Thời gian là của những năm 60 thế kỷ trước, không gian là một thành phố nhỏ miền Trung nước Việt. Câu chuyện xảy ra dưới mắt nhìn một đứa bé chưa tròn tám tuổi. Với những bước trẻ thơ nhập nhằng giữa hai thế giới: Bên Này và Bên Kia, khi đứa bé ấy lỡ dan díu với một “Lời Nguyền”. Xin trân trọng gửi tới bạn đọc truyện dài “Lời Nguyền Ở Thế Giới Bên Kia” của Hoàng Chính, sẽ đăng từng kỳ trên Da Màu vào thứ Tư hàng tuần.
1
Ông thầy lang lắc đầu.
Mẹ ngơ ngác một lúc lâu, rồi nước mắt từ đâu trào ra dàn dụa. “Có sao không thầy? Cháu có sao không thầy? Chắc không sao chứ nhỉ.”
Ông thầy lang lặng thinh. Thằng bé ngóc đầu dậy. Rụt cánh tay lại. Nhưng cổ tay đã bị kềm chắc bởi những ngón tay xương xẩu, khô khốc của thầy lang. Bàn tay trái thầy cầm chắc lấy bàn tay lên bảy, bụ bẫm những ngón tròn, căng như củ khoai lang suông đuột, ngón trỏ và ngón giữa bàn tay phải của thầy đặt lên cổ tay thằng bé.
Tôi là thằng bé ấy. Còn hai tháng nữa thì tôi tròn tám tuổi. Ai hỏi cháu mấy tuổi rồi, tôi luôn luôn trả lời cháu lên tám. Tôi ăn gian một tí để mau được làm người lớn. Tôi ăn gian một tí để được lớn hơn con bé hàng xóm. Lớn hơn một tí thôi cũng đủ.
Ông thầy lang nhìn tôi chằm chặp. Những ngón tay bằng sắt đè xuống thật chắc. Hai con mắt sắc nhấp nháy sau cặp mắt kính dày. Cặp môi khô lẩm bẩm. Ông thầy lang đọc kinh, ông thầy lang khấn vái, hay ông thầy lang đọc thần chú? Hai con mắt già nua nhưng ném ra được những cái nhìn sắc cạnh. Ông thầy lang không nói năng gì. Ông chỉ lắc đầu.
Và mẹ cuống cuồng, “Cháu nó đâu có sao phải không thầy?”
Ông thầy lặng lẽ lắc đầu. Tôi tám tuổi và tôi rất ghét những ai làm cho mẹ tôi khóc. Tôi bậm môi, rụt cánh tay của mình lại. Nhưng ông thầy lang có những ngón tay sắt. Tôi rên nho nhỏ trong cổ họng. Tôi không dám lên tiếng. Tôi sợ những cơn ho ngặt nghèo. Tôi sợ những cơn ho làm đỏ mặt tía tai. Và sau đó là những cơn quặn thắt trong lồng ngực. Bàn tay những người khổng lồ siết quanh lồng ngực. Tôi sợ những vòng siết ấy, nên tôi không dám lên tiếng. Tôi chỉ âm ư trong cổ họng.
Những ngón tay sắt của ông thầy nhích xuống một chút, về phía khuỷu tay tôi. Môi khô lẩm nhẩm. Cầu kinh hay đọc thần chú. Ông thầy lang giống lão phù thủy trong truyện cổ tích. Tôi không thích phù thủy. Tôi không thích những ai nói năng giống phù thủy. Tôi cũng không thích ai trông giống như phù thủy. Ông thầy lang trông giống phù thủy dù ông thầy lang mát tay. Mẹ bảo thế. Ông thầy này mát tay lắm. Chữa cho hàng đống người. Bệnh nặng đến đâu đi nữa thầy cũng chữa khỏi. Dì Tâm bảo thế. Người hàng xóm nhà dì Tâm ốm nặng, thầy thuốc nào cũng lắc đầu, người nhà tìm đến ông thầy lang. Và thầy chữa hết veo. Dì Tâm kể cho mẹ nghe như thế. Và mẹ lặn lội hai ba chuyến xe đò với hàng cây số – tay nải đeo vai – lên đồi, xuống lũng, tìm cho được nơi ông thầy lang cư ngụ. Lễ vật trong tay nải trải lên mặt bàn gỗ đen bóng. Mẹ kể như thế. Rồi mẹ năn nỉ, nài van. Và thầy lang nhận lời. Mẹ lên nhà thờ cầu kinh. Mẹ tạ ơn Đức Mẹ Đồng Trinh đã chỉ đường dẫn lối cho thằng con gặp thầy, gặp thuốc. Và ông thầy lang nhận lời. Và mỗi tuần, ông lang già lại cọc cạch đạp xe xuống bắt mạch, cho thuốc. Tôi lên tám nhưng tôi cũng đã biết chiều ý mẹ mà cắn răng uống cho hết bát thuốc nước đen kịt, nhìn vào, chỉ thấy đôi mắt mình mở to, ngơ ngơ ngác ngác. Tôi thấy được cả nét kinh hãi trong đôi mắt mình hiện rõ trong lòng tô thuốc bắc. Mỗi ngày một tô thuốc. Đắng đến từng chân răng. Màu thuốc đen kịt. Tô thuốc bắc mẹ sắc trong cái ấm đất. Lửa âm ỉ cả nửa ngày. Củi khô liên tục tiếp vào lò. Tôi lên tám nhưng tôi thích ngồi tiếp củi cho bếp lò thay vì tung tăng cùng lũ bạn. Tôi không thích ra ngoài với lũ bạn. Tôi không thích tung tăng, đầu hè, cuối ngõ. Tôi nặng nề như gã khổng lồ. Tôi không muốn đi đâu. Mẹ bảo lên giường nằm đi không lại chóng mặt ngã lăn vào bếp đấy. Lên tám tuổi và tôi biết nghe lời mẹ. Tôi nằm hoài trên giường. Bởi tôi nặng nề, mỗi lần phải xuống khỏi giường đi tiểu, tôi thấy như phải vác cái khối nặng nề trĩu trên vai.
