Trang chính » Sáng Tác, Truyện ngắn Email bài này

Con Trai Bác Thợ Mộc

0 bình luận ♦ 22.12.2021
Truyện HOÀNG CHÍNH Con TraiBác Thợ Mộc_COVER_FINAL (2)

“Hãy về đi và đừng phạm tội nữa!” (John 8.11)
Bạn có thể nghe tác giả đọc truyện này trên YouTube: https://youtu.be/kPH4_QS5gko

 

Khi chết tôi sẽ lên thiên đàng. Tôi tin chắc như thế. Bởi đã từ lâu, tôi không còn phạm tội. Lương tâm tôi yên ổn. Linh hồn tôi đã được tẩy rửa từ hôm ấy.
Vậy mà hôm nay cô ấy lại tìm đến tôi!
Tôi bảo cô ấy ngồi xuống bên gốc cây bạch dương trước nhà. Cô ấy thắc mắc sao không vào trong nhà. Trong nhà có còn ai nữa đâu mà sợ. Cô ấy thì thào. Cái giọng tẩm mật ong rót vào tai tôi, vị ngọt của chất giọng ấy đổ đầy lồng ngực tôi cái rạo rực ong óng. Tôi đặt đầu lưỡi giữa hai hàm răng. Chỉ cần cắn mạnh xuống, mọi chước cám dỗ sẽ tan đi, nhưng tôi chần chừ. Thôi thì cứ hãy ngồi ngoài này mà trò chuyện. Và tôi kể lại cho cô ấy câu chuyện ngày hôm ấy.
Hôm ấy.
Tôi phải nhanh chân nếu không sẽ không kịp. Phiên xử sẽ tiến hành khi mặt trời đứng bóng. Khi bóng cây trắc bá gom lại thành một vòng tròn là lúc người ta bắt đầu phiên xử, và nhanh chóng tiến hành cuộc hành hình. Tôi vội vã sửa soạn. Tôi chạy ra bờ con rạch sau nhà, tìm hòn đá. Cầm chắc hòn đá trong tay, tôi chạy vào nhà, đến bên chiếc giường làm bằng những thanh gỗ vênh vẹo kê trên những phiến đá gồ ghề to nhỏ không đều. Tôi đưa hòn đá cho vợ xem. Vợ vội lau nước mắt, nhướng mắt lên nhìn, rồi bảo Nhỏ quá, nhưng chắc cũng được. Tôi quay đầu bước đi, vợ gọi níu lại. Tiếng gọi của vợ chìm vào tiếng ọ oẹ của hài nhi. Con thứ nhì và duy nhất của vợ chồng tôi. Nó nằm trong cái rổ cói đặt trên giuờng, sát vách tường đất. Vợ sụt sùi bảo ghé sát đây tôi dặn câu này. Tôi ghé sát bên vợ. Mùi tóc ngai ngái thoang thoảng trong không gian. Vợ nhìn quanh như sợ ai trông thấy dù đang nằm trên chiếc giường gỗ cũ, trong căn phòng vắng vẻ. Rồi vợ thì thào. Nhớ ném ra ngoài nhé. Khổ thân nó. Đầu tôi lắc lư trên chiếc cổ khẳng khiu. Nhưng tôi hiểu. Mỗi lần có chuyện như thế, và vì ốm đau không tham dự được, lần nào vợ cũng nhìn quanh quất trước khi thì thầm câu dặn dò Nhớ ném ra ngoài nhé. Tôi quay lưng dợm bước, vợ lại gọi giật lại, “Có một thôi à?”
Tôi trả lời, không quay mặt lại, “Hai chứ.”
“Hòn kia đâu?”
“Ngoài sân,” tôi sẳng giọng. “Nói hoài mỗi câu ấy.”
“Không nhắc lỡ quên thì ai đeo gông thế cho ông?”
Nói xong vợ òa khóc. Trong cái âm thanh tức tưởi ấy, tôi nghe ra câu thở than đắng giọng, “Khổ thân nó!”
