Trang chính » Sáng Tác, Tiểu thuyết Email bài này

lời nguyền ở thế giới bên kia (phần 4)

0 bình luận ♦ 13.09.2023
Truyện HOÀNG CHÍNH Lời Nguyền Ở Thế Giới Bên Kia (Phần 4)_DM

Thời gian là của những năm 60 thế kỷ trước, không gian là một thành phố nhỏ miền Trung nước Việt. Câu chuyện xảy ra dưới mắt nhìn một đứa bé chưa tròn tám tuổi. Với những bước trẻ thơ nhập nhằng giữa hai thế giới: Bên Này và Bên Kia, khi đứa bé ấy lỡ dan díu với một “Lời Nguyền”. Xin trân trọng gửi tới bạn đọc phần 4 của truyện dài “Lời Nguyền Ở Thế Giới Bên Kia” của Hoàng Chính.

13

Nắng. Cả tháng trời. Mặt trời đốt hết mây, chỉ còn lại một khoảng xanh biếc mù con mắt. Nóng. Đi đâu cũng mồ hôi nhễ nhại. Hơi thở, thổi vào bàn tay, tưởng như hơi nóng từ nồi cơm đang sôi. Trưa, ngồi trong bóng râm sân trường nhìn ra bãi cát, thấy những sợi khói lượn lờ. Và thôn làng xa xa uốn éo theo vạt khói. Hàng cây bên hông trường đứng lặng. Không có những chiếc lá đu đưa, đùa giỡn như khi trời lộng gió. Nắng. Những chiếc lá khô, dòn, và hâm hấp nóng.

Nóng. Thầy giáo Quỳnh cho ra chơi lâu hơn thường lệ. Bọn trẻ chúng tôi không có gì làm, đứng, ngồi uể oải bên hiên lớp học. Vài đứa đuổi bắt nhau ở sân sau. Thầy giáo Quỳnh ngồi lại trong lớp, nói chuyện với mẹ một đứa học trò. Tôi ngồi gần bên cửa, lắng nghe.

“Năm nay hạn hán.”

“Vâng cứ thế này chắc là chết khô hết.”

“Mùa này đúng ra đã là mùa dông bão.”

“Vâng, năm ngoái mưa đến ngập cả sân trường.”

Tôi nghiêng tai, cố đong cho đầy những từ ngữ lạ tai. Hạn hán. Hai chữ lạ lùng.

“Dạo này thiên tai nhiều quá.”

“Miền Trung mình năm nào cũng lụt.”

Thêm hai chữ nữa: Thiên tai.

“Vâng, năm ngoái lụt, chết bao nhiêu người.”

“Tôi nghe kể có gia đình nhà kia lúc vớt lên được thì thấy bốn người buộc dính chùm vào nhau.”

“Vậy à?”

“Vâng. Cả bốn người đều đã chết.”

“Tội nghiệp quá.”

“Con người ai cũng muốn sống chết có nhau.”

“Tội nghiệp.”

“Không bị nước cuốn đi một mình.”

Tôi lại học thêm một điều mới lạ: Con người ai cũng muốn sống chết có nhau.

Câu chuyện nghe lóm đem tôi về những ngày mưa tầm tã. Nước chảy cuồn cuộn quanh nhà. Và nhớ cả những trận bão kinh hoàng. Bố phải lấy dây thép chắng bốn góc nhà cho khỏi đổ.

Nhưng đó là những ngày mưa. Những ngày dông bão. Hôm nay không có bão. Cũng không một giọt mưa. Cả mấy tuần lễ liền không một giọt mưa. Cái lu đựng nước mưa bên hiên nhà đã cạn. Những con lăng quăng không còn nơi vung vẩy. Mấy hôm nay trời “hạn hán.”

Giọng thầy Quỳnh trầm, “Trận lụt ấy biết bao nhiêu người chết.”

“Chả bù cho tháng này, nóng muốn điên lên.”

“Phải như có tí mưa thì hay biết mấy.”

Mồ hôi đọng trên trán, chảy xuôi xuống chỏm mũi nhột nhạt, rụng xuống bàn tay. Tôi lấy tay áo chùi mồ hôi trên trán, trên má. Cả những giọt mồ hôi cũng nóng.

Mấy thằng bạn không có gì làm, nhặt sỏi, ném bọn con gái rồi quay đi như không có chuyện gì xảy ra. Mấy đứa con gái đang chơi chuyền, quay qua nhìn chằm chặm bọn con trai, săm soi tìm đứa phá đám. Không tìm được, chúng nó trở lại với trò chơi, nhưng không chí chóe như lúc đầu.

Chợt có tiếng la hoảng phía sân sau. Cháy nhà! Cháy nhà!

Lồng ngực thắt lại. Hơi thở đứt quãng. Hai chữ kinh hoàng ấy luôn làm tim tôi đứng sựng. Cháy đâu, cháy đâu. Thầy giáo Quỳnh cũng la hoảng. Người đàn bà đang nói chuyện với thầy cũng la hoảng. Cháy à? Cháy đâu? Cháy đâu?

