Trang chính » Sáng Tác, Tiểu thuyết Email bài này

lời nguyền ở thế giới bên kia (phần 2)

0 bình luận ♦ 30.08.2023
Truyện HOÀNG CHÍNH Lời Nguyền Ở Thế Giới Bên Kia (Phần 2) DM

Thời gian là của những năm 60 thế kỷ trước, không gian là một thành phố nhỏ miền Trung nước Việt. Câu chuyện xảy ra dưới mắt nhìn một đứa bé chưa tròn tám tuổi. Với những bước trẻ thơ nhập nhằng giữa hai thế giới: Bên Này và Bên Kia, khi đứa bé ấy lỡ dan díu với một “Lời Nguyền”. Xin trân trọng gửi tới bạn đọc phần 2 của truyện dài “Lời Nguyền Ở Thế Giới Bên Kia” của Hoàng Chính.

5

Tối mịt cha xứ mới đến. Trong bóng tối nhá nhem, bố cầm ngọn đèn dầu đi trước, cha xứ đi sau. Lầm lũi trong bóng đêm. Hai bóng người mập mờ thấp thoáng băng cánh đồng cỏ dại mọc ngang đầu gối, len lỏi trên những con đường mòn quanh co viền bờ những ao, đầm mặt nước lấp lánh những đốm sao mờ lung linh ẩn hiện. Chỗ này có vũng nước, cha bước cẩn thận. Chỗ này có rễ cây mọc chìa, cha cẩn thận không lại vấp. Vừa hì hạch đếm bước, bố vừa quay đầu lại nhắc. Hai người vào tới khu xóm, bọn chó bắt đầu sủa vang. Cha xứ tới thì trời cũng tối mịt. Con Cộc hộc lên một tiếng rồi lặng im.

Mẹ rụt rè bên cửa, “Con lạy cha ạ.”

Tôi ngỏng cổ ngóng ra. Cha xứ cao hơn bố. Cái bóng của cha xứ cũng cao hơn cái bóng của bố. Ngọn đèn dầu trên bàn hắt hai cái bóng lại gần nhau. Hai cái bóng cao lêu nghêu trên vách liếp. Bố dẫn cha xứ lại cái bàn ở giữa gian nhà. Cha để cái bọc vuông vức bọc vải tím lên mặt bàn. Cha quay đầu nhìn quanh. Cha nhìn tượng Đức Mẹ trên bàn thờ. Cha nhìn cây Thánh Giá vươn cao sau lưng Đức Mẹ. Tia nhìn của cha dừng lại ở thằng bé chùm chăn chỉ hở cái đầu và hai con mắt đen.

“Con lạy cha ạ.” Thằng bé tôi lí nhí.

“Con thế nào rồi?” Cha xứ hỏi. Giọng trầm quen thuộc. Giọng cầu kinh trong thánh lễ mỗi buổi sáng tinh mơ. Giọng chúc lành mỗi khi tan lễ. Lễ xong, chúc anh chị em ra về bình an!

“Thưa với cha xứ đi con.” Bố nhắc.

Tôi ậm ừ, “Con… con…”

Cha xứ bước lại bên giường. Mẹ kéo vội cái ghế đẩu lại cạnh giường. Cha ngồi xuống ghế, lật mép chăn, tìm bàn tay tôi. Cha cầm lấy bàn tay bụ bẫm. Cha xoa nhẹ lòng bàn tay căng tròn ấy. Tay cha lạnh. Chắc tại cha mới băng cánh đồng giữa trời đêm.

“Chúa và Đức Mẹ phù hộ cho con.” Cha nói.

Mẹ với bố khoanh tay đứng cạnh giường. Lặng im.

“Con muốn chuyện trò với Chúa phải không nào?” Cha nói.

“Con muốn xưng tội, con muốn rước mình thánh Chúa…” Tôi nói nhanh, bởi tôi sợ mình sẽ không lấy đâu ra hơi để nói tiếp nếu tôi ngừng lại để thở.

Bàn tay cha xứ đặt lên trán thằng bé.

“Vậy thì con xưng tội nhé. Chúa sẽ tha thứ cho con.”

Tôi nhìn sợi dây màu tím vắt ngang vai cha xứ. Tôi nhìn chiếc cổ áo trắng ẩn dưới lớp vải áo sơ mi đen. Bây giờ tôi mới nhận ra cha xứ không mặc áo chùng thâm. Cha xứ mặc áo sơ mi đen và quần tây cũng màu đen thẫm. Chỉ nhận ra cha là linh mục qua cái viền cổ áo trắng và sợi dây áo lễ màu tím vắt ngang vai.

“Con xưng tội đi.” Cha nhắc.

Trí nhớ tôi bỗng dưng trải rộng như trang giấy cuốn vở tập viết. Những hình vẽ nguyệch ngoạc, những dòng chữ vòng vo, những giọt mực lấm lem. Tôi thấy mình ngoan ngoãn. Tôi thấy mình hư hỏng. Tôi thấy mình tử tế. Tôi thấy mình gian manh. Tờ giấy có đủ mọi sắc màu tôi trên ấy. Tôi thấy tôi nói dối mẹ. Tôi thấy tôi đánh lừa thằng bạn cùng lớp. Tôi thấy tôi có những ý nghĩ không hay về con bé hàng xóm. Và tôi thấy tôi lăng quăng trước hố sâu địa ngục có quỷ sứ và lửa nóng. Tôi thấy bao nhiêu lần tôi suýt trượt chân ngã xuống. Và tôi nhìn sợi dây áo lễ cha xứ vắt ngang vai. Tôi nhìn chăm chú hình thánh giá thêu vào hai đầu dây choàng.

“Con xưng tội đi.” Cha xứ nhắc.

Tôi nhìn bố. Tôi nhìn mẹ. Ánh đèn dầu soi rõ mắt bố, mắt mẹ chăm chú dán vào tôi.

“À,” cha xứ quay qua bố. “Ông bà lánh mặt một tí cho cháu xưng tội nhé.”

Bố mẹ kính cẩn gật đầu và rón rén bước ra sau nhà.

Bố mẹ đi rồi, tôi yên tâm xưng cái tội tày đình.

“Con đổ thuốc xuống gầm giường.”

Cha xứ ngạc nhiên. Tôi cố giải thích. Mỗi ngày, chờ mẹ xuống bếp, tôi vạch góc chiếu lên, đổ một phần tô thuốc bắc xuống gầm giường. Rồi nói dối mẹ con đã uống gần hết. Tội nói dối. Nghe xong câu nói dối, lần nào mắt mẹ cũng rạng rỡ. Nghe con nói đã uống gần hết tô thuốc bắc, mẹ lần nào cũng lên giọng reo vui, con giai giỏi quá. Cố mau hết bệnh, đi học lại chứ không thì thua chúng, thua bạn. Câu nói dối làm cho mẹ yên lòng, câu nói dối đem hy vọng đến cho mẹ. Câu nói dối ấy, Chúa có phạt con không?

