Trang chính » Chống Kỳ Thị & Bạo Lực / Anti Discrimination & Hate, Dịch Thuật, Giới thiệu tác giả, Giới thiệu tác phẩm, Nhận Định, Phụ Nữ & Giới Tính, Sang Việt ngữ Email bài này

Birth Canal của Dias Novita Wuri: Giữa Sự Sống và Cái Chết

♦ Chuyển ngữ: 0 bình luận ♦ 24.01.2024
Dias-Novita-Wuri-Birth-Canal_thumb.png

   
*Bản Anh ngữ của Đinh Từ Bích Thúy
xuất hiện lần đầu ngày 9/28/2023 trên Tạp chí Asymptote.
  Bản dịch Việt ngữ của Trần C. Trí
                                

 

Dias Novita Wuri - Birth Canal

Nhà văn Dias Novita Wuri và bìa sách Birth Canal

LTS: Trong tác phẩm được thêu dệt tinh vi về ký ức gia truyền, những lịch sử chưa được kể lại, và di sản đa văn hóa của chúng ta, nhà văn Indonesia Dias Novita Wuri khai phá những quan hệ gia đình và nối liền các khoảng cách địa lý bằng tiếng nói sâu sắc và mạnh mẽ. Lần theo hành trình của những mảnh đời đan kết với nhau qua nhiều quốc gia, chế độ, lãnh thổ và khung cảnh, Birth Canal là một chứng nhân cho những dấu vết hữu hình và vô hình mà thân xác chúng ta đã để lại trong cuộc sống, một bình luận sâu sắc về phim ảnh khiêu dâm đã tạo tác hoặc dung túng các bạo lực ngấm ngầm, và trên hết là một văn bản của lòng can đảm và kiên trì.

Birth Canal, tiểu thuyết đầu tay với nhan đề khiêu khích mà tác giả Dias Novita Wuri đã tự dịch, thể hiện nỗ lực đầy thuyết phục của nhà văn trong cách liên kết thân xác phụ nữ với cấu trúc kể chuyện, khéo léo phô bày những xung đột giữa cấu trúc kể chuyện truyền thống thiên về “dương tính” được coi là mạch lạc và lịch sử “âm u/ô nhục” của những phụ nữ không có phương tiện luật pháp hoặc xã hội để lên án bạo lực và do đó những câu chuyện của họ thường bị tắc nghẽn hay đứt đoạn. Tựa Jalan Lahir trong nguyên tác tiếng Indonesia có thể được coi như một tổng kết hàm súc về luận đề và cấu trúc của tiểu thuyết: jalan có nghĩa là lối đi, đường thẳng, cách tiếp cận, dòng dõi, lộ trình, trong khi từ nguyên của nó có liên hệ với chữ yalan của ngôn ngữ Thổ Ottoman, gợi ý nghĩa lừa dối, giả mạo, gian trá; lahir, từ tiếng Á-rập zahir,  dùng như danh từ có nghĩa là “sự xuất hiện/phát sinh,” “sinh ra” nếu là động từ, và nếu dùng như tính từ thì là “bề ngoài”, “về mặt vật chất” hay “công khai”.

Đan kết những căng thẳng giữa sáng/tối, âm/dương, rõ ràng/mập mờ qua suốt tác phẩm, Wuri đã khai phá một “vành đai trắng” nằm giữa lối kể chuyện tuyến tính và lịch sử không liền lạc hoặc còn nhiều tranh cãi, bằng cách chuyển đổi một cách tài tình từ giọng kể của nhân vật ngôi thứ nhất, sang ngôi thứ hai hay ngôi thứ ba toàn tri. Qua hình thức đó, Birth Canal bao gồm bốn chương có cấu trúc đan chéo, ráp nối của phim ảnh, băng qua nhiều tuyến thời gian và không gian, lấy bối cảnh các địa danh lịch sử cũng như hiện đại của Indonesia, Hoà Lan và Nhật Bản, để dần dần lộ ra những mối liên hệ gia đình và tâm lý giữa sáu nhân vật nữ chính: Nastiti, Rukmini, Arini, Hanako, Dara và Ayaka.

