Trang chính » Chuyên Đề, Đọc và Đọc lại, , Lý Luận, Phỏng vấn, Quan Điểm, Văn Chương Thiếu Nhi Email bài này

Những Bất An của Hiện Thực: đọc văn chương (thiếu nhi) để đặt câu hỏi cho đời sống

clip_image004_thumb.jpg


clip_image002

Picasso, Ba Nhạc Sĩ (Three Musicians) (1921)

Bức tranh đã ám ảnh tôi từ ngày còn bé. Tôi rất sợ nó vì tầm mắt tôi từ giường chiếu thẳng lên bức tranh treo trên tường. Nơi tôi ngủ hằng đêm tuy có giường và hai kệ sách thật ra không hẳn là phòng ngủ của tôi, mà vừa là bàn giấy làm việc của bố mẹ tôi và nơi chị Hai dùng làm phòng ủi và gấp quần áo mỗi trưa—do căn phòng có hai cánh cửa mở ra bao lơn chỗ quần áo giặt được phơi trên dây kẽm hàng ngày. Không gian trong căn nhà tôi–tại địa chỉ 248 Cao Đạt, quận 5 Sàigòn–là không gian đa tầng, đan chéo lẫn nhau, dùng cho nhiều sinh hoạt trong một gia đình bận rộn và đông con.

Lúc đó vì còn bé nên tôi chưa biết bức tranh là một tác phẩm cubist của Picasso. Tôi chỉ than với bố là bức tranh “Ba Nhạc Sĩ” trông ma quái quá, tôi không dám nhắm mắt về đêm vì sợ nó sẽ gây ác mộng cho tôi. Bố tôi nói bức tranh sẽ dần dần giúp tôi nhìn xuyên qua những hiện thực tưởng là cụ thể của hàng ngày, và đó cũng là tác phẩm bất hủ của một thiên tài, vẽ họa sĩ mặc bộ quần áo Pierrot là hề câm và hai người bạn đều là nhà thơ, người đứng giữa mặc bộ quần áo hề Harlequin đi lính rồi sau chết sớm vì bệnh cúm, còn người mặc áo chùng đen có cái mặt góc cạnh và râu ria như vân gỗ thì đi tu. Tuy được bố tôi giảng giải, tôi vẫn không hiểu ý nghĩa của bức tranh là gì.

Tôi là con gái đầu lòng, được sinh ra lúc bố mẹ tôi còn rất trẻ, về sau tôi có cảm tưởng tôi là một con người chỉ bé về hình dáng, hơn là một đứa trẻ theo đúng nghĩa dưới ánh mắt bố mẹ tôi. Những người bạn của bố mẹ tôi khi đến thăm thường nói là tôi giống bố như đúc, một vài người còn nói thêm, “Con giống cha là nhà có phúc.” Hình như đây là lời an ủi, vì tôi biết nhiều người nghĩ mẹ tôi rất đẹp, nhưng không ai bảo là tôi giống mẹ tôi. Mẹ tôi đùa bà không sinh ra tôi từ bụng, mà chính bố tôi mới là người “ho” ra tôi. Từ lúc có trí nhớ, tôi đã được bố mẹ tập cho quen với trạng thái chênh vênh và đầy nghi vấn, như cách người cha dạy dỗ đứa con trong bài thơ “Nhìn con tập lật” của Nguyễn Đức Sơn:

Nắm tay lật úp đi con
Co thân tròn trịa như hòn đá lăn
Muốn cho đời sống không cằn
Tập cho quen mất thăng bằng từ đây

clip_image004 Thuy - Smiling Profile - 8-14-20
                                                         Đinh Từ Bích Thúy năm 1970 và năm 2020                                                                 

Vào những năm đầu của thập niên 70, bố tôi viết báo và mẹ tôi dạy học. Tôi không có một khái niệm rõ rệt nào giữa văn chương thiếu nhi và văn chương người lớn, mà chỉ biết rằng những quyển sách trong tủ sách ở phòng khách là những sách cấm được khóa kín với cái khóa có móc chìa khóa là mẩu đá xám tạc tượng Venus de Milo cụt tay, còn bất cứ những sách nào ở bên ngoài tủ sách, như Đông Châu Liệt Quốc, Tây Du Ký, Thủy Hử, bộ Kinh Thánh Bằng Tranh, bộ Nhà Văn Hiện Đại bìa cứng bọc vải đỏ in chữ vàng của Vũ Ngọc Phan, Giảng Văn Trung Học Đệ Nhất Cấp, Giai Thoại Làng Nho của Lãng Nhân, Đất Lề Quê Thói của Nhất Thanh, Cổ Học Tinh Hoa (Nguyễn văn Ngọc & Trần Lê Nhân), Tục Ngữ Ca DaoTruyện Cổ Nước Nam của Nguyễn Văn Ngọc, bộ sách Trang TửMạnh Tử, Con Trâu của Trần Tiêu, Hồn Bướm Mơ Tiên của Khái Hưng, Tuấn Chàng Trai Nước Việt của Nguyễn Vỹ, Giờ Thứ 25 của Constantin V. Gheorghiu (bản dịch Mặc Đỗ), Đất Lành, Người Yêu Nước, Lá Thư Bắc Kinh,Trang của Pearl Buck (mà có lẽ dịch giả là Vũ Kim Thư, tôi thật sự không nhớ rõ?), là những sách mà tôi có thể tự do đọc.

Một hôm tôi mượn người bạn hàng xóm quyển tiểu thuyết Tôi là Mẹ của Lê văn Trương nhưng lúc mang về nhà thì thấy bố tôi giận lắm, và bắt tôi phải đi trả ngay quyển sách. Ông phán:

-Từ nay đừng bao giờ cho bố thấy con đọc bất cứ một quyển truyện nào của Lê văn Trương, nghe rõ chưa? Ông ta không phải là một nhà văn, chỉ là người viết truyện rẻ tiền không nên đọc.

-Vậy thế nào là một nhà văn hở bố?

Nhưng bố tôi không trả lời. Từ xưa cho đến ngay cả bây giờ, ông ít khi đọc tiểu thuyết, thơ văn, vì nghĩ chuyện thời sự ở ngoài đời thường ly kỳ gấp vạn lần văn chương.

Tức vì bố tôi không chịu giải nghĩa tại sao ông cấm không cho tôi đọc Tôi Là Mẹ của Lê Văn Trương, và cũng để tự tìm hiểu xem thế nào thì được coi là một nhà văn, tôi bèn đọc Nhà Văn Hiện Đại của Vũ Ngọc Phan. Vô tình, bố tôi đã giúp tôi có một căn bản về nền văn chương đầu thế kỷ 20 và văn chương tiền chiến của Việt Nam. Ông không thể biết rằng chỉ vài năm sau đó miền Nam sẽ thất thủ, và nếu tôi đã không đọc trọn bộ quyển Nhà Văn Hiện Đại trong nhiều buổi trưa oi bức của những năm 1972, 73, 74, chắc kiến thức văn chương Việt ngữ của tôi sẽ rất lơ mơ, vì tôi chỉ mới mười ba khi Sàigòn mất. Sách báo Việt của những năm trước khi Mỹ tái bang giao với Việt Nam thì không nhiều, và gia đình tôi lúc sang Mỹ cũng không định cư ở một nơi có đông đảo người Việt.

