Thời gian là của những năm 60 thế kỷ trước, không gian là một thành phố nhỏ miền Trung nước Việt. Câu chuyện xảy ra dưới mắt nhìn một đứa bé chưa tròn tám tuổi. Với những bước trẻ thơ nhập nhằng giữa hai thế giới: Bên Này và Bên Kia, khi đứa bé ấy lỡ dan díu với một “Lời Nguyền”. Xin trân trọng gửi tới bạn đọc phần 7 của truyện dài “Lời Nguyền Ở Thế Giới Bên Kia” của Hoàng Chính.
24
Miếng băng keo dán chặt miếng bông gòn vào chỗ kim đâm trên cánh tay. Vậy mà máu vẫn thấm đỏ miếng bông. Mẹ bước đi chầm chậm để tôi theo kịp. Chỗ kim đâm thỉnh thoảng lại nhói lên như vừa bị đâm thêm lần nữa. Cô y tá Liên dỗ dành đến mấy thì cái kim cũng vẫn nhọn và đâm vào da cũng vẫn đau. Tôi cố không phụng phịu. Tôi cố không để nước mắt loang trên má. Tôi cố không để chị Thảo thấy tôi khóc. Tôi càng không muốn anh thầy giáo Thành biết tôi khóc. Trưa nay hai người cùng đến thăm chị Huyền. Hôm nay cả hai cùng đến thăm tôi, thằng bé chưa tròn tám tuổi đầu mà người ngợm to như con voi hàng trăm tuổi.
Hôm nay nhiều sương mù. Đến quá trưa sương mới tan và nắng mới rải đều những ngọn cây của khu rừng rậm phía trước trại bệnh.
“Mẹ ơi,” tôi phụng phịu.
Mẹ cúi xuống, tay đặt trên vai tôi, “Gì con giai?”
“Con mấy tuổi?”
“Hơn tám tuổi rồi.” Mẹ lẩm nhẩm tính. “Tám tuổi thêm mười ngày.”
Ngạc nhiên hết mức. Tôi nhướng hai con mắt, cố vạch to hai mí để nhìn mẹ cho rõ. Tóc mẹ búi sau vai. Mắt mẹ có quầng thâm màu tím nhạt.
“Vào đây được hai tuần thì con lên tám. Nhớ không?”
Tôi lắc đầu. Bức tường màu vàng nghiêng ngả. Hành lang lót gạch hoa chông chênh. Tôi lên tám. Tôi già tám tuổi. Không còn phải nói dối nữa. Tôi mừng. Quên cả vết kim đâm vẫn còn đau nhoi nhói ở cánh tay. Tôi sẽ khoe với chị Thảo là tôi tám tuổi thật. Và tôi cũng khoe với anh giáo Thành là tôi tám tuổi tròn.
Tôi cố bước cho nhanh. Chẳng phải để cho kịp với mẹ mà để mau về tới phòng, để khoe với chị Thảo, anh Thành.
Nhưng căn phòng trống trơn. Bà Gái vẫn nằm bẹp trên giường. Chị Huyền vẫn nằm ngửa, nhìn trần nhà. Bà Khúc vẫn ngồi hí hoáy vá chiếc áo rách vai. Mẹ lấy vội cái khay thức ăn đem đi rửa. Căn phòng trống trơn. Không có chị Thảo, không có anh giáo Thành, căn phòng chẳng có một ai.
Tôi thở ra. Nếu tôi là người lớn, tôi sẽ hỏi bà Khúc anh Thành chị Thảo đâu, nhưng tôi là trẻ con, chẳng ai bận tâm trả lời.
Tôi muốn khóc. Tôi giận tất cả mọi người. Tôi ghét cả thể gian. Giận ghét thì có tội nhưng tôi cũng cứ ghét. Tất cả mọi người. Tôi mặc tôi quay đầu đi ra cửa. Tôi mặc xác tôi bước xuống bậc thềm. Tôi kệ thây tôi đạp chân trên xác lá khô. Tôi thả tôi ra như lúc tháo dây cho con chó Cộc tha hồ chạy rong. Tôi vạch khóm lá rậm của bụi cây dâm bụt. Nền đất khô trụi cỏ bên dưới. Tôi cho phép tôi ngóng một con chuồn chuồn ngô. Tôi cho phép tôi tìm con vạt sành hàng đêm cứ khua vang bóng tối. Tôi chậm chạp bước giữa những bụi cây rậm rì, xanh lá. Mùi cỏ hăng nồng xoáy vào mũi. Tôi muốn ho. Tôi buồn hắt hơi nhưng tôi nén được. Lá vuốt mặt tôi. Cành níu áo tôi. Tôi vẫn để mặc tôi lầm lũi. Lối cỏ mòn dưới chân. Cây rợp bóng lá trên đầu. Mặt trời lấp ló trên cao. Lối mòn lan tràn cỏ dại. Sau những chùm lá xanh. Khu rừng hoang hàng đêm vẫn xanh xanh đỏ đỏ bầy đom đóm quyện vào nhau. Khu rừng thưa hàng đêm vẫn có những bóng mập mờ nhang thắp đỏ hai tay, khom đầu vái lạy. Tôi để mặc tôi đi. Tôi để mặc tôi chìm vào tiếng chim ríu rít. Con cào cào cánh tím bay sước qua vai. Tôi hào hứng nhìn theo. Con đường mòn hiện rõ dưới chân. Tôi giận ghét tất cả mọi người. Tôi thả tôi vào Thế Giới Bên Kia.