Bọn học trò con gái quăng những viên sỏi ô quan, ném những cây đũa chơi chuyền, tuông chạy. Bọn con trai túa ra sân nóng tìm chỗ cháy.

Làng quê nghèo nàn. Nhà lợp tranh bắt lửa nhanh chóng. Tôi sợ cháy nhà hơn bất cứ thứ gì. Nửa đêm, nghe la hoảng, Cháy nhà. Ngủ say cỡ nào cũng bật người thức dậy. Và tung màn chạy ra ngoài. Chạy không kịp có ngày thành than. Chạy ra ngoài xem cháy ở đâu. Xa hay gần gì thì cũng vào khuân đồ đạc ra ngoài. Người này khuân đồ, người kia ra giếng, xuống ao hồ múc nước tạt lên mái tranh cho ướt, để mái tranh không bắt lửa. Những lúc cháy nhà, trời lại hay nổi gió. Gió tạt bốn phương. Gió đem tàn lửa bay lởn vởn trên trời như lũ ma trơi. Tàn lửa đáp xuống những mái tranh khác. Những mái tranh khô lại bắt lửa. Thêm một đám cháy mới. Tôi chưa đầy tám tuổi nhưng tôi biết sợ những chòm lửa đỏ rực một góc trời đêm và tôi thường tiếp tay với bố, với mẹ, múc nước tạt lên mái nhà.

Cháy nhà! Cháy nhà! Bọn học trò hùa nhau hét vang. Cả lũ chạy tuông ra sân nắng. Tôi chạy theo chúng nó. Sân trường đất khô nứt nẻ, hừng hừng nung đỏ hai bàn chân. Cả bọn vòng ra sân sau. Sau ngôi trường bé nhỏ là bãi đất hoang đầy cỏ khô. Lửa phừng phừng cháy đỏ. Những lưỡi lửa quấn lấy nhau, những cái lưỡi vàng vàng, đỏ đỏ vờn nhau. Tiếng cỏ khô cháy kêu rào rạo. Thầy giáo Quỳnh vòng ra một bên hiên, xách một thùng nước to. Bọn học trò cuống cuồng xúc cát trong cái thùng gỗ bên hiên trường đổ lên đống lửa.

Lửa đánh nhau với bọn học trò. Lửa rào rạo siết chết những thân cỏ khô. Những thân cỏ úa vàng vì nắng. Cháy dòn tan. Những thùng nước tạt lên. Tiếng xèo xèo khuấy động không gian. Những ngọn lửa vàng liếm những thân cỏ khô. Nước chèn ép lửa. Nước và cát. Bọn học trò được dạy và được nhắc nhở hàng ngày rằng khi có hỏa hoạn thì kêu to: Cháy! Cháy! Rồi tìm nước tạt vào chỗ cháy. Không có nước thì múc cát trong cái thùng gỗ vuông bên hiên lớp học. Xúc cát đổ lên chỗ cháy. Những lời dặn ấy ngày nào cũng nghe. Nhưng mãi đến bây giờ mới có dịp dùng đến.

Sau cùng lửa tắt. Tro tàn bay lởn vởn trong không khí. Mặt thầy giáo Quỳnh nhọ nhem. Bọn học trò tay chân xào xạo cát. Áo quần lem luốc. Mồ hôi loang lổ lưng áo.

Bãi cỏ tranh loang một khoảng đen đúa trơ trụi những gốc cháy dở, nhèm nhẹp nước.

Vẫn nắng. Vẫn nóng. Mồ hôi vẫn ròng ròng chảy xuống cổ, loang loang lưng áo. Ngứa ngáy khắp người.
Giờ ra chơi cũng hết, thầy giáo Quỳnh gọi học trò vào lớp. Bọn con trai nhìn nhau, thầm hỏi đứa nào cả gan đốt sân cỏ. Những con mắt lơ láo. Tôi biết tôi không phải là đứa học trò nghịch ngợm ấy. Bố có lần mắng tôi nghịch ngầm. Nhưng tôi không nghịch tới mức ấy. Tôi không đốt sân cỏ. Và tôi yên tâm ngồi chờ bài học mới.

Nhưng thầy giáo Quỳnh chỉ nhỏ nhẹ, “Hôm nay cho các trò về sớm. Ngày mai mới giải quyết chuyện cháy nhà.”

Thầy giáo Quỳnh hay nói: giải quyết. Học trò không làm bài tập về nhà, thầy hỏi bây giờ giải quyết sao đây. Học trò bỏ quên vở ở nhà, thầy hỏi bây giờ giải quyết sao đây. Học trò đánh nhau rách áo, thầy bắt đừng trước lớp, hỏi bây giờ giải quyết sao đây.