Mỗi tuần ông thầy lang đến thăm một lần. Chiếc xe đạp của tây cũ kỹ nhưng chắc chắn. Ông thầy lang già nua nhưng lúc ngồi trên yên xe, trông ông dũng mãnh như người kỵ mã rong ruổi đường dài trên lưng ngựa. Tôi thấy người kỵ mã ấy lần đầu ông đến thăm tôi. Bây giờ thì hình ảnh ấy đã mòn nhẵn. Tôi chỉ thấy cái lưng hơi gù của ông thầy. Tôi chỉ thấy lớp vải thô nhàu của chiếc áo cánh ẩn hiện dưới lớp the mỏng của chiếc áo dài đen của ông thầy. Tôi nằm ngoan trên giường. Đầu kê hai lớp gối cho dễ thở. Mẹ đặt sẵn chiếc ghế có lưng dựa – chiếc ghế hiếm hoi mượn ở nhà con bé Phụng hàng xóm – con bé mà tôi chỉ mong lớn hơn nó một tí thôi – chiếc ghế mà cả cái xóm hai mươi mốt nóc gia chỉ có độc nhất một cái – ở cạnh giường cho ông thầy lang ngồi. Tôi nằm ngoan, sắn tay áo lên sẵn, thò cánh tay bụ bẫm ra khỏi lớp chăn mỏng, kiên nhẫn chờ.
Ông thầy đến. Chiếc xe đạp có vòng xích khô dầu kêu ken két. Con Cộc từ trong nhà phóng vội ra, quấn lấy chân ông thầy lang trong lúc ông dựng xe. Nó đã nhận ông làm người quen. Nó không còn sủa vang cả xóm như những lần đầu. Ông thầy lang bấm chuông leng keng. Tiếng chuông xe đạp của Tây nghe vui tai. Tôi nằm chờ nghe tiếng chuông ấy mỗi tuần một lần. Tôi thích nghe tiếng chuông, tôi thích tỉ mẩn đếm những xác ve khô, những miếng cam thảo, những vỏ quế, những mảnh vụn như cánh bướm, những hạt, những nụ, những phiến lá mỏng không biết là thứ gì. Tôi thích phụ với mẹ đếm những xác ve khô. Hai xác ve, ba miếng cam thảo, một hạt gì đó đen nhánh như chiếc răng nhuộm kỹ của bà nội con bé Phụng hàng xóm; tôi thích tất cả những thứ ông thầy lang đem lại, nhưng tôi không thích thứ chất lỏng đen kịt lóng lánh như mặt gương trong lòng cái tô bằng sành mẻ cạnh. Thứ nước mỗi ngày một lần đẩy tôi tới sát lối vào địa ngục.
Ông thầy lang ngồi bên giường. Mắt kính trễ xuống sống mũi. Miệng lẩm bẩm thần chú. Hai ngón tay bấm chặt lấy cổ tay thằng bé lên tám tuổi. Tôi tựa đầu trên hai lớp gối, ngước con mắt nhìn. Ông thầy lang mặc áo the thâm. Sống mũi ngắn ngủn. Những sợi lông mũi ngo nghoe. Hàm răng có những chiếc răng chen chúc, xô đẩy nhau. Tôi không dám nhìn mãi vào những sợi lông mũi quắn quíu. Càng nhìn lâu càng thấy chúng ngo ngoe đầy kích động. Thường thì ông thầy lang bắt mạch thật nhanh. Nhưng hôm nay ông ngập ngừng, băn khoăn. Mẹ đứng ở cuối giường, hai tay úp lên nhau, đặt hờ trên bụng. Như đứa học trò chờ nghe thầy, cô giáo tuyên phạt. Tôi lên tám tuổi nhưng cũng biết mẹ đang lo. Lần nào thầy đến mẹ cũng lo, cũng cuống cuồng, cũng hấp tấp, như thể không chuẩn bị chu tất cho ông thầy lang thì tôi sẽ ốm nặng thêm, ốm đến không bước xuống khỏi giường được nữa. Tôi gồng cánh tay, nhúc nhích bàn tay, ngầm bảo ông thầy rằng tôi không muốn ông làm mẹ tôi lo lắng. Mẹ tôi đang rưng rưng nước mắt, ông thầy không nghe thấy mẹ tôi đang nói bằng cái giọng nứt nẻ, sắp vỡ đấy sao.
Nhưng ông thầy chỉ lắc đầu. Lẩm nhẩm gì đó trong miệng. Mắt nhắm hờ. Đầu ngón tay bấm chặt lấy cổ tay thằng bé lên tám tuổi. Và ông thầy lang thở dài.
Mẹ bật khóc.
Tôi giật tay mình ra khỏi vòng khóa những ngón tay ông thầy thuốc bắc.
“Cháu nó không sao hở thầy?”
Ông thầy lang nhìn tôi. Ông thầy lang lắc đầu.
Tôi lên tám, tôi không hiểu ý nghĩa cái lắc đầu ấy. Và mẹ thì hoang mang. Mẹ bước tới quơ hai cánh tay ra trước như muốn chụp bắt thứ gì đó, nhưng mẹ kịp ngừng lại khi hai cánh tay gần chạm vào vai áo the thâm.
“Tôi đã cố hết sức.” Ông thầy nói. Giọng nhỏ hơn mọi khi. Mắt ông nhìn xuống tôi. Ông không nhìn mẹ khi trả lời. Và ông lại lắc đầu.
Tôi cố chống tay ngồi dậy. Nhưng những vòng hào quang chợt bung ra khắp chung quanh. Những vòng hào quanh viền quanh búi tóc của mẹ, những vòng hào quang viền quanh vai áo the thâm của ông thầy. Những vầng hào quang chạy quanh những cột kèo trên mái nhà. Những vòng hào quang quấn vào nhau.
Mẹ ngồi thụp xuống bên giường, ôm chầm lấy vai tôi. “Con ơi!”
Những vòng hào quang quyện lấy nhau. Những vòng hào quang quyện cả vào câu nói của mẹ. Hai chữ Con ơi lấp lánh hào quang và vang động trong đầu tôi.
Ông thầy lang rụt hai cánh tay lại. Khoanh vòng trước ngực. Ông thầy lang nhìn mẹ. “Tôi đã hết cách rồi!”