Tôi lê những bước nặng nề ra sân. Trời ong ong nắng. Tôi nhìn khoảng sân hẹp. Bóng cây bạch dương còn lệch khá nhiều về một bên. Như vậy là còn sớm. Khi bóng cây bạch dương trong sân nhà tụ lại thật tròn quanh gốc cây thì ở pháp đình bóng cây trắc bá cũng gom lại thật gọn trong sân pháp đình.
Và ấy là giờ hành quyết.
Tôi bước xuống sân, chiếc túi vải đeo trên vai. Hai hòn đá trong túi chạm nhau lạch cạch.
Bọn quan chức, lũ lâu la và đám thu thuế lao xao trò chuyện. Chúng gật gù, bá vai nhau và cười rộ lên từng chặp. Tôi chen chúc cùng đám đông đến trước chiếc bàn đá nơi những nhân viên kiểm tra số người tham dự ngồi với cuộn giấy da dê li ti những chữ. Tôi đưa tay đuổi ruồi, kiên nhẫn chờ đến phiên mình. Hàng người nhích đi từng chút một. Thoáng gió thoang thoảng quyện lên từ bờ hồ đem theo cái thoáng mát dịu dàng, mơn trớn. Tôi nhìn về phía ấy. Mặt hồ Galilee vạch một đường ngang xanh thẫm, lấp lánh ẩn hiện sau những nếp nhà nhấp nhô, cao thấp không đều.
Một đống những cuộn da dê vàng úa chồng lên nhau. Đám quan chức loay hoay bới, tìm. Mỗi khu xóm có một cuộn riêng ghi danh sách từng nhà, và số người trong nhà. Nhà tôi ngoài hai vợ chồng còn có đứa con vừa chưa đầy tháng.
“Vợ anh đâu?” Đến lượt tôi, viên quan hỏi.
Tôi nhanh nhảu, “Vợ tôi mới sinh con, không đi được.”
Gã thư lại quan quyền nhìn chăm chú những con chữ ngoằn ngoèo trên tấm da dê trải rộng trên mặt bàn đá.
“Sao lần nào cũng không đi được vậy?”
“Cô ấy ốm đau luôn.”
Tôi nói ra cái điều ám ảnh. Vợ tôi đau ốm thường xuyên. Bệnh tật gì mà cứ như ma ám. Có lần tôi định rước nhà Tiên Tri vẫn thường giảng trên bờ hồ ngoài kia nhờ ông chữa cho khỏi hẳn cái chứng hoại huyết độc địa ấy. Ông ấy đã từng làm cho kẻ mù sáng mắt. Và ông ấy cũng đã từng chữa cách gì đó cho em trai cái cô ở tận xóm trên sống lại. Nhưng tôi ngại, cái nhà ông Tiên Tri ấy luôn nói ra những điều ngược ngạo, dù đúng với tim đen lũ người chúng tôi, nhưng đã chói tai thì ai mà chịu được. Vì vậy mà tôi chần chừ, vì vậy mà tôi để vợ tôi ốm đau oặt oẹo mãi.
“Không đi được thì anh phải làm thay cho cô ấy.”
“Vâng, tôi sẽ làm thay cho cô ấy.”
“Hòn đá của cô ấy đâu?”
Tôi luồn tay vào bọc lấy ra hai cục đá xanh xám hầm hập nóng ra, đặt lên bàn. Tôi cố đặt nhẹ nhưng viên đá cũng gõ lên mặt đá một tiếng cạch thật to khiến tay thư lại trợn mắt nhìn tôi. Tôi cuống cuồng, “Thưa, hòn đá nặng quá, tôi lỡ tay.”
Gã cầm hòn đá của vợ tôi lên, nhìn chăm chú cái màu xám xanh như nhìn con vật lạ, rồi gã ngước nhìn tôi, “Đá nhỏ thế này không hợp lệ.”
“Vợ tôi mới sinh,” tôi lắp bắp, “Chân tay còn yếu ớt, không ném được hòn đá to.”