Nhờ đọc Nhà Văn Hiện Đại nên tôi tìm thấy bài thơ “Tình Già” của Phan Khôi. Năm lên 10, tôi rất thích đoạn cuối của bài thơ:

Hai mươi bốn năm sau,
tình cờ đất khách gặp nhau:
Đôi cái đầu đều bạc.
Nếu chẳng quen lung, đố có nhìn ra được.
Ôn chuyện cũ mà thôi. Liếc đưa nhau đi rồi,
con mắt còn có đuôi.

Đối với tôi, một đứa bé sinh ra ở miền Nam trong một gia đình Bắc di cư, cách dùng chữ của Phan Khôi thật hàm súc và cũng thật ngộ nghĩnh, “Nếu chẳng quen lung, đố có nhìn ra được.” Tôi không chắc “quen lung” là thế nào, nhưng thấy chữ này hay hay, và đoán “lung” là sâu, ngược lại với nông. Bản “Tình Già” trong Nhà Văn Hiện Đại có dấu chấm, thay vì dấu hỏi, ở cuối câu “Nếu chẳng quen lung, đố có nhìn ra được.” Đây là một câu khẳng định, không phải là một câu nghi vấn giữa hai tâm hồn tri kỷ, cho nên “Liếc đưa nhau đi rồi, /con mắt còn có đuôi.” Chỉ một ánh mắt và sự im lặng giữa đôi bên là quá đủ.

Nếu tôi đã lờ mờ nhận thức rằng một người viết, để được coi là một nhà văn, phải gợi cho người đọc nhiều suy nghĩ trong cách họ hành văn và diễn tả ý nghĩa, thì tôi cũng bắt đầu cảm nhận rằng một nhà phê bình văn chương có rất nhiều quyền lực trong cách họ đánh giá thế nào là văn chương “đáng đọc,” và do đó có khả năng kiểm duyệt những loại văn chương “không nên/không đáng đọc.” Tuy Lê văn Trương có mặt trong danh sách những nhà văn hiện đại của Vũ Ngọc Phan, nhà phê bình đã nhận xét về Lê văn Trương trong truyện Tôi là Mẹ như sau:

Có một việc mà Lê văn Trương đem vào hầu hết các tiểu thuyết của ông và hình như ông coi là việc ‘anh hùng’ lắm, đó là việc buôn lậu …. Như vậy, chẳng rõ nghề buôn lậu tác giả Tôi là Mẹ có cho là một nghề lương thiện và chính đáng không? Thiết tưởng cái luân lý ‘liều mạng xông ra giật cho con’ không phải là thứ luân lý cao thượng cho lắm.[1]

Eureka! Có lẽ đây mới chính là lý do tại sao bố tôi cấm không cho tôi đọc Tôi là Mẹ, vì Lê văn Trương cổ võ cho môi trường của người buôn lậu thuốc phiện và như thế có thể đầu độc cái nhìn của một đứa trẻ như tôi?

Tôi cũng học được nhiều chữ đao to búa lớn trong quyển Nhà Văn Hiện Đại của Vũ Ngọc Phan, như “duy vật” và “duy tâm.” Vài năm sau, khi tôi trở thành nữ sinh Trưng Vương, trong giờ trần thuyết truyện Con Trâu của Trần Tiêu, tôi đã hỏi bạn học diễn thuyết bên đối thủ rằng con trâu trong tiểu thuyết là một biểu tượng duy vật hay duy tâm. (Dĩ nhiên là không ai, ngay cả tôi lúc đó, thực sự hiểu hay có thể trả lời câu hỏi này, vì tôi không biết gì về Marxism năm 12 tuổi mà chỉ thích lòe thiên hạ với những từ lớn, và trong đám chúng tôi lúc đó chưa ai đã đọc truyện “Bạch Hóa” của Cung Tích Biền, mà theo tôi lúc này là một đối thoại văn chương xuyên thời đại với truyện Con Trâu của Trần Tiêu).

clip_image006Đinh Từ Bích Thúy (hàng giữa, trái), tháng 10, 1974 (Hình chụp với lớp 7A1 Trưng Vương, Kỷ Yếu 74-75) 

Ngoài bộ Nhà Văn Hiện Đại dài hơn 1200 trang của Vũ Ngọc Phan, hai quyển sách từng gây nhiều suy tư và bất an cho tôi là quyển Kinh Thánh Bằng Tranh và quyển Trang Tử (tôi không nhớ tên dịch giả). Tôi không rõ bố mẹ tôi lúc đó đã định nghĩa thế nào là sách không cần cấm, vì hai quyển sách trên, tuy nằm khơi khơi trên kệ sách gia đình, thật ra là hai tác phẩm khá … nguy hiểm vì chúng có khả năng làm xáo động tinh thần. Trong quyển Kinh Thánh Bằng Tranh, tranh vẽ địa ngục không có quỷ, không có lửa cháy phừng phực, không có những linh hồn chới với hãi hùng trên ngọn lửa, mà được thể hiện qua mặt đồng hồ vĩ đại viền đen chiếm gần hết một trang sách lớn, với giòng chữ chạy quanh số giờ như những hố xoáy: Đời đời chẳng cùng, đời đời chẳng cùng, đời đời chẳng cùng ….

Thật khiếp đảm!