Tiểu thuyết mở đầu trong bối cảnh thủ đô Jakarta hiện đại, sầm uất, về Nastiti, một nữ nhân viên văn phòng có quan điểm phóng khoáng về tình dục, đang bí mật chuẩn bị việc tự phá thai; (Indonesia—một quốc gia với đa số là người theo Hồi giáo—nghiêm cấm hành động này.) Chương đầu của truyện được kể qua cái nhìn của một người bạn thời thơ ấu không tên kể lại, về mối tình đơn phương của anh dành cho Nastiti, cho đến sau ngày cô phá thai và biến mất khỏi cuộc đời của anh. Trong hồi ức của thanh niên kể chuyện, chúng ta thấy Nastiti  như một ẩn số ngay trong lúc hình ảnh hoặc thân xác của cô được/bị phổ biến—như trường hợp cô được một tay nhiếp ảnh Tây Âu chụp hình trên đường phố rồi sau đó phóng lớn chân dung của cô để triển lãm trong một viện bảo tàng nghệ thuật. Người kể chuyện nhận ra rằng, chính vì nét quyến rũ thôi miên của Nastiti mà cô trở nên huyền hoặc và khó hiểu:

Có lúc vẻ ngây thơ của Nastiti lồ lộ như trái cây bị bóc vỏ, nhưng đó chỉ vì nàng cho phép đối tượng nghĩ như thế. Những lúc khác nàng có thể hoàn toàn khép kín.

Như bà mẹ (Arini) và bà ngoại (Rukmini) của Nastiti được nhắc đến trong các chương sau, Nastiti là một phụ nữ phức tạp có một quá khứ đau thương. Vẻ phóng đãng không che giấu của cô khiến người kể chuyện vừa phấn khích vừa phán xét. Anh ta chỉ được Nastiti coi như một cột dựa… tạm khi cô thấy cần, chứ chưa hẳn là tri kỷ: là kẻ mà đôi lúc cô thố lộ chút ít về những khủng hoảng nội tâm, nhưng chỉ là “một người hùng luôn đến muộn; vô ích và không cần thiết.” Người kể chuyện chấp nhận vai trò thụ động này vì không đủ nhạy bén để hiểu được Nastiti:

Tôi là người mà Nastiti thích trút lên đầu bất cứ chất thải độc địa nào đang đè nặng tâm trí nàng, nhưng tôi không rõ là nàng thực sự san sẻ với tôi bao nhiêu.

Dưới mắt của người thanh niên này, Nastiti là biểu tượng feminine của Moby Dick, con cá voi trắng của Melville, cùng lúc được phóng lớn và thu nhỏ qua kỹ thuật hiện đại và mạng truyền thông xã hội. Tương tự như nỗi ám ảnh của Ahab về Moby Dick, nhan sắc phụ nữ—thể hiện qua Nastiti và các nhân vật nữ khác trong Birth Canal—tuy được những người đàn ông quyền thế, hoặc thích chụp ảnh, thèm muốn, chính nó cũng đe dọa đàn ông và gây ra những ngộ nhận đưa đến bạo lực. Cho dù Nastiti không phải là con cá voi trắng siêu phàm mà chỉ là một người đàn bà tầm thường sống ở Jakarta, ngày ngày  đi métro đến một “công việc văn phòng chán chường”, chân mang “đôi dép cao-su xấu xí”, việc cô không cho phép người khác “đọc được” tâm trạng cô, hay nói nôm na là “đi guốc vào bụng cô,”  chính là một tiền đề feminist cho tác phẩm.

Không một nhân vật nữ nào của Wuri được các thế lực áp bức của lịch sử buông tha, nhưng họ—biểu hiện rõ nhất qua Dara (tên cô có nghĩa là “trinh tiết”, cũng liên quan tới “chính trực” và “nhất trí”)—đều tìm được giải pháp chống lại sự xâm phạm của đàn ông, cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Những người phụ nữ  được miêu tả trong tiểu thuyết có thể bị đày đoạ, bức hiếp, sách nhiễu tình dục, nhưng vẫn tỏ ra mạnh mẽ qua những hành động chống trả âm thầm hay công khai: có đời sống tình dục trước khi lập gia đình, phá thai, ngoại tình, tự vẫn, biến mất, lắng nghe, ghi nhớ và kiên trì.