Và tôi nghe tiếng róc rách. Quen lắm. Như tiếng nước chảy trong lòng con suối dưới chân núi ở nhà. Tôi thả tôi đi như con chó không còn bị buộc sợi dây vào cổ. Lối mòn dưới chân. Cành lá níu kéo hai bên. Tiếng róc rách. Có dòng suối ở quanh đây. Ai đó bảo đừng ra ngoài này. Ma quỷ nhiều lắm. Những người chết vô thừa nhận bị đem chôn ngoài này. Ai đó bảo ngoài này có đầy mồ mả những người chết trong bệnh viện không có thân nhân lãnh về. Con đường mòn dẫn tôi đi. Gập ghềnh, cao thấp. Những ụ đất bên lối mòn mọc đầy cỏ dại. Con chim nào đó hót líu lo. Tiếng ai đó khúc khích cười. Tôi chìm vào cõi mơ. Tôi bị ai đó bỏ bùa. Tôi lầm lũi bước trên lối mòn. Đất ẩm dưới chân. Cỏ xanh. Cây lá đan viền hai bên lối đi. Hai con bướm đuổi bắt nhau. Chập chờn trên ngọn lá. Tiếng róc rách chan hòa không gian. Một khoảng trống mở ra bờ con lạch nhỏ. Tiếng cười trong trẻo vang vang. Tôi cố mở to mắt để nhìn.
Có người. Hay là ma. Ai đó dặn tôi đừng bao giờ bén mảng đến đây. Bởi đây là Thế Giới Bên Kia.
Tiếng cười ngay sau lưng tôi. Người tôi mọc gai. Tôi quay đầu sang phải. Tôi quay đầu sang trái. Cành lá chao chọng. Cây cối ngả nghiêng. Và tôi thấy hai người dựa sát vào nhau. Tôi trợn con mắt híp, cố nhìn cho rõ. Hai người ngồi trên tờ báo trải trên cỏ, bên bờ con lạch. Tiếng róc rách vui tai. Vạt áo dài trắng trải lên cỏ xanh. Người đàn ông vòng cánh tay ôm vai cô gái. Tay kia vùi trước ngực. Bàn tay rất quen. Bàn tay có những sợi gân xanh. Bàn tay vẫn chăm chú xếp đôi guốc có cái quai nhựa của chị Huyền cho sóng đôi dưới chân giường.
Tôi ớ lên một tiếng. Tiếng nấc. Tiếng ho. Tiếng hét. Tôi không nhận ra được thứ tiếng vừa từ miệng tôi vọt ra. Hai người buông nhau ra. Người thanh niên vội vã đeo lên mắt cặp kính trắng. Người đàn bà cuống cuồng gài cúc áo dài.
Tôi chết sững. Tôi tắt thở. Tôi quặn thắt lồng ngực. Tôi máu phun ra khỏi vết kim đâm. Con lạch vẫn róc rách. Nắng vẫn lung linh trên những ngọn cây.
Và tôi cuống cuồng quay đầu, bước đi. Lối cỏ mòn vẫn còn đó. Quanh co giữa những khóm cây rậm rạp. Những chiếc lá lao xao. Những cành cây khều, móc. Những cành cây quất lên má tôi rát bỏng.
“Vũ ơi! Chờ chị Thảo với.”
Tôi chạy. Và tôi vấp mô đất ngã vồ lấy lối mòn. Tôi chống tay ngồi dậy. Đầu gối rát bỏng. Máu tươm. Tôi nhắm mắt cho cây cối ngừng quay.
Chị Thảo níu vai áo tôi. Một tay chị ôm chiếc cặp táp đen, tay kia chị bóp mạnh vai tôi. Vai tôi đau nhói. Nhưng tôi chẳng cần. Chị bước tới trước, chặn đầu tôi lại. “Nghe chị nói nè Vũ.”
Tôi đứng yên, nhắm mắt cho trời đất bớt quay cuồng. Rồi tôi mở mắt ra. Chị Thảo khom người đứng trước mặt tôi. Mắt chị tròn, đen. Môi chị lấm lem màu ớt chín.
“Tay Vũ sao thế này?” Chị níu lấy cánh tay tôi. Miếng băng keo dán trên cụm bông gòn rướm máu đỏ loè. “Thử máu nữa hở Vũ?”
Đầu tôi nặng như tảng đá trên cái cổ sưng phù. Hình như tôi lắc đầu. Hình như tôi cũng gật đầu. Đầu tôi chẳng còn là của tôi. Nó gật, nó lắc một mình.
Chị nhìn xuống cái đầu gối lấm lem, tươm máu đỏ. Chị cuống quýt mở cặp táp, rút cái khăn mù soa trắng tinh. Chị chùi đất cát, máu me ở đầu gối đau rát. Tôi muốn đẩy tay chị ra, tôi tiếc cái khăn tay trắng muốt.
“Đừng nói với ai, nghe Vũ.” Chị lại mở cặp táp, những ngón tay thon luống cuống lôi trong một ngăn nhỏ bức ảnh Đức Mẹ La Vang. Chị áp bức ảnh lên ngực áo tôi. “Chị cho Vũ ảnh Đức Mẹ. Vũ phải hứa với Đức Mẹ không kể cho ai nghe.”
Tôi nheo mắt tránh nắng. Tia nắng từ nhánh cây trên đầu, rụng xuống, vắt ngang mặt. Bóng anh thầy giáo Thành nhập nhằng sau lưng chị Thảo.