Những vòng hào quang quấn quanh câu nói của ông thầy lang. Khiến chúng vang vọng trong đầu tôi như tiếng loa trong hang động thênh thang đầy ngõ ngách. Con Cộc lúc này chắc đang nằm ghếch mõm lên bậc cửa, ngóng ra sân. Tôi nhắm chặt hai mắt để giấu những vòng hào quang.
Tiếng sụt sùi của mẹ. Tiếng đứa trẻ nào đó gọi nhau ơi ới ngoài ngõ. Tất cả những âm thanh đều được nạm quanh bởi những vòng hào quang đủ sắc màu. Tôi mở hé hai mắt, để xem những vào hào quang còn viền quanh khuôn mặt trái xoan của mẹ hay không.
Và tôi thấy ông thầy lang lắc đầu.
2
Tiếng cót két của những vòng xích xe đạp khô dầu xa dần. Thằng bé vẫn chưa ngồi dậy được dù những vòng hào quang đã tan dần. Những vòng sáng đủ sắc màu vẫn thường đuổi bắt nhau trong không gian chật hẹp của căn nhà mái nhà tranh nhỏ nhắn. Tôi nhìn thẳng lên nóc nhà. Mái tranh rậm rịt. Tôi thấy lỗ hở vuông vức ở đầu hồi. Một miếng trời xanh lấp ló trên cao. Tôi thèm những khoảng trời xanh biếc. Tôi nhớ chất màu biêng biếc ấy biết chừng nào.
Ông thầy lang còng lưng đạp xe. Tiếng xích xe cót két. Mùi thuốc bắc loãng đi. Nhưng hình phạt ông dành cho thằng bé lên tám tuổi là tôi ấy vẫn còn ở lại.
“Tôi để thuốc lại cho cái mái, nhớ sắc cho cái trống này uống mỗi ngày. Bài thuốc gia truyền đấy.” Ông thầy dặn dò như thế khi đưa cho mẹ cái bọc thơm mùi lá với xác ve, cam thảo, rễ cây, vỏ cây và lá khô. Tôi thích cái mùi khô của lá. Bài thuốc gia truyền. Nhưng tôi ghét cay ghét đắng thứ chất lỏng màu đen kịt khi những xác ve, xác lá, vỏ cây, rễ cây ấy được hầm chung với nhau trong chiếc nồi đất, trên bếp lò râm ri lửa đỏ, cứ khi sắp cạn lại châm thêm nước mới, gần suốt một ngày trời. Thứ nước đắng rợn người. Thứ hình phạt gửi lên từ địa ngục.
Mẹ nhớ kỹ lời dặn của ông thầy. Và từ dạo vướng bận những xác ve khô, những miếng cam thảo vụn, những xác lá khô, bếp lửa nhà tôi lúc nào cũng râm ri lửa ngọn.
Con Cộc nằm ghếch mõm bên khung cửa gầm gừ theo tiếng chó nhà hàng xóm đang chí chóe cắn nhau. Tiếng trẻ con cãi nhau văng vẳng trong cái tĩnh lặng của buổi xế chiều.
“Chè đỗ đen đây, con giai!” Mẹ nói, giọng vui. Mẹ nói vọng lên từ dưới bếp. Mẹ giả bộ đang vui. Mẹ mới vừa hết khóc đấy thôi. Mắt chắc còn đỏ hoe. Tôi biết mẹ giả giọng như thế. Mẹ giả giọng vui tươi bao nhiêu lần rồi.
Mẹ bưng tô chè đỗ đen lên nhà. Mẹ đặt nó xuống bên chiếc ghế đẩu cạnh đầu giường. Không nhìn, tôi cũng biết có những sợi khói bốc lên từ cái mặt chất lỏng đen kịt. Mặt gương. Tôi vẫn nhìn tôi trong tấm gương ấy. Tôi thấy hai má tôi phinh phính. Tôi thấy mình giống con lợn ỉ nhà con bé Phụng hàng xóm.
“Uống đi con giai.” Mẹ nhắc.
Không liếc nhìn, tôi cũng thấy chiếc áo bà ba màu nâu lấm lem, một cái cúc bấm lệch hàng và chiếc quần sa tanh đen bóng. Mẹ đứng chờ. Đôi chân chôn cứng ở đầu giường. “Uống đi con.”
Giọng mẹ dịu dàng. Nhưng sao tôi ghét cái câu mẹ nói biết chừng nào. Sao mẹ không nói câu gì khác nhỉ. Sao cứ là Uống đi con.
“Uống đi con giai.” Mẹ lại nói.
Tôi bực bội, cau có, “Mẹ cứ để đó đi.”
Mẹ bối rối một giây, rồi mẹ nghĩ ra. Mẹ nhìn chiếc ghế có lưng dựa, mượn về cho ông thầy lang ngồi bắt mạch, “Mẹ đi trả cái ghế cho nhà bà Toán, con giai ở nhà uống sạch nhé.”
Tôi nghe lòng mình reo vui, “Thì mẹ cứ đi đi.”
Mẹ nhanh nhẹn đi lại góc nhà, nhấc cái ghế lên. Cái ghế gỗ chắc và nặng. Mẹ khệ nệ khiêng nó ra cửa. Tôi muốn chạy theo, khiêng đỡ mẹ một bên.
Tôi chờ nghe tiếng guốc xa dần. Và tôi vội vã chống tay ngồi dậy, hai tay run run đỡ tô thuốc đắng. Mang nó lại cái góc giường tận cùng sát vách, một tay lật mép chiếu, tay kia đổ cái thứ chất lỏng đen kịt ấy xuống gầm giường. Tôi chừa lại khoảng hai ngụm, đem tô thuốc lại chỗ cũ, đặt lên mặt chiếc ghế đẩu. Chờ mẹ về.
Nghe tiếng guốc ngoài hiên, tôi nhăn nhó chạm một tay vào cái tô sành có chỗ mẻ ở vành. Chờ cho bóng của mẹ hiện ra ở khung cửa, tôi càu nhàu, “Ghét cái thuốc đắng này quá!”
Mẹ nhìn tô thuốc, rồi nhìn sang tôi, “Uống gần hết rồi! Con giai giỏi quá.”