“Chúa tha thứ cho con nhưng con đừng bao giờ nói dối nữa.”

“Con hết nói dối rồi.” Tôi báo tin vui.

“Ngoan.”

“Cha biết tại sao không?” Tôi mạnh dạn hỏi.

“Tại sao, kể cha nghe đi nào.”

Tôi lại tẩn mẩn kể chuyện ông thầy lang. Tôi kể chuyện những xác ve khô, những miếng cam thảo nhấm trong miệng thì ngọt mà sắc chung với những thứ lá cây rễ cây khác thì đắng ngắt. Tôi kể cả cái lần ông thầy lang bắt mạch cổ tay tôi, lâu lắc cả nửa tiếng đồng hồ rồi trầm ngâm lắc đầu. Và từ đó ông thầy lang không đến nữa. Bọc xác ve, cam thảo, lá khô, rễ vụn ông thầy để lại cũng sắp cạn. Không còn những tô thuốc đắng rã cổ họng, tôi sẽ không còn là thằng bé mang tội nói dối.

Tôi xưng tội xong, cha xứ gọi bố mẹ lại bên giường. Mẹ pha nước chè bưng lại cho cha, cha bảo để lên bàn cho ngài.

Tôi nằm nghiêng hết nhìn người này lại nhìn sang người kia. Rồi nhìn cái bóng của cả ba người. Bóng mẹ nhỏ nhắn, mỏng mềm. Ánh đèn kéo búi tóc mẹ lên cao, trông như trái lê chín tới. Cha xứ cao và gầy. Bố thấp hơn và cũng gầy. Làng tôi ai cũng gầy. Làng tôi người đàn ông nào cũng có trái táo thật to ở cổ, người đàn bà nào cũng có búi tóc thật tròn ở sau gáy. Tôi còn bé. Trái đất trong bài học địa lý còn hồng hoang. Đất rộng, người thưa, những thửa ruộng đi hoài không đến bờ, những sông rạch chảy hoài không cạn nước. Tôi còn bé, trái đất còn hồng hoang. Con người còn mông muội. Con người còn bị quấy nhiễu bởi bệnh tật. Con người phải rắc vôi quanh nhà để thần dịch không ghé chân vào xách nhiễu.

“Cha thấy cháu còn linh hoạt lắm…” Cha xứ nói, ngước nhìn bố.

“Cháu nó khao khát mấy hôm nay rồi, thưa cha…” Mẹ tôi nói, nhỏ nhẹ.

Đúng là tôi khao khát mấy hôm nay. Tôi thèm được xưng tội, được rước lễ và được xức dầu thánh để sẵn sàng về với Chúa. Trong giấc ngủ mấy hôm nay, tôi mơ thấy mình đi lạc và được thiên thần đến đón. Hai thiên thần dắt tay tôi, bay bổng lên cao, lẫn vào mây trời.

Ngần ngừ một lúc lâu rồi cha xứ mở cái hộp vuông trong túi vải tím ra. Cây thánh giá bạc lấp lánh ánh đèn. Chai dầu thánh. Cuốn kinh bìa đen có cạnh những trang giấy mạ vàng. Những câu kinh tiếng La Tinh rì rầm. Tôi nhắm mắt chờ. Ngón tay ấm áp của cha xứ vạch hình thánh giá trên trán. Tôi lắng nghe. Dường như bố đang khoanh tay rì rầm khấn nguyện. Dường như mẹ cũng đang khoanh tay, rì rầm khấn nguyện. Chỉ còn hai tháng nữa tôi lên tám tuổi. Nhưng chẳng còn bao lâu nữa tôi sẽ rời khỏi thế gian này.

Nhưng tôi sẽ chết lành.

Bố sẽ không phải đem tôi ra đồng, đặt tôi lên cái chõng tre, phủ vải trắng lên tôi, chờ an táng. Mẹ sẽ không mất cái chõng và tấm vải trắng mất bao công lao lặn lội lên thành phố tìm mua, bởi an táng xong, cái chõng tre sẽ phải đốt đi. Tấm vải phủ xác tôi cũng phải đốt thành tro. Tất cả áo quần giầy dép tôi đều phải đốt hết. Để thần dịch tả không còn níu kéo được bất cứ thứ gì.

Cũng may tôi không bị dịch tả.

Tôi sẽ chết nhưng không vì dịch tả. Tôi chết vì chứng bệnh quỷ quái nào đó mà ông thầy lang phải lắc đầu. Tôi chết vì người tôi căng phồng như cái bong bóng. Căng mãi, căng hoài, tới một lúc sẽ vỡ tung. Bong bóng vỡ tung, bố mẹ sẽ không phải đốt giường chiếu tôi nằm, sẽ không phải mua cái chõng tre, sẽ không phải mua tấm vải trắng.

Bỗng dưng tôi thèm được căng phồng thêm mãi, đến lúc nhẹ tênh như chiếc bong bóng bay. Tôi thèm bay cao, bay mãi, tan vào những đám mây hình con gấu, con voi, con chim, con cá.

Cha xứ xếp mọi thứ vào trong chiếc hộp thiếc vuông vức rồi đậy nắp lại và đặt vào trong túi vải. Cha cũng tháo sợi dây áo lễ màu tím, cuộn lại, để vào túi.

“Nhớ thêm lời cầu nguyện.” Cha dặn, trước khi bước qua khung cửa, chìm vào vũng tối.

6

Tiếng gọi khẽ như gió thoảng. Giọng con gái. Tôi nhướng mắt nhìn ra sân nắng. Con bé Phụng thập thò bên khung cửa. Con chó Cộc quấn quýt mời chào. Tôi mở hé mép chăn. Ánh sáng chói chang xoáy vào mắt. Tôi nhắm nghiền hai mắt. Con bé Phụng lại gọi, “Vũ ơi.” Tôi kéo chăn trùm kín mặt. Tôi co hai đầu gối lên sát bụng. Cái bụng căng tức khó chịu. Tôi nằm yên, giả bộ ngủ say. Con bé Phụng chắc biết tôi ốm đau. Biết tôi liệt giường và biết tôi không đang ngủ say. Nó rón rén bước qua bậc cửa. Tôi nghe tiếng guốc gõ nhẹ trên nền nhà. Tôi nghe tiếng chó nhà ai sủa vọng lại từ xóm ngoài. Tiếng rao hàng. Tiếng nói chuyện lao xao, quang gánh ai đó cót két đi qua trước ngõ.