Còn trong quyển Trang Tử thì có một đối thoại giữa Nhan Hồi và Trọng Ni (Khổng Tử). Trọng Ni khuyên Nhan Hồi nên hết sức thận trọng khi sang nước Vệ khuyên nhủ Vệ Trang Công, một vị vua độc tài và hà khắc. Lời khuyên của Trọng Ni, “Tuyệt tích dị, vô hành địa nan,” được dịch là “không đi trên đường là điều dễ, đi mà không để lại vết chân trên đường là điều khó.” Lúc đó tôi không hiểu Trọng Ni nói “đi mà không để lại một vết chân trên đường” là thế nào? Trong Tân Ước, Giêsu chứng minh Ngài là Thiên Chúa với các tông đồ bằng cách lướt chân trên sóng như không chạm đến nước, còn cách Trọng Ni khuyên Nhan Hồi nên học cách đi trên đường mà không chạm chân tới đất là cách cư xử trong nhân thế hay cũng có thể được hiểu theo nghĩa cao siêu của chân lý hoặc tôn giáo? Có phải lời khuyên của Trọng Ni chỉ có nghĩa thực tiễn là giúp Nhan Hồi áp dụng thế lực của mình sao cho khôn khéo để vua Vệ không nghi ngờ là bị điều khiển? Hay Trọng Ni muốn khuyên Nhan Hồi một cách sâu xa, triết lý hơn, là cho dù Nhan Hồi có dấn thân vào đường chính trị, cũng đừng nên để chính trị ảnh hưởng đến cách đi đứng/khuynh hướng luân lý của mình, do đó chính chuyện không màng đến danh lợi thế gian—không để lại vết chân trên đường–mới là sự giác ngộ cần thiết? Tuy những suy tưởng trên là của về sau, chúng đã được cấy mầm từ ngày tôi bắt đầu đọc Trang Tử. Tôi đã đọc những chương trong sách như những bài toán đố, với nhiều ngờ vực và thắc mắc về ngôn ngữ của văn bản, cùng nguyện ước được ban cho khả năng giải mã.

Hồi đó mọi “bé” trong những truyện dành cho trẻ em mà tôi đã đọc, nếu không xinh xắn hoặc là con út, để tóc dài hoặc thắt bím, thích nhõng nhẽo và ngây thơ quá tuổi, thì lúc nào cũng rất siêng năng, tháo vát, quân bình, xuất sắc trong mọi môn học, và thích dậy sớm. Lúc đó tôi cắt tóc tém, không siêng năng và ít khi dậy đúng giờ mặc dù trường đạo Thánh Linh mà tôi học đến lớp nhất (lớp 5 bây giờ) bắt đầu vào đúng 7 giờ sáng mỗi ngày. Tôi không hoạt bát nhưng ngấm ngầm nổi loạn trước những người lớn tôi không phục hay không thấy là hợp lý. Tôi không khéo tay, ghét thủ công, thêu thùa, và có một năm trước Giáng Sinh tôi đã chọn chịu đòn và lãnh zero trong môn thủ công chỉ vì tôi không thích bị các soeurs ép phải làm Ngôi Sao Bethlehem bằng tre lồng giấy bóng và dát kim nhũ cho trường mang bán ở Hội chợ Noel gây quỹ cho xứ đạo. Vào buổi tối tôi thích nghe tiếng đánh máy của bố tôi trên máy chữ như âm thanh phụ họa cho thông tin đài BBC, thỉnh thoảng xem đoàn cải lương Kim Chung hoặc Dạ Lý Hương trên ti-vi với chị Hai. Ngoài ra còn nhiều chương trình hấp dẫn khác trên ti-vi khiến tôi luôn muốn thức khuya như Kịch Sống của Túy Hồng, chương trình ca nhạc kịch Hoàng Thi Thơ, Kịch Lúc Không Giờ v.v… Hồi đó tôi nhớ đoàn Dạ Lý Hương có diễn trên ti-vi vở tuồng Bí Mật của Chàng, với Bạch Tuyết và Hùng Cường, mà về sau tôi nghi là được phỏng dịch từ tiểu thuyết The Sun Also Rises của Hemingway.

Tôi thường vào đọc trang Mai Bê Bi trên Chính Luận có họa sĩ Long Ân vẽ tranh minh họa. Ông vẽ hí họa bằng mực đen với những vòng tròn biểu hiện cho đầu người, con mắt, thân hình những đứa bé tròn trĩnh, hao hao giống nghệ thuật thiền và tranh Peanuts của họa sĩ Mỹ là Charles Schultz. Mai Bê Bi có mục truyện cổ tích, và bây giờ tôi vẫn còn nhớ một truyện khá lạ lùng. Truyện kể về sự ngộ nhận/đa nghĩa của danh từ “tép.” Có một ông vua muốn kén rể cho cô con gái là một công chúa cực kỳ diễm lệ, nên cho rao khắp bốn phương rằng điều kiện chọn rể của ông rất đơn giản—hễ ai mang đến cho ông hai ký tép thì người đó sẽ được ông gả cho con gái. Bao nhiêu chàng trai nghĩ điều kiện quá dễ dàng, nên rần rần kéo về kinh thành, mỗi người chân chỉ hạt bột mang theo hai ký tép dâng vua, nhưng hỡi ôi, tất cả bọn họ đều bị vua chém đầu. Cuối cùng có một chàng nông dân mang cho ông vua tất cả những thứ “tép” trái cây được trang hoàng rất mỹ thuật trên khay sơn mài khảm xà cừ: tép bưởi, tép lựu, tép cam, tép quít, v.v… và được ông vua lập tức chấp thuận gả công chúa. Và luân lý của truyện? Đó là Đừng Tham Lợi Trước Mắt Mà Không Biết Nghĩ Xa (!)

Cuối cùng thì tôi cũng có cách mở được tủ sách cấm của bố mẹ tôi. Chị Hai, người làm của gia đình tôi, quê ở Kiên Giang, do không được đi học nên không biết đọc và viết, một hôm nhờ tôi viết thư để chị gửi về quê hỏi thăm gia đình. Chị hứa sẽ trả công cho tôi bằng những hàng quà vặt hấp dẫn thường đi rao qua nhà tôi vào mỗi buổi trưa, như bánh tiêu, chuối chiên, tàu hũ, chè bắp, bánh cra-vát quyện đường lỏng v.v…. Tôi dằn sự háu ăn của mình và nói tôi không dám nhận quà của chị, nhưng chỉ xin chị cho tôi mượn chìa khóa có tượng Vệ nữ màu xám để tôi mở tủ sách—vì bố mẹ tôi khi vắng mặt thường trao chìa khóa tủ cho chị Hai giữ.

Khi tủ sách được mở, tôi thấy bên trong phần nhiều là tiểu thuyết hoặc truyện phóng tác của Hoàng Hải Thủy, như Định Mệnh Đã An Bài, Chiếc Hôn Tử Biệt (phóng tác tiểu thuyết A Kiss Before Dying của Ira Levin), Tiếng Cười Trong Đêm Tối (phóng tác tiểu thuyết Laughter in the Dark của Vladimir Nabokov), Yêu của Chu Tử, Kiếp Người (Of Human Bondage) của Somerset Maugham (bản dịch Nguyễn Hiến Lê), và Tâm Cảnh (Climats) của André Maurois (bản dịch Mặc Đỗ).