Giọng reo vui của mẹ. Tôi thích cái giọng reo vui ấy. Cái giọng như món hàng quý, hiếm mẹ chỉ dùng khi chuyện trò với bố, và lúc khen ngợi thằng con trai chưa tròn tám tuổi. Cả tháng trời nay tôi nghe được cái giọng reo vui của mẹ. Reo vui khi thấy tôi uống hết sạch tô thuốc bắc. U uẩn khi thấy tôi càng lúc càng béo phì, như cái bong bóng bơm căng.
“Uống hết luôn đi con giai, như chè đỗ đen ấy mà.” Mẹ khuyến khích.
Tôi cầm tô thuốc lên. Nhắm mắt húp một ngụm. Vị đắng thấm đến từng kẽ răng. Cái đắng khiến tôi rùng mình. Cái đắng khiến bụng tôi quặn lên như có con lươn hay con bạch tuộc vặn vẹo bên trong. Cái đắng làm tôi muốn mửa tung tóe ra khắp chung quanh. Tôi nín thở nuốt cái chất lỏng địa ngục ấy. Tôi cố không để chất nước đen kịt ấy vọt ra khỏi miệng.
Mẹ đứng bên giường. Mắt nhìn ái ngại. Tôi nuốt vội ngụm thuốc bắc xuống. Nước mắt trào ra. Hai lỗ tai lùng bùng. Cổ họng co thắt. Tôi uống liều thêm ngụm kế tiếp. Tôi nuốt trửng như nuốt miếng chè đỗ đen ngọt lịm.
Dưới màn nước mắt mờ ảo, tôi thấy mẹ nhăn mặt. Cái nhăn mặt cảm thông, ái ngại.
“Cố lên, con giai. Cho mau hết bệnh.”
Con Cộc lại gầm gừ bên khung cửa. Chắc nó thấy ai đi qua đầu ngõ. Tôi thèm được như nó. Muốn đi đâu thì đi. Không phải lo âu bất cứ chuyện gì. Không phải thuộc bài. Không phải ngày hai buổi đến trường, đi qua con ngõ có hai anh em cái thằng chuyên bắt nạt kia. Không bị phạt oan uổng, không bị mang tiếng là thằng bé nghịch ngầm. Và nhất là không phải uống thuốc bắc mỗi ngày.
Nuốt ực ngụm thuốc cuối cùng xuống tận cùng gan ruột, tôi cằn nhằn, “Ghét cái thuốc này quá đi!”
Mẹ đặt tay lên đầu thằng bé. Rồi mẹ vuốt nhẹ một bên má của nó. Thằng bé lên tám. Thằng bé mắc chứng bệnh gì đâu mà ông thầy lang mát tay nhất vùng bắt mạch đi bắt mạch lại mà không tìm ra bệnh. Thằng bé mỗi ngày uống một tô thuốc bắc đầy những xác ve sầu, vỏ cam thảo, lá khô, rễ cây vụn. Mà cuối cùng ông thầy lang cũng lại lắc đầu.
“Mai có uống nữa không, mẹ?” Tôi hỏi.
Mẹ vuốt tóc con trai. Những sợi tóc khô, cứng, lởm chởm. “Uống ít hôm nữa thôi.”
Tôi bực bội, “Ghét thuốc ấy quá đi thôi!”
“Uống ít hôm nữa thôi,” giọng mẹ nhẹ như ru. “Ông lang cho mình chỗ thuốc này làm phúc. Mình uống biết đâu lại hết bệnh.”
Mẹ nói. Và mẹ tin uống hết chỗ thuốc mà ông thầy lang cho làm phúc này chắc chắn là hết bệnh. Tôi nhìn hai con mắt trong veo của mẹ. Và tôi tin nếu mình uống hết chỗ xác ve, cam thảo, vỏ cây, lá vụn ông thầy lang để lại, mình sẽ khỏi bệnh. Và tôi thoáng tiếc những tô thuốc – sắc cả ngày mới xong – lỡ đổ xuống gầm giường ngày này sang ngày khác.
Nhưng tôi sẽ không nói cho mẹ nghe chuyện ấy đâu.
Mẹ cầm cái tô không, vui vẻ đi xuống bếp. Tôi nghểnh cổ nhìn theo mẹ. Trong cái khung nhạt nắng, tôi thấy con Cộc nằm cuộn tròn, ghếch mõm lên bậc gỗ, ngóng ra sân.
Và tôi thấy nắng nhạt nhòa trong cái khung vênh vẹo của thân gỗ đóng thành khung cửa.
3
Ông thầy lang bảo, “Cái mái phải đi tìm cho được hoa hồng bạch về chữa bệnh cho nó.”
Suốt mấy tuần lễ liền mẹ lặn lội tìm thứ bông hoa hiếm hoi ấy. Mọi ngõ ngách, mọi hang cùng ngõ hẻm mẹ đều đi qua. Làng trên xóm dưới không chừa một chốn nào. Mẹ đi lan man qua cả những ngôi làng bên cạnh. Những xóm nhà dưới chân núi. Những xóm chài ven biển. Mẹ đi từ sáng sớm, nhiều khi đến tối mịt chưa về đến nhà. Thằng bé gần lên tám tuổi đi ra đi vào trong túp nhà hẹp, mắt ngóng ra đầu ngõ. Bố đi công tác xa. Hai tuần mới về một lần. Thằng bé ở nhà một mình với con chó Cộc. Con chó Cộc nằm bên ngạch cửa, chõ mõm ra ngoài chờ. Thỉnh thoảng người với vật nhìn nhau. Không một lời trao đổi. Người với vật chuyện trò bằng mắt. Rồi thằng người phục phịch buồn bã nói một mình, “Sao lâu thế?” Con chó quay đầu lại, nhướng mắt nhìn, ư ư trong cuống họng.
Suốt một tuần lễ mẹ rong ruổi tìm hoa hồng bạch.
Một buổi chiều mẹ về tới, cái giỏ trống rỗng cặp bên hông. Mẹ chưa kịp bước qua ngạch cửa, tôi đã vồ lấy mẹ. Và đưa tay níu cái giỏ mây. Cái giỏ mây mẹ dùng đi chợ mỗi ngày. Cái giỏ mây thường giấu một phần quà cho thằng bé con lên tám tuổi. Tôi thọc tay vào trong giỏ và hoảng hốt rút vội tay ra.
Mẹ không kịp giật cái giỏ qua một bên. Mẹ la hoảng, “Chết rồi. Gai không đấy!”