Chương kế tiếp trong Birth Canal đưa người đọc đến thành phố Semarang thời Đệ Nhị Thế Chiến, với nhân vật chính là Rukmini; sau này cô trở thành bà ngoại của Nastiti, nhưng trong những ngày chinh chiến đó, cô là một thiếu nữ Indonesia lai Hoà Lan, bị đội quân chiếm đóng của Nhật bắt và cưỡng ép làm nô lệ tình dục. Chương này cũng giới thiệu Arini, con gái của Rukmini và là mẹ của Nastiti, một tiếp viên hàng không bay qua Hoà Lan thời hiện tại để kể cho một nhà nghiên cứu nữ quyền câu chuyện thương tâm của Rukmini.

Nếu ngôn ngữ, hay những khái niệm ngôn ngữ của chúng ta về tình yêu nam nữ, tình mẫu tử và nền tảng gia đình, vẫn bao hàm những thành kiến phản ảnh quyền lực hiện hữu, thì sự đày ải ra khỏi ngôn ngữ và các chuẩn mực xã hội sẽ thách đố điều mà lâu nay vẫn được coi là đương nhiên. Birth Canal đã trích dẫn một cách thích hợp lời ca trong bài “Anthem” của Leonard Cohen về những kẽ nứt đã cho phép ánh sáng luồn qua. Rukmini, do quá khứ bị bắt làm nô lệ tình dục làm chấn thương tinh thần vĩnh viễn, sau này đã sống như người xa lạ với chồng con. Bệnh trầm cảm của Rukmini đã để lộ những vết nứt trong môi trường văn hóa của cô—sự tê liệt tinh thần của Rukmini có thể được coi như hành động chối bỏ những áp đặt của xã hội trên vận mệnh phụ nữ, đã dồn họ vào khuôn một người vợ hay người mẹ lý tưởng. Bệnh trầm cảm của Rukmini vì thế đã từ từ chuyển biến các mối quan hệ về phái tính trong gia đình; cuối cùng chồng cô đã nhận lãnh vai trò làm người chăm sóc, trở thành cả cha lẫn mẹ của đứa con gái là Arini.

Trong tiểu thuyết, khái niệm về người đàn ông bị hoàn cảnh huấn luyện thành một “gà trống” phải bất đắc dĩ chăm sóc vợ, bạn gái, hay con gái, có nét đột phá lẫn hiện thực dưới ngòi bút của Wuri. Vì không được dự bị với bất cứ kiến thức nào để giúp họ hiểu thấu tâm trạng những người đàn bà đau khổ của họ, những người đàn ông này không phải là kẻ cứu rỗi, mà chỉ là bạn đồng hành có thiện chí nhưng thường lúng túng, vụng về. Họ thường đọc sai các tín hiệu tình cảm và không biết tế nhị trong cách cư xử, do đó càng phơi bày khuôn mẫu bấp bênh của một xã hội dựa trên định mệnh sinh lý và vai trò phái tính.

Trong Birth Canal, không có sự tương giao giữa khả năng sinh sản và tình mẫu tử, vì một người đàn bà có thể sinh con nhưng không có năng khiếu làm mẹ, hay ngược lại, có tiềm năng trở thành một người mẹ tuyệt vời nhưng lại không thể có con. Khái niệm “cửa mình” —hay “kênh sinh” —nếu dịch sát từ tựa Birth Canal của tiểu thuyết, là một khái niệm vừa “mở toang” vừa trắc trở, theo đúng nghĩa sinh vật học của nó, một lộ trình bí hiểm, không nhất thiết dẫn đến sự sống. Vì khái niệm cửa mình là giao điểm giữa sự sống và cái chết, trải nghiệm của con người có thể đi từ vô thức đến những điều hiển hiện, hoặc từ một nhận thức toàn vẹn đến nỗi bất an, hoảng loạn.

Khái niệm lưỡng thể về cửa mình không cho phép một kết thúc có hậu trong “Hana”—chương thứ ba của tiểu thuyết—với phong cảnh là thành phố Yokohama điêu tàn, đìu hiu sau Đệ Nhị Thế Chiến, trong thời kỳ phe Đồng Minh chiếm đóng Nhật Bản. Trong chương này, một nhiếp ảnh gia chiến trường người Mỹ, như một Pygmalion tân thời, đem lòng yêu Hanako sau khi chụp lén rồi cưỡng hiếp người thiếu phụ này. Y trở về Hoa Kỳ năm 1946, cho đến năm 1953 thì mới  rửa—hay “sinh ra”—cuộn phim chụp hình Hanako. Khi rửa xong những tấm hình chụp nạn nhân của mình, y đã tìm cách chuộc tội bằng cách dàn dựng một kết thúc kiểu Hollywood:

Tôi nói tôi xin lỗi, và nàng sẽ tha thứ cho tôi. Nàng đã tha thứ cho cả thế giới … cho thế chiến, và cho lũ đàn ông đã làm nàng đau khổ quá nhiều. Lúc nằm trên giường [ở nhà thương] … chắc nàng sẽ sinh ra một bé trai hay bé gái, và sau đó chắc nàng sẽ không còn phải phấn đấu với sự huỷ hoại vốn đã xảy ra rồi. Nàng nhìn về phía trước và thấy hào quang của hy vọng. Hy vọng bừng lên để chào đón một bình minh mới đang bắt đầu.