Chuyện đám cháy trong sân sau trường học thầy bảo ngày mai giải quyết. Bọn học trò sẽ có một buổi chiều ăn không ngon, một buổi tối ngủ không yên.

Hôm sau, vừa vào lớp thầy đã lớn giọng, “Hôm qua, thầy đã gặp một ông phù thủy rất tài giỏi, ông ấy cho thầy một số nhánh cỏ thần.”

Thầy ngừng nói, thong thả nhìn sâu vào mắt từng đứa học trò. Run, nhưng tôi cũng nhận ra thầy chỉ nhìn lướt bọn con gái. Thầy cưng con gái hơn, ai cũng biết. Con gái ngoan hơn, con gái không phá phách, con gái còn có đứa hát hay – như con bé Phụng – lần nào có lễ lạc gì thầy cũng bảo nó hát Mưa Rừng cho cả lớp nghe. Thầy nhìn chằm chặp vào mắt bọn con trai. Khi ánh mắt thầy soi tới chỗ mình, tôi nhìn trệch về phía cái bảng đen. Trên ấy thầy đã nắn nót những chữ: Ai là thủ phạm?

Nhìn hết một vòng, thầy gật gù, “Các trò biết thủ phạm là gì không?”

Cả lớp im thin thít.

“Khi xảy ra điều gì bất thường, người gây ra điều bất thường ấy gọi là thủ phạm.”

Chữ mới. Tôi thích. Nhưng tôi sợ. Thủ phạm. Tôi không thích làm thủ phạm.

“Hôm qua sân sau của trường mình bị cháy.” Thầy lại nhìn vào từng con mắt học trò. “Trời nóng thật nhưng không đủ để cỏ tự nhiên bốc cháy.”

Không khí trong lớp học chợt hừng hực nóng. Và tôi lờ mờ hiểu điều thầy giáo Quỳnh muốn nói.

“Phải có người nào đốt, cỏ mới cháy được.”

Nói lòng vòng như thế vẫn là thói quen của thầy giáo Quỳnh.

“Và trò nào đốt cỏ, trò ấy là thủ phạm. Các em nhớ hai chữ thủ phạm, nghe chưa.”

Cả lớp rụt rè, Dạ nhớ. Không khí lớp học khô hạn. Hơi nóng nung oằn cả người.

“Hôm qua thầy gặp một ông phù thủy, ông ấy cho thầy một số nhánh cỏ thần. Cỏ thần ấy giúp thầy tìm ra thủ phạm.” Thầy trở lại câu nói ban đầu.

Thì ra thế. Cỏ thần. Thủ phạm đốt cỏ ở sân trường. Nhưng mà làm cách nào cỏ thần có thể chỉ mặt thủ phạm. Tôi vặn óc suy nghĩ. Thủ phạm là ai trong số hai mươi mấy thằng con trai lên bảy, lên tám này. Tôi cố đoán nhưng không thể nào tìm ra. Tôi chỉ biết chắc chắn thủ phạm không phải là tôi. Tôi không thể là thủ phạm. Tôi nóng lòng muốn biết làm cách nào cây cỏ thần tìm ra thủ phạm.

“Hôm qua trò nào đốt thì nhận đi.” Thầy giáo Quỳnh nói, quét tia nhìn một vòng lên đầu lũ con trai.

Cả lớp im phăng phắc. Bọn con gái liếc nhau. Bọn con trai chỉ dám nhìn thẳng lên bảng, nơi những chữ “Ai là thủ phạm?” hiên ngang xoáy vào từng đứa.

Thầy Quỳnh hắng giọng. “Vũ, đứa nào đốt cỏ?”

Thằng bé học trò bị nhắc đến tên bật người dậy như con bổ củi. Tôi là thằng bé ấy. Tôi chưa đầy tám tuổi. Tôi chỉ đôi khi nghịch ngầm. Nhưng tôi không đốt cỏ ở sân sau trường học. Tôi cũng không biết ai là thủ phạm.

“Trò Vũ, đứa nào đốt cỏ?”

Tôi riu ríu đứng dậy. Đầu nặng và cứng như tảng đá. Nhưng hai chân mềm nhũn. Đứng, hai tay chống lên mặt bàn mà cứ lao đao chực ngã.

“Thưa thầy, con không biết ạ.”

“Trò Vũ nghĩ ai là thủ phạm đốt cỏ ở sân sau trường học?”

Tia nhìn như con chim gẫy cánh, lao đao trên những mái đầu lũ bạn ngồi ở những bàn trước. Đầu óc tôi đặc cứng. Tôi không tìm ra được câu trả lời.

“Thưa thầy, con không biết…” Câu trả lời lí nhí trong miệng.

“Thầy hỏi trò Vũ nghĩ ai là thủ phạm, thầy không hỏi trò Vũ có biết hay không, nghe rõ chưa?”

