Thời gian là của những năm 60 thế kỷ trước, không gian là một thành phố nhỏ miền Trung nước Việt. Câu chuyện xảy ra dưới mắt nhìn một đứa bé chưa tròn tám tuổi. Với những bước trẻ thơ nhập nhằng giữa hai thế giới: Bên Này và Bên Kia, khi đứa bé ấy lỡ dan díu với một “Lời Nguyền”. Xin trân trọng gửi tới bạn đọc phần 5 của truyện dài “Lời Nguyền Ở Thế Giới Bên Kia” của Hoàng Chính.
16
“Hôm nay cậu không đi làm à?” Bà Khúc hất hàm, hỏi.
Đứng sát vách tường, cách chiếc giường chị Huyền ít nhất hai bước chân, anh giáo Thành rụt rè trả lời, “Dạ, mấy hôm nay bãi khóa.”
“Thế là cậu được nghỉ?”
“Vâng ạ.”
“Bao giờ đi làm lại?”
“Cũng chưa biết nữa bác ạ.”
Bà Khúc chép miệng, khẽ lắc đầu. Bãi khóa. Hai chữ tôi chưa nghe ai nói bao giờ. Nhưng thầy giáo Thành không phải đi làm. Vậy thì bãi khóa là thứ học trò nào cũng thích. Tôi nghĩ thế. Bãi khóa, thầy giáo không đi dạy, học trò không phải cầu cho thầy giáo bị ốm. Tôi chớp mắt xua đuổi ý nghĩ ấy ra khỏi đầu. Chỉ giữ lại hai chữ bãi khóa để về khoe với Phụng.
Phụng, giờ này đang làm gì?
Tôi ngồi sát đầu giường, dựa lưng vào khung sắt, chiếc gối chêm sau lưng cho khỏi đau, tai vểnh lên nghe ngóng. Thế giới tôi nhỏ hẹp. Thế giới tôi giam trong bốn bức tường. Tôi nhớ từng chỗ tróc lở của vôi trên cả bốn bức tường. Nhắm mắt lại tôi thấy những vết lở ấy rõ mồn một. Rõ hơn cả khi trố mắt nhìn chúng đăm đăm. Mẹ cũng hết việc để làm, loay hoay sửa gối nằm cho bà Gái, rồi lại về cuối giường, kéo tấm khăn trải cho thẳng thớm. Mỗi ngày mẹ kéo tấm khăn trải cho thẳng thớm không biết bao nhiêu lần. Chiếc giường sắt có lò so này, mỗi ngày tôi leo lên leo xuống cả trăm lần. Tôi mắc tiểu liền liền. Ban ngày không dám đứng đái ở đầu hè, tôi phải hì hạch đi dọc cái hành lang hun hút dài, xuống mãi nhà xí để tiểu. Nhà xí vàng khè bốn bức vách và nằng nặng mùi khai. Những vòi nước ri rỉ chảy suốt ngày suốt đêm, vẽ thành những vệt rêu xanh như thân hình con trăn khổng lồ, bò lan xuống cái hố sâu đen ngòm ở góc nhà. Tôi leo lên leo xuống mỗi ngày bao nhiêu lần nên tấm khăn trải lúc nào cũng nhăn nhúm.
Tôi nhìn quanh bốn bức tường. Tôi đếm những vết lở của vôi. Tất cả vẫn còn nguyên. Không có thêm vết nào mới. Tôi ngóng ra cửa. Chị Thảo ở ngoài đó. Chị Thảo thường mang theo cuốn sách dày, hình cô gái có lông mi thật dài trên bìa. Chị Thảo dán hai con mắt cũng có lông mi dài vào cuốn sách. Chị hay trải tờ báo lên bậc thềm ở cuối hành lang, ngồi một mình đọc sách. Chị Thảo chả nói chuyện với ai. Chị Thảo làm tôi nhớ những miếng cam thảo có vị ngọt trong gói thuốc tễ của ông thầy lang. Trong đám xác ve khô, rễ cây, lá vụn của gói thuốc ông ấy, tôi chỉ thích cam thảo. Cam thảo có vị ngọt đặm trong cổ họng. Cam thảo không giống những thứ vụn vặt trong gói thuốc. Như chị Thảo, riêng rẽ một mình ở giữa chỗ đông người.
“Cậu lĩnh lương có khá không?” Câu hỏi bất ngờ của bà Khúc kéo tôi vào khoảng hẹp của bốn bức tường.
Anh giáo Thành lí nhí nói gì đó, tôi không nghe rõ. Nhưng tôi nghe bà Khúc chép miệng. Bà Khúc hay chép miệng. Và lắc đầu. Cái đầu lắc qua bên trái, rồi xoay qua bên phải. Bao giờ cũng đúng hệt như thế. Chỉ một lần qua trái và một lần qua phải. Tôi thuộc đến mức đôi khi tôi cũng lắc đầu qua trái rồi qua phải mỗi khi mẹ hỏi có muốn ăn thêm cơm nữa không để mẹ nói với chú nhà bếp.
Anh thầy giáo Thành đứng thẳng người, lưng dán vào vách tường. Chị Huyền bỗng dưng bật tiếng ho khan. Anh Thành nhìn chị, rồi nhìn bà Khúc. Tôi bên này ngồi yên, với hai con mắt tò mò. Hai con mắt nở to như hai quả bong bóng bay, lơ lửng trên trần nhà. Mẹ đã bỏ ra ngoài. Còn lại tôi một mình. Anh Thành chợt khom người xuống, xếp hai chiếc guốc gỗ có quai nhựa cho thẳng hàng dưới gầm giường. Rồi anh lại đứng thẳng người, mắt dán vào làn da mặt trắng xanh của chị Huyền, hai tay chờn vờn trước ngực.
“Mắc tiểu quá, trời ơi!” Chị Huyền rên rỉ.
Hai con mắt trợn tròn sau khung kính cận. Anh Thành bước tới một bước rồi thụt lùi ngay lại. Và lại dán lưng vào vách tường. Bà Khúc khom xuống gầm giường, lấy cái thau nhôm.
“Con Thảo đâu rồi?” Bà Khúc xớn xác.
“Lẹ lên dùm tôi, chịu hết nổi rồi!” Chị Huyền gào lên.
Ở chiếc giường bên này, tim tôi đập muốn vỡ tan lồng ngực. Tôi thấy mình khó thở. Tôi chặn hai tay lên ngực.
“Cái màn gió.” Bà Khúc hét, vung tay chỉ về phía ngăn tủ. Anh Thành cuống cuồng vồ lấy tấm vải.
