Trang chính » Biên Khảo, Lịch Sử, Nhận Định, Tư Liệu, Văn Học Miền Nam Việt Nam 1954-1975 Email bài này

Một thời Đại Học Sài Gòn: Giáo sư Trần Ngọc Ninh và Di ngôn ẩn giữa bao mùa tuyết xưa (kỳ 3)

LM Cao Văn Luận

2.6   Vĩnh biệt Huế– Linh Mục Viện trưởng Phaolô Cao Văn Luận (1908, Hà Tĩnh-20.7. 1986, Tiểu bang Missouri, Hoa Kỳ), Viện Đại học Huế

 

Cha Cao Văn Luận, Viện trưởng Viện Đại-Học Huế (khoảng cuối thập niên 1950)

Theo bài tường thuật của tờ New York Times ra ngày 12 tháng 4 năm 1959, Cha Luận, một Tiến sĩ Triết tốt nghiệp từ Đại học Sorbonne, đã được Tổng thống Ngô Đình Diệm chọn làm người lãnh đạo Viện Đại Học Huế vào tháng 7, 1957. Chính uy tín cao của vị học giả với “dáng người tròn trịa, đeo kính cận và hay hút tẩu đã thành công tập hợp một đội ngũ giảng viên cực kỳ ưu tú. Vào năm 1959, sau 2 năm điều hành Viện đại học Huế, Cha Luận đã có “17 giáo sư toàn thời gian, 23 giáo sư bán thời gian và 18 giáo sư thỉnh giảng, tất cả đều có trình độ học vấn sâu rộng, với kinh nghiệm giảng dạy ở Pháp, Anh, và Sài Gòn.”  

 

Gần 10 năm sau, Linh mục Cao Văn Luận thuật lại trong 2 chương cuối của hồi ký về hoàn cảnh và lý do dẫn đến việc ông bị buộc rời bỏ Viện Đại Học Huế lần thứ 2. Trước đó, ông đã bị Tổng Thống Ngô Đình Diệm cách chức Viện trưởng vào ngày 16 tháng 8, năm 1963. Sau cuộc Cách Mạng 1.11.1963, ông được tái bổ nhiệm vào tháng giêng, năm 1964 để rồi lại rời Huế vĩnh viễn vào tháng 9, năm 1964 chỉ vì từ chối cho phép Hội đồng Nhân dân Cứu quốc và tuần báo Lập Trường được hoạt động trong khuôn viên, thậm chí sử dụng cơ sở và phương tiện của Viện. Ông còn từ chối gia nhập tổ chức chính trị của họ. Tôi cũng muốn giới thiệu tiểu sử do chính ông ghi lại vì chính xác, sẽ thuận tiện hơn cho người khác sử dụng hay tham khảo.

Tiểu sử ông trong bài này được trích dẫn từ Nghĩ về Cách mạng, Chiến tranh và Hòa bình. Quyển này tập hợp một loạt phỏng vấndo nhóm Thái Độ, gồm Trần Kỳ, Nguyễn Tường Giang, Nguyễn Đông Ngạc, Chu Vương Miện và Thế Uyên– ấn hành vào năm 1967 tại Sài Gòn. Cuốn này gồm 2 phần. Họ đặt 7 câu hỏi chung cho Phần 1-Cách mạng và Xã hội. Trong số 18 người trả lời có 9 người Công Giáo (Lm. Trần Viết Thọ, Lm. Đinh Cao Thuấn, Lm. Hoàng Trung, Lm. Cao Văn Luận, Lm. Trần Quí Thiện, Lm. Trần Du, Lm. Chân Tín, Lm. Hoàng Quỳnh và Lm. Nguyễn Ngọc Lan), 4 người Phật Giáo (Thượng tọa Tâm Châu, Thượng tọa Đức Nhuận, Thượng Tọa Trí Quang, và Thượng tọa Thiện Minh), 1 người hoạt động kỳ cựu trong Đảng Việt Quốc (ông Nguyễn Văn Lực), 2 chính trị gia (Luật sư/Phó Thủ tướng Trần Văn Tuyên, 1965 và Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu, 1964).

Phần 2-Chiến tranh và Hòa bình gồm phần trả lời 8 câu hỏi của 4 Linh mục: Trần Du, Chân Tín, Hoàng Quỳnh, Nguyễn Ngọc Lan; Thượng tọa Trí Quang và ông Nguyễn Văn Lực. Phần trả lời của mỗi người đều kèm tiểu sử do chính họ thảo.

Đây là tiểu sử của Linh mục Viện trưởng Cao Văn Luận qua lời ông:

-Tôi sinh ngày 20.12.1910 tại làng Thọ Ninh, phủ Đức thọ, tỉnh Hà tĩnh. Vào nhà tu từ lúc còn thanh niên, chịu chức Linh mục năm 1939, liền sau đó sang Pháp học ở Đại học Sorbonne. Bị kẹt vì thế chiến II, tôi ở lại Pháp đến 1947 mới hồi hương. Nhưng cũng vì bị kẹt mà đã có dịp gặp và hội đàm nhiều lần với một số nhân vật Việt-Nam quan trọng như cựu hoàng Duy Tân, các ông Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng, Hoàng Minh Giám và nhiều người khác trong phái đoàn Quốc hội Việt Minh và phải đoàn chính phủ VNDCCH sang dự hội nghị Fontainebleau. Trở về Việt nam, tôi ra Hà-nội, và ở đó được gặp và quen biết rất nhiều những nhà trí thức trùm chăn mà tiêu biểu nhất là ông Hoàng Xuân Hãn. Đầu năm 1948 tôi vào Huế rồi ra Quảng bình, coi một xứ đạo thôn quê bên kia sông Gianh và cuối năm 1949 được mời dạy Triết học ở trường Quốc học Huế. Năm 1957, tổng thống Ngô Đình Diệm ủy thác cho tôi việc sáng lập Viện Đại học Huế và làm viện trưởng cho đến cuối hè 1963 vì bất đồng ý kiến với Tổng Thống trong một vài vấn đề quan trọng liên quan đến vận mệnh đất nước và chế độ, tôi đã được ông cho thôi. Chế độ họ Ngô sụp đổ tôi lại được mời ra làm Viện trưởng cho đến mùa thu 1964 vì tình hình chính trị miền Trung xáo trộn, không thể tiếp tục công việc văn hóa ở Đại học Huế, tôi đã từ chức và vào đây dạy ở Đại học Sư phạm Saigon cho đến nay [Thái Độ phỏng vấn Linh mục Cao Văn Luận]

Ông dành những trang cuối của hồi ký hầu cho biết về biến cố phải bỏ Huế vĩnh viễn khi bị buộc từ chức rồi trú thân tại Đại học Sư phạm, Viện Đại học Saigon, cho đến khi rời Miền Nam:

Những cơn sóng gió mới– … Lúc đó tôi hân hoan và tin tưởng rằng Đại-Học-Huế phải được trưởng thành thêm và bành trướng thêm. Tuy nhiên khi hay tin phong-trào chính-trị bắt đầu hoạt động, mà những kẻ khởi xướng chính là những người cộng sự với tôi, đã làm cho tôi bàng hoàng không ít…Thoạt đầu nhóm hoạt-động chính-trị mang tên là Phong-trào nhân dân Cứu-quốc quy tụ một số giáo-sư như Lê Tuyên, Mai-văn-Lễ, Cao-huy-Thuần, Tôn-thất-Hanh và do Bác Sĩ Lê-khắc-Quyến, Khoa Trưởng y khoa làm Chủ-Tịch, nhưng sau đó Phong trào lan rộng trong hàng ngũ sinh viên HUẾ, thực sự biến Đại Học Huế làm môi trường hoạt động chính trị, trái hẳn với những nguyện ước của tôi. Giáo sư Lê-khắc-Quyến còn ngang nhiên đặt văn phòng của phong trào trong Viện đại học. Họ lấy mọi phương tiện trong cơ sở văn hóa này để dùng vào các chương trình chính trị của họ. Tôi có nghe một vài sinh viên thân tín tường trình lại những hoạt động nầy, nhưng tôi không tin, vì mới hôm nào đây Lê-khắc-Quyến, Lê-Tuyên còn tới mừng lễ Ngân Khánh của tôi bằng mấy bức hoành phi, mang những dòng chữ chí tình “Thiện Mỹ lưỡng toàn’’, “Sư sinh đại nghĩa’’. Qua nhiều lần gặp gỡ ông Quyến cũng như người học trò cũ của tôi Lê-Tuyên đã quá hiểu nguyện vọng của tôi là gạt hẳn những không khí, những phong trào chính trị ngoài ngưỡng cửa Đại học. Tôi còn ân cần tâm sự với họ rằng, Đại học chỉ dùng vào công cuộc kiếm tìm và phát huy văn hóa mới, gây dựng và nuôi dưỡng những bác học cho tương lai, không thể đem những thứ thành quả ngắn, những xáo động nửa vời vào lũng đoạn chi phối sinh hoạt hướng thượng đó. Hơn những người nào hết, chính Quyến và Lê-Tuyên là những người vồn vã nhất trong việc ủng hộ mục đích của tôi. Không ngờ vật đổi sao dời, ngày một ngày hai họ đã phát lộ một bộ mặt khác, chủ trương khác, tới khi Lê-Khắc-Quyến đích thân đến gặp tôi và mời tôi tham gia phong trào nhân dân cứu quốc lúc đó mới thấy thực sự chán nản bàng hoàng. Tôi đã cố gắng giữ vững tinh thần trong lúc đó với Quyến để câu chuyện diễn ra trong vòng thân thiết bình thản. Tôi im lặng nghe Quyến trình bày về phong trào nhân dân cứu quốc, có lẽ Quyến nói khá nhiều về mọi vấn đề, mọi khía cạnh. Nhưng cho tới nay tôi chẳng còn nhớ được gì. Tuy nhiên điều làm tôi không bao giờ quên đi, Quyến ngỏ lời yêu cầu tôi ủng hộ phong trào chính trị này. Và tôi thành thực nói với giáo sư Chủ tịch Lê-Khắc-Quyến:

– Các anh lập phong trào chính trị tôi không có quyền ngăn cản. Nếu lập phong trào tranh đấu tự do dân chủ cho quê hương, tôi càng tán thành là đằng khác nũa. Hơn lúc nào hết anh thấy quê hương đang cần nhiều hậu thuẫn để đánh bại hay đối đầu với làn sóng đỏ Cộng sản…

Tôi nhấn mạnh với Bác Sĩ Quyến rằng, tư cách một Linh mục Viện trưởng Viện đại học không cho phép tôi có ý kiến rõ ràng về phong trào chính trị của ông ấy. Tôi còn nhắc lại lập trường cũ của tôi là tách rời chính trị khỏi sinh hoạt Đại học và nói với ông Quyến là tôi không chấp thuận việc phát động phong trào trong giới sinh viên của tôi.