Mép chăn lật lên. Ánh sáng lùa vào. Tôi cố rụt cổ thật sâu vào lồng ngực. Con mắt đen nhánh đang nhìn xuống tôi. Hai hạt nhãn tròn xoe. Hai mí mắt mở lớn. Cái miệng nhỏ xíu tròn vo.

“Chúa ơi, mặt Vũ bị gì thế?” Con bé nói. Giọng thảng thốt, hơi thở đứt quãng.

Tôi vội giằng lấy mép chăn, kéo lên che mặt, chỉ để hở hai con mắt.

Trong khoảng không gian rực sáng, hình ảnh Phụng – với tóc buộc sau vai bằng sợi dây thun – có đường viền hào quang lấp lánh. Áo sơ mi trắng. Quần tây xanh đặm. Con bạn học cùng lớp. Con bạn vẫn cùng tôi chơi nhà chòi.

“Sao Vũ không đi học? Vũ ốm à? Có sao không? Sao mặt Vũ to vậy?” Phụng hỏi dồn, hai tay che lấy miệng.

Tôi ú ớ lắc đầu. Cái bóng đứa con gái cũng vòng vòng quay theo.

“Mặt Vũ bị gì vậy?”

Tôi mím môi giấu câu trả lời.

“Mắt Vũ nhỏ tí.” Phụng lại nói.

Ừ thì tớ ti hí mắt lươn. Tớ là thằng bé mắt híp mà. Tôi nghĩ. Nhưng tôi không nói ra. Tôi chỉ chữa chạy vu vơ, “Vẫn vậy mà.”

“Mặt Vũ sưng to lắm kìa.” Giọng con bé suýt soa.

Lâu lắm tôi không thấy mặt tôi. Cái gương treo trên vách mẹ vẫn nhìn vào để chải đầu đã bị gỡ đi mất. Lâu lắm tôi không nhìn thấy tôi trong gương. Tôi nghĩ mặt mình không còn được như mọi khi. Tôi vẫn sờ làn da căng trên má. Tôi cảm thấy vướng víu khi cười, khi nói chuyện. Nhưng tôi không thấy mặt tôi. Mỗi ngày, nhìn chằm chặp một phần khuôn mặt mình trong tô thuốc bắc của ông thầy lang, tôi chỉ thấy hai con mắt đen trên mặt nước nhóng nhánh. Trong nhà chẳng thứ gì có thể dùng để soi. Cái muỗng bạc mẹ mua trong một phiên chợ tết năm xưa đã ố, không còn soi thấy mặt như dạo mới mua về vẫn dùng để tìm những vết nhọ trên mặt. Bỗng dưng tôi muốn biết mặt mình kỳ dị đến thế nào mà Phụng hốt hoảng khi nhìn thấy.

Phụng đưa một bàn tay ra trước, rụt rè chạm nhẹ lên má tôi, “Có đau không?”

Tôi nhắm mắt, lắc đầu. Tôi đã quen với cảnh vật xoay vòng mỗi khi lắc đầu. Và tôi phát hiện nhắm mắt lắc đầu thì trần nhà, bàn ghế, bố, mẹ, con Cộc không xoay vòng chung quanh.

“Má của Vũ cứng như vỏ quả xoài xanh.” Phụng nói, và rút tay lại.

Tôi mở hé hai mắt. Khung nắng viền quanh vóc dáng Phụng một vầng hào quang rực rỡ. Chỉ từ khi ốm đau, phải nằm lê lết như thế này, tôi mới có dịp nhận ra những vầng hào quang ánh nắng vạch lên những bóng người.

“Thầy giáo Quỳnh nhắc Vũ đấy.”

Tôi lặng thinh chờ.

“Thầy giáo Quỳnh hỏi sao Vũ nghỉ học.”

Không khí ép căng lồng ngực. Tôi hít thở khó khăn. Nhắc tới thầy giáo Quỳnh là tôi khó thở. Thầy giáo Quỳnh gai góc, khó khăn. Và vô cùng nghiêm khắc.

“Thầy giáo Quỳnh bảo nghỉ học hoài không được lên lớp.”

“Vũ ốm.”

“Phụng tưởng Vũ đi xa.”

“Vũ ốm.”

Con bé Phụng tần ngần đứng nhìn người bệnh. Tôi co quắp. Hai đầu gối co lên bụng, ép cái bụng căng tròn. Hơi thở phì phò, nặng nhọc. Tôi kéo ghì mép chăn, che bên má phinh phính. Tôi nhìn Phụng bằng hai con mắt ti hí. Bóng Phụng in đặm trong vùng sáng của khung cửa. Những sợi tóc lấp lánh ánh vàng. Hai bàn tay Phụng xoắn lấy nhau.

“Thôi, Phụng về nhé.”

Tôi không gật cũng không lắc đầu. Cái mặt căng phồng làm tôi mắc cỡ. Tôi nửa muốn Phụng ở chơi, nửa muốn Phụng về.

“Chóng khỏi nhé.”

Tôi chớp mắt.

“Phụng sẽ cầu Chúa cho Vũ chóng khỏi.”

Con bé cố cười trước khi quay lưng, guốc gỗ khua đều xuống bậc thềm, loãng tan ra đầu ngõ.

Tôi mở mép chăn, duỗi hai chân, phì phò hơi thở. Bản tin Phụng mang đến làm tôi lo lắng. Thầy giáo Quỳnh khó khăn. Chắc tôi sẽ phải ở lại lớp. Chắc tôi rồi sẽ học thua con bé Phụng một lớp. Con trai không chơi với con gái học cao hơn mình hoặc học giỏi hơn mình. Con trai không muốn con gái đi Sài Gòn thi tuyển lựa ca sĩ để nổi tiếng. Con trai càng không muốn đứa con gái mình quen làm ca sĩ và có nhiều con trai khác viết nhạc cho nó hát. Phụng bảo thầy Quỳnh hỏi sao Vũ không đi học. Cuối năm chắc thầy bắt tôi ở lại lớp. Tôi đã phải nhận vơ mình tám tuổi để được lớn hơn con bé Phụng một tuổi. Tôi không thể ốm đau mãi được. Tôi chợt hối hận vì đã đổ những bát thuốc mẹ sắc cả buổi xuống gầm giường. Cứ như vậy thành ra ốm đau hoài không khỏi.

Tôi nghĩ ngợi một mình. Bố đi công tác nửa tháng. Bố là y tá, bố theo những đơn vị đi hành quân nơi xa, nửa tháng mới về. Nhà còn hai mẹ con. Mẹ đi tìm vị thuốc hiếm từ sáng sớm. Chả biết có tìm được không. Mẹ bảo thuốc gia truyền phải gian nan lắm mới gặp được.