clip_image008

Để khỏi bị lộ tẩy, tôi chỉ rút ra một quyển sách mỗi lần lấy chìa khóa mở tủ sách cấm. Tôi phải công nhận tiểu thuyết Tâm Cảnh của André Maurois–qua bản dịch Mặc Đỗ–là một tuyệt tác trong tủ sách cấm; nó xứng đáng là một kỳ công cho hành vi vượt rào của tôi! Tôi thích truyện đến nỗi 40 năm sau phải mua nguyên bản tiếng Pháp để đọc lại. Điều khó hiểu là tại sao bố mẹ tôi lại coi Tâm Cảnh là sách cấm? Tâm Cảnh diễn tả hai cuộc hôn nhân/tình yêu thất bại của Philippe Marcenat, với hai người vợ là Odile và Isabelle. Philippe thần tượng hóa Odile và thường ghen tuông nên điều này đã làm đổ vỡ cuộc hôn nhân giữa hai người. Sau đó Philippe lấy Isabelle de Cheverny, và oái oăm thay lại muốn Isabelle trở thành Odile thứ hai. Tôi thích truyện Tâm Cảnh vì lần đầu tiên tôi gặp Isabelle là một nhân vật tiểu thuyết mà tôi khâm phục: thông minh, quý phái, hợp lý, cởi mở, và nhân từ. Cấu trúc của tiểu thuyết là những trao đổi thư từ giữa Philippe và Isabelle. Song song với đề tài tình yêu, Tâm Cảnh cũng là một suy niệm về thú đọc sách: như Philippe—một Narcissus hiện đại, chúng ta yêu người khác và đọc sách để tìm thấy chính mình, hay như Isabelle, chúng ta yêu đối tượng và đọc sách để tìm hiểu những người không giống chúng ta, những tâm cảnh lạ? Dĩ nhiên lúc đó tôi chưa nghĩ được như vậy, nhưng tôi thích cách André Maurois mô tả tỉ mỉ tâm lý những nhân vật, và tôi cũng thích “không khí” đầy nghi vấn về tình yêu/hôn nhân trong truyện: một cuộc tình/hôn nhân thành công không bắt buộc một người phải tôn thờ người kia (nhưng trong sự tôn thờ đó thật ra lại giam hãm đối tượng như một nô lệ). Tâm Cảnh cho tôi một không gian nhiều suy tưởng, khác nhưng cùng lúc không khác cái không gian hàm súc của “Tình Già.”

Bên cạnh nhiều thế giới lạ được mở ra từ sách báo “tự do” cũng như sách báo cấm ở nhà, cải lương, kịch, phim ảnh Hồng Kông, và môn lịch sử Việt trình độ lớp Nhất trường đạo cũng là những phương tiện du hành vượt không gian và thời gian cho một đứa trẻ lớn lên ở Sàigòn trong thập niên 70. Những câu chuyện về các thánh tử đạo Việt Nam thà chịu chém đầu thay vì dẫm lên thánh giá Chúa, hay chuyện Phạm Hồng Thái, mới hai mươi tám tuổi, giả dạng ký giả vào khách sạn Quảng Châu với âm mưu bỏ bom ám sát toàn quyền Đông Dương Martial Merlin rồi không thành nên phải nhảy xuống sông Châu Giang tự tử, hay chuyện Cô Giang, ý trung nhân của Nguyễn Thái Học, đã tự tử bằng súng lục sau khi nhà cách mạng và các bạn của cô bị xử tử ở Yên Bái–cho tôi một khái niệm về những hy sinh được coi là quyết liệt, cần thiết cho tôn giáo, quốc gia, hình như quan trọng hơn là sự sống tồn hay hành trình đi tìm hạnh phúc của một cá nhân. Tuổi trẻ của chúng tôi là một tuổi trẻ chờ đợi hòa bình, chấp nhận bạo lực và cái chết trong những truyện kể như điều tự nhiên. Trong lớp sử, tôi thắc mắc nhưng không dám hỏi: sao các thánh tử vì đạo không giả vờ dẫm lên thánh giá để được tha rồi tiếp tục sinh hoạt và phổ biến đạo, sao Phạm Hồng Thái phải nhảy xuống sông tự tử mà không tìm đường trốn, sao Cô Giang không kiên nhẫn hơn, và không quyết sống để báo oán cho người yêu, và cho dân tộc? Có thể nói sự giáo dục lúc bé của tôi là những câu hỏi không có giải đáp, hay bị coi là “lạc đề” vì ra ngoài khuôn khổ của chương trình học.

clip_image010

Vào khoảng thời gian này tôi đọc Những Giọt Mực của Lê Tất Điều—đây là một tập truyện tôi yêu thích nghiêng ngửa với Tâm Cảnh. Tôi bị cuốn hút ngay vào cái không khí huyền ảo của những đồ vật biết nói, biết mơ mộng, suy luận, và xảo trá như người. Không gian trong Những Giọt Mực là một không gian hiểm nghèo, đầy đe dọa, với mất mát và sự chết luôn rình rập ở mọi góc nhà, ngay bên ngoài cánh cửa. Thế giới này, nếu là của thiếu nhi, thì thật ra vô cùng bất an. Lọ mực pha lê trong tập truyện có thể phản ảnh từ đáy lòng cả một trời trăng sao, nhưng vẫn ước ao được vỡ vụn để trở thành muôn ngàn vũ trụ. Mọi sáng tạo như đi liền với sự hủy diệt.

Ngay ở truyện đầu, “Trung Thu của Bác Đèn Xếp,” là một sự hy sinh gây sốc: bác đèn xếp trở thành anh hùng cảm tử khi cố căng hết những nếp gấp của mình, rướn người cho ánh nến bên trong đèn giấy soi đủ sáng để Ông Cung Tên có thể bắn trúng con chuột cống đang nhâng nháo gặm gáy Cụ Sách dưới góc tủ, rồi sau đó bị thiêu hủy bởi chính ngọn lửa dấy lên từ lòng bác.

Còn “chú bé” chủ của những đồ vật trong phòng? Nếu cậu là tượng trưng cho Tạo Hóa hay uy quyền thì cậu rất bừa bãi, vô trách nhiệm, thích phá hủy, và ích kỷ. Cậu mang con diều đi chơi, gặp hôm trời mưa, diều bay rồi bị vướng vào cột điện trong thành phố, sau đó gió bão làm tan xác diều. (Con diều tan xác trong Những Giọt Mực đã làm tôi nghĩ đến Bác Chương, người anh họ phi công của mẹ tôi, trong một chuyến công tác đã bị bắn rơi máy bay và mất tích.)

Còn đôi guốc đi quanh nhà, tuy trông thô kệch nhưng lại rất phiêu lưu lãng mạn, khi một chiếc guốc nhảy mương theo dòng nước cuốn đi xa để thoát cảnh tù túng, chiếc kia cũng quyết tâm bỏ nhà đi tìm bạn mình để cuộc đời còn lại không trở thành vô nghĩa. (Không hiểu tác giả Lê Tất Điều khi viết về đôi guốc có nghĩ là vài năm sau đó, sẽ có những thuyền nhân cũng vượt biển đi tìm tự do?)