“Căng ra, che bên kia.” Bà Khúc chỉ về phía cạnh giường phía tôi và bà Gái; cái bà già có khuôn mặt nhăn nheo.
Anh Thành đứng một bên giường chị Huyền, căng tấm vải hết cỡ. Màn hình chiếu phim đã sẵn sàng.
“Cao lên!” Bà Khúc hét.
Tấm vải giăng cao hơn đỉnh đầu anh Thành. Mặt anh ngiêng qua một bên. Đàng sau tấm màn là một cuộc tra tấn kinh hoàng. Trời ơi, đau quá. Á, sao tôi không chết đi cho rồi! Trời ơi là trời. Anh Thành nhắm nghiền hai mắt bên khung vải. Ôi trời! Chết đi cho rồi.
Bên này tôi khốn khổ lắng nghe. Sát bên khung vải, khuôn mặt anh Thành vặn vẹo như khuôn mặt kẻ có chiếc răng đau, và cơn đau ấy xoáy lên tận óc.
Tôi nhìn đăm đăm vách tường. Tôi cố tìm xem có vết loang lổ nào mới hay không. Tất cả vẫn y nguyên. Tôi thích vết nứt có hình dạng đứa con gái tóc dài. Vết nứt có nụ cười con bé Phụng cùng lớp. Tôi cố điểm danh những vết nứt quen thuộc. Nhưng sao tai tôi vẫn lảng vảng sự mong chờ đáng ghét. Tôi chờ nghe tiếng nước róc rách. Như tiếng con lạch nhỏ dưới chân núi. Tiếng róc rách của dòng nước từ khe núi chảy xuôi xuống vũng. Khe núi hẹp. Dòng nước âm ỉ chảy hoài. Tiếng róc rách lẫn cả vào những giấc mơ. Khe núi hẹp. Dòng nước trong vắt. Tiếng róc rách êm đềm. Tôi thấy mình lắng nghe. Tôi thấy mình chờ nghe tiếng nước nhỏ giọt xuống cái thau nhôm. Nhưng chỉ có tiếng sụt sùi của chị Huyền.
“Xong rồi!” Giọng bà Khúc.
Chiếc màn rũ xuống. Anh Thành nhanh tay gấp làm tư làm tám, xếp vội lên mặt tủ, rồi anh cúi xuống đón cái thau nhôm từ tay bà Khúc.
Anh cẩn thận cầm bằng cả hai tay. Anh sợ nước sánh ra ngoài. Anh nhìn vào lòng chậu. Nét hiền hòa trong mắt. Cặp mắt kính cận lấp lánh ánh nắng. Anh bước nhanh vào vũng nắng. Hai tay cầm chắc hai bên vành chiếc thau nhôm.
Tôi ngồi dựa đầu giường. Đếm những vết vôi loang lổ trên vách tường. Mỉm cười với vết lở có hình dạng đứa con gái tóc dài. Hệt như con bé Phụng. Mai này Phụng sẽ là ca sĩ. Từ hôm tôi lạc đến nơi này, Phụng có còn hát Mưa Rừng cho cả lớp nghe không?
Tiếng rên của chị Huyền. Tiếng ho của bà Khúc. Tiếng ngáy của bà gái. Và tiếng tôi thở khò khè. Những âm thanh quen quá là quen.
Anh giáo Thành bước vào phòng. Hai tay ôm vành chiếc thau nhôm. Nắng lóe lên trên cạnh thau khi anh bước qua vũng nắng. Chị Thảo theo sau. Ngón tay gài giữa những trang giấy cuốn sách có hình cô gái có lông mi cong vút.
Anh giáo Thành nhẹ nhàng đặt cái thau xuống dưới gầm giường, loay hoay xếp đôi guốc có cái quai nhựa của chị Huyền cho thẳng dưới chân giường.
“Biết chừng nào chị ấy mới được đi lại đôi guốc ấy!” Đứng dựa cạnh giường, chị Thảo nói.
Bà Khúc chêm vào, “Bà nó, xe vận tải cán nát cả người mà đôi guốc còn y nguyên.”
Chị Huyền lại ho khan.
“Nằm hoài nó sưng phổi cho mà xem,” chị Thảo nói.
Bà Khúc lườm chị Thảo, “Ngồi lên mà chết à!”
“Bác sĩ bảo phải đỡ chị ấy ngồi dậy, vỗ lưng chị ấy cho nó khỏi đóng đờm.”
“Bác sĩ nói là một chuyện…” Bà Khúc ngắt lời chị.
Chị Thảo xoay qua anh giáo Thành, “Phải không anh Thành?”
Anh Thành nhìn chị Thảo rồi lại nhìn bà Khúc. Anh đưa tay gãi đầu, rồi nâng gọng kính sát vào mắt. Và anh lặng thinh. Bên này tôi che miệng. Thằng bé chưa đầy tám tuổi muốn nói với mọi người rằng làm gì cũng được nhưng đừng bắt chị Huyền phải đau đớn. Suýt nữa tôi buột miệng nói leo. Người lớn không ưa trẻ con nói leo. Nhưng tôi biết tôi đúng. Chị Huyền đẹp như thế mà bắt chị gẫy nát hai chân đã là ác lắm rồi. Không ai được quyền làm chị đau đớn thêm nữa. Tôi bịt miệng để khỏi mang tội nói leo.
Chợt chị Huyền hắt xì và ngay sau cái hắt xì là tiếng rên như mũi kim bơm thuốc, xoáy vào da thịt, “Trời ơi, đau quá!”
Anh Thành bước đến sát giường chị, tháo chiếc khăn tay vắt ở thành giường. Bà Khúc vội bước tới, giằng lấy mảnh khăn, xấn tới, chùi nước bọt trên miệng chị Huyền. Anh giáo Thành lúng túng bước lui.
Mẹ về phòng, mang theo những áo quần đã khô. Trời nắng, thứ gì phơi ngoài sân cỏ cũng mau khô. Mẹ xếp mấy mảnh vải đụp – không ra áo ra quần – của bà Gái, đặt lên cái tủ ở đầu giường của bà.
“Chào anh giáo Thành.” Mẹ niềm nở.
Anh giáo Thành vừa “Chào dì!” vừa khẽ cúi đầu.