Chị Thảo đưa cặp táp cho anh Thành, ôm cứng lấy tôi. Tôi muốn ngất đi trong vòng ôm ấy. Hai cánh tay quấn quyện. Thân thể mềm mại. Và mùi hương dịu dàng. Tôi muốn ngất trong vòng tay người chị mà tôi mơ ước là của riêng mình.
“Thề đi Vũ. Thề không nói với ai.” Chị thì thầm vào tai tôi. Tôi rùng mình, khẽ lắc đầu. Thề là có tội. Điều răn của Chúa cấm thề gian, thề vặt.
“Thề là có tội,” tôi thều thào.
Chị Thảo càng ôm chặt tôi hơn, “Hứa cũng được, khỏi thề. Hứa không nói với ai.”
Tôi run rẩy trong vòng tay chị Thảo. Tóc chị che kín mặt tôi. Tôi lâng lâng bay bổng trong không gian thoang thoảng mùi bồ kết. Và tôi cuống quýt gật đầu.
Chị nhìn xuống chân tôi, “Nói với mẹ là Vũ bắt chuồn chuồn bị ngã nhé.”
Tôi lại ngoan ngoãn gật đầu.
Chị buông tôi, vội vã gài cái cúc bấm bên hông vừa mới bung ra. Chị quay lại anh Thành, lấy cái cặp táp. Chị lục lọi trong cặp, lấy ra một gói nhỏ, dúi vào tay tôi, “Chị cho Vũ nè.”
Tới bây giờ anh giáo Thành mới lên tiếng. Giọng anh khô và khàn đục, “Anh về trước nhé.”
Tôi không biết anh nói với chị Thảo hay nói với thằng bé vừa tròn tám tuổi mà anh vẫn kêu là chú bé, nên tôi không gật đầu mà cũng chẳng lắc đầu.
Chờ cho anh Thành đi khuất, chị Thảo mới ôm cặp thong thả dẫn lối tôi rời con lạch có nước chảy róc rách, trên lối mòn, xa rời Thế Giới Bên Kia.
Khu rừng nhỏ. Thế giới kỳ diệu. Nơi chôn những người chết vô thừa nhận. Nơi có lối mòn ngoằn ngoèo giữa um tùm những bụi cây. Nơi con lạch nhỏ nước trong róc rách chảy.
Chúng tôi ra tới bìa rừng. Không gian mở toang trước mặt với vách vôi vàng và những khung cửa chớp màu xanh thẫm. Chị hôn vội lên tóc tôi, dặn dò, “Đừng ghi vào nhật ký nhé Vũ.” Và không chờ cho tôi gật đầu, chị quày quả bước đi.
Khi chị Thảo đi rồi, tôi run run mở cái gói chị dúi cho.
Đó là lần đầu tiên tôi nếm vị ngọt, vị chua, vị mặn trộn lẫn. Đó là lần đầu tiên tôi ngậm ô mai trong cái miệng nhạt thếch vì thuốc men.
25
Ông bác sĩ Mỹ cao gần tới trần nhà. Tôi nằm cứng trên giường. Hai cái gối chêm dưới lưng. Mắt không rời ông ta. Chỉ sợ cái quạt trần chém rụng hết chùm tóc vàng của ông ấy. Ông ấy đi với ông bác sĩ quen vẫn khám bệnh mỗi ngày, người mà cô y tá Liên vẫn vui miệng gọi là ông bác sĩ nhà mình. Ôm cái bìa cặp hồ sơ trong tay, cô y tá Liên nhanh nhẹn dẫn lối. Ba người bước vào phòng và đi thẳng về phía giường tôi. Mẹ bối rối đứng sát vách tường chỗ đầu giường. Mới đầu tôi không biết ông Mỹ này là bác sĩ. Lúc cô y tá Liên nói với mẹ đây là ông bác sĩ trong toán Quân Y của Mỹ tới khám cho cu Vũ tôi mới biết. Tôi hồi hộp, nín thở. Ông bác sĩ nhà mình bảo cháu cứ thở tự nhiên tôi mới dám thở đều. Ông bác sĩ Mỹ tháo hết cúc áo của tôi. Vạch áo lên tận cổ đếm xương sườn, xương sống. Hai ông bác sĩ xì xào chuyện trò với nhau. Cô Liên bảo ông Mỹ này là bác sĩ chuyên khoa. Tôi thích hai chữ chuyên khoa. Tôi lẩm nhẩm hai chữ ấy trong miệng để khi họ đi rồi, sẽ viết ngay vào nhật ký.
Những ngón tay dài lòng thòng của ông bác sĩ gõ lộp cộp trên ngực tôi. Những ngón tay lại đếm xương sườn xương sống thằng bé vừa tròn tám tuổi đầu.
Rồi cả hai ông bác sĩ thay phiên nhau đặt ống nghe lên ngực tôi, chăm chú nghe. Họ đỡ tôi ngồi dậy. Tôi phải duỗi hai chân, thòng xuống cạnh giường mới ngồi vững được. Hai ông bác sĩ lại áp ống nghe sau lưng tôi, và lại xì xào trò chuyện.
Ông bác sĩ Mỹ cao lênh nghênh. Tóc vàng rủ xuống trán. Bàn tay có những ngón dài. Cái áo khoác bệnh viện màu trắng dài tới đầu gối che một phần hai ống quần lính và đôi giầy cao cổ buộc dây đan chéo nhau nhìn đến chóng mặt. Ông bác sĩ nhà mình chỉ đứng tới vai ông bác sĩ Mỹ. Ông bác sĩ Mỹ nhìn tôi cười. Ông ta nói gì đó tôi không hiểu nhưng tôi cũng cười. Môi căng rát theo nụ cười. Ông bác sĩ nhà mình nói gì đó với ông bác sĩ Mỹ. Tôi nghe được những chữ ô kê, ô kê.