Đoạn cuối của Những Giọt Mực mới thật là kinh dị. Lão Dao Sắc, do được chú bé mang từ bếp lên phòng trên rồi vô ý vứt vào xó nhà, đã lợi dụng thời cơ dụ dỗ và cắt đôi gần hết những đồ vật trong phòng, ngay cả Cụ Sách cũng bị Lão Dao Sắc phỉnh gạt rồi chẻ đôi. Rồi chị Bóng, như bác đèn xếp ở đầu tập truyện, cũng chọn con đường cảm tử, tự chạm mình vào Lão Dao Sắc để được nổ tung, mong tiếng nổ sẽ đánh thức chú bé để chú ra cứu các bạn của chị. Đoạn kết là một lửng lơ vừa nghẹt thở vừa … hiện sinh, vì tôi không biết chú bé có xuất hiện kịp để cứu số phận những đồ vật bị chia đôi hay không?

***

Nếu những truyện ngày xưa tôi đọc chỉ mang đến cho tôi những câu hỏi, và đẩy tôi ra những hoang địa huyền ảo nơi sự tự hủy hoặc mọi trì hoãn hạnh phúc được coi là cần thiết cho tương lai sống còn của một cộng đồng hay một quốc gia, thì những truyện thiếu nhi ngày nay ở Mỹ thường có thông điệp kiểm kê và trấn an, để đưa những tâm hồn bé nhỏ “về nhà,” hay trở về “nền văn minh” và “kỷ luật” sau những cuộc phiêu lưu hoang dã. Đây có phải là nội dung ẩn (subtext) của nền văn hóa đế quốc?

Goodnight Moon cover
Truyện nhi đồng Chúc Mặt Trăng Ngủ Ngon (Goodnight Moon) của Margaret Wise Brown là một kiểm kê giang sơn như cách giỗ ngủ: “Chúc ngủ ngon căn phòng. Chúc ngủ ngon mặt trăng. Chúc ngủ ngon bác bò nhảy ngang qua mặt trăng. Chúc ngủ ngon ánh sáng và quả bóng đỏ ….” Trong sách truyện (Thỏ Con Chạy Trốn) (The Runaway Bunny) cùng tác giả, thỏ mẹ–như bàn tay Đức Phật mở bát ngát những cánh rừng trùng điệp nhưng đồng thời là vẫn là không gian rào quanh Tôn Ngộ Không để hắn không bao giờ chạy thoát—nhắc nhở thỏ con rằng nó không bao giờ có thể chạy vuột tầm nhìn của thỏ mẹ, vì thỏ mẹ lúc nào cũng ở bên cạnh thỏ con cho dù nó có muốn đi rất xa, vì thỏ mẹ chính là nơi trú ngụ an lành của thỏ con:

Nếu con là đá trên ngọn núi cao
Mẹ sẽ là người leo núi đến tận nơi phiến đá.

Nếu con là huệ tây trong khu vườn kín
Mẹ sẽ là người làm vườn. Và mẹ sẽ thấy con

Nếu con là chim bay xa bay xa
Mẹ sẽ là cây cành để con bay về đậu.

Trong truyện Nơi Hoang Thú Tung Hoành (Where the Wild Things Are) của Maurice Sendak, Max, một thằng bé ngỗ nghịch bị mẹ phạt bắt nhịn cơm đi ngủ, tưởng tượng căn phòng của nó trở thành một cánh rừng mênh mông với những con thú mặt mày ngổ ngáo la hét tôn vinh nó làm vua, nhưng cuối cùng thằng bé cảm thấy cô đơn trong một thế giới không biên cương, không kỷ luật, nên đã từ biệt những cận thần quái vật để chèo thuyền về nhà với mẹ. Căn phòng lúc Max trở về là một không gian ấm cúng, nơi mâm cơm tối còn nóng hổi đang chờ đợi bên giường.

clip_image012

Hai loạt truyện thiếu nhi có nội dung thuộc địa như Voi Babar (Histoire de Babar) của Jean de Brunhoff và Chú Khỉ George Tò Mò (Curious George) của H. A. Rey và Margret Rey thuật lại hành trình “văn minh hóa” của voi Babar và khỉ George xuất xứ từ rừng rú Phi Châu được mang về thành phố dạy dỗ, mặc quần áo và sống chung với người da trắng.

 

  -Brunhoff_–_Histoire_de_Babar,_le_petit_éléphant_(1931)_chasseur  Babar and the old lady[3]  Curious George cover

***

Vào tháng 10 năm nay, nhân dịp Hội Văn Học Nghệ Thuật Việt Mỹ (VAALA) tổ chức virtual Viet Book Fest (Liên Hoan Mạng cho Sách Thiếu Nhi) dành cho các thiếu nhi/thiếu niên Việt Nam hoàn cầu, tôi đã có dịp đọc bốn tác phẩm tham dự và cũng ở trong số khán giả xem buổi đọc sách/thảo luận trên Zoom ngày 24 tháng 10 cho Chicken of the Sea (Gà Cướp Biển) của tác giả Nguyễn Thanh Việt và con trai Ellison Nguyễn, cùng họa sĩ minh họa Thi Bùi và con trai Hiển Bùi Stafford.

chicken of the sea

Văn học Việt Nam ngoài nước, đại diện cho “bên thua cuộc,” có thể coi như bị đày ải hai lần vì nó không thuộc về truyền thống văn học của Việt Nam cũng như truyền thống giòng chính của nước sở tại.  Để chống lại tình trạng này, các nhà văn Mỹ gốc Việt, qua các tác phẩm dành cho thiếu nhi/thiếu niên, thường truyền bá một thông điệp khứ hồi tương tự như dịch thuật: làm thế nào để vừa về quê vừa được tại gia, trong cách bảo tồn truyền thống văn hóa của cộng đồng di cư cùng lúc hòa nhập và diễn giải truyền thống này ở một môi trường đa hóa, đa diện.