“Lại gian xảo rồi!”
“Không, tôi nói thật.”
Chuyện này tôi không giấu diếm chút nào. Vợ tôi mới sinh. Đứa con trai còn đỏ hỏn. Dạo này trẻ sơ sinh rủ nhau sài đẹn, và theo nhau chết. Con đầu lòng của chúng tôi cũng cùng số phận ấy hai năm trước. Nhà chỉ có hai vợ chồng, những ngày vợ ở cữ, cô em vợ tôi – dù đã có gia đình riêng – vẫn phải chạy đi chạy lại đỡ đần bà chị. Tôi, đàn ông biết xoay sở thế nào.
“Hòn đá nhỏ như đồ chơi trẻ con thế này,” gã nói. Hòn đá chuyển động nhịp nhàng trong lòng bàn tay gã.
“Nhỏ cô ấy mới ném được. To quá, ném không tới thì cũng vậy thôi.”
Tôi lý sự với gã. Từ trước đến giờ tôi chẳng lý sự với ai, nhất là với đám quan quyền và lính La Mã, nhưng lần này có kẻ nào đó trong sâu thẳm lòng tôi thúc dục tôi cãi lý.
Vậy mà gã cho qua.
“Được rồi, nhớ ném cho mạnh thay cho vợ anh.”
Dĩ nhiên tôi sẽ mạnh tay ném. Chuyện ném này tôi cũng đau, cái đau của gã đàn ông bị phản bội. Nhưng việc cần làm thì vẫn phải làm.
Bỏ hai hòn đá vào túi vải, đeo lên vai, tôi lủi thủi luồn lách ra phía sau chiếc bàn kiểm tra, vào sân pháp đình. Nắng vỡ trên đầu, tuôn chảy xuống vai, hừng hực.
Quanh tôi, thiên hạ chen lấn nhau, chuyện trò lao xao. Những hòn đá trong những cái rổ sâu lòng buộc bằng dây luộc đeo lủng lẳng trước bụng, sau lưng vài người. Bọn phi nhân tính. Mỗi người một hòn đá cũng đủ để biến phạm nhân thành một đống thịt bầy nhầy, lấy nhiều đá thế làm gì không biết.
Từ ngày có pháp lệnh của quan Tổng Trấn, đá ở bờ sông, đá ở ven hồ ngày càng khan hiếm. Đó là dấu hiệu không tốt. Đá bờ sông, bờ hồ khan hiếm có nghĩa là số phạm nhân ngày càng tăng vọt. Sau những buổi hành hình, người ta đổ dồn vào đống đá, xô đẩy bọn lính La Mã, nhặt nhạnh những hòn đá đem về. Chẳng để làm gì cả, chỉ để đó, chờ đến dịp hành hình kế tiếp.
Đám đông ồn ào cười nói trong sân pháp đình. Tôi nhìn gốc cây trắc bá giữa sân. Các phán quan lao xao trên bệ đá. Những cái lọng ngả nghiêng phủ bóng mát lên đầu đám quan lại. Những khuôn mặt căng tròn, những cái trán trơn bóng nhập nhòe, những mũi giáo, những thanh gươm loang loang trong nắng.
Cây trắc bá giữa sân pháp đình là nơi hành hình phạm nhân. Hôm nay sẽ là phiên xử người đàn bà ngoại tình. Người ta sẽ trói kẻ dâm phụ ấy dưới gốc cây. Một vòng tròn vây quanh gốc cây. Dân chúng sẽ bao quanh gốc cây ấy. Mỗi người sẽ ném hòn đá của mình vào phạm nhân rồi bước lui nhường chỗ cho người khác.