Mẹ nhìn chị Thảo, Cô Thảo khỏe không? Chị Thảo mỉm cười. Chị hiếm khi mỉm cười. Tôi thích nụ cười hiếm hoi của chị. Nụ cười ấy nếu nhấm nháp được trong miệng, chắc cũng ngọt đặm đà như cam thảo. Nụ cười cuốn tôi vào không gian thơm mùi thuốc bắc với những xác ve khô, lá mục, rễ cây vụn và những miếng cam thảo hiếm hoi. Và tôi lơ mơ trong không gian đầy những hình ảnh mập mờ, đen chéo vào nhau ấy.
Mãi đến khi anh giáo Thành chào mọi người để ra về, tôi mới giật mình, ngơ ngác.
“Anh Thành về, nghe chú bé.”
Tôi cười hạnh phúc. Lần đầu tiên trong đời có người cho tôi làm chú bé. Chữ “bé” trong “chú bé” không làm tôi bé lại mà lại khiến tôi thấy mình chững chạc như người lớn.
“Mai mốt anh lại nữa nhé.”
Tôi lại cười. Hai má căng cứng khi cười. Và đau nữa. Nhưng tôi vẫn cười. Híp cả hai mắt lại.
Chờ cho anh giáo Thành đi khuất, bà Khúc thờ dài, nói nhỏ nhưng cũng đủ cho cả phòng nghe thấy, “Tội nghiệp nó, cái nghề bán cháo phổi có bao giờ khá được!”
Tôi thầm nhắc mai mốt sẽ hỏi mẹ Bán cháo phổi là gì.
17
Con chuồn chuồn ngô to bằng ngón tay cái chập chờn lượn trên những ngọn lá. Tôi đứng dựa cây cột xi măng trầy trụa cả bốn bên, nhìn theo nó. Đôi cánh mỏng như lớp vải the chiếc áo dài lấp lửng đầu gối ông thầy lang vẫn mặc. Trong nắng, đôi cánh chiếu ra trăm ngàn tia sáng đủ sắc màu. Xanh, vàng, tím, đỏ trộn lẫn vào nhau lấp lánh. Đôi cánh rực rỡ và hai con mắt tròn, xanh bóng của con chuồn chuồn làm tôi ngây ngất. Tôi nín thở đứng nhìn. Hai chân chôn xuống nền gạch. Vai gắn cứng vào cây cột xi măng. Tôi không dám thở mạnh. Tôi sợ con chuồn chuồn bay đi mất. Tiếng thở của tôi phì phào, như tiếng máy bơm nước. Tiếng máy bơm nước đuổi con chuồn chuồn bay mất. Thành ra tôi nín thở. Nín thở một lúc, hai mắt hoa lên, tôi há to miệng thở ra hít vào thật khẽ. Con chuồn chuồn đậu trên ngọn lá bụi dâm bụt. Hai hột mắt xoay vòng. Cái đuôi dài cong lên rồi duỗi thẳng. Con chuồn chuồn cắn rốn thì nhất định sẽ biết bơi. Thằng Đức ngố vẫn khoe là nó bơi giỏi nhờ cho chuồn chuồn cắn rốn. Con chuồn chuồn ngô bay lên rồi thảnh thơi đậu xuống ngọn lá khác. Bàn tay nào đó đẩy tôi tới trước. Tôi rón rén bước xuống nền đất. Nền đất khô gồ ghề phủ đầy xác lá. Tôi cố không để tiếng xào xạc dưới chân đánh động con chuồn chuồn. Tôi dè dặt từng bước. Tôi hít thở bằng miệng. Môi khô và miệng đắng. Tôi đếm từng bước ngắn, bàn tay lăm lăm đưa ra phía trước, ngón trỏ châu đầu vào ngón cái. Con chuồn chuồn lại chập chờn bay. Tôi rón rén nhấn từng bước chân trên lá mục. Con chuồn chuồn lơ đãng quấn quýu hai chân trước trên vành lá. Ngón tay tôi chuyển động nhẹ nhàng như cành lá. Bàn tay tôi thành một nhánh của cây dâm bụt. Con chuồn chuồn ngô tưởng cánh tay tôi là một cành dâm bụt. Bởi nó đậu thật lâu trên vành chiếc lá.
“Cu Vũ làm gì thế?”
Tôi giật bắn người. Lao đao. Hoảng hốt. Quả tim vỡ tung trong lồng ngực. Giọng chị Thảo trong và dịu dàng.
Con chuồn chuồn ngô vụt bay. Thật cao. Tan vào khung nắng. Lẫn vào mây trời.
Tôi điếng người thật lâu. Tôi đứng sững một chỗ. Cánh tay vẫn mọc dài như nhánh cây dâm bụt. Hai ngón vẫn chụm vào nhau như vừa túm được cái đuôi mềm mại của con chuồn chuồn ngô. Giấc mơ chuồn chuồn cắn rốn biết bơi tan như nắng. Chắc tôi sẽ chẳng bao giờ biết bơi như thằng Đức ngố. Cái thằng lụi xụi vậy mà hay hơn bao nhiêu đứa con trai cùng lớp. Cái thằng làm tôi bị tội oan, bị đuổi học suốt nửa tháng trời.
“Cu Vũ làm gì thế?”
Vẫn giọng chị Thảo. Tôi bần thần quay lại. Hôm nay tóc chị xõa hai bên vai. Lông mi chị vẫn dài và tay chị vẫn cầm cuốn truyện có hình cô gái ngẩn ngơ nhìn bầu trời đầy mây trắng.
“Con chuồn chuồn.” Tôi nói, cố lên giọng trách móc.
“Vũ bắt chuồn chuồn làm gì?” Chị bước sát cạnh bậc thềm, nơi cây cột mà tôi dán người vào ban nãy.
“Tập bơi.”
“Cho nó cắn rốn hả?”
Tôi gật đầu. Rồi tôi cười với chị. Hai má căng cứng như đeo mặt nạ. Cười cũng làm tôi đau. Nhưng tôi không kêu, không rên như chị Huyền. Chị Huyền đau hơn tôi nhiều.
“Ngoài đó…” Chị nói, chỉ tay ra khoảng rừng cây chằng chịt, phía trước, nơi con chuồn chuồn ngô của tôi đang nhởn nhơ. “Ngoài đó có cái gì cu Vũ biết không?”