My footprints cover  A page from picture-book-my-footprints
Trong truyện tranh My Footprints (Dấu chân tôi) của Bảo Phi, một bé gái người Mỹ gốc Việt cảm thấy tự hào về hai người mẹ Việt-Ấn đồng tính của mình

Mở đầu chương trình Liên Hoan Sách Thiếu Nhi của VAALA là tập truyện Vietnamese Children’s Favorite Stories (Những Câu Chuyện Yêu Thích của Trẻ Em Việt Nam) của Trần Thị Minh Phước thuật lại những huyền thoại căn bản có tính cách nhận thức học—như chuyện dân tộc Việt ăn bánh chưng vào dịp Tết âm lịch, và chuyện mùa lũ bắt nguồn từ mối tị hiềm truyền kiếp giữa Sơn Tinh và Thủy Tinh.  Green Lantern: Legacy (Huyền thoại Đèn Xanh: Di Sản) của Minh Lê dung hòa các giá trị văn hóa dị biệt, đưa quan điểm Việt Nam và lịch sử cộng đồng tỵ nạn vào truyện tranh về nhóm siêu nhân Đèn Xanh của nền comic Hoa kỳ.  Ý tưởng về bản sắc không tùng phục luân lý bảo thủ được phản ảnh qua tác phẩm My Footprints (Dấu chân tôi) của Bảo Phi, trong đó một bé gái người Mỹ gốc Việt cảm thấy tự hào về hai người mẹ Việt-Ấn đồng tính của mình. Truyền thống hòa hợp của cô bé được tượng trưng qua hình ảnh chim phượng hoàng của văn hóa Đông Á và con hươu thần Sharabha của huyền thoại Hindu. Tác phẩm chót trong chương trình Liên Hoan Sách là quyển Chicken of the Sea (Gà Cướp Biển) của Nguyễn Thanh Việt và Ellison Nguyễn, đề cao ý niệm hòa bình và hòa giải, trong đó Vua Chó, đại diện cho bên thắng cuộc, ban ân xá cho bọn gà thua trận và chào đón chúng với một bữa tiệc lớn.

***

Nhà văn Đỗ Quyên cho rằng văn học thiếu nhi/thiếu niên không là văn học thực sự, mà là một thứ loại văn-chương phục vụ cho các tư tưởng giáo dục. Anh viết:

Sẽ không quá lời khi cho rằng, về mặt tư tưởng văn chương thiếu nhi/thiếu niên, văn chương tôn giáo và một vài dạng khác tương tự là các hình thái văn-học-phục-vụ-chính trị, nếu hiểu chính trị theo nghĩa là một hình thức của tư tưởng có định hướng, mục đích, lý tưởng. Nó không đời thường. Nó – nhân danh sự nhân bản vốn dĩ hoàn toàn chính đáng và bất khả kháng – được phép nương nhẹ các mâu thuẫn, xung đột tất nhiên của xã hội con người.

Tôi không đồng ý với nhận xét này. Trước tiên vì Đỗ Quyên không đưa ra một thí dụ nào để chứng minh rằng văn học thiếu nhi/thiếu niên không là văn học thực sự. Tôi nghĩ một tác phẩm viết cho thiếu nhi/thiếu niên, tuy mang nội dung giảng huấn, tự nó cũng có thể bao hàm những nghịch đề hay phản kháng vượt ra ngoài khuôn khổ “tuyên truyền” tùy cách viết của tác giả hoặc cách đọc/sáng tạo lại của mỗi độc giả.

Tôi nghĩ một tuyệt tác văn chương thiếu nhi/thiếu niên thường bao gồm ba yếu tố sau đây:

(1) Sự vắng mặt/thất thế/bấp bênh của vai trò cha mẹ, quyền lực, hoặc lề thói, trật tự xã hội–như chuyện Tấm vì mồ côi cha mẹ, nên bị mẹ và chị ghẻ là Cám bạc đãi; chuyện cô bé quàng khăn đỏ đi vào rừng một mình, trong không gian biệt lập, mất đi sự che chở của gia đình rồi bị chó sói quyến rũ; chuyện Hansel và Gretel bị bố mẹ bỏ rơi trong rừng nên phải tự xoay sở lấy; chuyện Hoàng Tử Bé xuất hiện ở sa mạc sau khi người phi công bị rơi máy bay—cả hai như những nhân vật mồ côi đứng bên ngoài thời gian và thế giới văn minh.

(2) Ranh giới mong manh giữa sự hồn nhiên của tuổi thơ và những đề tài “đáng sợ” của người lớn như sự chết, chiến tranh, bạo lực, sự phản bội, những tư tưởng điên rồ và mù quáng của con người v.v… Hoàng tử Bé của St. Exupéry, tuy bé ở hình dạng, nhưng không hẳn là một đứa bé. Chàng đã biết yêu một đóa hoa hồng, đã băng qua nhiều hành tinh, đã quan sát nhiều cảnh đời oái oăm, khôi hài và đa diện, đã cảm nhận hạnh phúc tình bạn từ một con chồn, và cuối cùng đã dám đối diện cái chết qua hình thù một con rắn độc.

Như đã trình bày ở trên, truyện Những Giọt Mực của Lê Tất Điều, tuy là truyện viết cho thiếu nhi, cũng đầy dẫy những bất an. Tác phẩm bắt đầu với cái chết cảm tử của bác đèn xếp, và kết thúc/đóng khung với cái chết cảm tử của chị Bóng, cùng sự ly tán của gần hết mọi đồ vật trong phòng do bị Lão Dao Sắc chẻ đôi—không khác gì vận mệnh của miền Nam Việt Nam vào năm 1975. Tại sao Hoàng tử BéNhững Giọt Mực, tuy có nội dung bi thảm, đã làm tôi và nhiều độc giả thiếu nhi xúc động và nhớ mãi về sau? Tôi nghĩ có lẽ do tính chất chân thật, nên thơ, và cũng rất … cảm tử của hai tác phẩm này. St. Exupéry và Lê Tất Điều đã không trịch thượng cúi xuống khi viết cho độc giả của họ, mà đã viết từ trực giác tuổi thơ, nơi sự sáng tạo và nỗi sợ quấn quít trong vòng xiếc của vô thức.

clip_image014

(3) Yếu tố biến hóa của tác phẩm nới rộng đề tài, chất vấn thông điệp giáo huấn cổ truyền, làm nội dung trở thành bất hủ, như trường hợp hồn Tấm nhập vào cây thị, hoặc Nàng Tiên Cá đánh đổi tiếng nói để được mọc đôi chân. Trong truyện tranh thiếu niên The Magic Fish (Con Cá Thần) (Random House: 2020) của họa sĩ Mỹ gốc Việt Trung Lê Nguyễn, tác giả đã viết lại truyện cổ tích Tấm Cám (con cá thần đây chính là cá bống trong ao nhà của Tấm). Sự chết đi và sống lại của Tấm cũng như cách truyện cổ tích này được biến hóa qua nhiều không gian và thời đại. Nhân vật Tấm, khi “sống lại” trong truyện tranh của Trung Lê Nguyễn, khoan thai từ quả thị bước ra, có thể là một nhân vật đồng tính, hay không cần xác định giới tính. Tác giả cũng viết lại truyện nàng tiên cá hy sinh tiếng nói nhưng được một nữ vũ sư–thay vì một hoàng tử vị kỷ và hời hợt—đem lòng yêu khi người nữ vũ sư này cảm nhận được sự sâu sắc uyển chuyển của nàng qua những vũ điệu mà không cần ngôn từ để diễn tả. Truyện “Nàng Tiên Cá” (nguyên bản của Hans Christian Andersen) cũng có thể được đọc hay viết lại từ khuynh hướng nữ quyền, khước từ đoạn kết bi thảm dẫn đến cái chết của nàng tiên cá và sự tôn vinh nàng như thánh tử đạo—vì ngày nay cũng có những độc giả chất vấn sự hy sinh quá phí phạm của nàng cho một đối tượng hoàn toàn bất xứng!