Nhưng đoạn kết coi bộ có hậu này lại lột trần sự thiếu cân bằng giữa quyền lực người chụp ảnh và đối tượng của y. Qua việc đơn phương vùi xoá chấn thương mà y đã gây ra cho Hanako và giả định rằng nàng sẽ tha thứ, nhiếp ảnh gia đã gia tăng bạo lực của y. Mong ước của y để có một kết thúc kiểu Hollywood có thể tương đương với ánh nhìn chủ quan của những người đàn ông xem phim khiêu dâm đã tưởng rằng đối tượng của họ lúc nào cũng sẵn sàng dâng hiến—dẫn độc giả đến chương cuối của Birth Canal trong bối cảnh ở Osaka vào thế kỷ 21. Trong chương này, Dara, một kiều dân Indonesia sống trong cuộc hôn nhân tẻ nhạt, sầu não vì không thể thụ thai, đã cố quên đi nỗi buồn của mình bằng cách theo dõi Ayaka, một diễn viên phim khiêu dâm người Nhật quê ở Yokohama—có thể có liên hệ ruột thịt với Hanako.

Phim ảnh khiêu dâm, trong văn cảnh của tiểu thuyết, có thể được so sánh như cách kể chuyện mang tính chất máy móc hay tuyên truyền, đưa đến một kết thúc đã được dự đoán. Thân thể trần trụi của người đàn bà trong phim ảnh khiêu dâm, như văn bản đặc mùi tuyên truyền, được biến  thành một hiện thể trong suốt, trống rỗng, không có nội tâm ngoài việc cưu mang một ý thức hệ tiền định. Để phản kháng, những người phụ nữ trong Birth Canal—tuy bị coi là nô lệ tình dục, diễn viên phim khiêu dâm và gái mại dâm—đã trừng mắt ngó lại bọn đàn ông bằng cách riêng của mình: để làm nhân chứng, để bảo toàn những lịch sử đặc thù của họ, như cách chống trả cấu trúc kể chuyện cực dương. Theo đó, trong suốt tiểu thuyết, Wuri không ngừng cảnh báo chúng ta về những bẫy ngầm của bạo lực nam giới. Trong các đoạn miêu tả việc cưỡng dâm, cô sử dụng hình thức văn xuôi mạnh mẽ và tả chân để minh hoạ hoàn cảnh tuyệt vọng của nạn nhân, đồng thời vạch trần khuynh hướng duy ngã của kẻ tấn công, thường gộp chung hành động chiếm đoạt với những cử chỉ ra vẻ “tràn đầy yêu thương.”

Như đã trình bày ở trên, biểu tượng cửa mình, khác với cách hành văn một chiều hoặc chỉ mang mục đích tuyên truyền, biểu lộ những mâu thuẫn, những cơ hội bị dập tắt, nhưng cũng là địa điểm của luân hồi. Theo như định nghĩa của nhà phân tâm học Dori Laub:

Những người sống sót sau chấn thương không sống với ký ức của quá khứ mà với một biến cố không thể, hoặc đã không, hạ hồi, không kết thúc, không được khép lại, và do đó, đối với những kẻ sống sót này, vẫn còn tiếp diễn đến ngày hôm nay, hằng hữu, vô tận.

Khái niệm chấn thương như một “gien” di truyền đã chọn cách kể chuyện phức tạp, để thách thức những luận đề dễ dãi và những giải pháp chiếu lệ. Theo Laub, nếu không có nhân chứng đáng tin cậy nào khác ngoài chính nạn nhân khi vấn nạn xảy ra, chấn thương chỉ có thể được xác nhận qua việc nạn nhân được lắng nghe sau đó: Arini cảm nhận được quá khứ đau buồn của mẹ cô bằng cách nghe mẹ kể chuyện, nhờ vậy cô trở thành nhân chứng gián tiếp của quá khứ này, rồi từ đó truyền lại cho các thế hệ sau, hầu đạt đến một kết thúc thực sự có hậu, qua những giải pháp phục hồi cho các nạn nhân tương tự. Hành động lắng nghe của Arini, bằng cách hoà mình vào nỗi đau khổ sâu thẳm của Rukmini, đã chứng minh sự hiện hữu của những gì tưởng như không thể nói ra.