Tôi thấy họ nhìn nhau. Hai ông bác sĩ nhìn nhau. Và tôi thấy ông bác sĩ Mỹ lắc đầu rất nhanh. Rồi ông ta xoa đầu tôi trước khi quay lưng bước đi. Tôi nhìn theo, lo lắng, chỉ sợ đầu ông Mỹ vướng phải cái quạt trần.
“Ông ấy nói gì thế, cô Liên?” mẹ chạy níu theo cô y tá, hỏi.
Chân trong chân ngoài bên khung cửa, cô Liên quay qua nhìn mẹ, “Mình không có máy lọc thận mà bệnh viện Mỹ cũng không có, chị ạ.” Rồi bóng cô biến mất sau vách tường.
Máy lọc thận. Lại thêm ba chữ mới. Tôi lật cái gối, lấy cuốn vở anh thầy giáo Thành cho dạo nào. Tôi phải ghi ngay mấy chữ mới học được này xuống. Tôi chăm học. Tôi không bao giờ quên chữ. Tôi dám chắc sau chuyến đi xa này, tôi đem về được nhiều chữ mới hơn tất cả những đứa bạn cùng lớp.
Mẹ lầm lũi trở vào phòng. Hai vệt thâm tím quầng dưới hai con mắt.
“Máy lọc thận làm gì hở mẹ?” Tôi vừa ghi ba chữ mới nghe vào vở, vừa hỏi.
“Mẹ có biết đâu.” Mẹ nói, thẫn thờ kéo mấy mảnh áo quần nhét dưới gối ra, xếp lại.
Mẹ không biết máy lọc thận là gì mà mẹ vẫn buồn. Tôi không biết máy lọc thận là gì nhưng tôi có buồn đâu. Tôi thích thú vì mai kia về nhà, tôi có thêm chữ đem ra đố con bé Phụng hàng xóm. Con bé Phụng bé tí mà giỏi phát sợ luôn. Thầy giáo Quỳnh hỏi cái gì nó cũng biết. Luôn cả những thứ mà tôi mù tịt. Chuyến này về, tôi sẽ được nhìn con mắt nó tròn xoe, tôi sẽ được thấy cái miệng nó há hốc ra ngơ ngác: Làm sao Vũ biết? Sao mà Vũ giỏi vậy?
Hai ông bác sĩ với cô y tá đi một lúc lâu thì cô Liên trở lại. Cô đi thẳng đến giường tôi. Cô đứng yên, nhìn tôi. Rồi cô đút hai tay vào túi chiếc áo choàng bệnh viện, khẽ lúc lắc cái đầu. Những sợi tóc quăn viền trước trán.
“Vũ có thích về nhà không?”
Câu hỏi bất ngờ. Tôi lặng người một lát. Rồi tôi tỉnh táo trở lại. Về nghĩa là không phải mỗi ngày uống một nắm thuốc viên. Mỗi ngày không phải cong người cắn răng chịu mũi kim đâm vào da thịt.
“Cháu thích.”
Mẹ đang ngồi bên cạnh cái tủ đầu giường hỏi vọng qua, “Bác sĩ cho cháu về hở cô?”
“Tùy ông bà. Bác sĩ bảo ở lại đây thì cũng vậy thôi. Uống thuốc nhiều chỉ làm khổ thằng bé…” Cô Liên nói, đều đều như đọc kinh. Từ hôm vào đây đến giờ, tôi không còn nghe được tiếng cầu kinh. Tôi nhớ tiếng cầu kinh. Tôi nhớ tiếng chuông nhà thờ. Chuông lễ sớm mai. Chuông nguyện buổi chiều. Tiếng chuông ngân xa. Tiếng chuông trải dài trên cánh đồng, làm rung rinh ngọn cỏ. Những ngọn cỏ cao ngang vai đám trẻ con đi nhà thờ mỗi chiều. Tôi nhớ những sáng Chủ Nhật đọc Kinh Mười Điều Răn của Chúa, Sáu Điều Răn Hội Thánh, Tám Mối Phúc Thật. Và bỗng dưng ngực tôi thắt lại. Tôi nhớ lời tôi hứa ở Thế Giới Bên Kia. Sự thật ở Thế Giới Bên Kia chỉ mình tôi biết. Và tôi đã hứa với chị Thảo, với ảnh Đức Mẹ La Vang ép trên ngực rằng tôi sẽ chẳng nói cho ai nghe.
Cô Liên kéo mẹ ra ngoài hành lang. Hai người rì rầm nói chuyện.
Tôi ngồi trơ trên giường lẩm nhẩm mấy chữ vừa mới học: máy lọc thận, bác sĩ chuyên khoa.
26
Một ngày đáng nhớ. Mưa suốt đêm qua. Sáng nay nắng rực rỡ chiếu vào tận giữa phòng, soi rõ những vết trầy trên những viên gạch hoa sậm màu. Sáng sớm, người ta đem chị Huyền đi. Chiếc giường có bánh xe cót két lăn bánh dọc hành lang. Tôi hồi hộp. Tôi lo lắng. Người ta đem chị đi đâu thế này. Nhưng tôi không dám hỏi ai. Hôm trước người ta cũng đến lúc tờ mờ sáng, đem bà Gái đi. Bà Gái ngủ miết. Ngày đêm gì cũng ngủ, Nhưng bình thường thì bà ấy ngáy rộn cả phòng. Tôi vẫn nhớ cái câu mẹ đọc cho nghe để viết vào nhật ký.