The-Metamorphosis-by-Franz-Kafka-

Truyện Hóa Thân (The Metamorphosis) của Kafka cũng có thể được đọc như một truyện cổ tích cho thiếu nhi/thiếu niên. Thông điệp giáo huấn của truyện, nếu có, chính là thông điệp cách mạng, chất vấn những giá trị cố hữu của gia đình và xã hội. Nỗi kinh khiếp trong sự hóa thân của Gregory Samsa không hẳn là chuyện thể xác hắn qua đêm đã biến thành một con gián khổng lồ, mà chính là sự mất niềm tin về tình yêu gia đình, bạn bè, thậm chí nhân loại, mà trước đây Samsa đã tưởng là tuyệt đối. Gia đình và bạn bè hắn còn có thể yêu mến hắn không khi hắn không còn là hắn? Như Trang Tử, Samsa/Kafka đặt câu hỏi, “hắn” là ai? Côn trùng hay con người? Bản sắc hoặc tâm hồn Samsa có bị biến đổi với sự hóa thân ở phần thể xác hay không? (Vào năm 2013, qua truyện ngắn “Samsa in Love” trên tạp chí The New Yorker, Haruki Murakami đã viết ngược lại truyện Hóa Thân của Kafka, cho một con gián vào một buổi sáng thức dậy biến thành người với cái tên là Gregor Samsa. Hắn đem lòng yêu một thiếu nữ gù đến nhà hắn sửa cái đồng hồ chết. Samsa có vẻ là một tên mồ côi, vì những người thân trong gia đình hắn đã biến mất hoặc bị tiêu hủy vì bom nguyên tử.)

Một tác phẩm viết cho thiếu nhi/thiếu niên trong một quốc gia không tự do, cho dù thành công ở mặt chính trị cũng như ở khía cạnh thương mại, vẫn không nhất thiết mang tính chất phục vụ, mà vẫn có thể bao hàm thông điệp phản kháng ngay trong ngôn ngữ phải đạo. Việc thông điệp phản kháng có bị/được phát hiện hay không thì điều đó chính là sự bất an/uyển chuyển của ngôn ngữ muốn hòa giải sự bất an của một xứ sở không có quyền tự do ngôn luận.

cho_toi_xin_mot_ve_di_tuoi_tho__nguyen_nhat_anh

Tác phẩm thiếu nhi Cho Tôi Xin Một Vé Đi Tuổi Thơ (CTXMVĐTT) của Nguyễn Nhật Ánh đoạt giải thưởng văn học của Hội Nhà Văn VN năm 2009 và Giải thưởng Văn học Đông Nam Á (ASEAN) năm 2010. “Dành cho những người lớn đã từng là trẻ em,” truyện kể lại những nỗ lực vô vọng của bốn đứa trẻ muốn cách mạng hóa thế giới của chúng bằng cách đổi tên những đồ vật hàng ngày (quyển vở trở thành cái mũ, con chó biến thành bàn ủi, bàn chân thành cái miệng, v.v.), tổ chức phiên tòa xử tội bố mẹ, khai quật kho báu trong vườn nhà, và mở “trại” huấn luyện chó hoang. Những nỗ lực quixotic này thường bị kết thúc bằng sự trừng phạt nặng nề từ người lớn–có vẻ những trận đòn nhừ tử vẫn được coi như giải pháp hiệu lực nhất để ngăn chặn sự nổi loạn. Thử nghiệm nuôi chó của bọn nhỏ đã chấm dứt phũ phàng khi một ông bố khả kính lén bắt chó làm rựa mận đãi bạn nhậu.

Khác với một Hoàng tử Bé tuy nhỏ người nhưng chín chắn, những đứa trẻ trong CTXMVĐTT không có quyền được lớn. Tác giả và tác phẩm không có ý định xóa nhòa lằn ranh giữa trẻ con và người lớn. Ngược lại, CTMVĐTT công nhận sự toàn quyền của người lớn, môi trường bế tắc của tuổi thơ, và sự hoài thai trong mọi nỗ lực muốn tái tạo thế giới. Trò chơi đổi tên cũng phản ảnh khuynh hướng ngõ cụt của bốn nhà cách mạng tí hon. Bọn trẻ vẫn dùng ngôn ngữ cũ trong cách đặt tên lại những vật dụng. Vé xin đi tàu tuổi thơ không có người soát vé chỉ là đơn thỉnh cầu. Người nhận đơn vẫn toàn quyền quyết định. Qua cách đọc này, CTXMVĐTT vừa lên án một xã hội hà khắc vừa khẳng định hiện trạng.

***

Có phải những bất an trong thời thơ ấu của tôi, như loại “gien” di truyền về mặt tinh thần, cũng luân lưu trong giòng máu những đứa con tôi, dù chúng khi sinh ra đã hiển nhiên là dân Mỹ? Ái Linh, con gái đầu lòng của tôi, từ lúc lên bảy, tám tuổi, đã thôi không đọc những truyện nhi đồng trấn an hướng tầm nhìn đứa trẻ về vòng rào của căn nhà, hay về bản sắc hội nhập, mà đã say mê những truyện huyền thoại Hy Lạp, trong một vũ trụ huyền ảo và hiểm nghèo, nơi tình yêu giữa người và thần thánh thường gây ra chiến tranh, thảm họa, và biến hóa, nơi số mệnh loài người thường bị áp đặt, và Zeus, vị thần tối cao, cũng độc tài và ích kỷ như chú bé trong Những Giọt Mực của Lê Tất Điều.

Nếu nhìn từ khía cạnh của giới giảng huấn và các bậc phụ huynh, văn chương thiếu nhi với nội dung “lành mạnh” là con đường trở về thiên đàng, trước khi Adam và Eva ăn trái cấm. Nhưng có độc giả nào, dù nhỏ tuổi, đã đọc một văn bản mà không suy nghĩ và chất vấn nội dung? Có truyện cổ tích hay sách thiếu nhi nào hoàn toàn nhẹ nhàng và ngăn nắp? Hay một truyện cổ tích/ tác phẩm thiếu nhi thường vừa là trái cấm vừa là sự cứu rỗi, bao hàm bóng tối, sự đe dọa của hủy diệt, nhưng cùng lúc dẫn độc giả trẻ đến một nhận thức mới? Ngay cả những truyện cổ tích có đoạn kết được coi là hậu thì khái niệm hậu được ai định nghĩa? Đoạn kết truyện Tấm Cám cho Tấm được cơ hội trả thù, giết Cám rồi chặt xác Cám làm mắm cho dì ghẻ ăn có phải là một đoạn kết nhân đạo hay không? Đoạn kết truyện Lưu Bình Dương Lễ cũng chưa chắc là một happy ending. Cả hai Lưu Bình và Châu Long sẽ hận Dương Lễ mãi mãi vì Dương Lễ đã tự cho mình thẩm quyền định đoạt vận mệnh và tình cảm của bạn và vợ.[2] Và truyện “Tép Bưởi” mà tôi đã đọc ngày xưa trên trang Mai Bê Bi, có phải thông điệp của nó chỉ vỏn vẹn là Đừng Tham Lợi Trước Mắt Mà Không Biết Nghĩ Xa, hay cũng ám chỉ sự áp đặt của quyền lực trên ngôn ngữ, vì vị vua trong truyện có thể ra án tử hình cho bất cứ ai chỉ hiểu nghĩa thông thường của chữ tép?