Đời của thằng bé học trò lên tám tuổi có những phút kinh hoàng không kém những lúc nghe tiếng gào thét Cháy nhà! Cháy nhà! là những lúc đứng trước mặt thầy Quỳnh như thế này.

“Trò Vũ ngồi xuống đi.”

Thầy giáo buông tha đứa học trò không biết và cũng không nghĩ ai là thủ phạm. Tôi nghe hơi thở mình run rẩy. Miệng khô đắng. Tai ù. Mắt quáng.

“Tất cả các nam sinh quỳ lên bàn.” Thầy nói và mở ngăn bàn lấy một gói giấy. Bọn con trai lục tục leo lên ghế, quỳ lên mặt bàn học của mình. Thầy tháo gói giấy, trải trên bàn của thầy. Từ trên mặt bàn học, bọn con trai thấy một đống những cọng cỏ xanh, nhỏ như những que tăm. Giống hệt nhau.

“Tất cả ngậm cọng cỏ thần này trong miệng, nhánh cỏ thần này sẽ mọc dài ra trong miệng đứa nào hôm qua đốt sân cỏ.”

Thầy nói và thong thả đi xuống giữa hai dãy bàn học trò. Mỗi đứa con trai đưa tay rụt rè nhận một cọng cỏ thần, hồi hộp bỏ vào miệng.

“Nhớ ngậm trong miệng như ngậm tăm vậy.”

Mặt bàn gỗ cứng. Những cái đầu gối lên bảy lên tám dẫu đã quen với nền xi măng, nền gạch, nền gỗ, nền đất… cũng vẫn thấy nhói đau.

“Lẽ ra phải quỳ ngay trên chỗ cỏ bị đốt mới linh nghiệm, nhưng trời nắng, thầy miễn cho các trò.”

Thầy giáo Quỳnh nói, mắt dán vào từng khuôn mặt con trai, xem những cọng cỏ thần có được ngậm đúng cách hay không.

Tôi lẩm nhẩm trong đầu hai chữ mới: linh nghiệm.

“Nhớ là sau mười phút, cọng cỏ thần sẽ mọc dài ra trong miệng đứa nào hôm qua đốt sân cỏ.”

Cọng cỏ thần linh nghiệm. Tôi đưa lưỡi rà trên thân cọng cỏ trong miệng mình, lo lắng nó sẽ mọc dài ra dù mình không là thủ phạm. Cọng cỏ như que tăm. Que tăm trơn bóng, ngậm trong miệng thấy hay hay. Nhưng cọng cỏ này mềm hơn cây tăm. Tăm xỉa răng được, cọng cỏ này chắc là không xỉa răng được. Tôi ngó ngoáy trên mặt bàn. Cọng cỏ mềm trong miệng. Mẹ vẫn dặn đừng ngậm tăm trong miệng. Xỉa răng xong thì vất tăm ngay đi. Đôi khi tôi bắt chước người lớn, ngậm tăm và nhấm đầu cây tăm nát tòe. Tôi lo lắng nghĩ có khi nào cây cỏ thần trong miệng tôi bắt nhầm thủ phạm và mọc dài ra trong miệng tôi không.

Rồi tôi tự nhủ mình không phải thủ phạm, cọng cỏ sẽ còn y nguyên, cọng cỏ sẽ không dài ra trong miệng tôi. Bởi cọng cỏ thần này vô cùng linh nghiệm.

14

“Trời ơi, ai đuổi mấy con ruồi giùm tôi cái coi!”

Chị Huyền rên rỉ. Buổi trưa, mẹ đi tìm mua thứ gì đó ở quầy hàng. Phòng bệnh còn bà Gái, chị Huyền và tôi. Bà Gái – bà già có khuôn mặt nhăn nheo – đang ngáy. Tiếng ngáy lên cao, đuổi bắt nhau dồn dập, rồi thưa dần và vắng hẳn một lúc lâu mới lại tiếp tục đuổi bắt nhau. Giấc ngủ trưa không bao giờ bà Gái bỏ lỡ. Tôi ngồi dựa vào những khung sắt ở đầu giường, ngó quanh bốn bức tường. Những đốm vôi tróc lở như những con mắt, ngó tôi lom lom.

“Mấy con ruồi quỷ quái này!”

Tiếng than của chị Huyền làm tôi bối rối. Phải làm sao đây.

“Có ai ở đó, làm ơn đuổi dùm tôi mấy con ruồi cái coi.”

Chị Huyền lại rên. Lớn tiếng, như kêu cứu.