Bác Sĩ Quyến có vẻ bất bình, ông ta biện dẫn một vài lý do để bênh vực cho lập luận của ông. Tuy nhiên tôi vẫn trầm tĩnh nói:

-Anh dư biết mơ ước của tôi là phát huy văn-hóa dân tộc. Trước đây tôi đã nhiều lần nói với các anh rằng chính trị là nhất thời văn hóa mới trường cửu. Nếu Đại học muốn trường cửu, Đại học không nên làm những chuyện nhất thời. Các anh đã đồng ý với tôi về điểm đó trước, thì bây giờ tôi cũng xin các anh cho tôi giữ vững một lập trường ấy.

Bác Sĩ Quyến chống chế:

-Trước đây tình thế khác, chúng tôi đã chấp thuận lập trường của Cha. Bây giờ với không khí chính trị mới, phải có sinh khí mới trong Đại-học.

Tôi mỉm cười, có lẽ nụ cười bấy giờ chua xót lắm, buồn thảm lắm:

-Tôi xác định với anh một lần nữa: Tôi không muốn cho Đại-học có Đảng-phái Chính trị. Chẳng phải lúc này tôi mới có chủ trương lập trường này mà ngay từ khi Đại học khai sinh, tôi cũng đã nhấn mạnh đến lập trường của tôi. Khi nào tôi còn giữ chức coi sóc Đại học Huế, tôi còn tranh đấu tới cùng, để Đại-học chỉ là khu vực thuần-túy văn-hóa thôi. Không ngờ lúc này các anh đặt văn phòng của phong trào ở Đại-học mà không cho tôi hay. Lại khám xét sinh viên trước khi họ vào trường nữa. Đó là chuyện trái ngược với không khí Viện đại-học này. Nếu các anh tiếp tục hoạt động, các anh gắng tìm chỗ khác đặt văn phòng, xin trả Đại Học cho tôi ngay (…)

Tôi cũng nhấn mạnh với ông Quyến:

-Lực lượng duy nhất hiện nay để chống cộng sản là lực lượng Quân đội. Bây giờ các anh nêu đích danh những Tướng lãnh cầm đầu Quân Đội đả kích. Hành động đó có khác nào chúng ta phá đi bức thành trì chống cộng. Điều đó không thể chấp nhận được. Đất nước chúng ta đã chìm đắm bao nhiêu năm. Không thể tạo cơ hội thuận tiện để cho mảnh đất còn lại của quê mẹ khốn khổ này rơi vào tay Cộng sản.

Tôi còn nói với Giáo Sư Quyến một lần nữa là, ông ta hãy dời văn phòng của phong trào ra khỏi Viện Đại Học để tôi khỏi lấy làm thất tín vì đã không giữ vững lập trường duy trì văn hóa của mình. Giáo Sư Quyến không nói gì. Ông ta đứng dậy cùng với mấy Giáo Sư đi theo xin cáo lui. Tôi tiễn ông Quyến ra tận cửa. Tuy ông không phản đối những ý kiến của tôi trong cuộc mạn đàm, nhưng tôi thấy nét mặt ông có vẻ buồn buồn, và tức bực. Thú thực tôi đã hết sức khiêm tốn trong câu chuyện với mục đích duy trì hòa khí giữa những kẻ cộng tác hàng ngày với nhau. Vậy mà câu chuyện không ít thì nhiều đã đem lại sự nghi kỵ, nếu không nói là bất bình giữa tôi và giáo sư Chủ tịch Lê-khắc-Quyến. Trong lúc Quyến lẳng lặng lên xe, các giáo sư khác, trong phong trào chính trị có lẽ thông cảm cho mục tiêu tối thượng của tôi, đã thân ái hứa hẹn với tôi rằng, phong trào Nhân dân cứu quốc không đả kích tập thể giáo dân Ky-tô nữa và ngưng lại mọi chương trình đồng hóa Cần Lao với Công Giáo. Những giáo sư này đoan chắc rằng, họ chỉ tranh đấu cho tự do dân chủ mà thôi. Sở dĩ tôi góp ý họ về những vấn đề đả kích Tướng lãnh, tố khổ Cần Lao là vì, ngay sau khi phong trào Nhân dân cứu quốc hình thành, họ ra một tờ báo lấy tên là Lập Trường làm cơ quan ngôn luận. Tờ báo đặt ngay ở nhà in của Viện Đại Học dưới chân cầu Bạch Hổ. Và mọi phương tiện của nhà in này, phong trào đều xung công vào việc ấn loát tờ báo này (…) Tôi không hưởng ơn mưa móc gì của Chế độ Tổng thống Diệm. Tôi không hề bênh vực gì chế độ ông ấy. Tuy nhiên tôi cũng không mấy hài lòng khi thấy phong trào kia cố tình đồng hóa người công giáo với Cần Lao. Cần Lao cũng có kẻ tốt người xấu, không phải tất cả Cần Lao đều xấu hết. Vì vậy trong buổi gặp gỡ với giáo sư Quyến, tôi đã thành thật nói với ông ấy điều này.