Giá trị luân lý của những tác phẩm thiếu nhi–qua lăng kính ngôn ngữ, văn hóa, và quyền lực–không bất di bất dịch, mà từ sự bất an/nhu nhuyễn của nó gợi ra những đối thoại, những phản kháng, để tái tạo huyền thoại cho những thế hệ mới.


[1] Vũ Ngọc Phan, Nhà Văn Hiện Đại, Quyển Tư (Tập Thượng), “Lê văn Trương,” (Nxb Thăng Long: Sàigòn, 1959), tr. 919, 936.

[2] Nhà văn Lê Minh Hà cũng chất vấn nội dung truyền thống của cổ tích Việt Nam qua những truyện “giải huyền thoại” của chị trong tuyển tập Thương thế, ngày xưa… (Văn Mới: Mỹ, 2001, tái bản, có bổ sung, nxb Kim Đồng: Việt Nam, 2015). Xin đọc bài phỏng vấn “Lịch sử hình thành từ phận người” giữa Đinh Từ Bích Thúy và Lê Minh Hà (Da Màu, 19/09/2018).

bài đã đăng của Đinh Từ Bích Thúy


Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

3 Bình luận

  • vi lãng says:

    Cám ơn DTBT đã cho một bài viết hay, đưa ra một số vấn đề làm tôi suy nghĩ ‘lung’ sau khi đọc hết dòng cuối.
    Tôi thích thú khi đọc về việc ‘The Metamorphosis’ thích hợp cho thiếu nhi, như một truyện cổ tích. Thời nay, với bao nhiêu truyện mà thiếu nhi/thiếu niên ‘được đọc’ (như loạt truyện về Harry Potter, Lord of the Rings, khoa học giả tưởng, v.v.) thiết nghĩ sự hóa thân thành một con sâu cũng không gì là kinh dị hay đáng cho cha mẹ quan tâm.

    • Đinh Từ Bích Thúy says:

      Cám ơn anh Nguyễn Đức Tùng và anh vi lãng đã đọc bài tiểu luận của Thúy cùng góp ý với những lời khích lệ ấm cúng. Cũng cám ơn hai anh đã tham dự và trả lời phỏng vấn của Da Màu về đề tài văn chương thiếu nhi.

      Ban Biên Tập rất vui được sự hưởng ứng của hai anh, và của nhiều thân hữu, tác giả và độc giả Da Màu–do lớn lên ở nhiều hoàn cảnh chính trị và kinh tế khác nhau–đã giúp tạo nên một bức tranh linh động và phong phú, qua những hồi ức đọc sách, về lịch sử văn hóa của Việt Nam ở ba miền, Bắc, Trung, Nam, trong thời gian trước và sau năm 1975. Không hiểu 20, 30 năm sau, thế hệ của con, cháu chúng ta—những thế hệ lớn lên trong thời đại internet và sự bành trướng của các mạng xã hội như Facebook, Instagram, Twitter, v.v… sẽ có nói chuyện say sưa về những tác phẩm chúng đã đọc thời còn bé hoặc mới lớn, hay chỉ nói chuyện về những cái meme đáng nhớ, những trận chiến trong vũ trụ Twitter (Twitterverse), quá trình chém gió trên Facebook, hay “văn hóa” hơn thì là những cuốn phim chất vấn hiện trạng xã hội, sự kỳ thị giai cấp và màu da, như những phim Get Out, Sorry to Bother You, Us, Parasite, Black Klansmen, và Da Five Bloods?

      Anh vi lãng – có thể phần đông độc giả Việt không nghĩ truyện Hóa Thân của Kafka là truyện dành cho thiếu nhi, nhưng thật ra có nhiều độc giả/tác giả quốc tế đã đọc và cũng sáng tác lại truyện này như một truyện ngụ ngôn về bản sắc, mối liên hệ gia đình, tình bạn … như trường hợp Lawrence David với tác phẩm truyện tranh Beetle Boy (gửi tặng bạn ông là nhà văn Hoa Kỳ Bret Easton Ellis). Trong truyện, thằng bé Gregory Sampson sau một đêm ngủ dậy thấy mình bị biến thành một con bọ hung, nhưng chỉ một mình Gregory và thằng bạn thân là Michael biết nó đã bị biến thành bọ hung, còn bố mẹ, thầy giáo, và các bạn học trong lớp đều vô tình, hời hợt, vì không ai nhận thấy là Gregory đã hóa thân từ người thành bọ.

      Beetle Boy

      Cách đây 10, 15 năm, lúc các cháu trong nhà còn bé, Thúy thường dẫn chúng đi thư viện mỗi cuối tuần và hằng đêm đọc truyện thiếu nhi cho mỗi đứa, từ đó nhận ra rằng những tác phẩm được coi là tuyệt tác của văn chương thiếu nhi–thay vì là loại văn chương lộ liễu ở khía cạnh “giáo huấn/đóng kịch”–phần nhiều là những huyền thoại dựa trên vô thức hoặc được hóa kim từ những biến cố quan trọng trong đời tác giả.

  • Nguyễn Đức Tùng says:

    Đúng như cái nhan đề, bài bút ký của Đinh Từ Bích Thúy như một tiểu luận, gồm nhiều câu hỏi hay. Đọc xong tôi cũng ngẩn người, không tự mình trả lời được. Thật là một bài viết sôi nổi, inspirational.
    Về chi tiết nhỏ, tôi cũng chú ý đến Tâm cảnh, Những giọt mực, chuyện về Lê Văn Trương của tác giả, vụ VAALA, và ý của Đỗ Quyên về văn học thiếu nhi.
    Các bức tranh thật giá trị.
    Nhân đây xin được ghi ơn các tác giả về loạt bài về văn học thiếu nhi trên DM, cho tôi soi chiếu, nhìn lại. Bravo các anh chị.
    Cám ơn Bích Thúy.
    T

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)