Tôi chớp mắt, suy nghĩ. Nhưng tôi không nghĩ ra. Ban ngày, dưới nắng hanh, chỉ thấy những bụi cây chằng chịt. Lá đan kín vào nhau. Chim chóc cãi cọ. Những con gà rừng gáy giọng cao vút. Những con cáo thỉnh thoảng chạy vụt qua, để lại cái bóng màu nâu xám nhòe nhoẹt trong nắng. Đêm về, giun dế kêu rên. Những con vạt sành gõ nhịp đồng ca. Ngày mưa bầy ễnh ương réo gọi nhau rộn rang. Đêm khuya, mỗi lần ra đầu hè đứng đái, tôi thấy lũ đom đóm lập lòe. Và những đốm lửa xanh xanh, đỏ đỏ chập chờn bay trên những ngọn cây. Tôi không biết sau những lùm cây là những gì. Tất cả được che kín bởi cây lá um tùm. Rừng lá dầy, như tấm màn gió che chiếc giường chị Huyền mỗi ngày vài ba lần, giấu điều bí mật không ai được phép biết.
Chờ tôi bước lên bậc thềm, chị Thảo đặt tay lên vai tôi. Cảm giác mát lạnh thấm qua vai áo. Bỗng dưng tôi ngỡ chị Thảo là chị của riêng tôi. Tôi là thằng bé chưa đầy tám tuổi. Tôi chỉ có một mình. Tôi thèm có anh chị. Tôi thèm có người chị để lúc tôi ốm đau, chị đặt bàn tay mát lạnh lên vai tôi.
“Ngoài đó là Thế Giới Bên Kia, Vũ biết không?”
Những chữ lạ lùng và huyền bí. Tôi ngơ ngác nhìn những lùm cây đan khít vào nhau. Tưởng như bốn chữ ấy đang dập dìu dựa vai nhau, đu đưa trước gió.
“Vũ biết Thế Giới Bên Kia là gì không?”
Tôi khẽ lắc đầu. Tôi đã nhớ làm gì cũng phải nhẹ nhàng. Lắc đầu chầm chậm để khỏi lao vào cơn chóng mặt.
Chị Thảo bóp nhẹ vai tôi, “Nơi mình đang sống là Thế Giới Bên Này, hiểu chưa?”
Tôi lại khẽ gật đầu.
“Thế Giới Bên Kia là nơi người chết ở.”
Ngực tôi co thắt. Tôi cuống cuồng tìm bàn tay chị Thảo. Tôi nắm chặt lấy những ngón tay thuôn. Tôi chưa đầy tám tuổi mà những ngón tay tôi no căng như những quả chuối ngự, trong bàn tay tôi, những ngón tay chị Thảo mỏng, thon và trắng nõn. Như những chiếc đũa ngà nhà con bé Phụng.
“Thế Giới Bên Kia…” Tôi lẩm nhẩm như đang học bài. “Thế Giới Bên Kia…”
Chị Thảo nghiêng đầu nhìn tôi, “Ừ, thế giới bên kia đấy.”
Tôi nhìn những khóm lá. Tôi săm soi những ngọn cây. Tôi ngắm nghía những nhánh cây khúc khuỷu. Tôi cố tìm một dấu vết của người chết trong cái màu xanh thẫm của cây lá. Tôi chỉ thấy những chiếc lá chập chờn vẫy gọi. Tôi nheo mắt, cố tìm con chuồn chuồn ngô ban nãy. Khi tôi rón rén từng bước chân thì nó là con chuồn chuồn ngô của tôi. Từ khi chị Thảo kể cho nghe về thế giới bên kia thì nó không còn là con chuồn chuồn ngô của tôi nữa. Tôi dõi mắt tìm, nhưng chẳng thấy nó đâu. Vài cánh bướm chập chờn trên ngọn lá. Những con cào cào mọi khi cũng lười biếng đi tìm mồi.
“Ngoài đấy người ta chôn những người chết vô thừa nhận, Vũ biết không?”
Tôi ngẩn người một lúc lâu, “Người chết?”
“Ừ, người bệnh chết.”
“Vô…”
“Vô thừa nhận.”
Tôi ngơ ngác. Chị Thảo hiểu, “Những người không ai nhận về.”
Tôi gặt thêm chữ mới. Và tôi chợt nhớ những ánh lửa xanh xanh đỏ đỏ, tôi thường thấy, bay chập chờn trên những ngọn cây trong đêm tối. Người ta gọi là ma trơi. Thầy giáo Quỳnh bảo làm gì có ma. Ma trơi chỉ là hơi độc gì đó từ những mồ mả bay lên, cháy thành ngọn lửa.
Vậy là tôi biết những người không được ai nhận về được gọi là gì rồi.
“Thế giới bên kia bây giờ đông đúc. Bao nhiêu người chết dịch tả ngoài kia.”
Tôi nhớ những vạch vôi trắng rải quanh nhà. Tôi nhớ hai chị em sinh đôi, gói trong khăn liệm trắng, trơ trọi ngoài cánh đồng. Tôi thấy yên lòng được ở trong nhà thương lúc này.
Chúng tôi trở vào phòng. Căn phòng tối mù. Đứng lâu ngoài nắng làm chói lòa con mắt. Chị Thảo về góc phòng, ngồi xuống chiếc ghế đẩu cô y tá Liên cho mượn, chuyện trò với chị Huyền. Tôi, một mình, đứng xớ rớ bên cửa. Mẹ xuống câu lạc bộ mua mấy thứ lặt vặt. Những lần trước tôi đi theo. Bây giờ tôi ở lại phòng. Thỉnh thoảng đuổi giùm chị Huyền những con ruồi quỷ quái. Và nhìn trộm chị Thảo, người chị tôi mơ là của mình.
Lúc leo lên đầu giường, dựa lưng vào thành giường, tôi quay về phía giường chị Huyền. Tôi bắt gặp chị Thảo soi mặt trong mảnh gương đặt trên mặt chiếc tủ nhỏ ở đầu giường. Cái bao giấy đựng những cây nhang. Cái bao màu đỏ sẫm. Tò mò, hai con mắt tôi săm soi. Chị se miếng giấy đỏ, thấm nước bọt, xoa lên môi.
Một lúc sau chị cất tấm gương vào ngăn tủ, gấp cái bao gói nhang vào giữa cuốn sách, quay mặt ra khoảng sáng của căn phòng. Không gian rực sáng. Tiếng nhạc khuấy động căn phòng. Giọng đồng ca cất cao. Êm đềm, du dương. Tôi ngỡ ngàng nhìn chị.
Trong khoảng sáng của ánh nắng tạt xế trưa, đôi môi chị Thảo như hai trái ớt mọng chín đỏ.
Đúng lúc ấy, người mà tôi mong đợi vào tới. Anh thầy giáo Thành. Cái người vẫn gọi tôi là Chú bé. Anh bước qua khung cửa. Cặp mắt kính cận lấp lánh trong nắng. Hai tay ôm cái cặp da sát vào ngực. Anh sựng lại giữa lối đi. Anh nhìn chị Thảo đăm đăm. Rồi anh bước tới giường chị Huyền.