Vĩnh biệt Huế–   Nhưng những lời khuyến cáo của tôi đã không ích lợi gì. Lê-khắc-Quyến, Lê Tuyên và đồng bọn vẫn tiếp tục cuộc tranh đấu chính trị của họ và vẫn chiếm cứ Đại-học, gây ra nhiều xáo trộn. Tôi cảm thấy bất lực để đối phó với họ, và quá chán nản tôi đã nghĩ đến việc từ chức Viện Trưởng, cuốn gói ra đi, từ biệt xứ Huế mà tôi đã tận tâm phục vụ ngót 20 năm trời.

Vào cuối tháng tám, một hôm vì quá bực mình và chán nản, tôi đã thảo đơn từ chức, nhưng rồi lại bỏ vào hộc bàn viết: sở dĩ tôi còn ngần ngại chưa dứt khoát quyết định là vì ở Đại-Học còn nhiều việc chưa làm xong, nhiều dự trù chưa được thực hiện: Đại-học Y Khoa với viện trợ của Gia-nã- Đại chưa xây cất hết, Đại giảng đường của Đại-học Khoa học cũng đang còn bỏ dở, Đại học Sư Phạm vừa xây cất xong chưa được chính thức khánh thành, chương trình xây cất Trung Tâm Kỹ Thuật ở Đồng An Cựu với sự giúp đỡ của Đại Học Stanfort [sic] chưa bắt đầu. Việc hiệu đính các châu bản triều Nguyễn khởi công từ ba năm trước với sự cộng tác của Giáo-sư Chen Ching Ho cũng chưa hoàn tất. Ngày 9 tháng 9 tôi vào Sài Gòn để gặp ông Đại -sứ Anh xin giúp cho Đại Học Y Khoa một vài Giáo sư và một số dụng cụ thí nghiệm. Từ trước đến nay tôi đã liên lạc mấy lần với tòa Đại sứ Anh để xin viện trợ cho đại học Huế nhưng luôn luôn bị từ chối, lần này tôi hy vọng thành công vì ông Đại Sứ Anh vừa mới ra thăm Huế và hứa hẹn giúp đỡ, tôi vào Saigon mới được ba hôm, công việc chưa xong gì thì ngày 12 tháng 9 xảy ra vụ đảo chánh do nhóm Phạm-Ngọc- Thảo chủ động. Nhân cơ hội đó Lê Tuyên và Lê Khắc Quyến đã cho phao đồn ở Huế rằng tôi đã vào Sài Gòn lần này chỉ là để cổ xúy và trực tiếp tham gia vào cuộc đảo chánh ấy, họ đã hội họp các sinh viên và giáo sư lại để công khai lên án tôi và đòi tôi phải từ chức, phần đông các Giáo sư và sinh viên phản đối việc đó vì còn muốn tôi ở lại. Tuy thế ngày 14 tháng 9 tôi đã nhận được một điện tín từ Huế đánh vào yêu cầu tôi từ chức, viện lẽ rằng sự hiện diện của tôi ở Đại Học Huế trong giai đoạn hiện tại không còn thích hợp và cần thiết. Đã nuôi sẵn ý định rút lui từ hai tháng nay rồi nên khi nhận được điện tín ấy của Lê-khắc-Quyến đồng ký với Lê-Tuyên, Tôn-thất-Hanh, Mai -văn-Lễ và một vài giáo sư khác, tôi đã không ngần ngại đắn đo lập tức đến gặp Bùi-tường-Huân, lúc đó mới được phe Phật Giáo đưa lên làm Tổng Trưởng Bộ Quốc Gia Giáo Dục, và đưa cho ông ta cái thư xin từ chức mà tôi đã viết sẵn hai tháng trước và lúc vào Sài Gòn tôi đã mang theo (…) Lúc chấp nhận sự từ chức của tôi Bùi-tường-Huân có nói: “Ít hôm nữa, lúc nào thuận tiện mời Cha trở lại Huế làm lễ bàn giao. Chúng tôi sẽ tổ chức một lễ tiễn đưa Cha thật trọng thể và sẽ gắn huy chương cho Cha để tỏ lòng tri ân công lao Cha đối với Đại học Huế nói riêng và nền Giáo dục nói chung.’’ Tôi đã từ chối và đã không trở lại Huế làm lễ bàn giao, chỉ nhờ một người bạn ra đưa sách vở và đồ đạc vào Sài Gòn thôi. Tôi không trở lại Huế, thực ra vì không muốn gây xúc động cho nhiều người mà tôi biết chắc là còn mến tiếc tôi và còn muốn cho tôi ở lại điều khiển Đại Học Huế. Từ đó tôi sống trong im lặng ở Saigon, tuy nhiên tôi vẫn luôn theo dõi những thăng trầm của Viện Đại Học Huế mà tôi coi như là sự nghiệp lớn nhất và thành công nhất của đời tôi, một sự nghiệp mà tôi phải vất vả dày công tạo dựng, vun trồng suốt bảy năm, cầu mong cho nó được phát triển và mãi mãi tồn tại với non sông để tên tuổi tôi cũng được mãi mãi gắn chặt vào. [Linh-Mục Cao-Văn-Luận, Bên giòng lịch sử, trang 443-455, Nhà Xuất bản Trí Dũng, 1972, Sài gòn] 

Linh Mục Cao Văn Luận tiếp tục giảng dậy tại Đại Học Sư Phạm và Đại Học Văn Khoa, Viện Đại Học Sài gòn cho đến khi ra đi, khi nền đại học Tự trị của Miền Nam bị Cộng sản tiêu diệt.