Tôi rút tay ra. Bàn tay này xoa bàn tay kia. Những vết gai đâm tươm máu. Giọt máu đỏ phình to dần như quả bóng ai đó đang bơm cho căng dần.
Mẹ bỏ vội cái làn xuống, vồ lấy tay tôi, cuống cuồng, “Ngồi xuống đây. Ngồi xuống kẻo chóng mặt.”
Mẹ đẩy tôi ngồi ngay xuống bên bậc thềm. Con Cộc luống cuống bên chân.
“Toàn gai là gai không đấy.” Mẹ vừa run run cầm cổ tay tôi vừa suýt soa. Mẹ luống cuống nhìn trước, nhìn sau. Ngoài hiên vạt nắng xiên ngang trên bậc thềm. Bóng những chiếc lá bàng nhún nhẩy hỏi han.
“Ngồi yên đây.” Mẹ nói và chạy vội vào nhà. Tôi cầm chắc cổ tay mình, nhìn đăm đăm những giọt máu trên lưng bàn tay, trong lòng bàn tay, trên đầu ngón trỏ. Giọt máu đỏ tươi, nở dần rồi vỡ ra, lăn dài trên làn da trắng xanh. Tôi chưa bao giờ thấy những giọt máu của mình lại đẹp như thế. Những giọt máu có thể nở như những bông hoa, những giọt máu no tròn như quả bóng thu nhỏ. Từ bé, tôi vẫn hay chảy máu cam. Nhưng dòng máu cam từ mũi chảy xuống cằm gây cảm giác nong nóng, nhột nhạt không tròn đầy như những bông hoa. Máu cam nhòe nhoẹt trên ngực áo nhìn không lôi cuốn, không lạ lẫm như những giọt máu nở tròn trên làn da. Máu cam trên ngực áo khiến mẹ mất công đem giặt. Máu cam trên ngực áo tốn của mẹ một miếng xà phòng đắt đỏ. Tôi nhìn những giọt máu nở căng và vỡ ra, chạy vòng vo trong lòng bàn tay rồi rụng xuống nền nhà. Một giọt, hai giọt, ba giọt. Tôi thầm đếm những giọt máu đỏ tươi rụng xuống nền nhà. Mẹ hấp tấp chạy ra. Tay này cầm cục bông gòn, tay kia cầm chai thuốc đỏ.
Bỏ chai thuốc đỏ xuống nền nhà, mẹ cầm lấy cổ tay tôi, ép bông gòn lên những vết gai đâm. Lưng bàn tay, lòng bàn tay, đầu ngón trỏ. Ba đốm bông gòn loang vết đỏ. Mẹ ấn chặt chỗ này, rồi ấn chặt chỗ kia.
“Mẹ có đi chợ đâu mà tìm quà.” Mẹ trách móc nhỏ nhẹ.
“Con tưởng…” Thằng bé ngập ngừng câu chạy tội.
Tôi nắm bàn tay, chặn cục bông gòn trong lòng bàn tay. Tay kia ép miếng bông gòn lên vết đâm ở lưng bàn tay.
“Cái gì trong giỏ vậy, mẹ?” Tôi hỏi, mắt dán vào chiếc giỏ đi chợ của mẹ.
“Hoa hồng.”
Tôi nẩy bật người lên, “Hoa hồng bạch hở mẹ?”
Có cái gì đó nhói lên trong lồng ngực. Có hoa hồng bạch nghĩa là tôi sẽ khỏi bệnh.
“Làm thuốc hở mẹ?” Tôi hỏi, trong đầu thấp thoáng hình ảnh những buổi trưa chạy chơi ngoài đồi cát, mắt dõi theo những con kỳ nhông màu xanh xám mình tua tủa những gai, vòng vèo đuổi bắt nhau trên đồi cát. Những dấu chân bọn kỳ nhông trên cát, dẫn tôi đến chỗ hai đứa kỳ nhông ôm lấy nhau, vùng vẫy quậy tung những lụm cát trắng. Có hoa hồng bạch là tôi sẽ hết ốm đau èo uột. Hết ốm đau, tôi sẽ lại rong ruổi trên những đồi cát, chọc phá lũ kỳ nhông xanh xám, mình tua tủa những gai. Hoa hồng bạch sẽ cứu tôi. Hoa hồng bạch sẽ chữa cho tôi hết bệnh. Bao nhiêu người đã nói với bố, với mẹ như thế.
“Không có hoa hồng bạch con ạ.” Mẹ nói, cái nhìn ái ngại trong mắt.
Tôi tròn con mắt. Tôi nhìn mẹ, rồi nhìn xuống cái giỏ.
“Vậy con gì trong đấy? Con gì làm con chảy máu vậy?”
Mẹ thấm thuốc đỏ lên miếng bông gòn, phết lên những vết gai đâm. Bàn tay tôi nhuộm đỏ. Tôi thích cái màu ấy. Chứng tích của những vết thương. Cái màu gợi lên lòng thương xót.
“Hoa hồng.” Mẹ nói, nhỏ như sợ ai nghe thấy.
Tôi lại tròn hai con mắt.
“Hoa hồng đỏ.” Mẹ nói như thì thầm.
Tôi thở ra. Hình ảnh những con kỳ nhông trên đồi cát nhòa đi trong trí tưởng.
Mẹ trấn an, “Không có hoa trắng thì mình thử hoa đỏ xem sao, biết đâu…”
Mẹ vặn nắp chai thuốc đỏ thật chặt rồi đi ra sau.
“Lúc trước mình có hoa đỏ rồi mà…” Tôi nhắc cho mẹ nhớ cái lần mẹ lặn lội vào xóm nhà chân núi, mua về những cánh hồng đỏ thắm. Nhưng những chén thuốc hoa hồng đỏ không xua đi được những cơn chóng mặt quay cuồng, không làm những cơn nôn thốc tháo giảm mức độ, không làm chân tay căng phồng của tôi mỏng mảnh lại được như độ nào.
“Mình sẽ giữ những hoa hồng thật lâu, cho đến khi màu đỏ phai đi là mình sẽ có những hoa hồng trắng.” Mẹ nói vọng ra từ phía sau tấm màn gió.