Đêm nằm thì ngáy o o,
chồng yêu chồng bảo ngáy cho vui nhà.
Nghe bà Gái ngáy hoài đâm ra quen. Thuốc giảm đau làm cho bà Gái ngủ li bì. Và bà Gái ngáy o o suốt ngày suốt đêm. Cho đến khi không nghe bà ấy ngáy nữa. Bà Gái hết ngáy, người ta phải đem bà ấy đi.
Hôm nay đến phiên chị Huyền. Người ta đẩy nguyên chiếc giường đi. Giường chị Huyền có bánh xe. Không chiếc giường nào trong phòng này có bánh xe. Chị Huyền chỉ nằm. Chị Huyền không đi được như mọi người. Chị được nằm giường có bánh xe. Tôi nghĩ thế cũng công bằng. Nếu như chị được đẩy cái giường có bánh xe đi dạo ngoài hành lang mỗi ngày thì sẽ công bằng hơn.
Chị Huyền đi được một lúc thì bố vào tới. Bố đem cả thùng đồ hộp làm quà cho nhà bà Khúc. Bố ngồi hẳn lên một bên giường, chiếc nệm lún xuống, đổ tôi nghiêng sát người bố. Bố kể chuyện hành quân. Bố kể chuyện Bồng Sơn. Bố kể chuyện Tam Kỳ. Thêm một cái tên mới. Tôi sẽ cố nhớ để ghi vào nhật ký. Tam Kỳ. Bố kể chuyện nhà. Chuyện con chó Cộc rên ư ử khi thấy bố. Chuyện những vạch vôi trắng. Bố xoa đầu tôi, rồi bố bảo mẹ ra ngoài bố kể chuyện này cho nghe. Tôi nằm nhấm nháp miếng bánh đồ hộp mằn mặn, ngòn ngọt. Kiên nhẫn chờ.
Rồi bố trở vào phòng. Mẹ cũng vào theo. Nhưng mẹ có vẻ buồn. Bố lại xoa đầu tôi. Bố cười. Tôi cũng cười theo. Rồi tôi nói cái điều mình giữ mãi trong đầu, “Con muốn về nhà.”
Bố bẹo má tôi, “Thì sẽ về chứ ai ở đây hoài.”
“Con muốn về liền.”
“Lúc này ở đây vẫn tốt hơn.”
“Tại sao?” Tôi bắt đầu cứng đầu cứng cổ.
“Bệnh viện không cần rắc vôi trắng, con thấy không?”
Tôi ngẩn người ra suy nghĩ. Quả đúng là không thấy nhà thương rắc vôi trắng. Nhưng tôi vẫn muốn về. Tôi có bao nhiêu thứ phải làm cho ra chuyện.
“Con phải về để làm cho ra chuyện.” Tôi quả quyết.
Bố trợn mắt. Rồi bố cười ra tiếng, “Làm cho ra chuyện gì?”
“Chuyện con không là thủ phạm đốt cỏ.”
Mẹ nhìn bố. Mắt mẹ chớp nhanh.
“Con sẽ nói thằng Đức là thủ phạm.”
“Thôi, bỏ qua đi con giai,” mẹ ngắt lời tôi. “Bỏ qua cho nó, con à.” Mẹ nói, con mắt loang loang nước.
“Bỏ qua cho nó đi.” Bố nói.
“Con bị oan.”
Tôi cố nuốt nỗi uất ức xuống thật sâu. Nếu không tôi sẽ tức ngực mà chết. Tôi thấy tôi quỳ trên bàn. Tôi thấy nhức buốt hai đầu gối. Vết trầy vì vấp ngã ở Thế Giới Bên Kia lại nhói đau. Vết trầy đã khô vẩy nhờ cô y tá Liên cho bôi thuốc đỏ và dán băng keo. Vết trầy tôi nói dối mẹ là ngã vì đuổi bắt con chuồn chuồn ngô. Tôi thấy cả lớp nhìn tôi, kinh tởm. Tôi thấy con bé Phụng tròn mắt ngạc nhiên. Và tôi thấy thằng Đức nhìn vẩn vơ tấm bảng đen trước mặt. Cái thằng vẫn bị thầy giáo Quỳnh mắng là tối dạ nhưng lại khôn ranh. Tôi biết nó khôn ranh nhất lớp. Mỗi lần nó hư hỏng, mẹ nó đi tìm roi để đánh đòn là nó trèo lên cây thông trước sân. Nó ôm chắc lấy cây thông cho khỏi ngã. Mẹ nó đứng dưới quất roi vào cây thông, miệng la quang quác. Cây thông toàn chịu đòn thay cho nó.
Tôi ấm ức, “Con bị oan.”
“Con biết con không làm là đủ rồi.” Bố vỗ về lưng tôi.
“Tha cho nó đi.” Giọng mẹ mềm ướt.
“Con tức.” Tôi nghe lồng ngực mình siết lại.
“Tha cho nó. Vôi bột nhà nó không đủ…” Mẹ nói. Rồi mẹ ngừng ngay lại. Và hai giọt nước mắt lăn dài hai bên má. Những giọt nước mắt có phép nhiệm màu. Những giọt nước mặt làm loãng tan ý định làm cho ra chuyện trong tôi.
Giữa lúc cả bố, cả mẹ, cả tôi chưa biết làm gì thì chị Huyền trở về phòng.