Tìm Hiểu (tháng 9.1964) và Lập Trường (ngày 21, tháng 3.1964-ngày 12.tháng 11.1964) đều đình bản vào 1964, nhưng có 1 tờ báo khác sẽ bắt đầu ngay vào lúc đó, mở một con đường khác cho Khoa Trưởng Đại học Văn Khoa, Viện Đại học Sài gòn/ Giáo sư Nguyễn Văn Trung. Ông hoạt động một cách độc lập và mạnh mẽ hơn bằng cách thành lập nguyệt san Hành Trình. Ông liên kết với một số tác giả có khuynh hướng văn nghệ khác–hoặc hoàn toàn khác với Sáng Tạo, Nghệ Thuật, Vấn Đề, Văn–như Thế Nguyên, Diễm Châu, Hoàng Ngọc Biên, Nguyễn Quốc Thái, Nguyên Sa, Trần Quang Long, Trương Bá Cần, Nguyễn Khắc Ngữ, Lý Chánh Trung, Thảo Trường vv. để từ Hành Trình tiến sang Đất Nước, một tạp chí mà Nguyễn Văn Trung làm chủ nhiệm, Lý Chánh Trung giữ Chủ bút cùng Thế Nguyên trông coi công việc toà soạn.

Khoảng thời gian có mặt của các tạp chí này cũng diễn ra song song với cuộc giao chiến càng lúc càng khốc liệt hơn giữa Việt Nam Cộng Hòa và Đảng Cộng sản Việt Nam. Tình hình Việt Nam Cộng Hòa, đang tìm cách bình thường hóa sau cuộc đảo chánh chính phủ Ngô Đình Diệm, đã đầy chấn động. Trong khi giới sinh viên-học sinh, trí thức và nhà văn kiêm sĩ quan trẻ của Miền Nam có hoạt động báo chí hoặc/và chính trị như thí dụ qua Tìm Hiểu và Lập Trường rồi Hành Trình, Đất Nước và Trình bầy thì người Cộng sản và Đảng Cộng Sản làm gì? Dĩ nhiên là họ không án binh bất động. Quyển Văn kiện Đảng Toàn Tập-Tập 25 ghi lại các nghị quyết chính thức của Đảng và Chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (tên gọi của Miền Bắc lúc ấy) vào năm 1964, trong đó có những nghị quyết liên quan trực tiếp đến cuộc tiến chiếm Miền Nam và bộ phận tuyên truyền kèm theo nhắm vào các giới thượng dẫn. Sau 1975, 3 cuốn sách do chính họ soạn thảo và phát hành sau 1975 để liệt kê thành tích đã bổ sung cho những nghị quyết trên khi họ áp dụng vào trận chiến tuyên truyền. Đội binh của họ là cán bộ văn hóa nhân danh văn nghệ sĩ; sinh viên học sinh nằm vùng vì ngây thơ hay bị lợi dụng. Danh tính và “thành tích” của đội binh này được ghi nhận đầy đủ trong Trui rèn trong lửa đỏ (1985), Văn học Yêu nước-Tiến bộ-Cách mạng trên Văn đàn công khai Sài gòn 1954-1975 (1997) và Nhìn lại một chặng đường văn học-Văn học yêu nước, cách mạng thành thị miền Nam 1954-1975 (2000). Bên cạnh đó, còn có một số tác giả chỉ nhìn thấy một Miền Nam bị cấu xé bằng bom đạn do Hoa Kỳ cung cấp mà không hình dung được khối vũ khí vĩ đại của Khối Cộng Sản Quốc tế theo Đường mòn Hồ Chí Minh âm thầm đổ vào. Bởi thế, họ liên tưởng đến sự thao thức của chính họ với nhân sinh nên tác phẩm cũng phản ảnh sự thụ động và bất mãn dẫn đến quyết định tạo dựng một xã hội tiến bộ-Không Cộng sản trong điều kiện không thể nào thực hiện được.

Bởi thế, theo tôi, không thể tiến sang giai đoạn của các ấn phẩm báo chí như Tình Thương rồi Hành Trình, Đất Nước và Trình bầy mà không tìm hiểu về chính sách đã được Đảng Cộng sản Việt Nam áp dụng ngay lúc đó nhắm vào giới Trí thức, Sinh viên-Học sinh và giới Sĩ quan Trẻ của Miền Nam.

2.7    Cuộc “binh vận” của Đảng Cộng Sản nhắm vào giới Trí thức, Sinh viên-Học sinh và giới Sĩ quan Trẻ của Miền Nam

Tôi trích dẫn một vài đoạn trong “NGHỊ QUYẾT HỘI NGHỊ TWC LẦN THỨ HAI, Số 2/NQ” vào tháng 3 năm 1964 hầu cho thấy Đảng Cộng sản Việt Nam và chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (Miền Bắc) đã có một chính sách quy mô được thi hành bằng nhiều phương pháp cụ thể. Nghị quyết này–1 trong 3 Phụ Lục–được đăng vào cuối quyển Văn kiện Đảng Toàn Tập-Volume 25 gồm 48 văn kiện của chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đã ban hành vào năm 1964. Nghị quyết gồm 2 phần: Phần 1-Tình hình Địch, Ta trong 2 năm qua và nhiệm vụ trước mắt của chúng ta (trang 639-720) và Phần 2-Những công tác sớm (trang 720-771).