Tôi tuột xuống khỏi giường. Chị Huyền nằm ngửa, mắt chằm chặp dán lên trần. Tôi ngước mắt tìm thứ gì chị đang ngó trên trần. Chỉ có những vết lồi lõm của xi măng. Hai chân bó bột treo cao ở cuối giường. Tay phải chị cũng treo ở khoảng giữa giường. Tay trái chị vùi dưới tấm khăn trải màu trắng. Chị nhúc nhích cái đầu. Những sợi tóc dính bết một bên má xanh xao. Tôi bước đến sát bên chiếc giường đặc biệt có bánh xe của chị. Tiếng vo ve. Tôi trố mắt nhìn. Một con ruồi. Hai con ruồi. Ba con. Trời ạ. Sao ở đâu ra tới ba con ruồi đuổi bắt nhau trên mặt chị. Chị nhúc nhích cái đầu. Nheo nheo con mắt, nhếch nhếch khóe miệng. Ba con ruồi vẫn thảnh thơi đùa giỡn.

Tôi xấn tới xua tay. Những con ruồi bay vụt lên cao. Tiếng vo ve khuấy động không gian. Những con ruồi quỷ quái. Từng con một thay phiên nhau chao xuống mặt chị Huyền. Tôi vẫy tay liên tục. Tôi xua phía bên má trái của chị Huyền, chúng nó đáp xuống má phải của chị. Những con ruồi ở bệnh viện quỷ quái, tinh ranh. Tôi vòng qua phía bên kia, xua tay đuổi chúng nó. Cả ba đứa bay vụt lên cao rồi lượn xuống phía chân chị Huyền. Nhưng chúng nó không làm gì được với lớp băng bột khô cứng quanh hai chân chị.

“Cảm ơn Vũ nhé.” Giọng chị Huyền.

Tôi lí nhí, Vâng ạ. Tôi nói nhỏ chẳng biết chị Huyền có nghe được không nhưng thấy mặt chị dịu xuống là tôi yên lòng. Những con ruồi ranh mãnh, ngày thường tôi có bao giờ để ý đến chúng nó đâu. Hôm nay mới nhận ra.

“Vũ đuổi ruồi giùm chị nhé.”

Tôi vừa chầm chậm xua tay, không cho lũ ruồi trở ại, vừa khe khẽ gật đầu.

“Mấy con ruồi quỷ quái.”

Tôi lại len lén gật đầu.

Chị Huyền cố xoay đầu qua bên phải để nhìn tôi. Tôi cố kiễng chân để chị nhìn cho rõ. Tôi nhìn bờ má hơi lõm xuống. Tôi nhìn chóp mũi dường như nhô cao hơn mọi khi. Tôi nhìn những sợi tóc dính bết vào bên má xanh xao. Dường như chị không còn giống như hôm mới vào đây. Hôm ấy má chị còn hồng và đầy. Môi chị còn đỏ và mịn. Hôm nay má chị xanh, môi chị khô héo như miếng dưa cải muối mẹ vẫn làm mỗi dịp tết.

“Vũ học lớp mấy?” Chị hỏi han làm quen.

Tôi lí nhí trả lời, không ngừng tay xua những con ruồi quỷ quái.

“Vũ có mấy đứa em?” Tôi lắc đầu. Chị hỏi lại Vũ có mấy đứa em và tôi nhận ra chị không nghiêng đầu qua được nên không trông thấy tôi lắc đầu.

“Dạ không có đứa em nào hết.”

“Nhà Vũ ở đâu vậy?”

Tôi kể cho chị Huyền nghe về ngôi làng đi hoài không giáp vòng. Về những ao, đầm… đầy bông súng và rau muống. Về chân núi mọc đầy những cây hoa sim tím, mọc nhô ra ngoài vũng biển. Về ngôi nhà thờ có tháp chuông cao chạm tới mây trời. Về những bãi cát hoang nơi lũ kỳ nhông đuổi bắt nhau dưới nắng. Tôi kể đủ thứ chuyện, rồi tôi lan man qua cả chuyện nhánh cỏ thần của thầy giáo Quỳnh.

“Thật vậy à? Nhánh cỏ thần có giúp thầy giáo tìm ra thủ phạm không?” Giọng chị Huyền đầy hứng thú.
Tôi rầu rĩ lắc đầu. Và lại nhận ra chị không nhìn thấy cái lắc đầu ấy.

“Cỏ thần nói dối.”

“Sao vậy?”

“Cỏ thần bảo em là thủ phạm.”

“Ồ! Sao vậy?”

Nét mặt chị Huyền giãn ra sau câu hỏi. Nỗi oan ức chất đầy lồng ngực bao nhiêu năm tháng bỗng ứa ra thành những giọt nước mắt. Tôi chưa tròn tám tuổi, tôi không phải đứa trẻ đốt cỏ sân trường nhưng nhánh cỏ thần chỉ mặt tôi, bảo tôi là thủ phạm.

“Em khóc à Vũ?” Chị Huyền hỏi, giọng đầy áy náy.

Tôi vội lấy tay áo quẹt nước mắt.

“Nhánh cỏ thần…” Tôi ấm ức nói không thành lời.