“Huyền có đỡ chút nào không?”
Chị Huyền rên nho nhỏ.
“Thảo khỏe không, em?”
Chị Thảo mỉm cười. Nụ cười đỏ tươi và cay nồng vị ớt chín.
Và anh thầy giáo xoay qua tôi, “Anh có cái này cho chú bé.”
Anh lôi từ trong cặp ra một cuốn vở và một cái bút nguyên tử, “Viết mỗi ngày cho khỏi quên chữ.”
18
“Thế Giới Bên Kia là gì hở mẹ?”
Sáng Chúa Nhật, trên đường từ nhà nguyện về trại bệnh, khi âm vang bài thánh ca còn đọng đầy trên tóc, tôi đem cái thắc mắc vùi sâu trong trí nhớ ra hỏi mẹ.
Mẹ nhìn tôi, cười. Mẹ vẫn cười khi không tìm ra câu trả lời.
“Chị Thảo bảo chỗ đấy đầy người chết.”
“Thì đấy.”
“Chị Thảo bảo người chết vô thừa nhận chôn đầy ở thế giới bên kia.” Tôi nói và níu tay mẹ, đứng sựng lại để thở. Tôi vẫn nhớ ba chữ vô thừa nhận. Mẹ vẫn bảo đi một ngày đàng học một sàng khôn. Mai mốt về nhà tha hồ lên mặt với con bé Phụng hàng xóm.
“Mẹ ơi, cái Phụng bây giờ chắc nó… cao lắm rồi nhỉ.” Tôi buột miệng phun ra cái điều mình nghĩ.
Mẹ nhìn tôi. Vài người bệnh đi qua mỉm cười với hai mẹ con tôi. Những người sống ở đây thường có nụ cười méo mó. Cười hay mếu nhiều khi thấy giống hệt nhau.
Mẹ khẽ kéo tay tôi, “Thở được chưa?”
Tôi gật đầu. Hai mẹ con lại tiếp tục đếm bước trên cái hành lang lót gạch bông dài hun hút. Lối về quen thuộc. Bên trái là những khung cửa dẫn vào những phòng bệnh, bên phải là rừng cây um tùm cành lá. Bên trái là thế giới người bệnh, bên phải là Thế Giới Bên Kia, như lời chị Thảo nói.
“Con nhớ nó à?” Mẹ bỗng hỏi.
Tôi giật mình. “Đâu có.”
“Con giai thích nó phải không nào?” Giọng mẹ nửa reo vui, nửa hờn trách. Tôi nhận ra điều đó. Chỉ mình tôi nhận ra điều đó. Bởi tôi là người chuyện trò với mẹ nhiều nhất.
“Phải không?”
Mặt tôi bừng nóng. Hai tai ong ong như hơ lửa. Tôi thấy con bé Phụng nhí nhảnh lắc đầu. Đuôi tóc buộc dây thun lúc lắc hai bên vai.
“Đâu có!”
“Cao thì cũng bằng con thôi.”
“Nó bảo con đi lâu, lúc về nó sẽ cao hơn con.”
“Làm gì có. Thế nào con cũng cao hơn nó.”
“Con sợ nó cao hơn con.”
“Thì sao?”
“Nó không chơi với con nữa.”
“Thì đã có đứa khác.”
“Con không thích đứa khác.”
“Vậy con thích nó à?”
“Đâu có.”
“Mẹ nó dữ lắm đấy.”
Tôi im lặng. Mẹ bồi thêm, “Mẹ nó dữ như con mẹ ranh!”
Tôi không thích ai nói về mẹ con bé Phụng như thế. Nhưng là mẹ nói, nên tôi im. Câu chuyện về Phụng đến đây là hết. Mẹ nói đúng. Mẹ con bé Phụng dữ nhất xóm. Dữ nhất làng không biết chừng. Thầy giáo Quỳnh chỉ nói đùa trong lớp có một câu mà khi nghe thằng con kể lại, bà ấy chửi vang cả xóm. Thầy bảo thằng Đức ngố giống mẹ. Con trai giống mẹ thì lụn xụn cả đời. Mẹ thằng Đức chửi thầy Quỳnh đúng ba ngày. Mỗi ngày mấy tiếng đồng hồ. Mẹ thằng Đức cũng là mẹ con bé Phụng. Mẹ con bé Phụng dữ như con mẹ ranh. Tôi thích con bé Phụng hơn bất kỳ đứa bạn nào. Tôi thích nghe Phụng hát Mưa Rừng. Nhưng tôi không thích Phụng lớn lên thành ca sĩ, đi hát ở Sài Gòn. Tôi muốn giữ Phụng mãi ở cái làng nhỏ bé nhưng mênh mông trong đôi mắt những đứa trẻ lên bảy lên tám.
Hai mẹ con lặng thinh. Cái hành lang dài. Từ nhà nguyện về phòng, tôi phải ngừng lại hai ba lần để thở. Vòng tay ai đó siết chặt lồng ngực. Bàn tay ai đó bóp chặt hai cánh mũi. Tôi hì hạch đếm bước. Gian nan như đang leo dốc núi.
Vừa vào đến cửa, mắt tôi đã lóa lên vì hình ảnh vừa trông thấy. Anh thầy giáo đến từ lúc nào. Anh đang lúi húi ở góc phòng, phía cuối giường chị Huyền. Một hang đá nhỏ nằm trên mặt tủ, phía sau là cây thông nhỏ buông rủ những dây kim tuyến lấp lánh. Tôi bước như chạy tới cái góc huyền diệu của căn phòng.
“Chào chú bé. Chú bé lại xem hang đá anh làm cho chị Huyền này.” Giọng anh giáo Thành tở mở.
Chị Thảo ngồi trên chiếc ghế mượn từ phòng thử máu, mắt dán vào cuốn sách có hình cô gái có lông mi cong và dài ở bìa.
Tôi nhìn đăm đăm những pho tượng bé như những ngón tay trong lòng hang. Miệng mở nhưng không thốt ra lời. Tôi nheo mắt cố đọc hàng chữ trên khung giấy giăng ngang nóc hang. Vinh Danh Thiên Chúa Trên Trời. Kinh nguyện quen thuộc. Không cần nhìn hết câu tôi cũng đọc được làu làu. Bình an dưới thế cho người thiện tâm.
“Thích không, cu Vũ?” Chị Huyền thì thầm.