Sau khi khảo sát và đánh giá tình hình “Địch/Ta” trong Phần 1, họ hoạch định trong  Phần 2 những phương pháp thực tiễn hầu thực hiện cuộc xâm nhập không vũ khí vào hàng ngũ dân chúng Miền Nam tại thôn quê, thành thị và xâm lấn có vũ khí tại những nơi đã, đang và sẽ là chiến trường. Phần 2 gồm 11 tiểu mục: 

  1. Phá ấp chiến lược và xây dựng xã ấp chiến đấu (trang 720-723).
  2. Hoạt động và xây dựng lực lượng võ trang (trang 723-731).
  3. Đẩy mạnh phong trào chính trị và xây dựng lực lượng chính trị (trang 731-741).
  4. Xây dựng căn cứ địa và quản lý vùng giải phóng (trang 741-745).
  5. Công tác đô thị (trang 745-749).
  6. Công tác binh vận (trang 749 -755).
  7. Công tác kinh tế tài chánh (trang 756-760).
  8. Công tác chống do thám gián điệp và xây dựng lực lượng an ninh các cấp (trang 760-763).
  9. Tiếp tục tranh thủ sự đồng tình ủng hộ quốc tế đối với cuộc đấu tranh chính nghĩa của ta (trang 763-764).
  10. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng (trang 764-768).
  11. Động viên chính trị toàn quân toàn dân, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước đảm bảo thực hiện những nhiệm vụ cách mạng to lớn trước mắt (trang 768-771, sđd).

Riêng những đoạn được trích dẫn sau đây từ Công tác đô thị và Công tác binh vận sẽ cho thấy họ đánh giá, phân tích các vấn đề liên quan tới giới thanh niên thanh nữ, sinh viên, học sinh, sĩ quan trẻ nhắm sử dụng và lợi dụng nguồn nhân lực tại đô thành và/hoặc đối đầu với họ tại chiến trường. Ngay tên của 2 tiểu mục này cũng đã báo trước được nội dung của chúng:

Công tác đô thị

(…) Với sự hỗ trợ ngày càng mạnh của phong trào nông thôn, phong trào đô thị có nhiều khả năng lợi dụng tình hình lỏng lẻo tê liệt của tổ chức kềm kẹp bên dưới, sự rối ren hoang mang phân hóa của bọn bên trên và những điều mị dân của bọn cầm quyền mới mà nêu lên những khẩu hiệu thiết thực về dân sinh, dân chủ, dân tộc để mở rộng phong trào đấu tranh. (…) mở rộng tổ chức và hoạt động của nghiệp đoàn, của các tổ chức học sinh, sinh viên, các tổ chức có tính chất xã hội, các tổ chức bán hợp pháp của quần chúng, mở rộng phong trào đòi tự do báo chí, tự do nghiệp đoàn… Cần hướng dẫn mở rộng dư luận và phong trào đấu tranh đòi hòa bình chấm dứt chiến tranh kết hợp với các khẩu hiệu thiết thân của nhân dân để chống lại các chánh sách động viên nhân tài vật lực tăng cường chiến tranh của địch. Cần khuyến khích mở rộng phong trào đòi hòa bình trung lập trong các từng lớp trên, trong hàng ngũ nhân viên chánh quyền, binh lính, sĩ quan địch, làm cho bên dưới càng chán nản tìm lối thoát, bên trên càng dao động phân hoá lục đục và mâu thuẫn giữa Pháp – Mỹ, giữa thân Pháp, thân Mỹ thêm gay gắt. Từ sau đảo chánh 11-63 đến nay, phong trào công nhân lao động và học sinh, sinh viên có phát triển khá và liên tục với nhiều hình thức phong phú. Yêu cầu sắp tới là phải khẩn trương và kiên trì đi sâu vận động trong công nhân lao động làm cho phong trào này ngày càng có cơ sở vững chắc, có tính chất quần chúng rộng rãi, có tác dụng làm phong trào nòng cốt cho phong trào chung của đô thị. Đồng thời đẩy mạnh vận động trong học sinh, sinh viên và các từng lớp tư sản trí thức, nhân viên và sĩ quan địch. (…)  Ngoài ra còn cần phải phân biệt và ngăn cách giữa những tổ chức và hoạt động vũ trang, những tổ chức lực lượng ngầm ở đô thị với những cơ sở bí mật của tổ chức Đảng và quần chúng. Chú ý xây dựng cho cán bộ công tác ở đô thị có ý thức bảo vệ cơ sở để tồn tại lâu dài, có tác phong kiên trì luôn luôn khéo che giấu, khéo công tác và phải ra sức đào tạo cán bộ tại chỗ. Cần củng cố xây dựng những bàn đạp nông thôn sát đô thị làm căn cứ tốt cho các cơ quan chỉ đạo và lực lượng vũ trang đô thị. Tóm lại, ra sức đẩy mạnh hơn nữa phong trào đô thị nhưng phải hết sức tích cực kiên trì xây dựng lực lượng, phát triển cơ sở nhất là trong công nhân lao động và học sinh, sinh viên, tăng cường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ đảng viên nhất là cán bộ cơ sở và chi bộ tại chỗ, tổng kết kinh nghiệm công tác đô thị, sửa đổi lề lối làm việc và bố trí tổ chức đảm bảo cho chỉ đạo nắm sát tình hình, chỉ đạo kịp thời…[Đảng Cộng sản Việt Nam, “NGHỊ QUYẾT HỘI NGHỊ TW1C LẦN THỨ HAI Số 2/NQ, tháng 3 năm 1964”, Văn kiện Đảng Toàn Tập-Volume 25, trang 745-749, Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia, 2003 – In 6.000 cuốn, khổ 15 x 22cm, tại Công ty in Tiến Bộ, Việt Nam (1)Trung Ương Cục-Chú thích của Ban Biên Tập  * Văn kiện này được The University of Michigan số hóa, 2008 và được Google Book giúp phổ biến trên Internet  ** Quý độc giả có thể đọc toàn tập tại  link sau đây-https://books.google.com/books?id=RzKOAAAAMAAJ&pg=PP7&source=gbs_selected_pages&cad=1#v=onepage&q&f=false]