Tôi ngơ ngác trước dự tính của mẹ. Vậy mà biết bao lâu không ai nghĩ ra. Tôi nắm chặt bàn tay đầy vết gai đâm lại. Cảm giác nhức buốt dậy lên ở những vết đâm. Những giọt máu vẫn ứa ra, no tròn rồi rụng xuống nền nhà. Bỗng dưng vách liếp chao nghiêng. Những vòng hào quang viền rõ nét quanh thanh gỗ đầu giường. Tôi ngồi bệt xuống nền nhà, dựa lưng vào thanh gỗ tròn khung cửa. Con Cộc lân la đến bên tôi, nằm xuống bên cạnh, đầu dựa trên hai chân trước, dõi mắt nhìn những bóng lá bàng đu đưa trên nền đất hiên nhà.
Tôi không thèm nhìn những bông hồng đỏ trong giỏ đi chợ của mẹ. Chắc cũng giống đám hoa hồng mẹ mua từ nhà ai đó ở chân núi. Những cánh hoa đầy gai. Trong óc tôi, những cánh hoa hồng màu đỏ có viền hào quang rực rỡ. Những cánh hồng đỏ đổi màu. Những cánh hồng đỏ trở thành những cánh hồng trắng muốt, mượt mà, lung linh. Những đóa hồng màu trắng chữa cho thằng bé chưa tròn tám tuổi hết cơn bệnh ngặt nghèo.
Và tôi chợt nghĩ ra cách để có những cánh hoa hồng màu trắng.
4
Đang nằm lim dim bên ngạch cửa, bỗng dưng con Cộc bật người dậy, phóng ra sân. Tôi co ro trên giường. Mẹ loay hoay sau bếp. Mẹ bận rộn với những bông hồng. Những xác ve khô và những mảnh rễ cây khô dễ vỡ vụn nếu không gượng nhẹ khi cầm trên những đầu ngón tay. Con Cộc bật lên một tiếng sủa rồi ấm ứ trong cổ họng.
“Hai mẹ con đâu rồi?”
Không thể nhầm vào đâu được. Giọng reo vui của bố. Vậy là mười lăm ngày vắng bố đã qua. Tiếng giầy đinh khua trên bậc thềm đất khô. Tiếng giầy đinh gõ trên nền nhà. Và bóng bố phủ ngập khung vuông cánh cửa. Lồng ngực thằng bé thắt lại. Không khí tắc nghẽn trong hai lá phổi. Hơi thở khò khè chen lẫn với niềm vui, không thoát ra khỏi cái cổ họng ốm tong teo.
“Bố về rồi! Bố về rồi!” Tôi nghe tôi hét vang trong cổ họng. “Mẹ ơi, bố về rồi.” Tôi thấy mình nghểnh cổ ra sau bếp, réo gọi.
Tiếng vung nồi chạm nhau leng keng dưới bếp. Tiếng guốc khua nền nhà. Mẹ tất tả chạy lên. Bố hấp tấp bước vào. Bố quẳng cái ba lô xuống đất, nhào tới bên giường. Tôi chống hai tay ngồi dậy, tròn con mắt nhìn. Bố quỳ xuống bên giường. Hai tay ôm lấy cái đầu lởm chởm tóc của tôi. Mẹ cũng vừa lên tới. Mẹ đứng xớ rớ nhìn hai bố con. Mẹ lắp bắp không thành lời, “Bố mới về đấy à?”
“Mẹ ơi, bố về rồi.” Tôi vùi mặt lên vai áo trận của bố. Hít một hơi đầy cái mùi khét của nắng hạn, mùi nồng cay của bụi đường, mùi mồ hôi gây gây và cái hơi người quen thuộc của bố. Bố lúng túng gỡ sợi dây quàng chiếc mũ sắt. Mẹ đưa tay gỡ cái mũ sắt ra khỏi đầu bố. Bố nhìn mẹ thật nhanh rồi hấp tấp dụi cái cằm lởm chởm râu ria lên mặt tôi.
Những sợi râu cứng như bàn chải của bố làm tôi nhột muốn bật lên tiếng cười. Những sợi tóc tua tủa mầu đen nâu của bố vẫn thô và cứng. Tôi xoa tay lên mặt bố. Mặt bố vẫn gồ cao trên trán, vẫn trũng sâu hai má, vẫn vuông vức dưới cằm. Chỉ khác đám râu lởm chởm chen chúc nhau trên mép, dưới cằm. Trước lúc lên đường, bố cạo râu nhẵn nhụi.
Một tay cầm cái mũ sắt, một tay mẹ nhấc chiếc ba lô dưới đất lên.
“Ơi, sao mà nặng thế này!” Giọng mẹ reo vui.
“Quà đấy.” Bố thả lỏng vòng ôm, xoay qua nói với mẹ, “Quà cho hai mẹ con đấy.”
Thằng bé thót bụng lại trước tin vui. Lần nào bố đi công tác về cũng có quà. Những chuyến công tác kéo dài hai tuần lễ. Những cuộc hành quân ở núi, ở rừng, ở những vùng đất lạ. Mỗi đoạn đường bố đi qua đều để lại trong lòng bố những kỷ niệm mà bố thường kể cho hai mẹ con nghe.
“Thôi được rồi, con giai để cho bố tắm rửa rồi còn ăn cơm. Chắc bố mày đói lắm rồi đấy.” Mẹ nói.
Bố xoa đầu thằng bé, nói vọng qua phía mẹ, “Đói thì không đói nhưng nhớ món cá kho của mẹ mày lắm rồi. Cả nửa tháng nay toàn là ăn đồ hộp.”
Bố ngán đồ hộp, nhưng hai mẹ con lại thích. Những hộp màu ô liu có cái khóa đính trên nắp. Gỡ khóa ra, quấn quanh cái móc ở cạnh và cứ thế cuộn quanh. Nắp hộp sẽ được mở dần. Hộp bánh có bánh bích quy, có kẹo, có sô cô la; hộp thịt có thịt bò, thịt gà, thịt heo ướp sẵn, có thể ăn ngay hoặc hâm nóng trước khi ăn. Hộp đậu có đủ thứ đậu, hạt, rau, quả. Quà của bố là những thứ ấy. Những thứ góp phần làm thằng bé lên tám tuổi mong bố mau kết thúc chuyến công tác hai tuần lễ lê thê.
