Trang chính » Sáng Tác, Tiểu thuyết Email bài này

thư tình viết muộn | kỳ 12

ldv

Độc giả có thể nghe tác giả đọc truyện này theo link: https://youtu.be/j4G98GIB2u0

“Hoàn cảnh tôi vô vọng.” Người thông dịch đọc câu hỏi từ trang giấy. Ừ, bị bắt quả tang tại trận chắc là vô vọng thật rồi. Lại còn ra tòa lôi thôi thế này.

“Vâng, vô vọng.” Tôi trả lời.

“Ô-kê, để tôi ghi là vô vọng.”

“Khoan đã.” Khi không tôi nhớ nụ cười trẻ thơ của cô ấy. Cô ấy như trái cây chín ép. Chín vì người ta rấm trong thùng gạo, người ta hun lửa cho chín từ ngoài vỏ chín vào. Tự cô ấy, cô ấy chưa lần nào chín từ trong chín ra. Bởi vì con gái như thế, vừa mới lớn lên đã vội lấy chồng, dễ dầu gì đã biết yêu ai. Tình yêu nảy nở. Tình yêu chín mùi phải tươm ra từ đáy lòng.

“Sao lại khoan?”

“Không có gì vô vọng hết.”

“Sao vậy?”

“Chú cứ ghi không có gì vô vọng cho tôi.”

“Ô-kê.” Người thông dịch khẽ mím môi. Tôi nghĩ anh ta bực mình. Nếu tôi là anh ta, tôi cũng bực mình. “Rồi, câu số hai. Tôi sợ người khác phê phán những việc tôi làm.”

“A, câu này hay đấy.” Tôi reo lên khe khẽ. Cái đầu tôi gật gù, “Hay đấy, cái này gọi là miệng lưỡi thế gian, phải không?” Tôi hỏi, trong đầu nghĩ tới bà Nhiêu.

“Dạ phải.”

“Có chỗ gọi là búa rìu dư luận nữa.” Tôi lập lại câu ca dao tục ngữ vẫn thường trôi tuồn tuột ra khỏi miệng người đàn bà láng giềng.

“Dạ phải.” Bỗng dưng tôi thấy người thông dịch ngoan như đứa bé. Người thông dịch lịch sự nhất thế gian. Anh ta cúi đầu, chăm chú nhìn những con chữ đen ngòm, đầu ngón tay mân mê ngòi bút. “Vậy thì đúng hay sai?”

“Để nghĩ xem đã.”

Tôi làm gì phải sợ hãi dư luận nhỉ. Ngày hai bữa cơm. Gạo Bông Hồng nhập cảng từ Thái Lan. Buổi sáng gói mì bò. Con bò mầu đỏ có cặp sừng nhọn hoắt nhìn tôi chằm chặm mỗi sáng. Đôi khi tôi đổi qua mì chay. Thứ mì cô ấy đưa cho tôi thử một gói bữa hôm trước. Thử, thấy ngon. Mì chay ít dầu mỡ, tôi đã mua nguyên thùng. Gói mì cũng nhập cảng từ Thái Lan có hàng chữ tiếng Việt Nam ngọng nghịu. Mì Chai. Nghe ra tiếng leng keng của đám chai lọ gõ vào nhau. Đống chai lọ của đám dân nhậu những ngày nghỉ cuối tuần ở những nhà Việt Nam trong ngõ.

“Đúng hay sai, anh?”

“Khoan, để tôi nghĩ cho cạn đã. Vội vàng, nói năng bậy bạ nó lại cấp cho cái giấy điên thì khổ.”

Tới đâu rồi nhỉ. Ngày ba bữa. Cơm gạo nhà nước cho tiền. Tôi chẳng nhờ vả ai. Những người Việt Nam trong thành phố chả ai giúp tôi được một đồng xu. Người Việt trong thành phố chỉ giỏi rình mò xem ai mới mua xe, ai mới xây nhà, ai cặp với ai. Chỉ có cô ấy là hay giúp đỡ tôi; chỉ có cô ấy là lâu lâu đem qua cho tôi gói mì, miếng chả giò giòn hay tô cháo lỏng, lợn cợn vẩy hành lá xanh và những viên thịt heo băm nhuyễn.

Chỉ có cô ấy và thằng T. là chốn nương tựa cho tôi cả bốn mùa nơi xứ lạ. Con cái – tôi cũng có con có cái như người ta chứ. Con trai, con gái tôi đều có cả, nhưng bây giờ thì mỗi đứa một nơi.

“Sao anh? Đúng hay sai?” Người thông dịch có vẻ nôn nóng. Làm gì mà hấp tấp. Cả tương lai của tôi nằm trong xấp giấy này. Tôi điên hay tỉnh cũng là do những chữ anh sắp viết ra. Cẩu thả đâu có được.

“Anh có sợ dư luận không?”

“À, ừ, để tôi coi.”

“Chỉ cần trả lời có hay không thôi.”