Chị ngồi trên chiếc ghế có hai bánh xe to hai bên và hai bánh nhỏ phía trước. Tôi ngểnh cổ, tròn mắt nhìn khuôn mặt lạ lẫm. Lần đầu tiên tôi nhìn rõ mặt chị. Hai má phúng phính. Cái cằm đầy, tràn xuống cổ. Bàn tay múp míp.
“Tháo băng bột, được ngồi xe lăn rồi.” Giọng bà Khúc oang oang. Hai tay bà nắm chỗ cầm tay phía sau chiếc ghế có bánh xe. Xe lăn. Lại thêm hai chữ mới. Chị Huyền đây à. Tôi hỏi tôi. Lúc mới vào nhà thương, chị ốm o, mỏng mảnh. Tôi không nhìn rõ mặt chị suốt thời gian chị nằm miết trên giường nhưng tôi biết chị mỏng manh, thon gọn. Như chị Thảo. Hai chị em xê xích tuổi nhau. Hai chị em cùng đẹp. Nằm hoài trên giường chị thành người khác. Tôi nhìn chị đăm đăm. Chân chị bó bột thành những khúc ngắn. Hai đầu gối chị đã co lại được.
“Bây giờ thì đỡ khổ rồi,” bà Khúc đẩy chiếc xe lăn lại góc phòng, xoay vòng cho chị Huyền nhìn ra cửa.
“Thằng Thành biết tin chắc nó mừng lắm,” bà Khúc nói. “Dạo này không thấy nó vào thăm con bé. Chắc bận với đám học trò. Con bé Thảo thì lo học tối ngày.”
Tôi muốn nói với bà Khúc rằng anh thầy giáo Thành nói với tôi là anh phải đi tìm việc làm. Nhưng tôi đã hứa với anh là không nói với ai. Như tôi đã hứa nói với mẹ là đầu gối trầy vì con chuồn chuồn ngô to tướng.
Mẹ lau nước mắt, chia sẻ tin vui, “Mừng quá. Cô Huyền mau khỏi, về tiếp tục đi học.”
“Chắc bớt đau nhiều rồi hở cô Huyền?” Bố nói.
Tôi thấy chị Huyền cười, nói như thì thầm, “Dạ, bớt rồi.”
“Chuyện xui xẻo rồi cũng qua.” Mẹ nói.
“Thật là xui. Cháu nó đang học hành chăm chỉ. Hôm ấy xe đạp hư mới phải đi xích lô. Khốn khổ nhà cháu. Cái xe vận tải to xù, cái xe vận tải bị ban, bánh xe nó nổ, nó đâm xầm ngay vào con bé…”
Tôi lẩm nhẩm nói theo bà Khúc. Và tôi đọc không sai một chữ. Tôi thuộc làu.
27
Trời còn tối mịt mù, mẹ đã thức. Mẹ ngồi đọc kinh trong giường. Tôi cố mở to mắt để nhìn cho rõ. Mẹ ngồi thẳng người trong màn. Cái quạt trần quay chậm, thổi cánh màn phe phẩy. Hai cánh cửa đóng kín. Đêm nào phòng bệnh cũng đóng cửa. Chị Huyền ở tận góc phòng. Hình như chị cũng thức. Bởi tôi nghe tiếng ho. Và tiếng khịt mũi. Bà Khúc ngủ tận góc phòng, trên chiếc giường trống. Bà ngáy rồ rồ. Tôi trở mình. Cái giường lo so nhấp nhô. Mẹ quay qua nhìn. Môi lẩm nhẩm cầu kinh.
“Mẹ!” Tôi gọi khẽ.
Mẹ ghé sát vách màn, nhìn sang tôi, “Gì con?”
“Sao mẹ không ngủ?”
“Có chứ.” Mẹ nói nhỏ.
“Lúc nào con cũng thấy mẹ thức.”
“Mẹ đọc kinh. Con ngủ đi, còn sớm lắm.”
Tôi lặng im. Lâu lắm tôi không được nghe những lời cầu kinh. Nhà nguyện của bệnh viện ít người lui tới. Chủ nhật có lúc có cha tuyên úy làm lễ, có lúc không có. Mẹ hay lên nhà nguyện cầu xin Đức Mẹ cho tôi mau khỏi bệnh. Chẳng biết Đức Mẹ có nhận lời mẹ không. Mẹ bảo con cũng phải cầu nguyện nữa mới được. Tôi biết cầu nguyện thế nào để Đức Mẹ nhận lời đây chứ. Tôi không dám cầu gì hết. Bởi tôi đã phạm tội. Tôi hứa sẽ nói dối giùm chị Thảo. Tội che chở cho anh thầy giáo Thành. Tôi nằm. Đầu dựng cao trên hai tầng gối. Tôi khò khè thở. Tôi nặng nề trở mình cho bớt mỏi. Rồi tôi ngủ thiếp đi.
Tôi thức giấc lúc chú nhà bếp lạch cạch những bánh xe gỗ đẩy thức ăn tới phòng.
Miếng bánh mì nóng dòn. Cục đường phèn màu nâu. Ly nước trà sậm màu. Ly sữa nhỏ. Và con mắt liếc với những chiếc răng vàng lấp lánh. Mẹ ngồi gấp áo quần. Chú nhà bếp đem phần ăn sáng cho hai mẹ con đến tận giường. Và vẫn giọng nói rộn ràng, chào cả nhà. Chị Huyền ngồi trên xe lăn, lật những trang sách. Bà Khúc táy máy cái kim đan và cuộn len. Lúc này bà Khúc thường ngồi đan và nói chuyện một mình. Mẹ xếp áo xếp quần cho gọn. Tôi chêm thêm một lớp gối dưới lưng cho dễ thở. Chẳng ai đáp lời chú nhà bếp. Chú nhà bếp vẫn vui vẻ lạch cạch lạch cạch ngoài hành lang.
