước đó, một nhà thơ khác cũng đã tự gọi tên mình một cách thống khổ như thế. Xem Federico García Lorca, “Thơ ở New York”, “Đất và trăng”.
Quiero llorar porque me da la gana
como lloran los ninos del último banco
porque yo no soy un poeta, ni un hombre, ni una hoja
pero sí un pulso herido (…)
Quiero llorar diciendo mi nombre,
Federico García Lorca, a la orilla de este lago…
(Tôi muốn khóc bởi vì tôi muốn khóc
như những đứa trẻ con khóc buồn trên những tay ghế dựa của những
kẻ ngẩn ngơ
bởi vì tôi không là thi sĩ, cũng chẳng là con người, chẳng là cánh lá
nhưng chỉ là cái nẩy bật chảy máu của một vết thương (…)
Tôi muốn khóc và gọi tên tôi
Federico García Lorca, bên bờ hồ này… )
[9] Xem Liên-đêm-mặt trời tìm thấy, 1964.
[10] Chữ của Plutarch (diễn lại ý của Simonides): “Painting is mute poetry, and poetry a speaking picture”, Irving Babbitt, The New Laokoon, Boston and New York, 1910.
[11] Những họa sĩ siêu thực đầu tiên, trong nỗ lực diễn tả những kinh nghiệm nội tâm, ở bên ngoài ý thức, đã đi theo con đường sử dụng các kỹ thuật của tâm lý học hiện đại. Sơn hay mực được vẩy đổ trên vải vẽ không có một mục đích để tạo một hình thể rõ rệt nào trong óc người sáng tạo. Những mảnh giấy nhỏ cũng được xé ra và thả xuống mặt tranh, tạo nên những sự kết hợp bất ngờ. Nhà nghệ sĩ siêu thực hy vọng rằng những sự kết hợp bất ngờ đó có thể là chìa khoá mở toang cánh cửa tiềm thức của họ. Những họa sĩ siêu thực lớp sau phát triển tính cách siêu thực theo một kỹ thuật khác. Họ diễn tả lại cái thế giới của những giấc mộng mà họ có qua nỗ lực thực hiện những bức tranh tiến đến độ chính xác và rõ ràng như sự chính xác, rõ nét của một tấm ảnh chụp. Mặc dù có vẻ đứng ở một cực bên kia với những họa sĩ siêu thực đầu tiên trong kỹ thuật sáng tạo, những họa sĩ siêu thực lớp sau này cũng nhấn mạnh rằng hình ảnh trong tranh của họ là những hình ảnh tự phát, tự sinh, và có những liên hệ trực tiếp với những kinh nghiệm vô thức của thế giới nội tâm họ.
[12] Rainer Maria Rilke, The Notebooks of Malte Laurids Brigge, M.D. Herter Norton dịch ra Anh văn (W.W. Norton & Company, Inc., 1949). BVP thoát dịch.