Tôi loay hoay chống tay ngồi dậy. Tôi nghĩ đến cái vại nước ở sau nhà. Cái vại đựng nước mưa chảy xuống từ ống máng. Vại nước chứa những con lăng quăng bơi lội tung tăng. Tôi thòng chân xuống cạnh giường. Cảm giác lâng lâng tràn lên óc. Tôi chống hai tay, bước xuống nền nhà. Thân thể vừa nặng trĩu vừa nhẹ tênh. Xỏ chân vào đôi dép Nhật, tôi chậm rãi bước ra sau nhà. Nắng chói lòa trước mắt. Cái vại sành nằm sát vách liếp. Cái gáo dừa khô queo có thanh tay cầm úp ngang trên mặt vại. Tôi chống tay trên vành vại, khom mình tới trước, tìm bóng mình trong vại nước. Bầu trời xanh và một cụm mây trắng. Tôi thấy những nhúm tóc lởm chởm. Tôi thấy cái khuôn tròn. Tôi nhắm mắt rồi mở mắt nhìn vào vại nước mưa. Lồng ngực tôi thắt lại. Khuôn mặt ai tròn vành vạnh như mặt ông Địa trong đoàn múa lân. Hai mắt ti hí. Cái miệng túm lại. Hai má căng đầy. Ông Địa vẫn cầm quạt mo quạt cho con kỳ lân trong đoàn múa mỗi dịp tết trung thu. Ông Địa trong vại nước nhìn tôi. Ông Địa nheo mắt, méo miệng để cố biến thành thằng Vũ chưa tròn tám tuổi. Ông Địa hỏi tìm ai thế hở thằng cu Vũ kia. Ông Địa cười híp hai mắt. Mặt ông Địa tròn quay. Hai mắt xếch lên như hai sợi chỉ. Cái miệng cũng là sợi chỉ vạch ngang. Cái mũi bé tí như dấu phẩy trên khung tròn chiếc bánh trung thu nhân đậu xanh. Ông Địa trong vại nước nháy mắt với tôi. Cụm mây trắng vướng trên vành tai. Ông Địa từ từ quay trong vại nước. Tôi chớp mắt, vội vã lết vào nhà.

Nắng đổ xuống, nặng trĩu hai vai.

7

Cái ống chích thủy tinh trong vắt. Ở đầu gắn mũi kim dài. Cô y tá mỉm cười. Nụ cười hiền giống nụ cười của mẹ nhưng cái ống chích thì đầy đe doạ như chiếc móc nhọn ở đuôi con bọ cạp.

“Chỉ như con kiến cắn ấy mà!” Cô y tá dỗ dành.

Tôi thụt lùi một bước, đứng sát vào mẹ. Tôi tìm chỗ che chở quen thuộc. Mẹ là chốn ấy. Tôi ấn lưng mình sát vào mẹ. Nhưng mẹ lại khẽ đẩy tôi ra. Hai tay mẹ đặt hờ trên vai tôi. Tôi chờ mẹ kéo tôi lại, đẩy tôi ra sau lưng. Mẹ che chắn phía trước. Ẩn trong bóng mẹ, tôi cảm thấy an toàn.

Nhưng mẹ khẽ đẩy tôi ra phía trước, “Không sao đâu con giai.”

Mẹ choàng một tay qua vai tôi, bàn tay đỡ lấy cánh tay tôi. Rồi những ngón tay viền quanh cánh tay tôi. Tay kia mẹ thong thả xăn tay áo tôi lên.

Cô y tá đứng chờ, vẫn nụ cười hiền trên môi. “Như con kiến cắn vậy mà.”

“Như con kiến cắn vậy mà.” Mẹ phụ hoạ.

Hôm nay Mẹ về phe người khác. Mẹ không còn che chở cho đứa con trai duy nhất của mình nữa rồi.

Tay áo sơ mi chật cứng. Mẹ vén mãi không lên. Tôi nhìn cô y tá. Cô y tá có đôi mắt tròn, những đường viền đen hai mí mắt. Một sợi chỉ máu mờ vạch phía dưới tròng trắng mắt trái. Tôi cố ngước nhìn mẹ. Tôi muốn thấy đôi mắt nâu hiền hậu của mẹ. Nhưng mẹ đứng phía sau. Và cổ tôi to bạnh như cổ rắn hổ mang khiến tôi không thể ngóng ra sau tìm đôi mắt mẹ.

“Ngoan nhé, con giai!”

Mẹ ngồi xuống cạnh giường. Thân người ôm gọn lấy tôi, bàn tay nắm chặt cánh tay tôi. Rồi tay áo cũng được vén lên, bó chắc lấy cánh tay tôi như cuộn chả giò.

Cô y tá chùi an côn lên khoảng trước khuỷu tay tôi. An côn mát lạnh da thịt.

Cái ống chích to kẹp giữa những ngón tay gầy guộc. Cái ống chích lập lờ trước mặt tôi. Tôi nghiêng đầu nhìn ra ngoài khung cửa. Ngoài ấy có nắng và chim chóc. Tôi nhớ những con chim sẻ lóc chóc nhảy nhót, rỉa lông ở hiên nhà.

Ngón tay cô y tá xoa nắn chỗ trũng khuỷu tay tôi. Tôi hồi hộp chờ con kiến cắn lên chỗ da thịt ấy. Tôi mong nó sẽ không là kiến càng. Nhìn hai cái ngàm trước đầu lũ kiến càng kẹp vào, nhả ra như chiếc kìm sắt là đã đủ hết hồn. Tôi cũng mong nó đừng là con kiến kim. Kiến kim nhỏ như mũi kim nhưng vết cắn của nó đau thấu trời xanh. Tôi bật nẩy người khi con kiến của cô y tá cắn nghiến vào cánh tay. Tôi rên lên nho nhỏ. Tôi cố làm mặt gan dạ, lì lợm. Tôi cố không hét vang phòng khám bệnh. Bố làm việc ở đây. Tôi không muốn làm bố mất mặt với mọi người.

Rồi chờ đợi. Tôi nín thở. Tôi nghe được tiếng thở chậm của cô y tá. Cả tiếng thở nhanh của mẹ.

“Xong rồi!” Cô y tá nói, tay ép miếng bông gòn thấm an côn lên chỗ kim đâm.

Tôi quay lại nhìn cái ống chích. Máu tôi đầy trong đó. Máu tôi đỏ tươi, đỏ hơn cả máu con vịt, con gà khi bị cắt tiết, đỏ hơn cả máu cam vẫn tuôn chảy từ hai lỗ mũi. Tôi lại nhìn cô y tá.

“Giỏi quá nhá, con giai.”