Mẹ xuống bếp, bỏ lại hai bố con. Bố lùi lại, nhìn con từ đầu đến chân. Ánh mắt bố lạ lẫm. Bố cầm cánh tay thằng bé lên nhìn săm soi. Bố lui xuống vén ống quần thằng bé, cầm cổ chân nó, ấn ngón tay lên cổ chân, nhìn chăm chú vết lõm của đầu ngón tay trên cái cổ chân căng đầy.
“Con nó có bớt tí nào không, hở mẹ mày?” Bố hỏi vọng ra sau bếp.
“Bớt, bố ạ.” Tôi nói vội.
“Thấy cũng vậy thôi.” Tiếng mẹ vọng lên từ sau bếp.
“Bớt mà.” Tôi nói, cho bố yên lòng. Bố loay hoay tìm tòi hết cổ chân bên này đến cổ chân bên kia. Rồi bố vạch bụng tôi lên xem. Bố nhìn đăm đăm những vạch gân xanh hằn trên lớp da bụng căng tròn.
“Có tìm hoa hồng trắng được chưa?”
Mẹ vừa loay hoay với siêu thuốc bắc vừa nói vọng lên, “Chả tìm đâu ra hoa hồng bạch hết.”
Và mẹ tất tả đi lên nhà trên, tô thuốc đen kịt sóng sánh trong hai lòng bàn tay. Mẹ đặt tô thuốc lên chiếc ghế đẩu cạnh đầu giường. Giờ hành tội của thằng bé – chưa đầy tám tuổi, mắc chứng bệnh không tên – đã đến. Tôi nhìn tô thuốc, chỉ muốn hét lên cho vỡ tung bốn vách liếp chung quanh, cho mái tranh bay thốc lên bầu trời, chìm lẫn vào những đám mây trắng lững lờ trôi mà lâu lắm rồi tôi không còn dịp để nhìn chúng mà hình dung vóc dáng những con gấu, con voi, con chim, con cá, hay hình gã khổng lồ gian ác, đem tin dữ cho loài người.
“Hôm trước tìm được ít hoa hồng đỏ…” Mẹ chậm rãi kể.
Tôi giật mình, nằm yên.
“Thằng con giai hóa phép thành hoa hồng trắng.” Mẹ nói, nụ cười hiền vắt ngang môi.
“Vậy à?” Bố đứng dậy, vừa cởi những cúc áo trận vừa nhìn tôi. “Làm cách nào hay thế?”
Mẹ nhìn tôi, “Kể cho bố nghe đi, con giai.”
Tôi muốn cười nhưng da mặt căng phồng khiến chỉ cái nhếch mép cũng khó khăn, nên tôi mím môi, che nụ cười gượng gạo.
“Con muốn mau khỏi bệnh…” Tôi thầm thì chạy tội.
“Nhưng làm cách nào để hoa hồng đỏ thành hoa hồng trắng?” Bố nói, mắt chờ.
“Kể cho bố nghe đi.” Mẹ khuyến khích, khẽ chạm bàn tay vào tô thuốc bắc xem đã nguội hẳn chưa.
“Tại ông lang bảo hoa hồng trắng chữa bệnh…”
“Ừ thì chữa bệnh.” Bố gật gù. “Sao nữa?”
“Con đem hoa hồng đỏ của mẹ…”
“Con hóa phép?” Bố châm chọc.
“Con đem hoa hồng đỏ của mẹ…”
“Con đọc thần chú…” Bố nhắc cái câu tôi thường nghe trong những chuyện cổ tích.
“Con dìm vào thùng vôi trắng.”
“À, thì ra thế.” Bố bật cười. Giọng cười của bố rộn ràng, như những vạt nắng tung tóe trên hiên nhà, làm rực sáng cả không gian. Giọng cười của bố lây sang mẹ. Mẹ cũng vang tiếng cười. Hai giọng cười ấy lây sang tôi. Nhưng tôi chỉ cười được trong cổ họng. Da mặt tôi căng phồng như da bụng ễnh ương. Cười, chỉ sợ mặt mình nứt bung ra.
Và con Cộc cũng hùa theo bằng tiếng sủa nhấm nhẳng.
Bố ngồi bệt xuống nền nhà, bên cạnh giường bệnh của con, loay hoay cởi giầy. Đôi giầy cao tới gần đầu gối với dây nhợ chằng chịt. Tôi nhìn những sợi dây giầy để khỏi phải nhìn vào tô thuốc bắc đen sánh. Những ngón tay của bố nhảy nhót như những con chim sẽ thường tắm nắng ngoài hiên. Chớp nhoáng, đã nới lỏng hai sợi dây và bố tuột đôi giầy khỏi chân, tháo bí tất nhét vào giầy và đẩy cả hai chiếc giầy đinh vào gầm giường. Không còn đôi giầy để nhìn, tôi không biết nhìn đi đâu. Đành nhìn chiếc áo thun cụt tay của bố. Chiếc áo thun cùng màu với bộ đồ trận. Tôi nhìn trái táo ở cổ bố. Tôi nuốt nước bọt, chờ trái táo ở cổ mình thập thò lên xuống. Nhưng trái táo ở cổ tôi chưa tròn. Phải vài ba năm nữa. Bố vẫn bảo thế.
“Uống hết chè đỗ đen đi, con giai.” Mẹ đã bỏ ra sau bếp. Bận rộn nhưng không quên nhắc.
Bố cầm bàn tay tôi lên, ngắm nghía. “Tay sao thế này?”
Tôi nhìn những vệt thuốc đỏ loang trên lưng, trong lòng bàn tay.
“Gai đấy bố.”
“Gai gì vậy?”
“Gai hoa hồng… trắng.”
Tôi nói và nhận ngay ra là mình vừa mới lỡ lời. Bố nắm ngay lấy cái điều tôi vừa nói ra, “Ờ, kể chuyện hoa hồng trắng cho bố nghe với.”
Tôi ngượng ngùng lặng thinh. Bố nhắc, “Hay là uống một ngụm chè đỗ đen rồi kể cũng được.”
Bố nâng tô thuốc sát miệng tôi. Tôi chống tay ngồi dậy. Nhắm mắt chờ cho căn phòng thôi quay. Rồi mở mắt nhìn bố. Tôi nhìn đăm đăm vệt da sậm màu nằm ngang trán bố, nơi vành chiếc mũ sắt chẻ ngang. Mặt bố rám đen nhưng trán bố, phía trên cái lằn ngang ấy thì trắng.