Tôi yêu buổi sáng. Khi chung quanh tôi có mẹ, có bà Khúc, có chị Huyền. Mẹ buồn nhưng bớt rưng rưng nước mắt. Bà Khúc lẩn thẩn câu chuyện xe vận tải bị ban, đâm sầm vào con bé. Bà thôi mắng mỏ anh thầy giáo Thành bởi lâu rồi không thấy mặt anh. Chị Huyền bớt rên rỉ, không còn đay nghiến mình chết đi cho rảnh nợ. Buổi sáng quanh tôi là những người thân yêu. Bố cũng là người thân yêu của thằng-bé-tôi-vừa-lên-tám-tuổi. Nhưng bố bận đi hành quân. Hết Bồng Sơn đến Tam Kỳ. Quanh tôi chỉ còn mẹ, bà Khúc và chị Huyền. Tôi nhớ chị Thảo. Tôi nhớ vị ngọt gắt trong cổ họng của những miếng cam thảo màu vàng sậm trong gói thuốc của ông thầy lang Tuyển. Cam thảo càng nhâm nhi trong miệng càng thích. Cam thảo có thể chữa chứng bệnh không tên của tôi, nếu như tôi đừng đổ thuốc của ông lang Tuyển xuống gầm giường. Tôi nhớ chị Thảo áo dài trắng có phù hiệu ghi tên trường học của chị trên ngực áo. Tôi tiếc đã không kiễng chân lên, ghé sát mắt vào khuôn ngực áo chị để đọc cho ra cái tên trường chị học. Tôi nhớ những sợi lông mi dài và cong trên mắt chị. Tôi nhớ cả đôi môi đỏ tươi có đuôi cong như hai quả ớt chín. Tôi nhớ anh thầy giáo Thành. Tôi nhớ lần anh đưa nước cho chị Huyền uống khi chị còn nằm liệt trên giường, chân tay treo trên ròng rọc. Anh sơ ý làm đổ nước đầy lên người chị. Anh đang định lấy khăn lau ngực áo cho chị thì bà Khúc giằng lấy cái khăn. Bà Khúc mắng anh là đồ ăn hại. Bà Khúc không cho anh chạm vào người chị Huyền. Anh chỉ có một mình. Không ai về phe anh. Tôi theo anh ra ngoài hành lang. Tôi vểnh tai nghe anh kể chuyện. Anh bảo người yêu anh giỏi giang. Người yêu anh công dung ngôn hạnh đủ cả. Tôi hỏi công dung ngôn hạnh là gì. Hôm ấy tôi ghi vào nhật ký bốn chữ công, dung, ngôn, hạnh nhưng quên mất ý nghĩa của từng chữ. Anh bảo anh yêu người yêu của anh nhất trên đời. Từ hôm ấy, tôi cầu cho chị Huyền chóng khỏi.
Tôi yêu buổi sáng ở đây. Tôi không vội đòi về nữa. Bố bảo ngoài kia người ta ốm đau hàng loạt. Nhiều nhà rắc vôi trắng xóa mà con cái vẫn bị thổ tả. Ở đây không sợ con ma dịch tả đến thăm. Tôi không còn bị chích thuốc, không cần phải uống thuốc mỗi ngày nữa. Thuốc men chẳng giúp được gì. Cô y tá Liên bảo thế. Không còn phải uống thuốc, không còn bị đâm kim nên tôi muốn ở đây hoài. Ít ra cho đến khi bệnh dịch không còn ngoài kia nữa.
“Dạo này không thấy con Thảo vào nhỉ?” Bà Khúc chợt ngưng tay đan, ngẩng đầu lên nói một mình.
“Chắc nó bận thi.” Chị Huyền nói nhỏ. Từ trước đến giờ chị luôn nói nhỏ. Đôi lúc như thì thầm.
“Thằng Thành nữa.”
Tôi nghiêng đầu, vểnh tai lắng nghe.
“Chắc anh ấy bận.” Chị Huyền vẫn thì thầm.
Bà Khúc chép miệng, “Làm gì không làm, lại đi làm thầy giáo!”
“Làm thầy giáo cũng được, có sao đâu.” Chị Huyền gấp cuốn sách lại, thở ra.
“Đói chứ không sao à.”
Chị Huyền lặng thinh.
Xếp xong quần áo của hai mẹ con, gói kỹ vào chiếc tay nải, đặt ở cuối giường xong, mẹ quay qua cái khay với khúc bánh mì và cục đường phèn. Mẹ xé bánh mì ra từng miếng nhỏ, chấm sữa, đút cho tôi. Tôi đưa tay đón lấy miếng bánh mì. Tôi muốn tự mình ăn. Lớn thế này còn để mẹ đút cho xấu hổ chết.
Miếng bánh mì mới chỉ khuyết một góc thì cô y tá Liên đẩy cửa bước vào. Tóc dài thả sau vai, hai con mắt đen tròn. Cô bước đi nhẹ nhàng trong chiếc áo khoác dài tới đầu gối.
“Bác sĩ đã ký xong. Giấy xuất viện cho cháu đây.” Cô nói, tay đưa cho mẹ tờ giấy có những chữ in lẫn những chữ viết tay ngoằn ngoèo.
Cô đến bên tôi, “Cháu Vũ về ngoan nhé.”
Cô cười. Cô chạm tay vào má tôi. Bàn tay cô mát rượi. “Cô cho Vũ cái này.”