Cô y tá xoa đầu tôi rồi quay lưng bước đi. Mẹ đè chặt miếng bông gòn lên chỗ kim đâm ở cánh tay tôi.

“Giỏi quá!”

Mẹ lập lại lời khen quen thuộc. Dạo này bao nhiêu người khen tôi giỏi.

Tôi nghĩ đến những con kiến vẫn siêng năng tha mồi quanh cái tổ bên đầu hồi nhà. Những con kiến làm việc siêng năng không chê vào đâu được. Và bỗng dưng tôi nhớ ông thầy lang. Cái người áo dài vải the đen, lúc chuyện trò thì gọi đàn bà là cái mái, đàn ông là cái trống. Ông thầy lang bắt mạch, cho toa. Ông thầy lang không đâm kim vào người con bệnh. Ông thầy lang không làm tôi đau. Xác ve khô, lá mục, rễ cây khô không làm tôi nín thở, hồi hộp chờ con kiến ghim cái ngàm vào lớp da căng bóng.

Buổi sáng, bố cõng tôi vào bệnh xá. Mẹ lẽo đẽo khăn gói theo sau. Bố ghi tên tôi vào danh sách khám ngoại chẩn. Ông bác sĩ khám thật kỹ. Nghe tim, nghe phổi, nghe cả gan, cả ruột. Soi mắt, soi tai, soi mũi, soi họng. Ông bác sĩ nắn ngực, nắn bụng, nắn lưng, nắn đùi, nắn đầu gối, nắn cổ chân. Ông bảo tôi nói A thật to. Tới mức tôi bật ra cơn ho chát chúa. Rồi ông bác sĩ lại soi đèn vào mắt tôi. Ánh đèn chói loà hai con mắt. Ánh sáng chói đến mức biết bao lâu sau, nhìn mẹ, tôi chỉ thấy một chiếc bóng nhoè nhoẹt. Không biết bao lâu sau, tôi phải lần mò, bám vào những thành giường, những cạnh bàn để bước đi dù có mẹ dắt tay. Ông bác sĩ gõ búa lên hai đầu gối. Ông bảo lẽ ra nó phải bật lên như thế này này. Và ông ngồi trên ghế, thỏng chân xuống, gõ nhẹ vào đầu gối mình cho cẳng chân đá bật ra trước. Phải như thế mới tốt. Rồi ông nắn cổ chân tôi, bên này xong, tới bên kia. Ngón tay đã thôi nắn nhưng vết lõm còn hoài. Ông bác sĩ cau mày. Mẹ đứng chết lặng, hai tay ôm trước bụng. Bên cạnh mẹ, bố cũng thành pho tượng. Bố chăm chú đếm từng cái cau mày của ông bác sĩ. Mẹ nín thở chờ một câu phán quyết lạnh lùng.

Sau cùng, sự chờ đợi vỡ tung. Mẹ buột miệng hỏi, “Cháu có sao không, bác sĩ?”

Ông bác sĩ nhìn tôi. Tôi cũng nghểnh cổ chờ một câu trả lời. Ông bác sĩ gỡ cái ống nghe ở cổ, đặt lên bàn, rồi ngước nhìn bố. Rồi xoay qua mẹ.

“Phải chờ kết quả thử máu!” Ông nói, chậm rãi.

Mẹ thở hắt ra. Bố còng lưng đợi thêm lời giải thích. Nhưng ông bác sĩ đã đứng dậy. Vạt chiếc áo khoác trắng vướng vào cạnh bàn, để lộ ra hai ống quần vải lính và đôi giầy trận. Khoác cải ống nghe lên vai, ông bác sĩ xoa đầu tôi. Lúc này tôi được bao nhiêu người xoa đầu. Chắc ai cũng sợ tôi đau. Người tôi chỗ nào cũng căng phồng, rạn nứt. Không nhẹ tay, tôi sẽ nứt toác ra. Ruột gan tung tóe. Đầu tôi cứng, xoa không sợ đau, sợ lũng. Cố lên cháu nhé. Lời dặn dò ấm áp. Vâng, cháu sẽ cố. Dù chẳng biết phải cố chuyện gì.

Ông bác sĩ rời phòng khám. Tôi ngước lên nhìn mẹ. Mẹ xoay qua nhìn bố. Bố nhìn lên vách tường. Tia nhìn của bố dừng lại ở khoảng trống hình chữ nhật, nơi màu vôi còn mới, còn trắng muốt, như thể đó là chỗ khi trước có treo một khung hình và bây giờ đã bị tháo xuống. Rồi bố nhìn mẹ, nói nhỏ, “Thì chờ kết quả thử máu xem sao.”

Cô y tá dẫn chúng tôi ra phòng đợi. Tôi nằm trên chiếc giường sắt đặt ở góc phòng. Bố phải vào làm việc. Mẹ ngồi ở đầu giường, tẩn mẩn moi chiếc khăn len trong túi vải ra xếp lại. Tôi nheo mắt nhìn lên trần nhà. Những kèo những cột đan chéo vào nhau. Mái nhà xi măng cao chênh vênh. Những vạch chữ loang lổ trong lòng mái. Tôi nheo mắt cố đánh vần những chữ kỳ dị. Tôi đọc thành chữ Phụng, tên con bé hàng xóm. Tôi đọc thành chữ Đức, tên thằng bạn chậm trí khôn học mãi không thông bản cửu chương năm. Tôi đọc thành chữ Quỳnh, tên thầy giáo lớp tôi. Tôi thấy thằng Đức đọc bản cửu chương vấp lên vấp xuống làm thầy Quỳnh bực mình. Nhà thầy ở đầu xóm tôi, chỉ cách nhà thằng Đức vài căn. Thầy biết bố mẹ nó. Thằng Đức đọc cửu chương vấp lên vấp xuống làm thầy Quỳnh bực mình. Thầy bắt nó đứng trước lớp nghe thầy giảng luân lý. Thầy ngắm nghía nó từ đầu đến chân rồi thong thả đọc ca dao tục ngữ. Con gái giống cha giầu ba mươi đụn, con trai giống mẹ lụn xụn cả đời. Nó về kể với mẹ nó, mẹ nó chửi bóng chửi gió rền vang cả xóm.

Con có giống mẹ không? Tôi hỏi mẹ, sau khi nghe mẹ thằng Đức chửi xéo ngoài sân. Không, con giống bố như đúc. Mẹ quả quyết. Con cũng muốn giống mẹ nữa cơ. Tôi nhì nhằng. Giống bố là đủ rồi. Sau khi tạm yên lòng, tôi hỏi mẹ, Lụn xụn là gì hở mẹ? Mẹ cười. Mẹ không có câu trả lời. Nhưng tôi hình dung ra được lụn xụn là giống như thằng Đức ngố. Mẹ thằng Đức chửi vang khu xóm, con bé Phụng xấu hổ, trốn biệt trong nhà. Thằng Đức không biết xấu hổ. Vẫn nhong nhong đầu ngõ. Đức và Phụng anh em ruột mà khác nhau một trời một vực. Xóm giềng bảo con bé em đẻ bọc điều còn thằng anh là cái thứ đẻ ngược.