Trước khi Birth Canal được sáng tác, khái niệm về nỗi chấn thương trường kỳ đã có mặt trong truyện ngắn khoa học giả tưởng của Wuri có nhan đề “Dioscuri”, trong đó một nhân vật sản sinh vô tính đã chất vấn lẽ sống của mình, cho rằng hắn được tạo ra không phải để có một đời sống tự quyết, mà chỉ để sao chép những bệnh tật và ý muốn tự hủy của người anh đã chết.

Trong các tác phẩm của Wuri, những kết cấu không thành tựu, được biểu tượng qua chuyện  phá thai, sảy thai, hài nhi chết non, giết con, và tự tử— xác nhận những chấn thương sâu xa của phụ nữ đồng thời cũng là một hình thức chống đối mang màu sắc chính trị. Sự phản kháng của tác giả đối với lối kể chuyện “thoải mái” có thể đem so sánh với cách nhân vật Dara không ngừng bóc những mảng vảy rướm máu trên đôi môi nứt nẻ của mình, nhất định không chịu che đậy vết thương dưới một lớp son đậm màu để giảm bớt nỗi ớn sợ của thiên hạ.

Khi chú trọng vào các đề tài dai dẳng và nóng bỏng liên quan đến giới phụ nữ Indonesia hiện đại, Dias Novita Wuri đang đi tiếp lộ trình nữ quyền do Ayu Utami dẫn đường, là người đã xuất hiện vào năm 1998, trong những ngày tàn của chế độ độc tài của Suharto, được coi là nhà văn tiền phong của truyền thống văn chương “thơm … nhưng sống sượng”(sastra wangi), dùng ngòi bút để soi rọi từng thớ thịt trên thể xác phụ nữ cùng những vấn đề về giới tính, từ tính dục đến những lựa chọn sinh sản, vấn nạn bạo lực. Khuynh hướng văn chương của Wuri cũng phản ảnh di sản đa văn hoá của Indonesia qua “hiệu ứng cánh bướm”, hay những kết nối tiềm tàng nhưng sâu rộng giữa các dân số thừa kế lịch sử thuộc địa của Indonesia. Makramé, tuyển tập truyện ngắn xuất bản năm 2017 của tác giả, là những suy niệm về jalin—những nút thắt hoặc những sợi chỉ đan bện vào nhau, nối kết tất cả mọi sự vật. Chúng ta có thể thấy sự liên hệ mật thiết giữa jalin trong Makramé jalan trong Birth Canal, từ ngòi bút của Wuri đã nảy sinh một địa hình sống động với những khả thể vô biên.

Đinh Từ Bích Thuý (Nguyên tác tiếng Anh)

Trần C. Trí chuyển ngữ

 

This publication was supported in whole or in part by funding provided by the State of California, administered by the California State Library in partnership with the California Department of Social Services and the California Commission on Asian and Pacific Islander American Affairs as part of the Stop the Hate program. To report a hate incident or hate crime and get support, go to CA vs Hate.

Tác phẩm này đã được hỗ trợ toàn phần hoặc một phần bằng nguồn tài trợ từ tiểu bang California, do Thư Viện Tiểu Bang California quản lý với sự hợp tác của Bộ Xã hội và Ủy ban đặc trách Cộng đồng Người Mỹ gốc Á Châu và Quần đảo Thái Bình Dương cho dự án Stop the Hate (Ngăn Chặn Lòng Thù Hận). Để báo cáo mọi sự việc liên hệ đến tội ác do thù ghét và những hành động kỳ thị chủng tộc, và để nhận lãnh hỗ trợ, xin vui lòng truy cập trang mạng của Bộ Dân Quyền (Civil Rights Department) Tiểu Bang California, CA vs Hate.

 

bài đã đăng của Đinh Từ Bích Thúy

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

@2006-2025 damau.org ♦ Tạp Chí Văn Chương Da Màu
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)