Hôm nay sẽ là phiên xử người đàn bà gian dối, người đàn bà ngoại tình. Người đàn bà ấy chẳng xa lạ gì với tôi, người đàn bà ấy cũng chẳng xa lạ gì với vợ tôi, vì vậy vợ tôi dặn tôi ném đá trật ra ngoài. Người đàn bà ấy đáng tội chết. Tôi xốc cái túi vải trên vai. Hai hòn đá chạm vào nhau lách cách. Tôi sẽ ném hòn đá nhỏ của vợ tôi vào đầu con đàn bà ấy để xóa đi hết những tình cảm lạc đường. Hòn đá to để dành cho hàm răng trắng muốt, vẫn nở ra những khóe cười đằm thắm, hòn đá ấy sẽ làm tóe máu đôi môi vẫn rải lên tôi những ẩm ướt, mượt mà suốt những buổi chiều dấm dúi bên nhau sau khoảnh vườn rậm lá, những ngày vợ tôi ốm đau, nằm mê mệt trên chiếc giường gỗ cũ.
Tiếng lao xao của đám đông kéo tôi về khoảng sân rực nắng của pháp đình.
Tôi ngước nhìn cây trắc bá trơ trọi giữa khoảng sân loang nắng. Người đàn bà ấy đâu sao chưa đem ra, sao chưa buộc chị ta vào cái thân cây lực lưỡng mấy vòng ôm. Bóng râm đã cuộn tròn quanh gốc cây. Mọi người nhốn nháo hỏi nhau rồi nghểnh cổ nhìn về phía ngôi pháp đình bề thế choán hẳn một khoảng trời biếc xanh.
Có tiếng lao xao ở một góc sân. Tôi nghểnh cổ nhìn về phía ấy. Ba người lính đang kéo lê một người đàn bà trên nền đất. Tim tôi thắt lại trong lồng ngực. Phạm nhân đây rồi. Từ khoảng cách khá xa tôi vẫn nhìn ra đôi con mắt xớn xác của người đàn bà. Đôi con mắt đen nhánh quen quá là quen. Đôi con mắt đã nhìn tôi đăm đắm những buổi chiều nắng nghiêng khóm cây vả sau vườn, khi vợ tôi nằm bệnh trên chiếc giường gỗ cũ, và làng mạc vắng hoe vì thiên hạ túa ra bờ hồ nghe người con trai bác thợ mộc, vị tiên tri trẻ tuổi rao giảng những điều chói tai, ngược ngạo. Tôi chưa ngồi với đám đông để nghe con trai bác thợ mộc rao giảng lần nào, nhưng nghe nói ông ta hay thẳng thắn chỉ trích những hành vi sai trái của quan lại, những cách hành xử hôn ám nhưng đã quen thuộc của con người, tôi cũng muốn ra bờ hồ ngồi nghe một lần cho biết.
Nhưng rồi vợ tôi ốm đau, rồi vợ tôi có thai, rồi vợ tôi sinh cháu nhỏ. Em gái của vợ tôi phải sang giúp. Những buổi chiều tôi nói dối vợ rằng tôi ra bờ hồ nghe vị tiên tri ấy nói những câu chuyện lạ lùng là lúc tôi quấn quýt bên người đàn bà ấy; cái người lúc này đang bị hai người lính xốc nách lôi đi.
Tôi lại xốc cái túi vải lên vai. Hai hòn đá chạm nhau lách cách. Hòn đá to là của tôi. Tôi sẽ ném thẳng tay bởi người đàn bà kia đã phản bội tôi. Hai hòn đá gõ vào lưng nhắc tôi nhớ lời vợ dặn. Nhớ ném ra ngoài nhé. Cô ấy dặn thế bởi cô ấy thương người đàn bà kia. Bởi người đàn bà kia là em gái cô ấy. Thương cho mấy cũng chẳng làm gì được. Luật lệ đã quy định rồi.
Lúc trước khi xử phạt tội nhân, những ai ghét điều xấu xa, tội lỗi thì ra sân pháp đình mà ném đá, nhưng tội nhân càng lúc càng nhiều, và số người tham dự ngày càng ít đi, những cuộc hành hình nhạt dần cái hào hứng, sôi nổi, quan Tổng Trấn ra lệnh bắt buộc mọi nhà phải tham gia và mỗi người lớn phải ném vào phạm nhân ít nhất là một hòn đá để chứng tỏ mình là người chính trực. Đám quan lại vẽ thêm ra những quy định về kích thước hòn đá. Hình phạt ấy khiến đá trở thành khan hiếm. Đám con buôn bắt đầu hùa nhau mở cửa tiệm bán đá cho những buổi hành hình.