Tôi quỳ trên bàn học. Bị phạt quỳ trong lớp là chuyện thường. Con trai trong lớp không có đứa nào chưa bao giờ bị quỳ. Con gái đôi khi cũng bị quỳ, nhưng con gái không bị quỳ lâu, bởi con gái biết khóc. Thầy giáo Quỳnh bao giờ cũng tha khi thấy đứa học trò gái sụt sùi. Con trai tự ái. Muốn khóc cũng cố để về nhà mới khóc. Cả lớp cùng bị quỳ nên cũng không đến nỗi nào. Chỉ việc chờ nhánh cỏ thần chỉ mặt đứa thủ phạm. Tôi khoanh tay ngoan ngoãn chịu đựng trong lúc thầy giáo Quỳnh ra bài tập cho đám con gái làm. Tôi nghĩ ngợi loanh quanh. Tôi nhớ tới những hạt đậu mẹ vùi trong những liếp đất sau vườn. Hạt đậu trơn bóng, vùi xuống đất ẩm, tưới nước vài ba lần, hại đậu mọc nhánh thành cây non, có hai chiếc lá xanh biếc. Tôi nhớ những nhành cây non vùi xuống đất ẩm, tưới nước vài lần, sẽ mọc dài ra. Và tôi nghĩ đến nhánh cỏ thần trong miệng mình. Ngậm cọng cỏ trong miệng. Nước bọt ẩm ướt, nhánh cỏ cũng sẽ mọc dài ra. Và bỗng dưng tôi hoảng hốt. Ý nghĩ bất ngờ ấy làm tôi suýt ngã nhào ra phía trước. Thôi rồi, nhánh cỏ thần trong miệng mình sẽ mọc dài ra thật nhanh – bởi nó là nhánh cỏ thần. Thầy giáo Quỳnh bảo cỏ thần sẽ mọc dài ra trong miệng đứa nào đốt cỏ.

Tôi không đốt cỏ nhưng lỡ cỏ thần trong miệng tôi mọc dài ra thì sao. Tôi suy nghĩ thật nhanh. Tôi phải tự cứu mình. Tôi không thể để nhánh cỏ thần chỉ mặt tôi, tố cáo với thầy Quỳnh rằng thằng Vũ là thủ phạm. Và hai con mắt lấm lét nhìn quanh, tôi hành động vội vàng như thằng ăn trộm.

“Thế là Vũ bị phạt à?” Chị Huyền trợn tròn hai mắt.

Tôi nhìn những sợi lông mi dài và cong, tay vẫn hờ hững đuổi ruồi.

“Bị đuổi học hai tuần.”

Chị Huyền nhúc nhích thân mình như muốn ngồi bật dậy, chia sẻ nỗi oan ức của tôi.

“Sao em không nói cho mọi người biết?”

“Em có nói.”

“Rồi sao nữa?”

“Không ai tin hết.”

“Trời ơi, thật là oan ức mà” Chị rên rỉ.

Tôi mủi lòng, nước mắt lại ứa ra. Tôi nhớ tôi đã hết sức để giải oan cho chính mình. Con không đốt sân cỏ. Hãy thẳng thắn nhận lỗi. Con không đốt. Người thẳng thắn được mọi người quý trọng. Nhưng con không đốt. Trò không đốt chẳng lẽ sân cỏ tự nhiên bốc lửa. Con không biết. Nói thật đi. Trò lấy lửa ở đâu để đốt vậy. Con không biết. Không biết, không biết, không biết. Thầy giáo Quỳnh nổi điên lên vì giận. Nghịch lửa như vậy rồi lỡ cháy nhà thì sao. Trò gây nguy hiểm cho mọi người, bây giờ giải quyết sao đây. Thưa thầy, con không đốt.

“Rồi sao nữa, hở Vũ?”

“Vũ bị đuổi học hai tuần.”

“Nghỉ học Vũ ở nhà làm gì?”

“Vũ không làm gì hết.

“Vũ không đốt tại sao thầy giáo lại nói là Vũ đốt.”

Tôi bối rối, ngơi tay xua ruồi, nhìn đăm đăm những sợi vải đan chéo nhau trên chiếc khăn trải đắp ngang ngực chị Huyền.

“Tại nhánh cỏ thần…”

“Nhánh cỏ thần làm sao?” Chị Huyền nôn nóng.

“Nhánh cỏ của em bị ngắn lại.”

“Tại sao nó ngắn lại được?”

“Tại em cắn nó.”

“Trời đất thiên địa ơi!”

Tôi lặng thinh.

“Tại sao lại cắn nó?”

“Em sợ nó mọc dài ra.”

Chị Huyền khẽ lúc lắc cái đầu. Và chị toan nói gì đó thì tiếng ồn ào ngoài cửa đã ngắt ngang lời chị. Tôi ngóng cổ nhìn ra. Trong khoảng trống khung cửa ươm nắng, mẹ chị và chị Thảo loẹt xoẹt bước vào, dẫn theo một người thanh niên cao lêu nghêu.