Thử xem những ai sẽ nói về tôi. Có ai trong cái thành phố nhỏ bé này để ý đến tôi. Tôi không có xe Lên-cơn, pho-bai-pho. Tôi không có nhà mới xây hai ba trăm ngàn, ai mà thèm để ý đến tôi. Mùa đông, tôi trượt chân quăng mình ngã dài trên mặt đường đóng băng. Thiên hạ nhìn tôi. Những con mắt xanh, những con mắt nâu, có cả những con mắt đen nhánh. Tất cả những con mắt nhìn tôi. Xem tôi ngã thế nào. Xem tôi có còn đứng dậy được không. Tôi đau điếng một nửa thân người. Cái túi xách có bọc bánh mì văng ra xa. Những con mắt vẫn nhìn tôi. Như người ta nhìn vào khoảng trống, soi mói một hình ảnh ẩn hiện mơ hồ. Chợt có, chợt không. Những con mắt chờ tôi đứng dậy. Vật vã. Ngả nghiêng như đứa bé tập đi. Gượng mãi, đứa bé cũng đứng dậy được, chập chững, chuyệnh choạng.

Hôm ấy tôi về, bầm tím dài một bên hông và sần sùi một bên đầu gối. Chẳng một ai bận tâm.

“Sợ không?”

“Không sợ.”

“Ô-kê. Vậy tôi sẽ ghi là không sợ dư luận. Câu kế tiếp. Đôi lúc tôi muốn đập bể đồ vật.”

“Đồ vật gì?”

“Thì đồ dùng đó. Chén bát nọ kia.”

“Ngày xưa hay bây giờ?”

“Ờ, để coi. Nó không nói ngày xưa hay bây giờ.”

“Ngày xưa thì có.”

“Anh kể nghe thử.”

“Thì cãi nhau mỏi miệng, tôi quăng chén bát để kết thúc chiến tranh ấy mà.” Tôi cố cười nhạt sau câu diễu rẻ tiền. Tiếng cười nhạt nhẽo, khôi hài làm tôi buồn cười. Thành ra tôi cười thật, tiếng cười phát xuất tự đáy lòng. Tôi chọc cười chính tôi.

Khóe cười ma mãnh vạch ngang môi người thông dịch. “Thế chiến tranh có kết thúc không anh?”

“Không.”

“Sao vậy?”

“Tôi quăng bát bà ấy quăng đĩa, quăng tô, quăng luôn xoong chảo, nồi niêu.”

“À.”

“Tôi đành chịu thua.”

“Thế còn bây giờ?”

Tôi thoáng nghĩ đến cô ấy. Bậy quá! Cô ấy dễ thương như vậy, tay nào đủ gân cốt mà quăng chén bát những lúc giận hờn. Nhưng mà biết đến đời kiếp nào cô ấy với mình mới ghép chung một hộ.

“Hở anh?”

“Có ai để cãi lộn đâu mà quăng với ném.”

Lần đầu tiên tôi gặp cô ấy là lúc cô ấy mới từ Việt Nam qua. Thân thể gầy gò, khuôn mặt gẫy khúc như thiếu ăn lâu ngày. Mắt quầng thâm thiếu ngủ. Hai vợ chồng nhà ấy dọn lại khu phố tôi, ở đâu chừng ba tháng là dọn đi. Chẳng bao lâu lại kéo nhau về. Đứa con bồng trên tay khóc nhừa nhựa. Nước mắt nước mũi nhầy nhụa khuôn mặt xanh xao của đứa bé.

Thằng chồng hăm he tối ngày.

Tôi còn nhớ mình đã dạy cô ta cách gọi điện thoại cho tắc-xi như thế nào. Ghi số điện thoại trong sổ tay. Lúc cần chỉ việc nói cái tên khúc đường mình đang đứng. Hay số nhà. Đâu, đọc lại số nhà coi có được không. Ai mà nghe tôi nói chuyện với cô ấy, sẽ nghĩ tôi lên mặt người lớn; tôi kênh kiệu, ra vẻ kẻ đã sống lâu ở xứ người. Nhưng tôi kẻ cả như vậy chỉ vì tội nghiệp cô ấy. Mới hai mươi tuổi đầu.

“Biết số 911 không. Có gì nguy hiểm thì cứ bấm liền.”

Tôi liều lĩnh xoa dầu lên má cô ấy. Run cả mười ngón tay.

Tôi nhấn mạnh rằng cái số 911 cũng dùng cho cả thằng chồng phải gió ấy nữa, nhưng cô ấy phản đối liền, “Ai mà gọi cảnh sát bắt chồng mình cho được chớ!”

Tôi sừng sộ, “Phải gọi chứ, nó đánh mình mà!”

“Hổng dám đâu.”

“Cái gì cũng hổng dám làm sao mà sống.”

Lần ấy tôi bấm 911 rồi chỉ nói mỗi một câu He kills her mà cảnh sát cũng tìm tới tận nơi.

“Hồi đó đi học Anh văn bà tích chờ cũng dạy cách bấm chín-một-một.”