Bọn lính mạnh tay đẩy người đàn bà ngã giúi giữa sân nắng. Phía trước chiếc bàn có lọng che của pháp quan.
Lại những tiếng lao xao, và ở góc sân, một người đàn ông râu tóc rậm rạp đi giữa hai người lính, tiến về phía chiếc bàn của pháp quan.
Tiếng thì thào dấy lên trong đám đông. Đấng Tiên Tri, Vị Thầy khả kính, Con Trai Bác Thợ Mộc đã đến. Tôi nhướng mắt nhìn. Đúng là con trai bác thợ mộc.
Hai người lính đẩy Con Trai Bác Thợ Mộc đến sát bên người đàn bà đang ngồi co ro dưới nắng, rồi lui ra phía sau những chiếc lọng rua vàng.
Người phán quan dõng dạc đọc cáo trạng. Cái giọng oang oang tan loãng vào không gian. Bản cáo trạng tuôn chảy từ miệng ông ta như nước suối ào ào tuôn ra từ vách đá.
“Mọi người đã sẵn sàng cả chưa?” Ông ta hét lớn.
Đám đông rầm rộ vung tay đáp trả một cách nôn nóng.
Vị phán quan gật gù mãn nguyện, rồi ông ta nhìn Con Trai Bác Thợ Mộc, hất hàm, “Thầy phán quyết thế nào?” Ông ta nhấn mạnh chữ “thầy” bằng cái âm thanh mỉa mai, châm chọc và đầy thách đố.
Con Trai Bác Thợ Mộc ngước nhìn mọi người rồi thong thả ngồi xuống. Một thoáng gió lạc lõng thổi lên từ mặt hồ làm những sợi tóc đen nâu rũ xuống trán ông ta. Những ngón tay gầy thuôn vạch trên sân cát.
Ông ấy viết gì thế? Thầy viết gì thế? Ngài viết gì thế? Mọi người lao xao hỏi nhau.
Tôi chờ bản án gắt gao. Vị tiên tri trẻ, con trai bác thợ mộc; người đến đây để chấn chỉnh lại cuộc sống và lương tâm nhân loại hẳn sẽ kêu án người đàn bà thật nặng. Người đàn bà tóc tai rũ rượi kia đã có chồng, vậy mà cô ta đã dám nói với tôi rằng cô ta muốn có tôi suốt đời bên cạnh cô ta. Rồi vướng vít thế nào mà lại bị bắt quả tang đang nhập nhằng với một tay thu thuế. Đấy là chỗ đau trong trái tim tôi.
Đó là lý do tôi chọn hòn đá thật to.
Vị phán quan đứng dậy, vuốt nhẹ hàm râu. Tên lính hầu vội vã dương cao cái lọng. Vị phán quan đủng đỉnh bước ra giữa sân, chỗ Con Trai Bác Thợ Mộc đang đứng và người đàn bà ngồi co ro bên cạnh.
Phán quan cúi xuống, lầm thầm đọc. Rồi ném cho Con Trai Bác Thợ Mộc một cái nhìn gươm giáo và lặng lẽ xoay lưng, nhanh chân bước lên những bậc tam cấp của pháp đình, và mất hút bên trong. Tên lính hầu cuống quýt chạy theo.
Ông ấy viết gì thế? Thầy viết gì thế? Ngài viết gì thế?
Ngàn cái miệng réo lên câu hỏi. Âm thanh rào rào như sóng dấy mặt hồ những ngày dông bão.
Người chỉ huy đám lính bước nhanh đến chỗ ngồi của Con Trai Bác Thợ Mộc.