Tôi nằm trên chiếc giường sắt có miếng nệm mỏng teo, bên trên trải tấm ra trắng. Tôi nhìn lên trần nhà phòng khám ngoại chẩn. Tôi cố đọc những chữ trên những miếng tôn xi măng. Tôi thấy chữ Phụng. Tôi thấy cái bóng thấp thoáng con bạn học cùng lớp. Tôi thấy nó diện áo dài trắng. Chiếc áo dài có hai cái vạt ngắn ngủn. Nó đứng trước lớp, hát cho cả lớp nghe. Thầy giáo Quỳnh thích bảo nó hát. Bất cứ lễ lạc gì thầy cũng bảo nó lên hát. Bất cứ lễ lạc gì nó cũng chỉ hát đúng một bài. Mưa rừng ơi mưa rừng. Hạt mưa nhớ ai mưa triền miên, phải chăng mưa buồn vì tình đời. Thầy Quỳnh bảo mai kia con bé Phụng sẽ thành ca sĩ. Con bé Phụng sẽ vào Sài Gòn sống, sẽ thi tuyển lựa ca sĩ. Nó mà thi là chắc chắn đậu. Bao nhiêu nhạc sĩ sẽ tranh nhau viết nhạc cho nó hát. Nó sẽ không còn phải hát mỗi một bản Mưa Rừng. Tôi nằm trên tấm nệm mỏng phủ trên chiếc giường sắt trong phòng ngoại chẩn, nhìn tên Phụng viết trên trần nhà. Nhìn con bé đua đòi mặc áo dài cái vạt ngắn ngang đầu gối, coi buồn cười. Con bé Phụng mai kia vào Sài Gòn làm ca sĩ. Làm ca sĩ rồi liệu nó còn chơi với tôi không.

Vết chích ở cánh tay ri rỉ máu. Mẹ là người khám phá ra vệt máu loang ấy. Mẹ đang định chạy đi gọi y tá thì cô ta ra tới. “Bác sĩ cần nói chuyện với ông bà.”

Tôi ngểnh cổ, nhìn.

“Cháu cứ nằm đó, bác sĩ nói chuyện với bố mẹ một tí thôi.” Vừa nói cô y tá vừa xua tay.

Tôi chỉ chỗ kim chích, chỗ máu tươm ra đỏ loè.

“Để cô lấy băng dán cho cháu. Không sao đâu.”

Miếng băng keo dán trên miếng bông gòn. Chỗ đâm kim cứ ri rỉ máu. Máu thấm vào miếng bông. Màu đỏ loang loang. Tôi không dám nhìn hoài miếng bông gòn thấm máu. Tôi không muốn cái trần nhà quay quay làm rụng xuống những mẫu tự ghép thành tên của Phụng. Mai mốt Phụng vào Sài Gòn làm ca sĩ, nó có còn chơi với tôi không.

“Dậy đi con!” Bố vội vã đến đầu giường tôi. Mẹ tất tả theo sau, cái tay nải ôm cứng bên hông.

Tôi rời trần nhà, bỏ con bé Phụng, ngóc đầu lên nhìn.

“Mình đi thôi, con giai.” Bố nói. Rồi bố gỡ tấm bảng nhỏ gài ở đầu giường. Bố tháo rời những tờ giấy ra khỏi chiếc kẹp, móc tấm bảng lại đầu giường, cuộn tròn những tờ giấy, cầm chắc trong tay như sợ những tờ giấy ấy sẽ bay đi.

Mẹ đỡ tôi dậy, “Gài cúc áo vào, không khéo lại nhiễm gió độc.”

Mẹ rà những ngón tay kiểm tra lại tất cả những cúc chiếc áo tôi đang mặc.

Mẹ đỡ tôi ngồi dậy.

“Đi về chưa mẹ?” Tôi hỏi, lòng khấp khởi lo âu.

Mẹ loay hoay mở tay nải, lấy cái khăn ra quàng lên cổ tôi, quấn hai ba vòng.

“Đi về hở mẹ?” Tôi lại hỏi.

“Đi…” Mẹ toan nói, nhưng sựng ngay lại.

Bố sỏ đôi dép nhựa vào chân tôi, “Đi xa.”

“Xa là đâu hở bố.”

“Không phải đi xa. Mình đi… chơi xa.” Mẹ sửa câu trả lời của bố. Câu của bố đem lại âu lo. Câu của mẹ đem lại sự hứng thú, hồi hộp.

Tôi tròn mắt đợi. Mẹ nhìn bố. Bố nhìn tôi, nói nhỏ, “Mình lên tỉnh.”

Xứ sở quê mùa. Dân làng tôi quanh quẩn chân núi, cửa biển là đã hết chỗ để đi. Tôi đi mòn con đường cỏ dại từ nhà đến trường học mỗi ngày. Cũng con đường ấy, tôi đi lễ cầu kinh mỗi sáng. Bến xe ở ngoài phố chợ. Những người có dịp bước lên xe đò, lên tỉnh là những người văn minh hiếm có. Thầy giáo Quỳnh bảo thế. Tôi thích hai chữ “văn minh”. Xóm tôi chẳng có ai văn minh. Xóm tôi mò cua bắt ốc, hái rau muống ngoài ao. Dân xóm tôi chẳng ai biết việc “lên tỉnh” như thế nào.

“Bố phải làm việc không đi lên tỉnh với hai mẹ con được. Nhớ ngoan để chóng được về.” Bố dặn dò trước khi tấn hai mẹ con thật kỹ vào ghế chiếc xe quân đội che bạt dày màu ô liu, có hình chữ thập đỏ hai bên.

Mẹ chỉ kịp dặn bố nhớ ăn uống đàng hoàng tử tế là xe đã lăn bánh, tung bụi đỏ mịt mù phía sau.
Tôi ngơ ngác nhìn những hàng cây, những bóng người, những quang gánh, những xe cộ, những chó mèo, những gà vịt dạt nhanh về phía sau. Nỗi hoang mang mọc kín trong lòng.