15

Hôm nay đến phiên chị Thảo ở lại nhà thương. Bao nhiêu ngày nằm, ngồi, đi, đứng trong căn phòng chật hẹp với sáu chiếc giường khung sắt, tôi nhận ra giờ giấc của hai mẹ con bà Khúc. Thường thì một mình bà Khúc ở với chị Huyền, cuối tuần chị Thảo đến. Sáng sớm, khi sương còn đọng đầu ngọn cỏ trong khoảng sân rậm rạp cây cối trước cửa phòng bệnh, chị đã vai đeo túi vải, tay xách làn đựng trái cây, lếch thếch bước qua khung cửa gỗ vênh vẹo. Bà Khúc loay hoay lau mặt, lau cổ, lau tay cho chị Huyền sau khi đút cháo cho chị. Và sửa soạn cái công việc nặng nề nhất mỗi ngày. Thứ công việc mà một người chả bao giờ làm nổi.

“Mày đấy à Thảo?” Bà Khúc nói cái câu quen thuộc.

Chị Thảo chỉ nhìn lướt qua mẹ rồi đi lại góc phòng, đặt cái túi vải lên mặt tủ đầu giường và cái giỏ nan xuống nền nhà.

“Chị ngủ được không?” Chị Thảo hỏi.

“Nó rên rỉ cả đêm.” Bà Khúc nhanh nhảu trả lời.

“Đau muốn chết.” Chị Huyền thì thào.

Chị Thảo bắt đầu cái việc phải làm mỗi buổi sáng. Chị cúi xuống, kéo cái chậu nhỏ sáng bóng dưới gầm giường ra. Cái vật bằng nhôm sáng loáng ấy kêu leng keng. Nghe như tiếng ấm ứ của con chó bị kéo sợi dây xích cổ.

“Màn gió đã, Thảo.” Bà Khúc nhắc.

Chị Thảo đứng dậy, đi lại góc phòng, mở tủ, lấy tấm màn gió. Chị gài một đầu tấm màn lên cái trụ cao ở cuối giường. Đầu kia móc lên cái trụ gỗ ở đầu giường. Chiếc màn giăng lên, che kín giường bệnh của chị Huyền.

Giờ này mẹ đang giặt áo quần bên vòi nước cuối sân. Sáng sớm, quần áo của hai mẹ con, cùng những mảnh rách tươm của bà già có khuôn mặt nhăn nheo mẹ đem đi giặt. Tôi ngồi. Nhìn cái đống chăn đắp ụ trên giường bà cụ có khuôn mặt nhăn nheo. Chán. Tôi chống tay ngồi dậy, chậm chạp lê ra cửa.

Chiếc màn gió giăng ngang, che kín giường chị Huyền. Tấm màn giăng, giống hệt chiếc màn chiếu phim thỉnh thoảng tôi vẫn được xem ở sân nhà thờ. Chiếc màn kỳ diệu, trắng đục dưới ánh đèn vàng. Những con mắt dán vào khung vải, chờ đợi. Tiếng nói vỡ ra từ chiếc loa. Chiếc màn nhờn nhợt bỗng xôn xao hình ảnh những con người đi qua đi lại, những cánh chim bay lượn trên không, những chiếc xe chạy vòng quanh những con đường. Tấm màn che giường chị Huyền mỗi buổi sáng làm tôi nhớ da diết những buổi chiếu phim ở sân nhà thờ xứ đạo. Những chuyện phim lạ lùng. Hình ảnh chỉ hai màu đen trắng nhưng đầy sức sống. Hình ảnh và âm thanh của một thế giới khác, của những khung trời khác. Người đàn ông mũi lõ nói bằng thứ tiếng gì đó mà bọn trẻ chúng tôi không hiểu. Thầy Sáu trong xứ đạo ngồi bên máy chiếu, thầy dịch qua tiếng Việt cho chúng tôi nghe. Cô gái chớp mắt, môi mấp máy những gì chúng tôi không hiểu, thầy Sáu xứ đạo lại dịch qua tiếng Việt. Rồi người đàn ông ghé sát mặt cô gái và màn hình chợt tối mù. Thầy Sáu trong xứ đạo lấy tay che ống kính máy chiếu phim. Người đàn ông ghé sát mặt cô gái trên lưng bàn tay thầy Sáu. Họ hôn nhau đấy. Sau này mấy đứa bạn của tôi bảo thế. Mấy đứa trẻ ranh. Câu mắng mỏ quen thuộc của người lớn. Tụi nó biết hai người ấy hôn nhau. Chỉ mình tôi không biết vì sao người đàn ông vừa ghé mặt sát mặt cô gái thì màn hình tối mù. Màn hình chiếu bóng giống chiếc màn gió căng bên giường chị Huyền mỗi sáng và những khi chị thay quần áo.

Tôi đứng ngoài cửa, sát bậc thềm nhưng tôi nghe thật rõ tiếng khóc của chị Huyền.

“Trời ơi, đau quá, sao tôi không chết đi cho rồi! Trời ơi là trời!”