Tiếp ngay sau đó, nhờ tiểu mục “Công tác binh vận”, chúng ta sẽ được biết họ chú ý đến giới sĩ quan, nhất là “trong các binh chủng quan trọng ở những vị trí chiến lược và trong sĩ quan địch, đặc biệt chú trọng cấp uý” (sđd), như thế nào:

Công tác binh vận

Binh vận là một nhiệm vụ chính trị của Đảng, của toàn dân, toàn quân, có vai trò chiến lược quan trọng trong suốt quá trình đấu tranh dẫn tới tổng công kích, tổng khởi nghĩa. Nội dung chủ yếu hiện nay của công tác binh vận là thực hiện cho được vấn đề công nông binh liên hiệp chống đế quốc Mỹ xâm lược và đánh đổ chính quyền tay sai ở miền Nam. Quân đội địch là công cụ chủ yếu đàn áp cách mạng, nhiệm vụ của ta là phải giáo dục dân và quân ta căm thù sâu sắc, kiên quyết chiến đấu tiêu diệt và làm tan rã quân đội ấy, nhưng mặt khác cũng phải thấy rõ khả năng và tầm quan trọng của công cuộc vận động binh sĩ địch. Yêu cầu vận động không phải chỉ ở mức độ tranh thủ binh sĩ đồng tình ủng hộ các cuộc đấu tranh của nhân dân mà phải tiến hành cuộc vận động cách mạng trong quân đội địch, lôi cuốn từng đơn vị, từng bộ phận binh sĩ địch đứng về phía nhân dân chống địch, quay súng bắn vào kẻ thù giành thắng lợi cho cách mạng (…) Nhiệm vụ công tác binh vận hiện nay là: “Kịp thời tận dụng mọi điều kiện thuận lợi, kết hợp chặt chẽ với đấu tranh quân sự, chính trị, làm tan rã quân đội địch thêm một bước mới. Đồng thời đẩy mạnh hơn nữa việc phân hoá trong hàng ngũ sĩ quan địch, ra sức tranh thủ những phần tử tán thành “hoà bình trung lập“. (…)  Để thực hiện nhiệm vụ trên, các cấp uỷ Đảng cần quán triệt hai vấn đề chủ yếu trong công tác binh vận:

Một là: Kịp thời tấn công làm tan rã quân đội địch thêm một bước mới không những về tinh thần mà cả về tổ chức (…)

Hai là: Khẩn trương xây dựng lực lượng cách mạng của ta trong chủ lực và trong các binh chủng quan trọng của địch (…) phải tập trung vào một số công tác chính với những điểm chủ yếu sau đây:

  1. a) Đẩy mạnh tấn công chính trị, làm suy nhược hơn nữa tinh thần, tư tưởng quân đội địch, phát triển ý thức đòi đình chỉ chiến tranh xâm lược, đi đôi với giáo dục cách mạng, phát động ý thức giai cấp trong binh lính và phát triển khuynh hướng hoà bình, trung lập trong hàng ngũ sĩ quan. Khẩu hiệu trung tâm tuyên truyền, vận động binh lính, sĩ quan địch hiện nay là: “Không đi chết cho đế quốc Mỹ và tay sai. Đứng lên cứu nước cứu nhà, đòi đình chỉ chiến tranh, đòi hoà bình, trung lập” (…) phát triển mạnh mẽ tinh thần dân tộc chống Mỹ và tay sai trong hàng ngũ binh lính, sĩ quan địch. Làm cho họ thấy rõ lối thoát duy nhất có lợi cho họ hiện nay là chống chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ, đòi hoà bình, trung lập. (…)
  2. b) Phát triển hơn nữa phong trào đào rã ngũ, kết hợp với binh biến làm tan rã từng phần quân đội địch.