Cô móc túi áo choàng, lấy ra cái bút nguyên tử màu đỏ. Tôi ngây ngất nhìn cái màu đỏ trong tay cô. Trẻ con thích bút đỏ dù không được dùng trong lớp học. Chỉ thầy giáo Quỳnh mới được dùng mực đỏ để chấm bài hay cho điểm. Tôi bỏ miếng bánh mì xuống khay, vồ lấy cái bút trong tay cô. Tôi cười căng phồng hai má. Cười đến rạn nứt cả môi khô. Môi nứt thế nào cũng chảy máu. Biết thế nhưng tôi vẫn cười.
Bây giờ tôi mới nhớ tôi còn người thân yêu này đây. Tôi còn cô y tá Liên. Cô Liên cho tôi xem kính hiển vi. Cô Liên chỉ cho tôi thấy hồng huyết cầu. Cô Liên phát thuốc cho tôi mỗi ngày. Cô Liên đâm kim vào mông tôi mỗi sáng. Nhưng tôi sẽ không ghét cô vì cái chuyện đâm kim. Cô y tá Liên hiền nhất thế gian. Sau mẹ.
“Chị với cháu về bình an nhé.” Cô y tá Liên nói trước khi chạm tay lên má tôi lần nữa và lầm lũi bước đi.
Tôi quay nhìn mẹ. Bắt gặp những giọt nước mắt lăn dài hai gò má.
“Hai mẹ con xuất viện rồi à?” Bà Khúc buông cái kim đan xuống đùi, ngẩng cao đầu nhìn mẹ.
“Vũ xuất viện rồi à?” Chị Huyền nói. Vội, như hoảng hốt.
Tôi nhìn chị. Mặt chị tròn. Hai má bánh đúc. Cằm đôi. Hai cánh tay núng nính. Như bà bánh bánh đúc trong xóm. Bà bán bánh đúc có hai má bánh đúc.
“Vậy là không ai đuổi ruồi dùm chị Huyền rồi!” Chị Huyền nói.
Tôi nghe cổ họng mình co thắt. Tôi là thằng bé vẫn đuổi mấy con ruồi quỷ quái hay đậu lên mặt chị hồi chị mới được chuyển vào trại bệnh này. Tôi nghe tưng tức trong lồng ngực.
“Bây giờ phòng này chỉ còn một mình chị Huyền,” Giọng chị Huyền nghe như lời trách móc. “Ai vào đây ít lâu rồi cũng bỏ đi.”
Tôi nghẹn trong cổ họng. Tôi không khóc nhưng nước mắt theo nhau tuôn đầy hai má.
Mẹ lẳng lặng tròng cái áo lên người tôi, “Mặc vào đi con, ngoài kia gió máy.”
Rồi mẹ quay qua chị Huyền, “Cô Huyền nhớ tập đi nạng mỗi ngày.”
Mẹ nói lại cái câu ông bác sĩ nhà mình vẫn nói với chị Huyền.
Chị Huyền nói em sẽ tập mỗi ngày, rồi chị vẫy tay gọi tôi, “Vũ, lại đây.”
Tôi lê đôi dép trên nền gạch hoa như lúc lê bước lên gặp thầy giáo Quỳnh. Chị Huyền kéo tôi sát vào người chị, “Mau khỏi bệnh nhé, Vũ.” Chị nói, giọng mềm như sắp khóc. Rồi chị đưa tay chùi giọt nước mắt trên má tôi. “Đừng lo, bây giờ chị đuổi ruồi một mình được rồi.”
Tôi nhìn chị. Tôi thấy chị cười. Cười mà trông như mếu.
“Vậy là chị Thảo với anh Thành không gặp được Vũ lần cuối.” Chị sựng lại, rồi vội sửa, “Không gặp được Vũ trước khi chia tay rồi.”
Tai ù những tôi vẫn nghe rõ câu nói của chị. Chia tay là hai chữ mới. Nhưng tôi chẳng còn tâm trí nào để nhớ.
“Đừng buồn nhé. Chị Thảo bận kỳ thi lục cá nguyệt, anh Thành thì bận đám học trò…” Chị Huyền an ủi tôi. Tay chị vuốt ve một bên má tôi. Cũng bàn tay mát lạnh.
Tôi nuốt cục nghẹn xuống thật sâu trong bụng.
“Bận quá thành ra anh ấy không vào thăm chú bé của anh ấy. Chị Thảo thì lo kỳ thi…”
Tôi bật khóc. Tôi khóc rưng rức. Tôi ho khoằng khoặc. Tôi ấm ứ không nói nên lời. Tôi gỡ tay chị Huyền ra. Tôi thọc tay vào túi áo ngực. Bức ảnh Đức Mẹ La Vang. Tôi cất kỹ từ cái ngày tôi lạc vào Thế Giới Bên Kia. Bức ảnh chị Thảo áp lên ngực tôi kêu tôi hứa. Tôi moi bức ảnh ra, ấn vào tay chị Huyền.
Rồi tôi bước về giường của tôi. Mẹ tôi khoác cái túi vải trên vai, đứng chờ.
Chị Huyền ngẩn người ra, nhìn.
Mẹ bảo tôi chào bà Khúc, chào chị Huyền rồi đi cho kịp chuyến xe. Tôi máy móc làm theo.
Ra đến cửa, tôi còn chần chờ ngoái lại nhìn. Tôi thấy chị Huyền lau nước mắt và bà Khúc lẩm bẩm nói một mình, “Tội nghiệp thằng bé, mới tám tuổi đầu!”
(Còn một kỳ)