8

Mẹ thay vội chiếc áo cánh màu xanh nhạt. Áo mặc lần đầu dù may đã mấy cái tết rồi. Mẹ có thói quen để dành. Thành ra cái áo lên ba nhưng vẫn là áo mới. Mẹ tất tả chạy sang nhà hàng xóm, Nhờ ông bà để ý giùm nhà em. Có con Cộc nhưng nó chỉ nằm bên bậc cửa, loan tin có người lạ đến nhà. Ông bà cho nó ăn giùm em. Bác hàng xóm nhận lời. Mẹ khép cửa lại. Luồn sợi dây thép qua khung cửa, buộc vài vòng cho yên tâm.

“Nhà có gì mà sợ mất.” Cõng tôi trên lưng, bố quay đầu lại nói.

“Thì cũng phải buộc lại cho kín đáo.” Mẹ nói.

Rồi mẹ chạy vòng ra sau nhà, lấy thùng vôi bột. Mẹ lấy cái ống bơ rỉ sét múc vôi rải đầy hai bên cửa. Mẹ bảo lẽ ra bố rắc thì tốt hơn, như người ta vẫn bảo phải là vôi tinh khiết và người rắc phải là đàn ông, nhưng quá cấp bách rồi, đàn ông đàn bà gì thì cũng vậy thôi. Vôi rắc càng nhiều, nhà cửa càng bình yên. Con yêu tinh dịch tả không dám bén mảng.

“Con nới tay ra một tí, làm bố nghẹt thở.” Bố vừa rảo bước trên đường đất gồ ghề vừa hì hạch nói. Mẹ lẽo đẽo theo sau, tay nải khoác trên vai. Tôi nới lỏng vòng tay, nhấp nhô trên lưng bố. Lâu lắm mới lại được bố cõng trên vai. Cái bụng căng tròn ép lên lưng bố làm tôi khó thở. Bố nhong nhong những bước thấp bước cao. Tôi lắc lư như con búp bê vải quăng quật dưới bàn tay đứa bé tinh nghịch.

Đường quê sần sượng. Những mô đất nhô cao từ ngày này qua ngày khác. Con đường tôi lê lết suốt những ngày tuổi thơ, con đường tôi thuộc hết những chỗ gồ ghề, những chỗ trũng, ngày mưa loang bóng mây trời. Con đường ngày hai buổi, cặp sách ôm trước bụng, tôi lếch thếch đến trường. Con đường hẹp hai người đi ngược chiều, sẽ phải có một người lách qua để nhường cho người kia đi trước. Con đường bò qua những ao, chuôm đầy hoa rau muống và hoa súng. Con đường có những con cào cào cánh tím vụt bay, lẫn vào những bụi cây hai bên đường. Con đường có lũ bướm chập chờn trên những cánh hoa dại. Con đường hai bên trải dài những khóm cây mắc cỡ đầy gai nhưng biết thẹn thùng, che mặt mỗi khi bị thứ gì chạm phải. Con đường tôi thuộc đến từng chỗ trũng, ngày mưa loang bóng mây trời.

Bố dẫn hai mẹ con tôi vào bệnh xá. Để hai mẹ con chờ ở phòng khám, bố về phòng làm việc. Tôi đánh vần những chữ nằm trên tấm bảng gài phía trên khung cửa. Phòng ngoại chẩn. Mùi an-côn nồng. Tôi nhìn bốn bức tường. Màu xám nhạt buồn bã. Tôi lẩm nhẩm đánh vần hàng chữ vuông vức. Phòng bệnh hơn chữa bệnh. Đầu và cuối hàng chữ là hai chữ thập đỏ. Một cạnh của chữ thập bị loang vệt sơn ra khỏi khung vuông. Tôi nhìn những chiếc giường sắt sơn trắng. Tôi đếm những chỗ sơn tróc lở. Cô y tá chạy ra chạy vào gọi tên người bệnh làm tôi quên con số. Tôi lại phải đếm từ đầu những chỗ sơn tróc lở. Có tổng cộng ba mươi hai vết tróc sơn trên năm chiếc giường. Ấy là tôi chỉ đếm được phía ngoài, nơi tôi có thể nhìn thấy từ chỗ ngồi trên chiếc giường của mình. Và cũng chưa tính những vết trầy sơn trên chiếc giường tôi đang chiếm ngự. Tôi tò mò dò dẫm những mặt người xanh xám trùm chăn đến cổ trên ba chiếc giường, và đứa bé khóc ngằn ngặt trong tay người đàn bà trên chiếc thứ tư. Phòng khám chỉ còn một giường trống. Cô y tá chạy ra chạy vào với cái ống chích và ống cặp thủy. Tôi kẹp ống thủy ở nách, chờ. Tôi bị đâm kim vào chỗ gập trước khuỷu tay để lấy máu. Tôi hết ngồi lại nằm. Mẹ kiên nhẫn ngồi bên giường, chốc chốc lại đặt tay lên trán tôi thăm nhiệt độ. Tôi thấy tôi lâng lâng, nhẹ nhàng. Rồi tôi thấy tôi nặng trĩu. Rồi tôi mắc tiểu. Mẹ dẫn tôi vào nhà vệ sinh. Mẹ đứng chờ ngoài cửa. Tôi vất vả tháo cúc quần. Tôi đứng dựa vách tường, nheo mũi đuổi cái mùi khai khai quen thuộc. Tôi vất vả gài cúc quần. Những ngón tay no tròn không làm tròn phận sự. Tôi lảo đảo ra khỏi nhà vệ sinh. Mẹ đứng chờ bên ngoài. Mẹ nhìn tôi từ đầu đến chân. Rồi mẹ ngồi thụp xuống, gài cúc quần cho tôi. Tôi xấu hổ nhìn quanh. Hành lang rộng. Tiếng người nói chuyện vang vang. Một người đàn ông khoác áo choàng trắng đi vụt qua, lùa cơn gió, muốn cuốn cả tôi đi. Tôi dựa lưng vào vách tường, nhìn xuống nền nhà. Nền xi măng xám đen không tráng lớp men bóng như nền nhà phòng khám. Cái nền sần sùi khiến tôi yên tâm bước đi, không sợ trượt chân.

Rồi bác sĩ khám bệnh. Ống nghe, búa gõ. Rồi chờ.

Và cuối cùng là câu nói lạnh băng, “Phải chuyển đi ngay.”

Tôi hỏi mẹ, “Mình đi đâu hở mẹ?”

“Đi…” mẹ ngập ngừng một lát, rồi nói thở ra. “Đi xa.”