Tôi lúng túng gật đầu. Rồi sực nhớ chị Huyền không thể quay qua để thấy tôi gật đầu.
“Thích ạ.” Tôi nói, hít một hơi dài.
Mẹ cũng bước qua ngắm nghía cái hang đá bé nhỏ, “Đẹp quá, thầy giáo ạ.”
Anh thầy giáo cười. Ánh mắt lấp lánh sau cặp kính cận thị.
Tôi bước lại gần, đưa tay mó máy tảng đá bằng giấy bồi. Những Giáng Sinh trước bố cũng hay làm hang đá bằng giấy bồi. Hang đá của bố có đèn chớp nhấp nháy. Không khác gì những vì sao lấp lánh trong đêm. Bố còn xé bông gòn thả xuống để làm tuyết. Năm nay bố phải đi hành quân ngay mùa Giáng Sinh, còn tôi với mẹ thì ở nơi này. Phòng bệnh ở cuối dãy. Với chị Huyền có hai chân gẫy nát vì xe vận tải đụng phải. Với bà Gái; cái bà có khuôn mặt nhăn nheo mà mỗi ngày y tá phải cho thuốc thật mạnh để bà ngủ cho khỏi đau. Với thằng bé vừa chập chững biết đi, ngã vồ vào chảo mỡ đang sôi, chỉ ghé tạm phòng này đúng hai ngày rồi chuyển xuống nhà xác. Căn phòng ở cuối dãy. Trại bệnh không tên gọi. Nơi người ốm nằm chờ, chờ hết hay chờ chết, như lời ông bác sĩ nói với cô y tá hôm nào mà tôi tình cờ nghe được.
Tôi đứng ngây ra đó. Tôi muốn sờ vào những tượng thánh bé nhỏ kia. Chúa Hài Đồng nằm trong máng cỏ, nụ cười trên môi, hai tay rộng mở. Tôi muốn chạm vào vạt áo xanh của Đức Mẹ. Tôi muốn chạm vào râu của thánh Giu-Se. Tôi muốn vuốt ve những con chiên, những con bò nằm thở hơi ấm máng cỏ. Tôi muốn hỏi Ba Vua trên đường đi tới hang đá Bê Lem, có gặp bố tôi ba lô trên vai, ống chích và bông băng trong tay, giầy đinh lún sâu trong bùn đất; có thấy bố tôi hì hạch cùng người lính khác khiêng cái băng ca có thân người tươm máu về nơi trú ẩn hay không. Tôi muốn hỏi những Thiên Thần bay lượn trên vách hang chừng nào tôi hết sưng phù, chừng nào tôi không còn khó thở, chừng nào chân tay tôi thon gọn lại, chừng nào tôi không còn phải uống chín viên thuốc mỗi ngày, không phải vạch mông ra, nhắm mắt, cắn răng chờ mũi kim đâm vào da thịt, nghiến răng nén cơn khóc, chờ chất thuốc nước ong óng vàng luồn xuống hai đùi, tê điếng bắp chân và xoáy mềm sống lưng. Những mũi chích làm tê liệt đôi chân cả tuần lễ. Tôi muốn hỏi đám mục đồng có biết khi nào thì tôi không còn phải kiêng ăn mặn.
“Sắp tới giờ cơm nữa rồi.” Giọng nói của mẹ.
“Hôm nay chắc cho ăn ngon mừng lễ.” Anh thầy giáo nói.
Tôi nghĩ đến miếng thịt heo vuông. Nửa mỡ trắng đục, nửa nạc nâu thẫm. Những miếng thịt tôi không bao giờ được ăn. Tôi nghĩ đến miếng kẹo lạc ăn tráng miệng. Tôi nghĩ đến bát cơm trắng ngả vàng. Tôi hít hà cái mùi khê của cơm cháy. Bát cơm chan nước lạnh. Mỗi lần lĩnh cơm về, mẹ luôn phải giấu vội miếng thịt heo kho vuông vức. Nửa mỡ trắng, nửa nạc nâu. Những miếng thịt heo kho làm tôi nước miếng ngập đầy trong miệng.
Tôi muốn hỏi nhỏ Chúa Hài Đồng bao giờ con mới được ăn miếng thịt heo kho của nhà thương.
19
Đây là nhật ký của Vũ. Không ai được xem. Vũ viết mấy chữ này thật to để ai cũng nhìn ra ngay. Phải viết thật to bởi vì nhật ký là chuyện riêng. Viết chữ to người ta dễ đọc hơn. Đọc xong thì biết mà ngừng lại. Chị Thảo bảo thế. Cuốn vở này anh thầy giáo Thành cho Vũ. Hôm bố đưa Vũ đi khám bệnh, Vũ quên mang theo giấy bút. Vũ cứ tưởng khám xong rồi về. Anh Thành bảo viết cho đừng quên chữ. Anh còn cho Vũ cái bút nguyên tử, không phải chấm mực. Chấm mực mất công lắm. Phải mang theo lọ mực. Phải vặn nắp thật chặt. Vũ bị đổ mực mấy lần rồi. Loang ra cả áo sơ mi. Mẹ giặt hoài không hết. Vũ còn bị thầy giáo Quỳnh mắng là cẩu thả. Viết bút mực thường bị mực dính ra tay trông bẩn thỉu. Và cũng lại hay bị thầy giáo Quỳnh mắng là cẩu thả. Mấy đứa ngồi chung bàn hay chấm vào lọ mực của Vũ mỗi khi chúng nó quên lọ mực của chúng nó ở nhà. Viết bút mực thì phải đi mua mực. Mẹ thường ra Phố Giữa, mua ở tiệm tạp hóa. Những cục mực óng ánh màu tím than. Phải gói thật kỹ trong giấy khô không thôi chúng nó mềm ra là hỏng hết. Mỏi tay rồi. Nghỉ một tí vậy.
Bây giờ Vũ viết tiếp đây. Đây là nhật ký của Vũ. Không ai được xem đâu. Nếu lỡ đọc đến đây thì phải dừng lại ngay. Chị Thảo bảo đọc nhật ký của người khác là bất lịch sự. Vũ thích ba chữ này. Bất lịch sự. Mai kia về nhà Vũ sẽ nói cho thằng Đức ngố biết là nó bất lịch sự lắm. Vũ chưa quên chuyện đốt sân cỏ sau trường học đâu. Vũ bị đuổi học hai tuần. Mấy hôm ấy mẹ buồn quá đi thôi. Vũ bảo Vũ không đốt nhưng không ai tin. Bố hỏi tại sao con phải cắn nhánh cỏ cho nó ngắn lại thế. Vũ bảo con sợ nó mọc dài ra là con sẽ bị oan. Bố lắc đầu. Mẹ không lắc đầu. Mẹ Vũ ít khi lắc đầu lắm. Mẹ đặt tay lên vai Vũ. Mẹ bảo ở nhà nhớ lấy bài ra học cho khỏi quên chữ. Tại sao người lớn hay sợ trẻ con quên chữ Vũ cũng không biết nữa. Thôi rồi, Vũ lại mỏi tay rồi. Phải nghỉ một tí thôi.