Ông ta nhìn chăm chú những chữ ngoằn ngoèo trên cát. Và ông ta quay mặt ra đám đông dõng dạc đọc cái câu ông ta bắt gặp.
Mọi người đồng loạt ồ lên, rồi người ta tranh nhau nói. Rồi tiếng ồn ào lắng xuống.
Cuối cùng là cái im lặng chết người.
Cái câu mà người chỉ huy toán lính vừa đọc làm lồng ngực tôi thắt lại. Những ông già, những bà già vạch đám đông bỏ về. Những gã trung niên, những phụ nữ đứng tuổi lũ lượt xô đẩy nhau. Những hòn đá bỏ lại lổn nhổn trên sân cát.
Cái túi vải bỗng dưng nặng trĩu trên vai tôi.
Tôi nhớ những cái vuốt ve cháy xém thịt da. Người đàn bà kia đã bao nhiêu lần lộng lẫy chấp chới nhưng cũng vô cùng thăm thẳm vực sâu trong cõi tối lòng tôi. Cái túi vải kéo lệch một bên vai tôi. Hai hòn đá màu xanh xám tôi dự tính ném vào nụ cười, vào câu nói ngọt ngào, vào cái vuốt ve rát ngọt của người đàn bà hư đốn. Tôi tưởng chừng mình đang vác trên vai những núi non tội lỗi. Sẽ phải làm gì với người đàn bà bội bạc kia.
Đám đông thưa dần. Tôi hốt hoảng nhìn quanh. Cái im lặng chết người phủ chụp khoảng sân ngập nắng. Sân pháp đình chỉ còn trơ trọi Con Trai Bác Thợ Mộc và người đàn bà tội lỗi. Nắng đổ lửa khắp nơi. Tôi làm gì ở đây thế này. Sao tôi không tuông chạy ngay từ khi dòng chữ của Con Trai Bác Thợ Mộc được người chỉ huy toán lính cao giọng đọc cho đám đông nghe.
Người đàn bà ngước nhìn tôi. Và cái xớn xác quyện lên trong mắt nhìn. Tôi thành tượng đá. Hai núi đá đè nặng trên vai. Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng. Tôi muốn hét lên như thế. Vị tiên tri trẻ tuổi nhìn tôi. Ánh mắt trùng trùng sự bao dung.
Tôi run rẩy tháo cái túi vải đeo vai xuống. Hai hòn đá nặng trĩu cánh tay. Tôi luống cuống dốc ngược cái túi. Hai hòn đá nặng nề lăn ra trên mặt cát.
Tôi muốn nói với vị tiên tri trẻ rằng thưa Thầy, con xứng đáng nhận cả hai hòn đá này và tất cả những hòn đá thiên hạ bỏ lại rải rác quanh đây. Nhưng tôi không thốt lên lời. Và cũng sức mạnh vô hình nào đó đẩy tôi xoay người bước đi. Một luồng gió nhẹ hiu hiu thổi, thả đến tai tôi giọng nói trầm của Con Trai Bác Thợ Mộc, “Hãy về và đừng phạm tội nữa.”
Tôi không biết nhờ gió đưa hay tại vị tiên tri cố tình muốn tôi nghe được câu nói ấy, nhưng tôi tin đó là lời dặn dò Ngài nói với tôi.
Và tôi lủi thủi ra về. Và từ đấy tôi thôi phạm tội. Tôi đã giữ mình trong sạch được – tính đến hôm nay là – sáu mươi mốt ngày.
Lời dặn dò Đấng Tiên Tri dành cho người đàn bà ấy. Cô em vợ, người tình của thằng tôi tội lỗi. Lời dặn dò ấy cũng dành cả cho tôi. Tôi còn nhớ. Và tôi tưởng cô ấy sẽ không bao giờ quên lời của Ngài.
Vậy mà hôm nay – vợ tôi mất chưa tròn một tuần trăng – cô ấy đã lại tìm đến tôi.

bài đã đăng của Hoàng Chính

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc.
Đăng nhập | Entries (RSS) | Comments (RSS)