“Có đi học Anh văn nữa à?”

“Đi chớ sao hông.”

“Lâu không?”

“Mấy bữa à!”

“Sao nghỉ vậy?”

“Có bầu mệt muốn chớt, học hổng nổi.”

Tôi nghĩ đến thằng đàn ông chết bầm. Bao nhiêu thằng đàn ông lãnh vợ qua bên này, không muốn vợ đua chen với thiên hạ, sợ vợ sẽ khôn ra mà bỏ mình; những thằng đàn ông không đủ tự tin cho vợ đua chen với thiên hạ; chỉ việc cho vợ ôm một bụng. Những thằng đàn ông thiếu cái tự tin nhỏ nhoi đàn ông mà cũng đòi làm chủ trọn vẹn một người đàn bà.

Sương mù trắng cánh đồng. Chiếc xe lao vùn vụt. Thỉnh thoảng một bóng cây lớn quệt ngang khung kính. Nhanh như một bóng ma. Tôi căng hai mí mắt cố nhìn cảnh vật bên ngoài nhưng không thấy gì ngoài một khoảng sữa đặc bưng lấy không gian. Đôi lúc sương mù bỗng dưng loãng đi, vạch ra khoảng đồng trống mờ ảo một nếp nhà trơ trọi.

“Ngoài này vắng nhỉ.” Tôi gợi chuyện với người thanh niên ngồi bên cạnh.

Anh ta càu nhàu, “Pham thì vắng là phải rồi.”

Tôi lại nhìn suông ra ngoài khung kính mờ. Sương mù ở đâu mà dầy đặc. Tôi chưa bao giờ thấy sương mù nhiều đến vậy. Ngỡ như chiếc xe đang bơi dưới đáy sâu một vũng biển mịt mù.

Tiếng nhạc lao xao trong lòng xe lúc nhúc những đầu người. Bài hát quen. Cô ca sĩ trẻ tôi thấy hoài trên băng hình. Cô ca sĩ có đôi mắt trong và ngây thơ như mắt trẻ em còn ấp bên vú mẹ. Tôi thích đôi mắt ấy nên mỗi lần Jackie hay cô ấy mở đĩa nhạc có phần trình diễn của cô ca sĩ ấy tôi đều cố nán lại cho hết bản nhạc dù không muốn ngồi lâu.

Tôi nhìn quanh. Mười mấy người chen chúc nhau. Đàn ông, đàn bà. Người nào cũng phình ra dưới lớp áo dày vừa để đi mưa, vừa che cho bớt lạnh.

Những con mắt nhắm hờ. Dường như cả xe chỉ có mình tôi tỉnh táo. Tôi lại nhìn quanh một vòng. Người ta dựa lên vai nhau ngủ gà ngủ gật. Tôi khẽ nhích người chạm nhẹ vào cái người ngồi cạnh tôi. Người ấy khẽ nhích ra xa hơn một tí. Tôi quay sang người ấy. Cô ấy đấy. Cái mũ len đen đội trên đầu làm khuôn mặt cô ấy tròn tròn, thanh thoát và thoáng chút tinh nghịch. Cô ấy nhìn lại tôi. Ánh mắt thật hiền.

“Mợt hôn?” Cô ấy hỏi.

Tôi cười, “Đã làm gì đâu mà mệt.”

Cô ấy lại cười. “Chút xíu mợt lắm đó.”

“Sao biết.”

“Nghe người ta nói.”

“Thì rán chịu cho quen.”

“Nhắm chừng đứng nổi hôn?”

“Sao không.” Tôi trả lời quả quyết. Cái nhà cô này mới lạ. Làm như người ta đã cận kề miệng lỗ không bằng. Tôi thấy mình đi lom khom suốt từ đầu này đến đầu kia cánh đồng. Những con giun cuống cuồng lẩn trốn khi tiếng chân tôi khua động mặt đất ẩm. Những con giun chắc luồn lách nhanh lắm. Tôi tay run mắt mờ chẳng biết có theo kịp chúng nó không. Giun Việt Nam thì tôi biết. Chậm chạp, uốn éo một cách lười lĩnh. Chỉ khi nào bị xéo mới quýnh quáng giẫy giụa tìm đường thoát thân. Giun bên này nghe nói to bằng ngón tay và thoắt một cái là chui tuột xuống lỗ.

Tôi vặn vẹo, bẻ cái lưng mỏi rời rã. Xương cốt chạm nhau rôm rốp. Chẳng biết tôi sẽ cầm cự được bao lâu đây.

“Lâu nhỉ.” Tôi lại gợi chuyện với cô ấy cho đỡ buồn.

“Xa lắm đó.” Tiếng nhạc trên xe đã đổi qua một bài hát khác.

“Đổi nhạc đi bác tài ơi.” Giọng đàn ông ồ ề cất lên như phát qua chiếc loa rè.

“Ông anh khó tính bỏ mẹ. Nhạc gì cũng chê!”

bài đã đăng của Hoàng Chính

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)