Tôi đưa tay chạm nhẹ vào cái vạch ngang ấy. Da bố khô và nóng.
“Uống nào.” Bố chạm vành tô thuốc vào môi tôi. Tôi nhắm nghiền hai mắt, há miệng tợp một ngụm như con chó táp miếng mồi. Vị đắng làm tê cứng miệng môi. Tôi nuốt vội xuống để khỏi buồn nôn. Có bố ở đây, tôi không có cách nào đổ bớt thuốc xuống gầm giường như vẫn làm. Chất đắng song sánh trong bao tử, quặn thắt ruột gan. Tôi bịt miệng chặn cơn nôn thốc tháo. Bố đặt tay lên vai tôi. “Cố lên, cố lên, con giai của bố.”
Tôi nhắm nghiền hai mắt. Nước mắt ứa ra dàn dụa.
“Để bố thử xem nhé.” Bố đưa bát thuốc lên miệng. Tôi tròn mắt nhìn. Qua màn nước mắt, hình ảnh bố nhòe nhoẹt, tuy nhiên tôi thấy rất rõ bố đang nhẩn nha uống từng ngụm, thứ thuốc đắng kinh thiên động địa ấy. Không biết bao nhiêu ngụm nhưng khi bố đưa tô thuốc cho tôi thì chỉ còn một phần, xê xích với chỗ thuốc còn lại sau những lần tôi lén đổ xuống gầm giường.
“Rồi, phần của con giai đấy nhé.” Bố đặt vành tô sát miệng tôi. Và tôi nhắm mắt, cắn răng nuốt xuống thứ chất lỏng gay gắt địa ngục.
Bố đưa tay quệt những giọt nước mắt lăn dài trên má tôi, nhỏ nhẹ, “Kể chuyện hoa hồng trắng cho bố nghe đi.”
Tô thuốc đã cạn. Tôi phấn khởi với câu chuyện của mình.
“Con vùi hoa hồng của mẹ vào thùng vôi bột.”
“A!” Bố reo lên khe khẽ. “Vôi để rắc quanh nhà phải không nào?”
Tôi nuốt nước bọt, “Thì thùng vôi của bố đấy.”
“Có lấy hết vôi của bố không đấy.”
Mẹ từ dưới nhà đi lên, hai tay bưng cái mâm nhôm đầy những chén bát. Mẹ nói chêm vào, “Cũng còn đấy, đủ để bố rắc quanh nhà. Bố mày lại ăn cơm đi thôi.”
“Ăn xong bố sẽ rắc vôi ngay cho kịp.”
Tôi nhớ thùng vôi bột trắng tinh của bố. Vôi để bố rắc quanh nhà. Tất cả mọi nhà trong xóm mà tôi biết đều rắc vôi chung quanh. Nhà con bé Phụng còn rắc vôi tận ngoài ngõ. Nhà con bé Phụng giàu. Có mái lợp tôn, có gạch hoa lót nền, nên có đủ vôi rắc tận ngoài đầu ngõ.
“Rắc vôi làm gì hở bố?” Tôi hỏi.
“Để không ốm đau.” Bố nói.
“Để thần dịch tả không đến bắt mình đi.” Mẹ nói.
Hai chữ dịch tả làm tôi nhớ đến hai cô gái sinh đôi, chị thằng bạn học cùng lớp. Nhà nó không rắc vôi và cả hai chị ấy đều nhiễm bệnh. Lúc hai chị ấy chết, bố mẹ họ phải đem xác hai chị ra đồng, dựng căn lều trơ vơ trên cỏ hoang, trong khi chờ đem chôn.
Một buổi chiều tan học, băng ngang cánh đồng, bắt gặp căn lều giăng vải trắng, bắt gặp hai cái chõng phủ vải trắng, bắt gặp hai thân người nằm song song, cạnh bên nhau, phủ trắng một màu. Tôi nhớ chiều ấy gió thổi thốc tháo, bật góc tấm khăn phủ thân thể một người, để lộ ra hai bàn chân trắng muốt. Chỉ trong chớp mắt, hình ảnh hai bàn chân mỏng mảnh ấy hằn sâu trong trí nhớ trẻ thơ tôi. Tôi thấy hoài những móng chân xám ngoắt, tôi thấy hoài làn da xanh tái, tôi thấy hoài đường gân tím vằn vèo dưới da, tôi thấy hoài vạt vải trắng dùng làm nóc lều phất phơ bay trong gió như cánh buồm tan tác sau cơn bão biển. Tôi dụi mắt trăm ngàn lần nhưng tôi vẫn thấy.
Vì vậy nhà nào cũng rắc vôi khắp chung quanh. Bố đi công tác xa nên chưa kịp rắc vôi quanh nhà. Người ta bảo phải là người đàn ông, người ta bảo phải là thứ vôi tinh khiết, người ta bảo phải rắc kín mọi ngõ ngách thì người trong nhà mới được bình yên.
Bố đi hành quân nơi xa. Tôi ở nhà với mẹ. Không có ai rắc vôi quanh nhà. Tôi ốm đã mấy tuần lễ nay rồi.
(Còn tiếp)
Tôi đã xem tron bộ “Lời nguyền ở thế giới bên kia.” Truyện hay lắm, tuy có nhiều chữ, nhiều đoạn cứ lập đi lập lại quá nhiều lần.
Phan Lương
Cảm ơn nhận xét của anh / chị. Quả thật “có nhiều chữ, nhiều đoạn” nhân vật “lặp đi lặp lại quá nhiều lần”, nhưng có lẽ chúng ta thông cảm được cho thằng bé “chưa đầy tám tuổi đầu” ấy, bởi lúc nào nó cũng mong mình lớn hơn, cao hơn, giỏi hơn con bé bạn hàng xóm một chút thôi. Và mong khi được về nhà sẽ có cơ hội kể cho lũ bạn cùng lớp những gì mắt thấy tai nghe trong chuyến “đi xa” lạ lùng ấy. Trẻ con khi muốn gì mà chưa được thì cứ nhì nhằng nhắc đi nhắc lại. Nếu nó không chịu như thế thì tác giả cũng bắt nó phải như thế.