Tôi không hỏi nữa. Tôi dựa vai mẹ, ngủ thiếp đi trên xe cứu thương trên đường lên tỉnh. Bánh xe nhảy nhót trên mặt đường gập ghềnh đánh thức tôi. Tôi hé mắt nhìn quanh. Những con đường thênh thang. Những xe đò chở khách vùn vụt lướt qua. Những nhà tôn, nhà ngói. Những nhà hai tầng, ba tầng. Những cây cột đá tròn màu ngà. Những dinh thự quét vôi màu xanh nhạt. Những cây cột đèn dây điện dăng dài hai bên phố. Chiếc cầu dài bắc qua sông. Những con đò lặng lờ trên sông. Những mái chèo đu đưa. Bao nhiêu thứ xôn xao trước hai con mắt ti hí của thằng bé chưa tròn tám tuổi. Thằng bé ấy là tôi. Bao giờ thằng bé ấy cũng vẫn là tôi. Bệnh tật nhưng no tròn, căng cứng.

Tôi hồi hộp lắng nghe quả tim mình lắc lư, va cả vào khung xương lồng ngực theo nhịp dằn xóc của bánh xe trên những thanh gỗ vắt ngang mặt đường lúc xe qua cầu.

Tôi ngóc đầu dậy, dụi mắt, ngơ ngác nhìn những nhịp cầu sắt đen đúa lớp lớp dạt về phía sau, “Sông gì đây hở mẹ?”

Mẹ nhúc nhích đổi thế ngồi, “Sông Hàn.”

Sông Hàn. Tôi sẽ cố nhớ cái tên ấy.

Xe vào thành phố. Những con đường có những đèn xanh xanh, đỏ đỏ ở ngã tư. Lần đầu tiên trong đời tôi thấy những chiếc xe đạp ba bánh, có người ngồi phía trước và người đạp xe ở sau. Lần đầu tôi thấy những xe gắn máy phun khói ra sau loang một quãng đường. Lần đầu tiên tôi thấy nhiều đàn bà mặc áo dài đi trên lề đường của thành phố. Lần đầu tiên tôi thấy những đứa bé – hình như – cũng bằng tuổi tôi, áo quần tươm tất, chân đi dép tay ôm cặp sách, đi túm tụm bên nhau trên lề đường thành phố. Lần đầu tiên tôi thấy những cửa tiệm viền hai bên đường phố. Tôi mở to hai con mắt híp, tiếp nhận tất cả những hình ảnh chưa một lần thấy trong đời. Tôi lẩm nhẩm cố đánh vần tất cả mọi chữ viết trên những tấm bảng treo trên cửa những cửa tiệm. Tôi thầm tiếc vì xe cứu thương chạy nhanh, khiến những chữ đua nhau trốn biệt trước khi tôi kịp nhận ra chúng.

Rồi cũng vơi bớt những con đường đông xe, những khu phố đầy bảng hiệu treo trước cửa, xe cứu thương rẽ sang con đường có đầy những cây cao hai bên. Qua chiếc cổng thênh thang. Tôi không kịp đọc hàng chữ trước cổng, chiếc xe đã ngừng ngay trước lối vào một căn phòng có hàng chữ “Phòng Nhận bệnh” phía trước.

Mẹ đỡ tôi xuống xe. Người tài xế mặc áo quần lính giống như bố cầm tập giấy, dẫn chúng tôi vào phòng đợi, chỉ cho chúng tôi ngồi ở hàng ghế đã có khá đông người chờ.

Nộp giấy tờ cho nhân viên xong, bác tài xế chào mẹ và xoa đầu tôi dặn dò, “Chóng khỏi bệnh cháu nhé.” Mẹ “Cháu cảm ơn bác” giùm tôi.

Tới bây giờ tôi mới hiểu rõ “đi xa” là đi đâu.

Và tôi tiếc đã không kịp chào thầy giáo Quỳnh, chào thằng Đức ngố, và đặc biệt là chào con bé Phụng ca sĩ tương lai của Sài Gòn.

Tôi nằm trên ghế chờ, gối đầu lên lên đùi mẹ, nhắm mắt cho mọi thứ ngừng quay.

Tôi nhớ.

Khung cửa. Đứa con gái lấp ló bên ngoài. Đứa con trai thập thò bên trong. Đứa con gái che miệng, tròn mặt kinh hãi. Đứa con trai vừa nép một nửa khuôn mặt sau khung gỗ, vừa đưa tay gãi má. Đi xa là đi đâu. Đứa con gái lập lại câu hỏi. Đi xa lắm. Không nói được đâu. Đứa con trai trả lời quấy quả. Con mắt chợt loang loang. Tia nhìn bỗng dưng ẩm ướt. Nhưng mà đi xa là đi đâu. Câu hỏi và cái cau mày quen thuộc. Còn bé xíu mà nói chuyện đã cau mày, cau mặt như người lớn. Mẹ vẫn nói về con bé như thế. Khen hay chê, ai biết được. Nhưng cái thói quen ấy đáng yêu. Hơi một chút gì không vừa ý là vội cau mày. Đi… Không nói được đâu. Đứa con trai lẩm bẩm. Mím môi. Vùng vằng. Đứa con gái. Không thích nói thì thôi. Và quày quả bỏ đi. Đứa con gái xoay lưng. Mái tóc buộc gọn bằng dây thun quăng quật trên cái lưng thon. Đi xa chữa bệnh. Đứa con trai buột miệng. Đứa con gái bước chậm. Rồi từ từ quay mặt lại. Hỏi, Chữa bệnh ở đâu. Đáp, Chả biết. Hỏi, Có thật chả biết không. Đáp, Thật. Hỏi, Sao không mua thuốc về uống. Đáp, Chả biết đâu. Hỏi, Đi xa không. Đáp, Chả biết đâu. Cái cau mày lại nổi lên trên khuôn mặt trái xoan. Hỏi, Sao cái gì cũng chả biết đâu vậy. Không có đáp. Không biết trả lời thế nào. Bố chỉ nói “Đi xa”, còn mẹ thì bảo “Đi chơi xa”. Không biết là phải rồi. Lại hỏi, Chừng nào về. Đang định đáp chả biết đâu, chợt nhớ ra, đành nói quanh, Bố nói đi ít lâu. Nét bực bội hiện rõ trên những vệt cau có trên trán. Nói dối. Lập tức bênh bố, Bố không nói dối. Lập tức cãi lại, Vũ nói dối.

Cứ quẩn quanh như thế mà gần hết cả buổi chiều. Cho đến khi có tiếng gọi oang oác ngoài đầu ngõ. Vội quay lưng. Nhưng cũng không quên dặn dò, Nhớ uống thuốc cho mau khỏi. Lời dặn quá mỏng, quá nhẹ, như gió nên không át nổi cái giọng chát chúa ngoài đầu ngõ. Con ranh con, mày muốn lây bệnh mà chết luôn hở.

(Còn tiếp)

bài đã đăng của Hoàng Chính

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

@2006-2025 damau.org ♦ Tạp Chí Văn Chương Da Màu
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)