Bây giờ Vũ viết tiếp đây. Đây là nhật ký của Vũ. Không ai được xem đâu nhá. Nếu lỡ đọc đến đây phải dừng lại ngay. Nếu không dừng lại thì… thì sao nhỉ. Vũ nhớ cái bảng trắng, có hàng chữ đỏ ngoài hàng rào trại lính. Khu Quân Sự. Cấm Vào. Binh Sĩ Sẽ Nổ Súng. Vũ muốn có câu nào cứng rắn như thế để người nào đọc đến đây thì không đọc nữa. Đọc nhật ký của người khác là bất lịch sự. Chị Thảo đã bảo thế. Lại mỏi tay nữa rồi. Lại còn tê ngón tay nữa. Ngón tay Vũ bây giờ to hơn cả ngón tay chị Thảo, anh giáo Thành và chị Huyền nữa. Mỏi quá. Nghỉ tí vậy.
Vũ viết tiếp đây. Đây là nhật ký của Vũ. Viết trong phòng 10 khu D trên giường số 3. Chị Thảo dặn phải viết rõ mình đang ở đâu. Phải viết rõ mình đang làm gì mới gọi là nhật ký. Quên, Vũ phải viết câu này đã: đây là nhật ký của Vũ. Không ai được xem hết. Nếu lỡ đọc đến đây thì phải ngừng lại ngay. Nếu không… Thôi, chẳng đe dọa làm gì. Đe dọa người bất lịch sự chẳng ra làm sao hết. Hôm nay Vũ bị chích mông. Đau lắm. Cô y tá Liên cứ bảo ngoan nhé, ngoan nhé cu Vũ của cô. Ngoan rồi cô thương. Cô y tá Liên nói ngọt. Mẹ bảo thế. Nói ngọt nhưng chích đau gần chết. Ngày nào cô cũng đem ống chích xuống tìm Vũ. Phòng bệnh bé tí ti, chẳng trốn chỗ nào được. Hôm nay chích mông bên phải. Ngày mai chích mông bên trái. Chỗ thịt bị kim đâm cứng lại. Vũ thích cô y tá Liên nhưng chả thích cái ống chích tí nào. Đau muốn chết. Thà cho Vũ uống thuốc của ông thầy lang còn hơn. Thuốc đắng nhưng Vũ đã có cái gầm giường che chở. Ngày nào cũng đổ thuốc xuống gầm giường. Mẹ chưa biết đâu. Ờ mà nhỡ mẹ đọc được nhật ký của Vũ thì mẹ sẽ biết. Mà mẹ biết thì sao nhỉ. Vũ chịu, chẳng đoán ra đâu. Từ sáng đến giờ mẹ đi giặt quần áo ngoài vòi nước đầu hành lang. Mẹ giặt cả chăn màn giùm cho bà Gái. Cả khăn đắp cho chị Huyền. Vũ một mình trong phòng bệnh. Bà Gái ngáy ro ro. Chị Huyền khụt khịt. Chị bị cảm, sổ mũi. Mỗi lần hắt hơi là một lần rên rỉ kêu đau. Nghỉ một tí. Ngón tay tê tê. Giống như có kiến bò.
Đây là nhật ký của Vũ. Không ai được xem hết. Nếu lỡ đọc đến đây phải ngừng ngay lại. Vũ viết để khỏi quên chữ. Vũ viết không phải cho ai đọc hết. Hôm qua Vũ hỏi chị Thảo nhật ký của Vũ ai sẽ được đọc. Chị bảo mai mốt bố mẹ Vũ đọc. Vũ hỏi thế còn Vũ thì sao, Vũ không đọc được à. Chị nhìn Vũ, chẳng nói năng gì. Chị còn chớp mắt, ra vẻ buồn. Chị giống cô gái trong bìa cuốn sách chị thường đọc. Chị Thảo bảo phải kể ra những điều mình muốn nói mà không nói được. Thì kể đây. Trước tiên là chuyện đốt sân cỏ. Vũ không phải thủ phạm. Thầy Quỳnh nhất định Vũ là thủ phạm. Thầy bảo nó sợ nhánh cỏ mọc dài ra nên nó cắn bớt đi. Thì đúng. Vũ sợ nó mọc dài ra thật. Mấy cây non ngâm nước ít lâu bao giờ cũng mọc dài ra, nói gì nhánh cỏ thần. Nhưng chuyện này mới to này. Vũ biết ai là thủ phạm đốt sân cỏ sau trường. Nhất định Vũ sẽ nói ra. Sau hôm cả lớp bị quỳ, ngậm cỏ thần trong miệng. À quên, con trai mới bị quỳ. Thầy cưng con gái, chả bắt đứa nào quỳ hết. Cả lớp được tha về, Vũ phải ở lại trường. Vũ bị giam. Khi về, gặp ngay thằng Đức ngố. Cái thằng giống mẹ lụn xụn cả đời ấy mà. Nó đưa cho Vũ xem hộp diêm. Nó bảo nó nhặt được trong bãi cỏ. Nó bảo nó thử bật một que. Lửa bùng cháy, nó hoảng hồn quăng xuống cỏ. Nó hỏi Vũ có muốn lấy bao diêm ấy không. Vũ muốn đấm nó vỡ mặt. Nhưng Vũ không dám. Nó là anh của con bé Phụng. Phụng hay hát cho cả lớp nghe. Mưa rừng ơi mưa rừng. Hạt mưa nhớ ai mưa triền miên. Thằng Đức ngố bị ở lại lớp hai năm liền. Thành ra nó chung lớp với Vũ. Cái thằng lụn xụn cả đời ấy đấy. Đau tay quá. Nghỉ thôi. Chiều sẽ tiếp tục viết.