(…) Trong thời gian tới, phải làm tan rã về căn bản lực lượng vũ trang của địch ở vùng tranh chấp và làm tan rã từng phần ở đô thị và vùng yếu, đẩy mạnh đào rã ngũ tập thể trong bảo an, dân vệ, phát triển đào rã ngũ lẻ tẻ, thường xuyên trong chủ lực và kịp thời phát triển đào rã ngũ tập thể khi có đột biến thuận lợi (…)

  1. c) Đẩy mạnh phân hoá hơn nữa hàng ngũ sĩ quan địch, tích cực xây dựng cơ sở trong sĩ quan địch, kể cả sĩ quan cao cấp

Trong tình thế hiện nay, cần chú trọng hơn nữa công tác vận động sĩ quan địch. Yêu cầu chung vận động sĩ quan hiện nay là: “Khoét sâu tinh thần bi quan thất bại, mất tin tưởng đối với đế quốc Mỹ và tay sai, phát triển khuynh hướng hoà bình trung lập và kịp thời chuyển lên đấu tranh, cao nhứt là ly khai, hoặc liên hiệp hành động với Mặt trận”. Cần nắm vững phương châm sách lược vận động sĩ quan hiện nay: “Tranh thủ phần tử tiến bộ yêu nước, liên hiệp hành động với những phần tử tán thành hoà bình trung lập, liên minh từng lúc, từng vấn đề với bọn thân Pháp, lôi kéo bọn lưng chừng, khoét sâu mâu thuẫn giữa bọn theo Mỹ, chĩa mũi nhọn đấu tranh vào đế quốc Mỹ và tập đoàn thân Mỹ nắm chính quyền (…)”

  1. d) Ra sức phát triển và củng cố thực lực cách mạng trong quân đội địch

Vấn đề xây dựng thực lực cách mạng trong quân đội địch hiện còn là một nhược điểm lớn của ta. (…) Nhưng vấn đề quan trọng đặc biệt hiện nay là phải tập trung khả năng xây dựng cơ sở trong quân chủ lực, trong các binh chủng quan trọng ở những vị trí chiến lược và trong sĩ quan địch, đặc biệt chú trọng cấp uý để khi thời cơ thuận lợi phối hợp với những công tác lớn của ta, giành lấy những thắng lợi quan trọng và chuẩn bị tốt cho tổng công kích, tổng khởi nghĩa (…)

đ) Đẩy mạnh đấu tranh chống bắt lính, đôn quân, chống tổng động viên, chống và phá âm mưu vũ trang các tôn giáo, dân tộc, đặc biệt Cao Đài, Hoà Hảo

Kiên quyết ngăn chặn không cho địch bắt lính ở vùng giải phóng, hết sức hạn chế bắt ở vùng yếu và đô thị. Cương quyết rút thanh niên trong các vùng địch còn có thể bắt lính đưa vào vùng giải phóng tham gia cách mạng. Chống bắt lính phải đi đôi với phá rã lực lượng dự trữ (thanh niên chiến đấu, thanh niên cộng hoà) của địch và chống đôn quân (…)

  1. e) Các cấp uỷ cần tăng cường lãnh đạo công tác binh vận giảm bớt tiến tới chấm dứt tình trạng kiêm nhiệm, cần bổ sung cán bộ cho ban binh vận chủ yếu là tăng cường cán bộ ở cấp tỉnh, củng cố cấp xã.

Riêng công tác nội tuyến thì ban binh vận các cấp cần phải có cán bộ chuyên trách, tăng cường cán bộ có khả năng hợp pháp và có đủ năng lực cho bộ phận này. Cần tổng kết những kinh nghiệm của phong trào quần chúng làm công tác binh vận, kinh nghiệm giáo dục và sử dụng gia đình binh sĩ, kinh nghiệm đi sâu tổ chức xây dựng và lãnh đạo cơ sở trong binh lính sĩ quan địch…[Đảng Cộng sản Việt Nam, “NGHỊ QUYẾT HỘI NGHỊ TWC (Trung Ương Cục) LẦN THỨ HAI Số 2/NQ, tháng 3 năm 1964”, Văn kiện Đảng Toàn Tập-Volume 25, trang 749 -755, sđd]

Tôi sẽ đề cập đến một phần hoạt động của giới Sinh viên-Thanh niên Miền Nam qua nguyệt san Tình Thương do Sinh viên Y khoa Sài gòn chủ trương hầu cho thấy các cuộc binh vận tại thành thị của Đảng Cộng sản đã không thành công được với họ– thành phần vừa trẻ, vừa có học và có người sẽ phải phục vụ tại mặt trận sau khi tốt nghiệp. Ngoài Tình Thương, tôi sẽ đề cập đến hoạt động của nhóm khác, cụ thể là Nhóm Chương trình Công tác Hè 65 (CTCTH 65)/Summer Youth Program (SYP), cũng để xem họ phản ứng ra sao. Nhóm này, quy tụ một số giáo sư và sinh viên thuộc nhiều Phân khoa thuộc Viện Đại học Sài gòn, dự định thực hiện một chương trình lớn lao nhắm đưa thanh niên-sinh viên-học sinh về phục vụ tình nguyện tại nông thôn và các vùng phụ cận Sài gòn. Nguồn tài trợ của Hoa Kỳ cho chương trình khiến người ta bắt buộc phải đặt dấu hỏi. Một cuộc đương đầu—tuy lịch sự—giữa Tình Thương và Chương trình Công tác Hè 65 có giá trị thử thách hoài bão chống Cộng Sản, bằng cách đối diện với họ ngay tại nông thôn, trong bối cảnh của việc bảo vệ Chủ quyền Quốc Gia hầu chống lại chiến dịch tuyên truyền của Cộng sản.

Kết quả của cuộc thử thách ấy sẽ được trình bầy tiếp đây.                  

(còn tiếp)

 

bài đã đăng của Nguyễn Tà Cúc

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

@2006-2025 damau.org ♦ Tạp Chí Văn Chương Da Màu
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)