Tiếng la hét của chị Huyền xoáy vào óc thằng bé chưa tròn tám tuổi đầu. Và trong trí tưởng tượng của nó, hình ảnh khốn khổ của chị Huyền cong oằn cơn đau khi bà Khúc nâng người chị lên cho chị Thảo đẩy cái chậu nhôm xuống dưới.

“Cố rặn đi con. Tội nghiệp con bé bị táo bón.” Giọng bà Khúc kêu rêu.

“Mẹ đừng nói có được không!” Chị Thảo cằn nhằn.

Tôi đứng bên ngoài khung cửa, sát bậc thềm. Nhìn những bụi cây bị gió đẩy đưa. Vài con bướm chập chờn trong nắng sớm. Tiếng chim hót chào nhau rộn rã. Buổi sáng ẩm hơi sương. Tôi nhìn đăm đăm những cánh hoa, cố tìm một con ong đi lạc. Những bụi cây um tùm nối tiếp nhau. Những lùm cây hiền hòa trong nắng. Nhưng đêm tối, khi phải chạy ra đầu hồi để tiểu, tôi thấy chúng thành ma cụt đầu.

Từ trong phòng bệnh, vẫn vang ra tiếng la khóc của chị Huyền. Tiếng khóc ngưng để tiếng rên tiếp nối, rồi tiếng kêu thảng thốt. Âm thanh siết cổ nhau nghẹn ngào.

Khoảnh khắc kinh hoàng của buổi sáng kéo dài không biết bao lâu. Tôi bịt tai. Tôi mỏi tay, thôi bịt tai. Nhưng tiếng rên la của chị Huyền vẫn tẩm đẫm sương mù sớm mai.

“Ối Trời ơi, đau quá.” Tiếng la thất thanh khép lại cuộc hành hình buổi sáng. Bà Khúc hấp tấp cầm cái chậu nhôm đi nhanh ra cửa. Mùi thối dấy lên. Tôi đứng sát bậc thềm, nín thở, nhìn theo cái bóng gầy guộc của người đàn bà nhỏ dần cuối hành lang. Rồi biến mất trong nhà xí.

Chiếc màn gió được gỡ xuống. Buổi chiếu phim kết thúc. Ngọn đèn vàng trong sân bật sáng. Người lớn, trẻ con lũ lượt kéo nhau về. Chuyện trò bàn tán sôi nổi. Tôi không nhớ hết câu chuyện. Tôi không hiểu người đàn ông nói gì. Tôi không hiểu vì sao ngay khi người đàn bà mỉm cười, chớp mắt dịu dàng thì màn hình tối đen. Mãi về sau tôi mới hiểu. Và từ đó mỗi lần thầy Sáu trong xứ đạo lấy bàn tay che ống kính máy chiếu phim thì tôi biết ngay có chuyện gì khác thường. Những thứ bị che lại là những thứ người ta không muốn ai trông thấy. Như chiếc màn gió căng lên bên giường chị Huyền. Chiếc màn gió không muốn ai nhìn thấy cơn đau của người thiếu nữ đang ngồi trên xe xích lô, thì chiếc xe vận tải bị ban, đâm sầm vào.

Tôi lủi thủi bước vào phòng. Bà Gái – cái bà già có khuôn mặt nhăn nheo – vẫn ngủ mê mệt. Dạo này bà ấy không làm gì ngoài việc ngủ. Bác sĩ cho thuốc để bà ngủ. Bác sĩ bảo thuốc này giúp bà bớt đau nhưng làm bà ngủ mê mệt. Ngủ và ngáy vang dội.

Tôi về giường của tôi. Tôi không quên liếc sang giường chị Huyền. Chị Thảo đang lau mặt cho chị Huyền. Người chị Huyền đã được đắp kín bằng tấm khăn trải màu trắng. Khuôn mặt chị – nhìn nghiêng – hằn lên nét khốn khổ.

Bà Khúc hộc tốc trở về, kéo lê đôi dép loẹt quẹt. Cái thau nhôm trên tay. Tôi liếc nhìn lòng chậu. Không có gì trong ấy. Chất nhôm sáng loáng. Bà đẩy cái chậu xuống gầm giường rồi sửa soạn tay nải,
“Tao phải về cho kịp chuyến xe nhé.”

Không có tiếng trả lời từ cả hai cô con gái.

“Tối Chủ Nhật tao lên.”

Vẫn không có tiếng trả lời.

Bà ghé sát mặt chị Huyền, “Mẹ về nhá.”

Hình như chị Huyền nói Vâng. Hình như chị Thảo khẽ gật đầu. Bà Khúc quay lưng, tất tả bước vào vũng nắng vạch chéo trên nền nhà.

(Còn tiếp)

bài đã đăng của Hoàng Chính

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

@2006-2025 damau.org ♦ Tạp Chí Văn Chương Da Màu
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)