Viết nhật ký thích thật. Cứ như đang cãi nhau với thằng Đức ngố. Cứ như đang nói chuyện với chị Thảo, anh Thành. Cứ như đang nghe cô y tá Liên dụ dỗ: Cu Vũ ngoan rồi cô thương. Lại quên nữa rồi. Đây là nhật ký của Vũ. Không ai được đọc hết. Nếu lỡ đọc đến đây thì phải ngưng ngay. Cố tình đọc sẽ bị Chúa phạt đấy. Viết như thế là đúng nhất. Người lớn ai cũng sợ tội. Người lớn ai cũng sợ xuống hỏa ngục. Người lớn chẳng ai muốn sang thế giới bên kia. Hôm qua phòng bệnh có thêm người. Thằng bé lên năm, lên sáu. Vũ chưa biết tên nó. Chỉ biết nhà nó có cây trứng cá sai quả. Nó nhặt quả trứng cá rụng ngoài sân ăn hết ngày này qua ngày khác. Trứng cá bám vào ruột. Phải vào bệnh viện. Bà nội nó kể vậy. Nó cứ khóc lè nhè. Có viên thuốc Ti-phô-mi-xin hình con nhộng, nó không nuốt được, bà nội tháo ra, đổ bột thuốc vào ly nước cho nó uống. Nó phun phè phè. Bà nội nó lấy tay hấng. Thuốc với nước bọt trào ra tay bà nội. Bà nội bỏ vào ly. Bắt nó uống. Cả phòng ai cũng nhìn. Chỉ một mình chị Huyền không nhìn được. Lúc nào chị cũng nhìn lên trần nhà. Chị rên nho nhỏ. Bà nội đổ thuốc pha với nước bọt vào miệng thằng bé. Bà nội vật nó xuống giường, gác chân lên ngực nó, bịt mũi nó, đổ ly thuốc pha nước bọt vào miệng nó. Nó ngậm chặt miệng. Rồi nó há hốc ra thở. Thuốc văng khắp cả phòng. Hơi chóng mặt rồi. Nghỉ một tí tị đã.
Đây là nhật ký của Vũ. Không ai được xem đâu đấy. Nếu lỡ đọc đến đây thì phải biết ngừng ngay lại. Không thì sẽ bất lịch sự lắm cơ đấy. Hôm trước bố vào thăm có tí ti. Bố bảo phải về chỗ làm. Sắp phải đi hành quân mãi chỗ nào gọi là Sơn Sơn gì đấy. Cố nghĩ vỡ cả đầu. Bồng Sơn. Đúng rồi. Bố đi hành quân tận Bồng Sơn. Hai tuần về một lần. Bố làm y tá. Băng bó, rửa vết thương, tiêm thuốc, khiêng thương bệnh binh. Vũ nhẩm đi nhẩm lại mấy chữ thương bệnh binh. Nghe hay hay nhưng buồn. Bố bảo binh là chú lính. Thương bệnh binh là chú lính bị thương hay bị bệnh. Nhưng như vậy nghe không hay. Vũ thích thương chỉ là thương thôi. Như Vũ thương mẹ, thương bố, thương chị Huyền, thương chị Thảo, thương anh thầy giáo Thành chứ đừng là “bị thương”. Thương chú lính bị bệnh. Lại tê tay nữa rồi. Mẹ bảo ăn nhạt sẽ hết sưng phù và hết tê tay mà sao vẫn còn tê. Vũ ăn nhạt từ lâu lắm rồi. Vũ ghét ăn nhạt nhất thế gian. Á, đau tay quá thể.
Đây là nhật ký của Vũ. Không ai được đọc hết. Nếu lỡ xem đến đây phải ngưng ngay lại để khỏi là người bât lịch sự. Mấy hôm nay anh giáo Thành không đến. Bố cũng không đến được. Mẹ bảo bố phải đi hành quân. Hai tuần về một lần. Biết nên Vũ không mong. Còn anh Thành thì Vũ mong. Cả chị Thảo nữa. Anh Thành kể chuyện. Chị Thảo dạy Vũ chữ mới. Cả chữ nhật ký cũng là nhờ chị Thảo dạy. Chị bảo nhật là ngày, ký là viết. Viết mỗi ngày là nhật ký. Viết cho khỏi quên chữ. Ờ bây giờ viết gì nhỉ. Đúng rồi. Chuyện đốt sân cỏ sau trường học. Mai mốt hết bệnh, về nhà, Vũ sẽ nói hết cho mọi người. Vũ sẽ kể cho thầy giáo Quỳnh nghe rằng thằng Đức ngố nghịch bao diêm, làm cháy sân cỏ. Vũ không thích mách lẻo nhưng Vũ bị oan đã lâu rồi. Thôi chết, cô y tá Liên đến kia rồi.
Ác quá đi thôi. Người nào chế ra thuốc chích. Cả cái người nghĩ ra việc bơm thuốc vào người trẻ con cũng ác. Đau quá chừng chừng. Nghiến răng chịu đau mà vẫn đau. Cố không khóc nhưng rồi cũng bật khóc. Thằng bé ăn trứng cá trố mắt nhìn. Nhìn cái gì hở thằng ranh con. Định nói với nó lại thôi. Bà nội nó cũng nhìn trừng trừng. Bà nội để cháu ăn trứng cá ngày này qua ngày khác. Vũ không thích hai người này. Lúc đầu Vũ cũng không thích bà Gái. Bà ấy hay châm chọc. Mày cũng lụn xụn Vũ ạ. Mày không lụn xụn thì ai mới lụn xụn. Bây giờ bà Gái thôi châm chọc. Thuốc làm bà ấy ngủ li bì. Vũ thích nhà chị Huyền. Cả nhà luôn. Luôn cả anh Thành. Dù anh ấy là người ngoài. Anh ấy là con rể tương lai. Anh ấy muốn lấy chị Huyền làm vợ. Mỗi lần không có bà Khúc, anh Thành cứ đứng sát giường chị Huyền mà xì xào. Lại còn cầm tay chị Huyền nữa. Vũ liếc thấy hoài. Hôm trước bà Khúc la ầm ĩ Con Thảo sao mày để thằng Thành một mình với chị mày vậy. Khi nào có bà Khúc ở đây thì anh đứng thật xa, sát vách tường. Và chẳng nói gì hết. Có bà Khúc, anh Thành hay rủ Vũ ra hành lang, ngồi trên thềm. Kể chuyện ngoài kia. Hồi sáng chị Thảo bảo phải ghi ngày tháng năm trong nhật ký. Chả biết hôm nay là thứ mấy. Thì khỏi ghi cũng được. Thôi chết. Quên ghi cái câu quan trọng. Đây là nhật ký của Vũ. Không ai được đọc hết. Nếu lỡ đọc đến đây thì phải ngưng ngay lại.
(Còn tiếp)